1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh tỉnh thanh hóa

132 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 19,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt BCĐ Ban chỉ đạo BCVT Bưu chính viễn thông CNH Công nghiệp hóa CTSN Công trình sự nghiệp FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

LÊ THỊ MAI LÊ

ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LANG CHÁNH – TỈNH THANH HÓA

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thị Vòng

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Thị Mai Lê

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc PGS.TS Nguyễn Thị Vòng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quy hoạch đất đai, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND xã Giao An, UBND xã Đồng Lương huyện Lang Chánh, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Lang Chánh, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lang Chánh, BCĐ xây dựng nông thôn mới huyện Lang Chánh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày tháng năm 2016

Tác giả luận văn

Lê Thị Mai Lê

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan ii

Lời cảm ơn iii

Mục lục iv

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

Danh mục hình ix

Trích yếu luận văn x

Thesis abstract xiii

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Những đóng góp về mặt khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 3

Phần 2 Tổng quan tài liệu 4

2.1 Cơ sở lý luận về quy hoạch nông thôn mới 4

2.1.1 Nông thôn mới và các khái niệm có liên quan 4

2.1.2 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới 9

2.1.3 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới 11

2.1.4 Mục tiêu và nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 13

2.2 Cơ sở thực tiễn về quy hoạch xây dựng nông thôn mới 15

2.2.1 Tình hình xây dựng quy hoạch nông thôn ở một số nước trên thế giới 15

2.2.2 Tình hình xây dựng quy hoạch nông thôn mới ở Việt Nam 22

2.2.3 Tình hình xây dựng quy hoạch nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa 25

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Đối tượng nghiên cứu 27

3.2 Phạm vi nghiên cứu 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Lang Chánh 27

3.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới huyện Lang Chánh 27

Trang 5

3.3.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa

bàn xã Giao An và Đồng Lương huyện Lang Chánh 27

3.3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu, tài liệu 28

3.4.2 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 29

3.4.3 Phương pháp so sánh 29

3.4.4 Phương pháp tiêu chí đánh giá 29

Phần 4 Kết quả và thảo luận 29

4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội huyện Lang Chánh 30

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 35

4.1.3 Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất huyện Lang Chánh 42

4.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Lang Chánh 46

4.2 Đánh giá tình hình thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh 46

4.2.1 Công tác tổ chức thực hiện 47

4.2.2 Đánh giá tình hình thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới huyện trên địa bàn Lang Chánh 49

4.2.3 Đánh giá chung về tình hình thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh 59

4.3 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Giao An và xã Đồng Lương 61

4.3.1 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Giao An 61

4.3.2 Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại xã Đồng Lương 70

4.3.3 Ý kiến của nhân dân về công tác thực hiện xây dựng nông thôn mới tại xã Giao An và xã Đồng Lương 80

4.3.4 Đánh giá về công tác thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã Giao An và xã Đồng Lương 82

4.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh 86

Trang 6

4.4.1 Giải pháp nhằm thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn

mới trên địa bàn huyện Lang Chánh 86

4.4.2 Giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh 87

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 90

5.1 Kết luận 90

5.2 Kiến nghị 92

Tài liệu tham khảo 93

Phụ lục 96

Danh mục phụ lục 97

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

BCĐ Ban chỉ đạo

BCVT Bưu chính viễn thông

CNH Công nghiệp hóa

CTSN Công trình sự nghiệp

FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc GDP Tổng sản phẩm quốc nội

HĐH Hiện đại hóa

HĐND Hội đồng nhân dân

HTX Hợp tác xã

MNCD Mặt nước chuyên dùng

MTQG Mục tiêu quốc gia

NDT Nhân dân tệ

NTM Nông thôn mới

SXKD Sản xuất kinh doanh

TDTT Thể dục thể thao

THCS Trung học cơ sở

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

TSCQ Trụ sở cơ quan

UBND Ủy ban nhân dân

UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc VLXD Vật liệu xây dựng

XDNTM Xây dựng nông thôn mới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu kinh tế huyện Lang Chánh giai đoạn 2010 - 2015 36

Bảng 4.2 Giá trị sản xuất các ngành kinh tế huyện Lang Chánh 37

Bảng 4.3 Hiện trạng sử dụng đất huyện Lang Chánh năm 2015 45

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí hạ tầng – kinh tế - xã hội huyện Lang Chánh 50

Bảng 4.5 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất huyện Lang Chánh 54

Bảng 4.6 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí văn hóa – xã hội – môi trường huyện Lang Chánh 56

Bảng 4.7 Kết quả thực hiện nhóm tiêu chí hệ thống chính trị huyện Lang Chánh 58

Bảng 4.8 Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia XDNTM huyện Lang Chánh giai đoạn 2011 - 2015 59

Bảng 4.9 Tình hình thực hiện quy hoạch giao thông xã Giao An 62

Bảng 4.10 Tình hình thực hiện công trình điện nông thôn xã Giao An 65

Bảng 4.11 Tình hình thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo xã Giao An 67

Bảng 4.12 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Giao An 69

Bảng 4.13 Tình hình thực hiện các công trình tiêu biểu xã Giao An 70

Bảng 4.14 Tình hình thực hiện quy hoạch giao thông xã Đồng Lương 72

Bảng 4.15 Tình hình thực hiện công trình điện nông thôn xã Đồng Lương 74

Bảng 4.16 Tình hình thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo xã Đồng Lương 76

Bảng 4.17 Tình hình thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp xã Đồng Lương 77

Bảng 4.18 Tình hình thực hiện quy hoạch sử dụng đất xã Đồng Lương 79

Bảng 4.19 Tổng hợp ý kiến của người dân về tham gia xây dựng nông thôn mới 80

Bảng 4.20 Hình thức tham gia xây dựng nông thôn mới của người dân 80

Bảng 4.21 Kết quả đạt được trong công tác xây dựng đường ngõ xóm 81

Bảng 4.22 Kết quả huy động nguồn vốn cho xây dựng nông thôn mới 81

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Vị trí của huyện Lang Chánh trong tỉnh Thanh Hóa 30

Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2010 - 2015 37

Hình 4.3 Huyện Lang Chánh tổ chức diễu hành, cổ động phong trào xây dựng nông thôn mới 48

Hình 4.4 Đường liên xã Giao An – Trí Nang sau khi được sửa chữa, nâng cấp 63

Hình 4.5 Đường trục thôn Viên sau khi được cải tạo 64

Hình 4.6 Trạm y tế xã Giao An 66

Hình 4.7 Trung tâm văn hóa, thể thao xã Giao An 67

Hình 4.8 Trường THCS Giao An đang được cải tạo, xây dựng thêm các phòng chức năng 68

Hình 4.9 Đoàn viên thanh niên cùng nhân dân tham gia xây dựng đường thôn Chiềng Khạt 72

Hình 4.10 Trạm y tế xã Đồng Lương mới được xây dựng 75

Hình 4.11 Trường Tiểu học Đồng Lương 77

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Lê Thị Mai Lê

Tên luận văn: “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh – tỉnh Thanh Hóa”

Ngành: Quản lý đất đai Mã số: 60 85 01 03

Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Vòng

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa

- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Phương pháp nghiên cứu

* Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp

- Thu thập các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế xã hội, văn hóa đời sống của huyện Lang Chánh tại UBND, các phòng ban chức năng của huyện Lang Chánh

- Thu thập các số liệu, tài liệu về điều kiện tự nhiên, dân số, kinh tế xã hội, văn hóa đời sống và đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới của 2 xã điểm

* Phương pháp chọn điểm

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp chọn điểm để lựa chọn các địa bàn nghiên cứu phù hợp Qua đó, đề tài chọn hai xã của huyện Lang Chánh: Xã Giao An và xã Đồng Lương

* Thu thập số liệu sơ cấp

- Điều tra ngẫu nhiên mỗi xã 50 người với những vấn đề liên quan đến quá trình

tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới thông qua hệ thống phiếu điều tra với các chỉ tiêu về: Nhân khẩu, trình độ học vấn, khả năng huy động góp vốn, hỗ trợ về nhân lực, vật lực, sự hiểu biết về chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới, tác động của quy hoạch xây dựng nông thôn mới đến mọi mặt của nông thôn

- Điều tra cán bộ huyện, cán bộ địa phương trao đổi về việc tổ chức và thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Trang 11

- Kết hợp thu thập file ảnh các công trình đang triển khai thực hiện trên địa bàn xã Giao An và xã Đồng Lương

* Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

Trên cơ sở các số liệu, tài liệu thu thập được về kinh tế, văn hóa, xã hội cùng các tài liệu liên quan đến xây dựng nông thôn mới của huyện, tiến hành phân tích, nhận xét rồi tổng hợp dưới dạng bảng biểu bằng các phần mềm như Microsoft Word, Microsoft Exel, Từ đó, đưa ra kết luận về tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện

* Phương pháp so sánh

- So sánh, đối chiếu giữa tình hình địa phương trước khi thực hiện xây dựng nông thôn mới (năm 2011) và sau khi thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới (năm 2015)

- So sánh giữa kết quả thực hiện xây dựng nông thôn mới thực tế tại địa phương với bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới

* Phương pháp đánh giá

- Đánh giá kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về quy hoạch xây dựng nông thôn mới theo 5 nhóm tiêu chí: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch; nhóm tiêu chí hạ tầng – kinh tế - xã hội; nhóm tiêu chí kinh tế và tổ chức sản xuất; nhóm tiêu chí văn hóa – xã hội – môi trường và nhóm tiêu chí hệ thống chính trị với các chỉ tiêu: Mức độ thực hiện, thời gian thực hiện, tỷ lệ thực hiện,

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh theo 3 loại hình quy hoạch, gồm có: Quy hoạch cơ sở hạ tầng, quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất

+ Quy hoạch cơ sở hạ tầng đánh giá theo các chỉ tiêu: Thời gian thực hiện, tiến độ thực hiện, địa điểm thực hiện, nguồn vốn thực hiện, cách thức thực hiện

+ Quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp được đánh giá theo các chỉ tiêu: Thời gian thực hiện, tiến độ thực hiện, quy mô thực hiện, nguồn vốn thực hiện

+ Quy hoạch sử dụng đất được đánh giá theo chỉ tiêu diện tích thực hiện và tỷ lệ thực hiện

Kết quả chính và kết luận

- Lang Chánh là huyện nghèo của tỉnh Thanh Hóa nên còn nhiều hạn chế về kinh

tế - xã hội, cần nhiều sự hỗ trợ của các cấp chính quyền tỉnh, Trung ương để phát triển

- Tiến độ thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới nhìn chung không cao Đến cuối năm 2015, toàn huyện chưa có xã nào đạt chuẩn nông thôn mới; có 1 xã đạt

Trang 12

14/19 tiêu chí; 1 xã đạt 9/19 tiêu chí; 2 xã đạt 8/19 tiêu chí; 1 xã đạt 7/19 tiêu chí; 4 xã đạt 6/19 tiêu chí và 1 xã đạt 5/19 tiêu chí Các tiêu chí toàn huyện chưa có xã nào đạt chuẩn là: Giao thông, môi trường, chợ nông thôn và thu nhập Phần lớn các xã trong huyện đều hoàn thành các tiêu chí: Quy hoạch, bưu điện, hệ thống chính trị và an ninh, trật tự - xã hội

- Giao An là một xã miền núi vùng sâu (thuộc khu vực 3), nằm ở phía Nam huyện Lang Chánh, cách trung tâm thị trấn huyện 11 km về phía Nam Xã dẫn đầu toàn huyện

về tiến độ thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới với 14/19 tiêu chí đã hoàn thành, còn 5 tiêu chí chưa thực hiện được là: Giao thông, thủy lợi, chợ nông thôn, thu nhập và môi trường

- Xã Đồng Lương nằm phía Đông của thị trấn huyện Lang Chánh, cách trung tâm huyện lị 1 km theo trục đường nhánh của thị trấn đi qua trung tâm xã Tiến độ thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới của xã thuộc nhóm chậm nhất huyện Xã mới chỉ thực hiện được 6/19 tiêu chí là: Quy hoạch, bưu điện, y tế, hình thức tổ chức sản xuất,

hệ thống chính trị và an ninh, trật tự - xã hội

- Theo kết quả điều tra, thu thập thông tin từ việc lấy ý kiến người dân của 2 xã Giao An và Đồng Lương thì kết quả thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới khác nhau chủ yếu là do cách thức tổ chức thực hiện giũa 2 xã Cán bộ xã Giao An năng nổ, nhiệt tình trong công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia xây dựng nông thôn mới; linh hoạt trong huy động vốn, khéo léo lồng ghép vốn của các dự án trên địa bàn để phục vụ cho xây dựng nông thôn mới; người dân xã Giao An tích cực tham gia vào phong trào xây dựng nông thôn mới Ngược lại, xã Đồng Lương khá thụ động trong huy động vốn; cán bộ thiếu nhiệt tình, trách nhiệm trong xây dựng nông thôn mới; người dân còn tư tưởng ỷ lại, không quan tâm đến xây dựng nông thôn mới

- Các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện xây dựng nông thôn mới, gồm: Cần nâng cao chất lượng quy hoạch; cách thức tổ chức, thực hiện sáng tạo, linh hoạt; phát huy thế mạnh sẵn có trong sản xuất; huy động và sử dụng nguồn vốn hợp lý, hiệu quả

Trang 13

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Le Thi Mai Le

Thesis title: “Evaluation of the implementation planning new rural construction

on Lang Chanh district - Thanh Hoa province”

Major: Land management Code: 60 85 01 03

Instructor: Associate Professor Doctor Nguyen Thi Vong

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

* Data collection, secondary data

- Collect the data and documents on the natural conditions, population, economic and cultural life of the people's committee Lang Chanh district, functional departments of Lang Chanh district;

socio Collect the data and documents on the natural conditions, population, socioeconomic, cultural life and plan construction of two new rural communes

* Selection method

To conduct the study, subjects selected study sitesusing the method for selecting the area Thereby, the two communes selected is Giao An and Dong Luong in Lang Chanh district with the following criteria

- Representing social groups make good planning new rural construction is Giao An;

- Representing the social group is not very good, there exist many shortcomings in the planning process to build a new countryside in Dong Luong

* Primary data collection

- Survey randomly 50 people in every commune with the problems related to the process of planning a new rural construction system through the questionnaire with indicators: demographics, education, ability mobilize capital contribution, support on human and material resources, the understanding of the national target program new

Trang 14

rural construction, the impact of the planned construction of new countryside to all aspects of rural at the time of research,

- Survey district officials, local officials exchanged views on the organization and implementation of planning new rural construction

- Combine images collected at workswhich are implemented in 2 communes

* Methods of analysis, data processing

On the basis of data and documents collected in the economy, culture, society and the documents related to the building of new rural areas in the district, conduct the analysis by software like Microsoft Word, Microsoft Exel, Since then, the conclusion

of the implementation planning new rural construction in the district

- Evaluation of the implementation of the new rural construction plan in Lang Chanh district under 3 types of planning, including: infrastructure planning, regional planning agricultural production, land use planning

+ Planning and Infrastructure assessed according to the criteria: duration, schedule execution, performance venues, funding implementation, how to do this

+ Planning agricultural production areas are evaluated according to the following criteria: duration, progress made, the scale of implementation, funding implementation + Land use planning are evaluated according to the target area of implementation and the rate of implementation

Main findings and conclusions

-Lang Chanh is a poor districts of the Thanh Hoa province, limited economically and- socially, which needs more support from the authorities of the

province, central to development

Trang 15

- The progress of implementation of the new rural construction planning is generally not high By the end of 2015, the district does not meet the standards of new rural communes; 1 commune reached 14/19 of the criteria; 1 commune reached 9/19 of the criteria; 2 communes reached 8/19 of the criteria; 1 communes reached 7/19 ofthe criteria; 4 communes meeting 6/19 of the criteria and 1 communes reached 5/19 of the criteria The criteria which are generally not met are social standards, transport, environment, rural markets and income Most villages in the district have completed the criteria: planning, post office, the political system and security and order - society

- Giao An is a remote mountainous commune (region 3), located in southern Lang Chanh district, the center of the town is 11 km south of the district The commune of the district lead the planning progress of the new rural construction with the completionof 14/19 criteria, the 5 unrealized criteria are transportation, irrigation, rural markets, income, and an environment

- Dong Luong commune is located east of the town of Lang Chanh district, the district center 1 km road passing through the town branch of the town center The progress of implementation of the new rural construction planning of the district communes of the slowest group The only realizable criteria are planning, post office, medical, organizational forms of production, political system and security and order – society (6/19)

- According to a survey, gathering information from the people's opinionsabout Giao An and Dong Luong, the result of the implementation of the new rural construction planning different ways mainly due to implementation of 2 communal filings Giao An officials were energetic, enthusiastic with propaganda, mobilized people to participate in building a new countryside; flexibility in raising capital, skillful integration of capital projects in the province to cater to the new rural construction; Giao An’s people were actively involved in the movement to build a new countryside Conversely, Dong Luongwas quite passive in raising capital; staff lacked enthusiasm and responsibility in building new countryside; people are thinking of dependence, not interested in building a new countryside

- Solutions to enhance the effective implementation of the rural projects, include need for improved quality of planning; how to organize and realize creative and flexible officials; promote existing strengths in manufacturing; mobilization and rational use of resources, effective

Trang 16

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Nước ta, một đất nước với hơn bốn ngàn năm lịch sử, có một nền văn minh lúa nước lâu đời, lẽ đương nhiên, ba trụ cột nông nghiệp – nông thôn – nông dân

là bộ phận không thể tách rời trong sự phát triển của đất nước từ xưa đến nay Quá trình phát triển đất nước, chúng ta luôn thực hiện phương châm lấy dân

là gốc, dân có giàu thì nước mới mạnh, vì thế, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng tìm cách đầu tư cho an sinh xã hội, giáo dục, nhằm phát triển con người một cách toàn diện Tuy nhiên, nước ta với tỷ lệ dân thành thị còn thấp, phần lớn dân số vẫn tập trung ở nông thôn nên việc đẩy mạnh phát triển nông thôn là tất yếu

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới (NTM) ban hành tại Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ là một chương trình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở các địa phương Xây dựng Nông thôn mới là cốt lõi của việc thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, thể hiện sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước để phát triển khu vực nông thôn

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh chóng nền kinh tế của đất nước, kinh tế khu vực nông thôn đã có nhiều khởi sắc rõ rệt Tuy nhiên, bên cạnh đó, phát triển nông thôn Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế: Những thành tựu đạt được đó còn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đồng đều giữa các vùng; nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn còn thấp; chênh lệch giàu, nghèo giữa thành thị với nông thôn và giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn

đề bức xúc Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xây dựng Nông thôn mới chính là một cuộc cách mạng phát huy sức mạnh tổng hợp của cả

hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân, giúp người dân nhận thức rõ trách nhiệm, quyền lợi nhằm chủ động tham gia, tích cực thực hiện xây dựng Nông thôn mới

Là một tỉnh cực Bắc miền Trung của Việt Nam, Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện Có 639 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 22 phường, 30 thị trấn và 587 xã Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới của Chính phủ, Thanh Hóa phấn đấu phát

Trang 17

triển nền kinh tế gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao đời sống của bà con nhân dân, phát triển đồng bộ cả về nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, hoàn thiện cơ sở kết cấu hạ tầng phù hợp với quy hoạch đô thị và quy hoạch phát triển nông thôn, giữ vững an ninh chính trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường

Lang Chánh là một huyện miền núi nằm phía Tây của tỉnh Thanh Hóa, với diện tích khoảng 586,76 km², gồm 1 thị trấn và 10 xã, địa hình tương đối cao và phức tạp Là một trong 62 huyện nghèo của cả nước, với xuất phát điểm kinh tế khá thấp, chủ yếu là dựa vào kinh tế nông – lâm nghiệp, trong những năm vừa qua, Lang Chánh đang nỗ lực phát triển kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn và đã đạt được nhiều dấu hiệu tích cực Huyện Lang Chánh đang trong quá trình thực hiện quy hoạch nông thôn mới trên địa bàn toàn huyện Tuy nhiên, với đặc thù là huyện miền núi nên đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, kết cấu hạ tầng kém phát triển, phương thức sản xuất còn lạc hậu nên công tác triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới còn nhiều hạn chế

Với yêu cầu cấp thiết của đề tài, được sự phân công của Khoa Quản lý đất đai – Học viện Nông nghiệp Việt Nam và được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Vòng – Bộ môn Quy hoạch đất đai – Khoa Quản lý đất đai – Học

viện Nông nghiệp Việt Nam, đề tài: “Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch

xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh – tỉnh Thanh Hóa”

được thực hiện nhằm tìm ra những hạn chế trong công tác thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới, tăng cường thực hiện xây dựng nông thôn mới tại địa bàn huyện Lang Chánh

1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

Trang 18

địa bàn huyện Lang Chánh Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh

- Đánh giá hiện trạng tổng hợp, công tác thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên phạm vi hai xã của huyện Lang Chánh Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

* Đối tượng nghiên cứu

- Tình hình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí tại huyện Lang Chánh – tỉnh Thanh Hóa

- Tình hình thực hiện các phương án quy hoạch xây nông thôn mới trên địa bàn huyện Lang Chánh

* Thời gian nghiên cứu: Việc thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Lang Chánh – tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 – 2015; tình hình kinh tế

- xã hội huyện Lang Chánh năm 2010, 2015

* Địa điểm nghiên cứu: Toàn bộ diện tích huyện Lang Chánh – tỉnh Thanh Hóa

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ MẶT KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN

- Đóng góp về cơ sở lý luận cho việc tổ chức thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới và là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp, chính sách thực hiện

các nội dung của quy hoạch xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ tiếp theo

- Ý nghĩa thực tiễn: Việc đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại huyện Lang Chánh sẽ giúp Ban chỉ đạo, các tổ chức cơ quan đoàn thể, các cấp chính quyền… thấy được các hạn chế, tồn tại trong quá trình thực hiện quy hoạch xây dựng NTM, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm góp phần thực hiện hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới, để chương trình này

ngày càng phổ biến, sâu rộng và thiết thực hơn

Trang 19

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH NÔNG THÔN MỚI

2.1.1 Nông thôn mới và các khái niệm có liên quan

2.1.1.1 Khái quát về nông thôn và phát triển nông thôn

Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn, còn nhiều quan điểm khác nhau Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường, phát triển hàng hoá để xác định vùng nông thôn vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hoá và khả năng tiếp cận thị trường

so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định Theo quan điểm này, vùng nông thôn thường

có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng thành thị

Một quan điểm khác nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, tức là nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Ðối với những nước đang thực hiện công nghiệp hoá, đô thị hoá, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây Có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những đô thị nhỏ, thị tứ, thị trấn, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cùng tồn tại, hỗ trợ và thúc đẩy nhau phát triển (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

Những định nghĩa, khái niệm về nông thôn chỉ mang tính tương đối, chúng thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh của mỗi quốc gia, bối cảnh lịch sử hoặc giai đoạn phát triển cụ thể

Đến nay, khái niệm nông thôn được thống nhất với quy định tại Theo Thông

tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21-8-2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị

các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã"

Trang 20

Khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn…Trong tâm thức người Việt, đó là một môi trường kinh tế sản xuất với nghề trồng lúa nước cổ truyền, không gian sinh tồn, không gian xã hội và cảnh quan văn hoá xây đắp nên nền tảng tinh thần, tạo thành lối sống, cốt cách và bản lĩnh của người Việt Làng - xã là một cộng đồng địa vực, cộng đồng cư trú có ranh giới lãnh thổ

tự nhiên và hành chính xác định Làng là một đơn vị tự cấp, tự túc về kinh tế, có ruộng, có nghề, có chợ…tạo thành một không gian khép kín thống nhất Làng -

xã là một cộng đồng tương đối độc lập về phong tục tập quán, văn hoá, là một đơn vị tự trị về chính trị Trong lịch sử, làng - xã là đơn vị hành chính cơ sở Tuy nhiên làng - xã cũng có những biến đổi ít nhiều qua các thời kỳ, nhưng nhìn chung cho đến trước năm 1945, qua các biến động, làng vẫn giữ được những cấu trúc truyền thống cơ bản Nông thôn được xác định là tổng hợp của các làng, nói cách khác, Làng Việt là đơn vị cơ bản của nông thôn Việt Nam

Làng - xã đã từng đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển đất nước, là nơi lưu giữ những giá trị văn hoá, nuôi dưỡng nguyên khí của dân tộc trước các nguy cơ đồng hoá, nô dịch Những giá trị nói trên của làng luôn luôn cần thiết cho phát triển đất nước, cần và sẽ được tiếp tục trong mô hình nông thôn mới Nhưng tính khép kín, tính tự cung tự cấp của mô hình làng truyền thống rõ ràng không đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước hiện nay (Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh, 2008)

Một số đặc điểm riêng của nông thôn Việt Nam, đó là:

Ở vùng nông thôn, các cư dân chủ yếu là nông dân và làm nghề nông, đây

là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông, lâm, ngư nghiệp và các ngành nghề sản xuất kinh doanh, dịch vụ phi nông nghiệp Trong các làng xã truyền thống, sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí chủ chốt và là nguồn sinh kế chính của đại bộ phận nông dân Cùng với sự phát triển và tiến bộ của đất nước, đặc điểm này có sự thay đổi Các vùng nông thôn trong tương lai sẽ không phải chủ yếu có các nông dân sinh sống và làm nông nghiệp, thay vào đó là các

cư dân cư trú và tiến hành nhiều hoạt động kinh tế khác nhau, gồm cả sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thương mại dịch vụ Theo đó, tỷ trọng lao động và GDP của các ngành kinh tế ở nông thôn cũng thay đổi theo hướng gia tăng cho công nghiệp và dịch vụ

Trang 21

Nông thôn thể hiện tính chất đa dạng về điều kiện tự nhiên, môi trường sinh thái, các vùng nông thôn quản lý một lượng tài nguyên thiên nhiên to lớn, phong phú và đa dạng, bao gồm các tài nguyên đất, nước, khí hậu, rừng, sông suối, ao

hồ, khoáng sản, hệ động thực vật gồm cả tự nhiên và cả do con người tạo ra

Cư dân nông thôn có mối quan hệ họ tộc và gia đình khá chặt chẽ với những quy định cụ thể của từng họ tộc và gia đình Ở nông thôn, có nhiều gia đình trong một dòng họ cùng sinh sống và gắn bó với nhau gần gũi, khăng khít lâu đời Những người ngoài dòng họ cùng chung sống, góp sức phòng tránh thiên tai, giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống tạo nên tình làng nghĩa xóm lâu bền Nông thôn lưu giữ và bảo tồn nhiều di sản văn hoá của quốc gia như các phong tục, tập quán cổ truyền về đời sống, lễ hội, sản xuất nông nghiệp và ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử, văn hoá, các danh lam thắng cảnh, v.v Ðây chính là nơi chứa đựng kho tàng văn hoá dân tộc, đồng thời là khu vực giải trí và du lịch sinh thái phong phú và hấp dẫn đối với mọi người (Mai Thanh Cúc

và cs., 2005)

* Phát triển nông thôn

Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng và được hiểu theo nhiều cách khác nhau Ở Việt Nam, khái niệm “phát triển nông thôn” đã xuất hiện từ lâu và

thay đổi qua nhiều thời kỳ

Ngân hàng Thế giới (WB) (1975) đã định nghĩa rằng: “Phát triển nông thôn

là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống về kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống ở vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển”

Vũ Thị Bình (2006) đã nêu rõ: “Phát triển nông thôn là một quá trình thay đổi bền vững có chủ ý về xã hội, kinh tế, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng đời sống của người dân địa phương”

“Phát triển nông thôn toàn diện cần nhấn vào khía cạnh xã hội, kinh tế và môi trường Phát triển phải là cả “từ trên xuống” và “từ dưới lên”, nó bao trùm chính sách, tiền tệ và hỗ trợ của Chính phủ (ở mọi cấp) và năng lực, tài nguyên địa phương với sự tham gia của người dân Phát triển phải dựa trên tinh thần hợp tác và cộng tác với sự tham gia của mọi khu vực (nhà nước, tư nhân, tình nguyện viên)

Trang 22

Toàn diện có thể coi là 4 trụ cột của phát triển nông thôn, đó là: Con người cùng với kỹ năng của họ; kinh tế; môi trường; ý tưởng và tổ chức

Các yếu tố trên phải được giữ trong thế cân bằng với nhau như các trụ cột của một tòa nhà”

* Vai trò của phát triển nông thôn

Sự phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu lương thực

và thực phẩm tiêu dùng cho toàn xã hội và nâng cao năng lực xuất khẩu các mặt hàng này cho quốc gia

Phát triển bền vững nông thôn sẽ góp phần làm ổn định kinh tế của quốc gia Phát triển nông thôn sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và những ngành sản xuất khác trên phạm vi toàn xã hội

Vai trò của phát triển nông thôn còn thể hiện trong việc gìn giữ và tô điểm cho môi trường sinh thái của con người, tạo sự gắn bó hài hoà giữa con người với thiên nhiên và hình thành những nơi nghỉ ngơi trong lành, giải trí phong phú, vùng du lịch sinh thái đa dạng và thanh bình, góp phần nâng cao cuộc sống tinh

thần cho con người (Mai Thanh Cúc và cs., 2005)

2.1.1.2 Khái quát về nông thôn mới

a Khái niệm nông thôn mới

Nghị quyết 26-NQ/TƯ xác định: NTM là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật

tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được

nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Văn Hùng, 2015)

b Đặc trưng của nông thôn mới

Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản Lao

động, 2010), đặc trưng của Nông thôn mới thời kỳ CNH –HĐH, giai đoạn

2010-2020, bao gổm:

Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;

Trang 23

Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;

Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy;

An ninh tốt, quản lý dân chủ

Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

c Đặc điểm của nông thôn mới

Ngoài những đặc điểm chung của nông thôn truyền thống, mô hình NTM hiện nay còn có một số đặc điểm riêng, điều đó được thể hiện ở một số tiêu chí sau:

Một là, NTM đáp ứng yêu cầu thị trường hóa, công nghiệp hóa, hiện đại

hóa, chuẩn bị những điều kiện vật chất, tinh thần giúp nông dân làm ăn sinh sống, trở nên thịnh vượng ngay trên mảnh đất mà họ đã gắn bó lâu đời Trước hết, tạo cho người dân có điều kiện để chuyển đổi lối sống, canh tác tự cung tự cấp, thuần nông sang sản xuất hàng hóa, dịch vụ, du lịch và những ngành nghề khác

Hai là, có khả năng khai thác hợp lý, nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng

trưởng kinh tế cao, bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác; làng nghề truyền thống, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được khôi phục; ứng dụng công nghệ cao về quản lý, về sinh học, ; cơ cấu kinh tế nông thôn phát triển hài hòa, hội nhập địa phương, vùng, cả nước và quốc tế

Ba là, nông dân, nông thôn có văn hóa phát triển, dân trí được nâng cao,

sức lao động được giải phóng Đó chính là sức mạnh nội sinh của làng, xã trong công cuộc XDNTM Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được những giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sộng của bản thân cư dân ở nông thôn, vừa góp phần xây dựng nông thôn ngày càng văn minh, giàu đẹp

Bốn là, đơn vị cơ bản của mô hình NTM là làng, xã Làng, xã thực sự là

một cộng đồng; trong đó, quản lý của Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống nông thôn trên tinh thần tôn trọng tính tự quản của người dân thông qua hương ước, lệ làng (không trái với pháp luật của Nhà nước) Quản lý của Nhà

Trang 24

nước và tự quản của nông dân, các giá trị truyền thống làng, xã được phát huy tối

đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh trật tự xã hội, nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn

Năm là, dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất Các chủ thể nông

thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước, tư nhân, ) có khả năng, điều kiện, trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh bạch, thông suốt, hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công bằng Người nông dân tự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh làm giàu cho mình, cho quê hương theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật

của Nhà nước (Nguyễn Văn Hùng, 2015)

2.1.2 Cơ sở lý luận về xây dựng nông thôn mới

2.1.2.1 Khái niệm xây dựng nông thôn mới

Có thể nói, xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng, cuộc vận động lớn, phong trào rộng khắp trong cả nước để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Xây dựng nông thôn mới đòi hỏi sự chung tay góp sức của cả nhân dân cũng như hệ thống chính trị Thiếu một trong hai yếu tố, xây dưng nông thôn mới sẽ không thực hiện được Nông thôn mới không chỉ là vấn

đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp

Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

2.1.2.2 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Cũng trong cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất

bản Lao động, 2010), các nguyên tắc trong xây dựng NTM là:

Nội dung xây dựng NTM hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia được qui định tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ

Trang 25

Xây dựng NTM theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện

Được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình MTQG, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư

Được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch

và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh

tế, kỹ thuật do các Bộ chuyên ngành ban hành)

Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức thực hiện; Hình thành cuộc vận động “toàn dân xây dựng nông thôn mới”

do Mặt trận Tổ quốc chủ trì cùng các tổ chức chính trị - xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong việc xây dựng nông thôn mới

2.1.2.3 Vị trí, vai trò của xây dựng nông thôn mới

Với xuất phát điểm là một nước thuần nông, Việt Nam tiến lên xây dựng đất nước với định hướng phát triển theo con đường Xã hội chủ nghĩa, bỏ qua chế

độ Tư bản chủ nghĩa nên nước ta phải tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa để xây dựng tài sản cơ bản cho đất nước Trong hoàn cảnh đó, Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 ra đời nhằm phát triển nông thôn, xây dựng kết cấu hạ tầng cho khu vực nông thôn, chuẩn bị sẵn sàng mọi nguồn lực để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được thuận lợi Xây dựng nông thôn mới là cơ sở và lực lượng quan trọng

để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, đời sống của nông dân được cải thiện nhiều, bộ mặt nông thôn đã có những biến đổi sâu sắc, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Có thể nói, xây dựng nông thôn mới là bước tiền đề quan trọng giúp đất nước tiến hành thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thuận lợi, dễ dàng và đem lại hiệu quả cao hơn

Trang 26

2.1.2.4 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới là bố trí, sắp xếp về vị trí, diện tích sử dụng các khu chức năng trên địa bàn xã; khu phát triển dân cư; hạ tầng kinh tế xã hội; các khu sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ,… theo chuẩn nông thôn mới gắn với đặc thù, lợi thế, điều kiện cụ thể của từng địa phương Nội dung quy hoạch xây dựng nông thôn mới đi vào ba vấn đề trọng tâm,

đó là: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, nhằm xác định nhu cầu sử dụng đất cho bố trí vùng sản xuất và hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục

vụ sản xuất hàng hóa nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch

vụ, bố trí hệ thống thủy lợi kết hợp với giao thông; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp, những giá trị truyền thống mang đậm dấu ấn lịch sử; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường bao gồm bố trí mạng lưới giao thông, điện, trường học, trạm xá, trung tâm văn hóa thể thao

xã, nhà văn hóa và khu thể thao thôn, bưu điện và hệ thống thông tin liên lạc, chợ, nghĩa trang, bãi xử lý rác thải, hệ thống cấp và thoát nước, công viên cây xanh, hồ nước sinh thái

Như vậy, quy hoạch xây dựng nông thôn mới nhằm đánh giá các điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội và đưa ra định hướng phát triển về kinh tế - xã hội, về không gian nông thôn, về mạng lưới dân cư, cơ sở hạ tầng; khai thác tiềm năng, thế mạnh vốn có của địa phương và xây dựng phương án, kế hoạch nhằm phát huy những lợi thế đó; khắc phục những ảnh hưởng bất lợi của thời tiết, đảm bảo

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra

2.1.3 Cơ sở pháp lý về xây dựng nông thôn mới

Xây dựng Nông thôn mới được thực hiện dựa trên các cơ sở pháp lý sau:

Trang 27

- Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới;

- Quyết định số 1620/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng Nông thôn mới”;

- Quyết định số Số 372/QĐ-TTg ngày 14/03/2014 của Thủ tướng Chính phủ

về việc xét công nhận và công bố địa phương đạt chuẩn nông thôn mới;

- Chỉ thị số Chỉ thị số 18/CT-TTg ngày 15/07/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới;

* Văn bản của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn mới

- Kế hoạch số 435/KH-BCĐXDNTM ngày 20/9/2010 của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới về việc triển khai Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn giai đoạn 2010 – 2020;

- Kế hoạch số 30/KH-BCĐTW-VPĐP ngày 20/5/2011 của Ban Chỉ đạo Trung Ương Chương trình MTQG xây dựng Nông thôn mới về tuyên truyền Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng Nông thôn giai đoạn 2010 – 2020;

* Văn bản của các Bộ, ngành

- Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Thông tư số 09/2010/TT-BXD ngày 04/8/2010 quy định việc lập nhiệm

vụ, đồ án quy hoạch và quản lý quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới;

- Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13/4/2011 của liên Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch Đầu

tư, Bộ Tài chính về việc hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020;

Trang 28

- Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT ngày 04/10/2013 về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Thông tư số Số 40/2014/TT-BNNPTNT ngày 13/11/2014 về hướng dẫn trình tự, thủ tục, hồ sơ xét công nhận và công bố xã, huyện, tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới;

- Quyết định số Số 4927/QĐ-BGTVT ngày 25/12/2014 về việc ban hành

“Hướng dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn phục vụ Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”;

- Sổ tay hướng dẫn lập Quy hoạch xây dựng nông thôn của Bộ Xây dựng;

- Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

2.1.4 Mục tiêu và nội dung của chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

a Mục tiêu chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 – 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số TTg ngày 04/06/2010 Theo đó, mục tiêu chung của chương trình là:

800/QĐ-Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với

đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa

- Mục tiêu cụ thể của chương trình là:

+ Đến năm 2015: 20% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)

Trang 29

+ Đến năm 2020: 50% số xã đạt tiêu chuẩn Nông thôn mới (theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới)

b Nội dung chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm

11 nội dung sau:

(1) Quy hoạch xây dựng nông thôn mới

(2) Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

(3) Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

(4) Giảm nghèo và an sinh xã hội

(5) Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

(6) Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn

(7) Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

(8) Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

(9) Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

(10) Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị -

xã hội trên địa bàn

(11) Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

Theo đó, Bộ tiêu chí quốc gia về Nông thôn mới cũng được ban hành theo Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 với 19 tiêu chí được chia thành 5 nhóm, cụ thể:

Nhóm 1: Quy hoạch gồm tiêu chí quy hoạch và thực hiện quy hoạch;

Nhóm 2: Hạ tầng - kinh tế - xã hội, gồm các tiêu chí: Giao thông; thủy lợi; điện; trường học; cơ sở vật chất văn hóa; chợ nông thôn; bưu điện; nhà ở dân cư; Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất, gồm các tiêu chí: Thu nhập, hộ nghèo, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên; hình thức tổ chức sản xuất; Nhóm 4: Văn hóa - xã hội và môi trường, gồm có: Giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường;

Nhóm 5: Hệ thống chính trị gồm tiêu chí hệ thống tổ chức - chính trị - xã hội và an ninh, trật tự xã hội

Trang 30

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ QUY HOẠCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 2.2.1 Tình hình xây dựng quy hoạch nông thôn ở một số nước trên thế giới

Cùng có vị trí xuất phát điểm tương đối thấp như nước ta hiện nay, song với nhiều cách làm, nhiều phương pháp hay mà vùng nông thôn ở các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đã có sự chuyển mình rõ rệt, đáng khen ngợi

2.2.1.1 Hàn Quốc: Phong trào Làng mới (Saemaul Undong – SU)

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo

Phong trào Lầng mới (SU) ra đời với 3 tiêu chí: Cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và, hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào

SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong thôn, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn,

áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau

8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631 km đường thôn nối với đường của xã, trung bình mỗi thôn nâng cấp được 1.322 m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220 km, trung bình mỗi thôn là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839 km đê,

kè, xây 24.140 hồ chứa nước và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Nhờ phát triển giao thông nông thôn nên các hộ có điều kiện mua sắm phương tiện sản xuất Cụ thể là, năm 1971, cứ 3 thôn mới có 1 máy cày, thì đến

Trang 31

năm 1975, trung bình mỗi thôn đã có 2,6 máy cày, rồi nâng lên 20 máy vào năm

1980 Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong sản xuất nông nghiệp, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số thôn tự chủ về kinh tế

Ông Le Sang Mu, cố vấn đặc biệt của Chính phủ Hàn Quốc về nông, lâm, ngư nghiệp cho biết, Chính phủ hỗ trợ một phần đầu tư hạ tầng để nông thôn tự mình vươn lên, xốc lại tinh thần, đánh thức khát vọng tự tin Thắng lợi đó được Hàn Quốc tổng kết thành 6 bài học lớn

Thứ nhất, phát huy nội lực của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng nông

thôn - phương châm là nhân dân quyết định và làm mọi việc, “nhà nước bỏ ra 1 vật tư, nhân dân bỏ ra 5-10 công sức và tiền của” Dân quyết định loại công trình,

dự án nào cần ưu tiên làm trước, công khai bàn bạc, quyết định thiết kế và chỉ đạo thi công, nghiệm thu công trình Năm 1971, Chính phủ chỉ hỗ trợ cho 33.267 thôn, mỗi thôn 335 bao xi măng Năm 1972 lựa chọn 1.600 thôn làm tốt được hỗ trợ thêm 500 bao xi măng và 1 tấn sắt thép Sự trợ giúp này chính là chất xúc tác thúc đẩy phong trào nông thôn mới, dân thôn tự quyết định mức đóng góp đất, ngày công cho các dự án

Thứ hai, phát triển sản xuất để tăng thu nhập Khi kết cấu hạ tầng phục vụ

sản xuất được xây dựng, các cơ quan, đơn vị chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, giống mới, khoa học công nghệ giúp nông dân tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, xây dựng vùng chuyên canh hàng hóa Chính phủ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn để chế biến và tiêu thụ nông sản cũng như có chính sách tín dụng nông thôn, cho vay thúc đẩy sản xuất Từ năm 1972 đến năm 1977, thu nhập trung bình của các hộ tăng lên 3 lần

Thứ ba, đào tạo cán bộ phục vụ phát triển nông thôn Hàn Quốc, xác định

nhân tố quan trọng nhất để phát triển phong trào SU là đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần tự nguyện và do dân bầu Hàn Quốc đã xây dựng 3 trung tâm đào tạo quốc gia và mạng lưới trường nghiệp vụ của các ngành ở địa phương Nhà nước đài thọ, mở các lớp học trong thời gian từ 1-2 tuần để trang bị đủ kiến thức thiết thực như kỹ năng lãnh đạo cơ bản, quản lý dự án, phát triển cộng đồng

Thứ tư, phát huy dân chủ để phát triển nông thôn Hàn Quốc thành lập hội

đồng phát triển xã, quyết định sử dụng trợ giúp của chính phủ trên cơ sở công khai, dân chủ, bàn bạc để triển khai các dự án theo mức độ cần thiết của địa

Trang 32

phương Thành công ở Hàn Quốc là xã hội hóa các nguồn hỗ trợ để dân tự quyết định lựa chọn dự án, phương thức đóng góp, giám sát công trình

Thứ năm, phát triển kinh tế hợp tác từ phát triển cộng đồng Hàn Quốc đã

thiết lập lại các hợp tác xã (HTX) kiểu mới phục vụ trực tiếp nhu cầu của dân, cán

bộ HTX do dân bầu chọn Phong trào SU là bước ngoặt đối với sự phát triển của HTX hoạt động đa dạng, hiệu quả trong dịch vụ tín dụng, cung cấp đầu vào cho sản xuất, tiếp thị nông sản, bảo hiểm nông thôn và các dịch vụ khác Trong vòng

10 năm, doanh thu bình quân của 1 HTX tăng từ 43 triệu won lên 2,3 tỉ won

Thứ sáu, phát triển và bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bằng sức mạnh toàn

dân Chính phủ quy hoạch, xác định chủng loại cây rừng phù hợp, hỗ trợ giống, tập huấn cán bộ kỹ thuật chăm sóc vườn ươm và trồng rừng để hướng dẫn và yêu cầu tất cả chủ đất trên vùng núi trọc đều phải trồng rừng, bảo vệ rừng Nếu năm

1970, phá rừng còn là quốc nạn, thì 20 năm sau, rừng xanh đã che phủ khắp nước, và đây được coi là một kỳ tích của phong trào SU

Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng nông thôn mới ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU, với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ

một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có (Tuấn Anh, 2012)

2.2.1.2 Trung Quốc

Cho đến nay, quá trình cải cách nông thôn Trung Quốc đã trải qua 3 giai đoạn, sau mỗi giai đoạn, quá trình cải cách thu được những kết quả nhất định Giai đoạn xây dựng thể chế kinh tế mới ở nông thôn (1978-1991) được bắt đầu từ việc thực hiện chế độ khoán trách nhiệm sản xuất tới hộ gia đình Có thể nói, đây là giai đoạn “cởi trói”, với việc từng bước tháo gỡ những chính sách, biện pháp làm hạn chế sự phát triển của sức sản xuất xã hội, xây dựng thể chế kinh tế mới trong nông nghiệp và nông thôn, giải phóng sức sản xuất xã hội nông thôn Đến năm 1990, cơ cấu GDP theo ngành ở Trung Quốc lần lượt là: nông nghiệp: 27,1%, công nghiệp: 41,6%, dịch vụ: 31,3% Cơ cấu GDP của nông thôn theo ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ lần lượt là 46,1%; 46,3%; 7,6% Thu nhập bình quân đầu người ở nông thôn là 708 NDT năm 1991 Số người nghèo đói trong giai đoạn này đã giảm xuống còn khoảng 80 triệu người Đến năm 1992, Trung Quốc đã có 517 thành phố

Trang 33

Trong giai đoạn cải cách và phát triển nông thôn trong bối cảnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa 1992-2000: Trung Quốc nêu nhiệm vụ xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, tiếp tục công cuộc cải cách

mở cửa; đi sâu cải cách nông nghiệp nông thôn, ổn định và hoàn thiện chế độ khoán; xây dựng hệ thống thị trường nông thôn; phát triển ngành nghề hoá nông nghiệp; chuyển biến chức năng của chính quyền; đẩy nhanh đô thị hoá nông thôn Đến năm 2006, Trung Quốc tiến hành xóa bỏ thuế nông nghiệp

Có thể thấy, khi kết thúc giai đoạn này, bộ mặt nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những thay đổi to lớn: từ sản xuất lương thực đơn thuần trước đây đã chuyển sang sản xuất nhiều chủng loại lương thực, thực phẩm; ngành nghề kinh doanh đa dạng, nhiều thành phần, chế độ thu mua lương thực và lưu thông hàng hoá ở nông thôn được cải cách, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch

rõ nét, mức độ thị trường hoá của nông thôn mở rộng hơn; các giai tầng ở nông thôn có sự phân hoá

Giai đoạn cải cách và phát triển nông thôn trong bối cảnh hội nhập quốc tế (2001-2008) được khởi đầu bằng sự kiện Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), năm 2001, đánh dấu quá trình hội nhập toàn diện vào tiến trình toàn cầu hóa kinh tế khu vực và thế giới

Việc Trung Quốc tham gia sâu rộng vào thị trường nông sản thế giới, có lợi cho phát triển nông nghiệp, tạo môi trường và điều kiện để đẩy nhanh hiện đại hoá nông nghiệp, thế nhưng, “tam nông” vẫn là khâu yếu trong tiến trình cải cách, xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc Từ năm 2003, vấn đề “tam nông” trở thành trọng tâm trong công tác của Đảng và Nhà nước Trung Quốc

Cải cách nông thôn bước vào giai đoạn mới khi Trung Quốc đưa ra chủ trương xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới với nội dung và yêu cầu nêu trong “Ý kiến về thúc đẩy xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” (Văn kiện số 1 năm 2006) và “Cương yếu quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ XI”: “sản xuất phát triển, đời sống sung túc, thôn thôn văn minh, thôn xã gọn gàng, quản lý dân chủ ” Trong giai đoạn này, Trung Quốc thực hiện

“lấy công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, thành thị lôi kéo nông thôn”, nhất thể hóa phát triển kinh tế - xã hội thành thị - nông thôn Cải cách nông thôn với cách nhìn nhận “lấy con người làm gốc”, coi trọng giải quyết vấn đề việc làm và tăng thu nhập cho nông dân

Trang 34

Có thể thấy rằng, qua 30 năm cải cách nông thôn, Trung Quốc đã giành được những thành tựu to lớn và toàn diện: an ninh lương thực cho hơn 1,3 tỉ dân được bảo đảm; sản lượng lương thực tăng từ 304,7 triệu tấn năm 1978 lên 501,5 triệu tấn năm 2007; số người nghèo đói nông thôn giảm từ 250 triệu người năm

1978 xuống 14,9 triệu người năm 2007; đời sống của cư dân nông thôn được cải thiện rõ rệt, thu nhập của nông dân cũng tăng từ 133,6 NDT năm 1978 lên lên

4761 NDT năm 2008 Cải cách nông thôn đã góp phần to lớn, tạo cơ sở cho tiến trình xây dựng nông thôn xã hội chủ nghĩa giai đoạn mới tiếp tục đạt được những

thành tựu mới (Nguyễn Xuân Cường, 2009)

2.2.1.3 Thái Lan: Sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học

và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã

có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục

vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Về lĩnh vực công nghiệp phục vụ nông nghiệp, chính phủ Thái Lan đã tập trung vào các nội dung sau: Cơ cấu lại ngành nghề phục vụ phát triển công nghiệp nông thôn, đồng thời cũng xem xét đến các nguồn tài nguyên, những kỹ năng truyền thống, nội lực, tiềm năng trong lĩnh vực sản xuất và tiếp thị song song với việc cân đối nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhập khẩu

Trang 35

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan phát triển rất mạnh nhờ một số chính sách sau:

Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2000-2005 là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng: gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi thôn một sản phẩm và chương trình Quỹ thôn

Chính sách bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm Năm

2004, Thái Lan phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới” Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính, như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, chấp nhận

Mở cửa thị trường khi thích hợp: Chính phủ Thái Lan đã xúc tiến đầu tư, thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài vào liên doanh với các nhà sản xuất trong nước để phát triển ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, thông qua việc

mở cửa cho các quốc gia dù lớn hay nhỏ vào đầu tư kinh doanh Trong tiếp cận thị trường xuất khẩu, Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào kết cấu hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ Xúc tiến công nghiệp là trách nhiệm chính của Cục Xúc tiến công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, nhưng

Trang 36

việc xúc tiến và phát triển công nghiệp chế biến thực phẩm ở Thái Lan do nhiều

cơ quan cùng thực hiện Chẳng hạn, trong Bộ Nông nghiệp và Hợp tác xã, cùng với Cục Xúc tiến nông nghiệp, Cục Hợp tác xã giúp nông dân xây dựng hợp tác

xã để thực hiện các hoạt động, trong đó có chế biến thực phẩm; Cục Thủy sản giúp đỡ nông dân từ nuôi trồng, đánh bắt đến chế biến thủy sản Cơ quan Tiêu chuẩn sản phẩm công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp xúc tiến tiêu chuẩn hoá và

hệ thống chất lượng; Cơ quan Phát triển công nghệ và khoa học quốc gia xúc tiến việc áp dụng khoa học và công nghệ cho chế biến; Bộ Đầu tư xúc tiến đầu tư vào vùng nông thôn (Tuấn Anh, 2012)

2.2.1.4 Nhật Bản - "Mỗi làng một sản phẩm"

Năm 1979, GS Hiramatsu, Chủ tịch tỉnh Oita đã khởi xướng phong trào

“Mỗi làng một sản phẩm” (One village, One product - OVOP) đem lại thành công lớn cho sự phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh và sau đó lan ra toàn đất nước Nhật Bản Từ một tỉnh nghèo, Oita được gần như cả thế giới biết đến nhờ các nông sản tuyệt hảo như nấm hương khô, chanh kabosu, rượu shouchu, lúa mạch, ngựa seiki…

Điểm cốt lõi của OVOP là mỗi làng phải chọn cho mình một sản phẩm đặc biệt nổi trội, có tính cạnh tranh nhất mà địa phương khác không có Chính quyền

sẽ hỗ trợ về chính sách, kỹ thuật, vốn và thị trường nhằm mang lại giá trị gia tăng cao nhất Đối tượng khách hàng mục tiêu là du khách

Trên thực tế mỗi địa phương đều có nét văn hóa riêng, do vậy, tạo ra những sản phẩm đặc trưng dựa trên giá trị văn hóa đó và du khách khi tới bất cứ một địa phương nào đều luôn mong chờ được thưởng thức, chiêm ngưỡng những gì độc đáo của địa phương đó

Kênh phân phối chính của OVOP Nhật Bản là các siêu thị Liên minh HTX quyết định giá bán và trong đó, siêu thị hưởng 8%; liên minh hưởng 12%; người sản xuất hưởng 80%

Một nguyên tắc căn bản của OVOP là phát triển nguồn nhân lực Ở tỉnh Oita, người ta xây dựng 6 trường học để dạy nông dân cách làm ăn Việc đào tạo này vừa quan tâm đến phổ biến kiến thức, kỹ năng; vừa nuôi dưỡng sự sáng tạo, cùng với tinh thần, đạo đức kinh doanh, trên cơ sở duy trì giá trị văn hóa truyền thống (Phạm Thị Huyền, 2013)

Trang 37

2.2.1.5 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ những bài học kinh nghiệm của phong trào Làng mới của Hàn Quốc, chúng ta có thể học tập và áp dụng vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, đặc biệt là vấn đề về bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng khi mà chất lượng môi trường ở nước ta ngày càng giảm, tình trạng chặt phá rừng vẫn tiếp diễn và ngày càng khó kiểm soát, do đó, sự chung tay của cả cộng đồng để bảo vệ môi trường và bảo vệ rừng là rất cần thiết

Từ thành tựu trong đổi mới nông thôn ở Trung Quốc có thể thấy rằng bên cạnh việc coi trọng vấn đề “tam nông” (nông nghiệp, nông thôn, nông dân), Trung Quốc còn có những chính sách phát triển cả công nghiệp và nông nghiệp, lấy công nghiệp hỗ trợ nông nghiệp, thành thị hỗ trợ nông thôn Qua đó, tạo ra một mối quan hệ tổng hòa giữa các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của đất nước

Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Thái Lan đã cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, cách làm đột phá, không đi theo lối mòn và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần đưa đất nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Với phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" của Nhật Bản, chúng ta có thể học tập và áp dụng tùy vào điều kiện nước ta Mỗi địa phương, tùy vào điều kiện

và hoàn cảnh cụ thể của mình, lựa chọn những sản phẩm độc đáo, mang đậm nét đặc trưng của địa phương để phát triển không chỉ ở thị trường trong nước mà còn hướng ra thị trường quốc tế với những ưu điểm riêng biệt mà không sản phẩm nào có được

2.2.2 Tình hình xây dựng quy hoạch nông thôn mới ở Việt Nam

Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâm của Nghị quyết số 26-NQ/TW, Nghị quyết toàn diện nhất về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn từ trước tới nay Sau nhiều năm thực hiện, diện mạo nhiều vùng nông thôn được đổi thay, hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu được nâng cấp, đời sống đa số nông dân được cải thiện, hộ nghèo giảm, nhiều nét đẹp văn hóa được phát huy, tình thôn nghĩa xóm được vun đắp, đội ngũ cán bộ trưởng thành một bước

Trang 38

Ngay trong những năm đầu triển khai, chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã nhanh chóng trở thành phong trào của cả nước Nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới được xác định rõ trong nghị quyết đại hội Đảng các cấp từ tỉnh đến huyện và xã Ban Bí thư Trung ương khóa X đã trực tiếp chỉ đạo Chương trình thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại

11 xã điểm ở 11 tỉnh, thành phố đại diện cho các vùng, miền Bộ máy quản lý và điều hành Chương trình xây dựng nông thôn mới đã được hình thành từ Trung ương xuống địa phương Các bộ, ngành đã ban hành 25 loại văn bản hướng dẫn địa phương về tổ chức bộ máy quản lý, điều hành, quy hoạch nông thôn mới Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã triển khai cuộc vận động “Toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới” Ngày 08-6-2011, Thủ tướng Chính phủ đã chính thức phát động thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”

Các địa phương đã quan tâm hơn và tập trung chỉ đạo thực hiện những nội dung trọng điểm, bức xúc trên địa bàn và có nhiều cơ chế, chính sách linh hoạt để huy động nguồn lực thực hiện chương trình Nhờ đó, tốc độ đạt tiêu chí của các xã tăng lên rõ rệt Kết cấu hạ tầng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống người dân được các địa phương quan tâm xây dựng, nâng cấp; bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, thu nhập của cư dân nông thôn tăng nhanh hơn (Phạm Tất Thắng, 2015) Đến tháng 9/2014 đã có 512 xã (5,8%) đạt chuẩn, tăng 327 xã so với thời điểm tổ chức Hội nghị sơ kết 03 năm (5/2014 có 185 xã) Trong đó có 1.285 xã (14,5%) đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 2.836 xã (32,1%) đạt từ 10 đến 14 tiêu chí, 2.964 xã (33,6%) đạt từ 5 đến 9 tiêu chí, 945 xã (11%) đạt dưới 5 tiêu chí và không còn xã trắng tiêu chí Dự kiến hết năm 2015 cả nước sẽ có khoảng 05 huyện và 1.800 xã đạt chuẩn (đạt 20%), 1.527 xã (17,33%) đạt từ 15 đến 18 tiêu chí và chỉ còn 600 xã đạt dưới 5 tiêu chí (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2015)

Về lập và phê duyệt quy hoạch nông thôn mới, đã có 97,4% số xã hoàn thành phê duyệt quy hoạch, dự kiến hoàn thành 100% số xã vào năm 2015 Về phát triển giao thông nông thôn, chương trình đã xây dựng được trên 5 nghìn công trình với khoảng 700.000 km đường giao thông nông thôn Đến nay, đã có 23,3% số xã đạt tiêu chí giao thông, đến hết năm 2015 đạt khoảng 35,3% Trên lĩnh vực thủy lợi, hiện có 44,5% số xã đã đạt tiêu chí, dự kiến đến hết năm 2015 đạt 52,7%; 75,6% xã đạt tiêu chí về điện, đến hết năm 2015 đạt khoảng 80,9%

Trang 39

Cùng với đó, công tác phát triển sản xuất, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ tại nhiều địa phương Nhiều địa phương thực hiện dồn điền, đổi thửa, thiết kế lại kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện đưa cơ giới hóa vào sản xuất Đồng thời, đổi mới tổ chức sản xuất thông qua tăng cường hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp, tổ chức liên kết sản xuất với mô hình “cánh đồng lớn”, sản xuất tập trung, ứng dụng công nghệ cao Nhiều địa phương đã chủ động ban hành chính sách hỗ trợ người dân mua máy cày, gặt, sấy, đưa tỷ lệ cơ giới hóa của các khâu này tăng từ 40% - 50% lên 80 - 90% như các tỉnh: Thái Bình, Hà Tĩnh, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp

Về hệ thống chính trị, tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn được đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao vai trò hạt nhân lãnh đạo Đội ngũ cán bộ

xã đã có bước trưởng thành nhanh; công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

cơ sở đạt chuẩn được quan tâm Đến hết năm 2014 có 68,2% số xã đạt tiêu chí về

hệ thống tổ chức chính trị, xã hội, dự kiến đến hết năm 2015 đạt 79,5%

Tuy nhiên quá trình xây dựng nông thôn mới cũng còn nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết, đó là:

- Thứ nhất, chưa có quy hoạch và quản lý có hiệu quả về không gian chung nông thôn - đô thị, công nghiệp - nông nghiệp, về hạ tầng nông thôn, nên đã dẫn đến không gian nông thôn truyền thống đang bị phá vỡ tại nhiều nơi, mất đi tính đặc thù với các giá trị bản sắc văn hóa, mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường gia tăng;

- Thứ hai, xã hội nông thôn chưa được tổ chức thích hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, dân chủ cơ sở còn bị vi phạm ở nhiều nơi, mâu thuẫn

xã hội gia tăng, văn hóa truyền thống bị mai một;

- Thứ ba, kinh tế nông thôn phát triển nhưng thiếu tính bền vững cả về kinh

tế, xã hội và môi trường Người dân thiếu việc làm ổn định, nghèo đói giảm chậm và có xu thế tái nghèo ở một số địa phương, một bộ phận dân cư còn sống dưới mức nghèo khổ;

- Thứ tư, cơ chế lồng ghép các nguồn lực từ các chương trình, dự án chưa rõ ràng và chưa quan tâm tới đặc thù từng địa phương Thực tế các địa phương mới chỉ tiến hành ghép vốn đối với các công việc, mục tiêu có cùng nội dung Tuy nhiên, điều này lại gây khó trong tổng hợp kết quả đạt được của từng dự án, chương trình từ việc ghép các nguồn vốn của các chương trình, dự án trên địa bàn (Phạm Tất Thắng, 2015)

Trang 40

2.2.3 Tình hình xây dựng quy hoạch nông thôn mới ở tỉnh Thanh Hóa

Ngay từ những ngày đầu bắt tay thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới (XDNTM), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã vào cuộc với sự quyết tâm và đồng thuận cao Nhờ đó, đến nay, Thanh Hóa đã có 113 xã

và 52 thôn bản đạt chuẩn NTM; 1 huyện đã trình Trung ương thẩm định công nhận huyện NTM; bình quân toàn tỉnh đạt 13 tiêu chí/xã, tăng 8,3 tiêu chí so với năm 2011…

Trong 5 năm qua, từ nguồn vốn của Trung ương và của tỉnh, cùng với huy động đóng góp của nhân dân và các nguồn vốn khác, các địa phương, đơn vị trong tỉnh đã thực hiện được 784 mô hình phát triển sản xuất và ngành nghề nông thôn Trong đó, có 327 mô hình trồng trọt, 195 mô hình chăn nuôi, 185 mô hình

cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, 62 mô hình nuôi trồng thủy - hải sản và

15 mô hình ngành nghề nông thôn, thu hút 34.326 hộ gia đình tham gia

Qua đánh giá, đa số các mô hình đã đáp ứng được yêu cầu thực tế, phù hợp với nguyện vọng của người dân và đúng với nội dung của chương trình XDNTM,

đó là lấy phát triển sản xuất là gốc để nâng cao giá trị sản xuất và thế mạnh của từng vùng, từng địa phương

Một số mô hình đã mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng thu nhập cho người dân, như: Trồng hoa tại các xã Quảng Tâm (TP.Thanh Hóa), Yên Trường (Yên Định); trồng ớt xuất khẩu tại xã Xuân Lâm (Tĩnh Gia), Xuân Du (Như Thanh), Định Bình (Yên Định); trồng ngô ngọt tại Vĩnh An (Vĩnh Lộc); trồng dưa chuột, bí xanh tại một số huyện như Hoằng Hóa, Như Thanh, Yên Định, Nga Sơn…

Quan hệ sản xuất trong nông nghiệp tiếp tục được củng cố, là cầu nối giữa khâu sản xuất với thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Đến năm

2015, toàn tỉnh có 565 hợp tác xã nông, lâm, ngư nghiệp Các khâu dịch vụ nông nghiệp được đáp ứng kịp thời Việc liên doanh, liên kết giữa các hợp tác xã với các doanh nghiệp ngày càng mở rộng Đến nay, toàn tỉnh có 22.932 tổ hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp; có 127 làng nghề, trong đó có 85 làng nghề truyền thống, thu hút 60.734 lao động nông nghiệp, nông thôn; đã công nhận 77 nghề truyền thống, làng nghề truyền thống…

Nhờ tập trung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng - vật nuôi, đẩy mạnh phát triển sản xuất, giải quyết việc làm nên thu nhập bình quân của người

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguyễn Xuân Cường (2009). Nông thôn Trung Quốc - chặng đường 30 năm cải cách, Tạp chí Cộng sản, Truy cập ngày 21/02/2016 tại http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/The-gioi-van-de-su-kien/2009/2209/Nong-thon-Trung-Quoc-chang-duong-30-nam-cai-cach.aspx Link
18. Phạm Tất Thắng (2015). Việt Nam trên đường đổi mới: Xây dựng nông thôn mới - một số vấn đề đặt ra, Tạp chí Cộng sản, Truy cập ngày 21/02/2016 từhttp://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2015/35998/Xay-dung-nong-thon-moi-mot-so-van-de-dat-ra.aspx Link
19. Phạm Thị Huyền (2013). Mô hình mỗi làng một sản phẩm của Nhật Bản: Phiên bản nào cho Việt Nam?, Tạp chí Công thương, Truy cập ngày 01/03/2016 từ http://tapchicongthuong.vn/mo-hinh-moi-lang-mot-san-pham-cua-nhat-ban-phien-ban-nao-cho-viet-nam--20130517094040591p77c6.htm Link
20. Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh (2008). Xây dựng mô hình nông thôn mới ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản, Truy cập ngày 23/02/2016 từhttp://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2008/1625/Xay-dung-mo-hinh-nong-thon-moi-o-nuoc-ta-hien-nay.aspx Link
21. Tân Thành (2016). Thanh Hóa: Sức bật từ Chương trình xây dựng nông thôn mới, Báo Kinh tế nông thôn, Truy cập ngày 29/02/2016 từhttp://www.kinhtenongthon.com.vn/Thanh-Hoa-Suc-bat-tu-Chuong-trinh-xay-dung-nong-thon-moi-5-58228.html Link
22. Tuấn Anh (2012). Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới ở một số nước trên thế giới, Tạp chí Cộng sản, Truy cập ngày 20/02/2016 từhttp://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2012/14689/Kinh-nghiem-xay-dung-nong-thon-moi-o-mot-so-nuoc-tren.aspx Link
1. Ban Chấp hành Trung ương (2008). Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Khác
2. Ban chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới huyện Lang Chánh (2015). Báo cáo tổng kết 5 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015 Khác
3. Bộ Giao thông vận tải (2014). Quyết định số 4927/QĐ-BGTVT ngày 25 tháng 12 năm 2014 của Bộ Giao thông vận tải hướng dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn phục vụ chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Khác
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009). Thông tư số 54/2009/TT- BNNPTNT ngày 21 tháng 08 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới Khác
5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010). Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới. tr. 6-8 Khác
6. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013). Thông tư số 41/2013/TT- BNNPTNT ngày 04 tháng 10 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới Khác
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2015). Dự thảo kế hoạch thực hiện chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016 – 2020 Khác
8. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2010). Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 Khác
9. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2013). Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ Sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Khác
10. Chính phủ nước CHXHXN Việt Nam (2009). Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 04 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về Nông thôn mới Khác
11. Đảng ủy xã Đồng Lương (2015). Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
12. Đảng ủy xã Giao An (2015). Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
13. Mai Thanh Cúc, Quyền Đình Hà, Nguyễn Thị Tuyết Lan, Nguyễn Trọng Đắc (2005). Giáo trình Phát triển nông thôn, NXB Đại học Nông nghiệp Hà Nội. tr 4,10 Khác
14. Nguyễn Văn Hùng (2015). Xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. tr. 23-25 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Vị trí của huyện Lang Chánh trong tỉnh Thanh Hóa - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.1. Vị trí của huyện Lang Chánh trong tỉnh Thanh Hóa (Trang 45)
Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế huyện Lang Chánh giai đoạn 2010 -2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.1. Cơ cấu kinh tế huyện Lang Chánh giai đoạn 2010 -2015 (Trang 51)
Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2010 -2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.2. Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2010 -2015 (Trang 52)
Hình 4.2: Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2010 -2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.2 Biểu đồ cơ cấu các ngành kinh tế giai đoạn 2010 -2015 (Trang 52)
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất huyện Lang Chánh năm 2015 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.3. Hiện trạng sử dụng đất huyện Lang Chánh năm 2015 (Trang 60)
Hình 4.3. Huyện Lang Chánh tổ chức diễu hành, cổ động phong trào xây dựng nông thôn mới - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.3. Huyện Lang Chánh tổ chức diễu hành, cổ động phong trào xây dựng nông thôn mới (Trang 63)
4.2.2.5. Đánh giá tình hình thực hiện nhóm tiêu chí hệ thống chính trị - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
4.2.2.5. Đánh giá tình hình thực hiện nhóm tiêu chí hệ thống chính trị (Trang 73)
4.3.1.3. Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Giao An - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
4.3.1.3. Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Giao An (Trang 77)
4 Cứng hóa đường nội - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
4 Cứng hóa đường nội (Trang 78)
Hình 4.4. Đường liên xã Giao An – Trí Nang sau khi được sửa chữa, nâng cấp - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.4. Đường liên xã Giao An – Trí Nang sau khi được sửa chữa, nâng cấp (Trang 78)
Hình 4.5. Đường trục thơn Viên sau khi được cải tạo - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.5. Đường trục thơn Viên sau khi được cải tạo (Trang 79)
Bảng 4.10. Tình hình thực hiện cơng trình điện nơng thơn xã Giao An - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.10. Tình hình thực hiện cơng trình điện nơng thơn xã Giao An (Trang 80)
Hình 4.6. Trạ my tế xã Giao An - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.6. Trạ my tế xã Giao An (Trang 81)
Hình 4.7. Trung tâm văn hóa, thể thao xã Giao An - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Hình 4.7. Trung tâm văn hóa, thể thao xã Giao An (Trang 82)
Bảng 4.11. Tình hình thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo xã Giao An - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện lang chánh   tỉnh thanh hóa
Bảng 4.11. Tình hình thực hiện quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo xã Giao An (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w