Để đạt được những nội dung chính đề tài có mục tiêu chính là Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn tại tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất hệ thống các
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Thị Phương Thụy
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Văn Thắng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới TS Vũ Thị Phương Thụy đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kinh tế tài nguyên môi trường, Khoa Kinh tế phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Phòng nông nghiệp
& phát triển nông thôn huyện Đông Anh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Văn Thắng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ, biểu đồ, hộp vii
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Đóng góp của luận văn 3
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Một số khái niệm 4
2.1.4 Nội dung nghiên cứu giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 25 2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 27
2.2 Cơ sở thực tiễn 30
2.2.1 Tổng quan về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn ở các nước 30
2.2.2 Tổng quan về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn ở việt nam 32
2.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho quản lý rủi ro dịch bênh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện đông anh 37
2.2.4 Một số chính sách quản lý rủi ro trong chăn nuôi ở việt nam 38
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 40
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 40
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 40
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 44
Trang 53.2 Phương pháp nghiên cứu 53
3.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 53
3.2.2 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 55
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 55
3.2.4 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 56
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 58
4.1 Thực trạng rủi ro dịch bệnh và hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện đônh anh 58
4.1.1 Thực trạng chăn nuôi lợn và dịch bênh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyên đông anh 58
4.1.2 Thực trạng rủi ro dịch bệnh và hạn chế rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện đông anh 61
4.2 Tình hình thực hiện các biện pháp để hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 74
4.2.1 Tình hình hạn chế rủi ro trong phòng bệnh 74
4.2.3 Tình hình hạn chế rủi ro sau khi dịch bệnh xảy ra 84
4.2.4 Tình hình kiểm soát và xử lý dịch bệnh của các cơ quan quản lý nhà nước 85
4.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế rủi ro dịch bệnh của các hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện đông anh 92
4.3.1 Kiến thức quản lý và kỹ năng của người chăn nuôi lợn 92
4.3.2 Tình hình đất đai và quy mô, diện tích chuồng trại 94
4.3.3 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ quản lý 94
4.3.4 Giá cả thị trường đầu vào 95
4.4 Giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện đông anh, thành phố hà nội 96
4.4.1 Các quan điểm đề xuất giải pháp 96
4.4.2 Giải pháp hạn chế rủi ro dịch bênh trong chăn nuôi lợn 97
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 103
5.1 Kết luận 103
5.2 Kiến nghị 104
5.2.1 Đối với thành phố hà nội 104
Tài liệu tham khảo 105
Tiếng việt: 105
Phụ lục 109
Trang 6FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng thu nhập quốc nội
GTSX Giá trị sản xuất
HACCP Phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn
VACR Vườn - Ao - Chuồng - Ruộng
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Loại rủi ro trong nông nghiệp và cơ chế tác động 12
Bảng 3.1 Tình hình dân số tại huyện Đông Anh năm 2016 45
Bảng 3.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện Đông Anh năm 2016 51
Bảng 3.3 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp của huyện Đông Anh năm 2016 52
Bảng 3.4 Nguồn thu thập thông tin thứ cấp 53
Bảng 3.5 Số lượng mẫu điều tra 54
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn huyện Đông Anh 58
Bảng 4.2 Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi lợn huyện Đông Anh 60
Bảng 4.3 Tình hình chung của các nhóm hộ điều tra 62
Bảng 4.4 Tình hình chăn nuôi lợn theo quy mô ở huyện Đông Anh 63
Bảng 4.5 Chuồng trại và phương thức chăn nuôi lợn ở các hộ điều tra 64
Bảng 4.6 Tài sản phục vụ chăn nuôi lợn của hộ 65
Bảng 4.7 Nguồn thức ăn đầu vào cho chăn nuôi lợn của hộ 66
Bảng 4.8 Phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi lợn của hộ 67
Bảng 4.9 Tình hình lợn bị bệnh tại các hộ chăn nuôi lợn trong năm 2016 phân theo quy mô 72
Bảng 4.10 Tình hình lợn bị bệnh tại các hộ chăn nuôi lợn trong năm 2016 phân theo phương thức nuôi 73
Bảng 4.11 Nguồn cung cấp giống lợn của các hộ chăn nuôi trong năm 2016 74
Bảng 4.12 Lý do hộ chọn nguồn cung cấp giống lợn 75
Bảng 4.13 Căn cứ để chọn giống lợn của hộ chăn nuôi 76
Bảng 4.14 Nhận định của hộ chăn nuôi về ảnh hưởng của thức ăn đến dịch bênh trên đàn lợn 77
Bảng 4.15 Khả năng tiếp cận dịch vụ thú ý của hộ nuôi lợn 78
Bảng 4.16 Hình thức phòng chống rủi ro dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn 79
Bảng 4.17 Phương thức và hình thức tiêm phòng bệnh cho lợn của hộ chăn nuôi 81
Bảng 4.18 Chi phí phòng dịch bệnh của hộ chăn nuôi lợn trong năm 2016 82
Bảng 4.19 Hình thức xử lý của hộ chăn nuôi khi lợn bị bệnh 82
Bảng 4.20 Hình thức xử lý của hộ khi lợn chết 85
Bảng 4.21 Kết quả tiêm Vacxin phòng dịch bênh cho đàn lợn trên địa bàn huyện Đông Anh trong 3 năm (2014 – 2016) 91
Bảng 4.22 Tình hình hỗ trợ vật tư công tác phòng dịch trên địa bàn huyện Đông Anh 92
Bảng 4.23 Trình độ của người chăn nuôi lợn huyện Đông Anh 93
Bảng 4.24 Tình hình đất đai, diện tích chuồng trại của hộ 94
Bảng 4.25 Trình độ chuyên môn cán bộ quản lý 95
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HỘP
Sơ đồ 4.1 Những rủi ro mà hộ chăn nuôi lợn gặp phải 68
Biểu đồ 4.1 Quy mô chăn nuôi ở huyện Đông Anh 59 Biểu đồ 4.2 Phương thức chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh 65 Biểu đồ 4.3 Phương pháp xử lý chấy thải trong chăn nuôi lợn trên địa bàn
huyện Đông Anh 68
Hộp 4.1 Sẵn sàng chấp nhận rủi ro mất không cả đàn lợn 84
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên tác giả: Đinh Văn Thắng
2 Tên luận văn: “Giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”
3 Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế Mã số: 60 34 04 10
4 Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
5 Kết quả nghiên cứu chính
Hiện tại nhà nước có rất nhiều chính sách hỗ trợ người nông dân nuôi lợn như về thú y, khuyến nông, vốn, kỹ thuật, giống, thị trường, tiêm vacxin phòng và chữa bênh,… Tuy nhiên những biện pháp này chỉ giảm được một phần rất nhỏ để chống lại rủi ro mà người dân gặp phải, chứ chưa tập trung và nâng cao năng lực và khả năng ứng phó của hộ nhằm hạn chế tác động rủi ro
Đông Anh là một huyện thuộc thành phố Hà Nội, là một trong những điểm đầu mối cung cấp thịt cho toàn thành phố Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực có thế mạnh ở huyện Đông Anh Trong quá trình xây dựng nông thôn mới, huyện đã và đang tập trung phát triển sản xuất nông nghiệp để nâng cao đời sống cho người dân, trong đó, chăn nuôi lợn đang dần trở thành ngành sản xuất chính và thu hút sự tham gia của đa số hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện Tuy nhiên, dịch bệnh như: tai xanh, lờ mồm long móng,
là vấn đề mà các hộ chăn nuôi lo sợ nhất Trước tình hình hiện nay, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội” để giúp hộ chăn nuôi nâng cao khả năng ứng phó với các rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
Để đạt được những nội dung chính đề tài có mục tiêu chính là Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn tại tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro của dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích như: phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích rủi ro, phương pháp so sánh
Qua thực trạng đánh giá rủi ro dịch bệnh trong sản xuất chăn nuôi lợn cho thấy: Đông Anh đang từng bước thực hiện chăn nuôi lợn theo hướng công nghiệp, sản xuất hàng hóa Nếu như trước kia, hộ chăn nuôi chủ yếu chăn nuôi nhỏ lẻ thì đến nay chăn nuôi theo quy mô vừa từ 20 -50 con đang là xu hướng chăn nuôi chủ yếu ở huyện Đông Anh chiếm 51,67% hộ điều tra Ngoài ra, có khoảng 15,83% số hộ được điều tra phát
Trang 10triển chăn nuôi lợn theo hướng gia trại, trang trại với quy mô đàn lợn từ 50 con/lứa trở lên Việc đầu tư chăn nuôi của các hộ tương đối tích cực trên tất cả các quy mô, không
có sự chênh lệch nhiều về việc đầu tư chuồng trại Hầu hết khi tiến hành chăn nuôi lợn, 94% các hộ đều đầu tư xây dựng chuông trại kiên cố và bán kiên cố, các hộ có chuồng trại tạm bợ vẫn còn nhưng chiếm tỉ lệ ít và tập trung ở các hộ QMN trong khu dân cư Với nguồn thu nhập chính là chăn nuôi nên những hộ chăn nuôi QML đầu tư vào chuồng trại lớn hơn với 100% là kiên cố/bán kiên cố và mặc dù sự chênh lệch là không nhiều nhưng tỉ lệ này giảm dần theo quy mô từ lớn đến nhỏ Nghiên cứu cho thấy có 62% số hộ dân được điều tra có hình thức nuôi công nghiệp, có 15% số hộ dân nuôi tận dụng hầu như những hộ này là hộ có quy mô nhỏ, còn lại có 23% số hộ nuôi bán công nghiệp những hộ này vừa tận dụng những thức ăn hiện có, vừa nuôi với cám công nghiệp nhằm thúc đẩy năng suất cao hơn Các hộ chăn nuôi lợn chủ yếu sử dụng nguồn con giống do tự hộ sản xuất chiếm hơn 68%, trong đó hộ quy mô nhỏ có hơn 83% số lợn giống tự hộ sản xuất được trong tổng bình quân 32,64 con/hộ/năm Ngoài lợn giống
tự sản xuất thì các hộ mua từ các hộ chăn nuôi khác chiếm 10% Nguyên nhân do các Trại giống ở đây đang còn ít và giá lợn giống cao nên các hộ ít sử dụng (chỉ chiếm 3,33%) Chính vì vậy, cần có các giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn ở huyện Đông Anh Các hộ chăn nuôi cần nâng cao kiến thức của hộ về chăn nuôi lợn, nhất là kiến thức về quản lý dịch bệnh Thường xuyên chủ động tiêm phòng và vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, sử dụng thức ăn có chất lượng Đối với cơ quan chức năng, cần xây dựng vùng chăn nuôi tập trung xa khu dân cư để dễ quản lý, giảm thiểu được dịch bệnh Xây dựng hệ thống mạng lưới thú ý tốt hơn, mở rộng và nâng cao trình độ cho cán bộ thú y cấp cơ sở
Trang 11
THESIS ABSTRACT
1 Name: Dinh Van Thang
2 Title: “Solutions to limit deseases risks in pig raising at Dong Anh district, Ha Noi city”
3 Major: Economics Management Code: 60 34 04 10
4 Education institution: Vietnam National University of Agriculture
5 Main results
Recently, the Government have implemented a numbers of policies to support pig raising household farmers on veterian, agricultural extention, capital, technology, bread, and vacine and medicine However, these solutions had had little effect on dealling with the damage after risks but not focus on improving the capacity and ability
to households’ resilience to the reduce the impacts of the risks
Dong Anh is a district of Ha Noi city, is one of the gate to supply pork to the whole city Agriculture is the strength sector of Dong Anh district In the process of building new rural, the district had focusing on agricultural development to improve the living standard of local people of which pig production has been main sector and attract large number of husbandry households in the district However, deseases such as blue ear, flutter, are issues that threaten most farmers Hence, I have conducted a research titled: "Solutions to limit disease risks in pig raising at Dong Anh district, Hanoi city" to help farmers improve their ability to cope with the disease risks in pig production The study’s objectives are addressing the real situation of desease risks in pig raising at research area, then to propose some solutions to limit the risks in pig raising activity in the near future In this research, I have applied descriptive statistic method, risk analyzing medthod and comparison method to tackle these objectives
Through analysing the real situation of desease risks in pig raising at research areas, we can address that: Dong Anh has graduatly applied industrial oriented method
in pig production In the past, raising farmer household often run small scale production but recently they have run averaged production scale of 20 - 50 pigs per herd (accounted of 51,67% of serveyed households Besides, 15,83% serveyed households are doing at large farming scale with above 50 pigs per herd Investment of households
in barn at all farming scales are approximately and remarkable 94% of serveyed households have invested in building pig – house at solid and semi – solid forms The research results has found that 62% serveyed households have applied industrial raising farm, 23% applied semi industrial form and 15% lefts applied economical combined form Most of the farmers use self produced breeds (take account of 68% of serveyed
Trang 12household), 83% of small scale households produce 32,64 pigs/household/year Only 10% of serveyed households bought breeds form other raising households due to lack of breed producer and high price of pig breed To deal that situation, the Dong Anh government need to have appropriate solutions Farming households need to improve knowledge of pig production especially on desease management Moreover, they should regularly and actively do vaccinating and cleaning, disinfecting, disinfecting, using high quality feed The local government should build concentrated pig raising areas far from the resident areas to control and reduce deseases The system of veterian should be improved, expanded and enhanced qualification and skills of local veterinary staffs
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nền nông nghiệp Việt Nam đã được hình thành từ lâu đời với hai ngành sản xuất chính là trồng trọt và chăn nuôi, cả hai ngành sản xuất chính này luôn gắn bó mật thiết với nhau, cùng thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình phát triền Cùng với sự phát triển của ngành nông nghiệp, chăn nuôi lợn cũng đang từng bước khẳng định vị thế của mình trong cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam Chăn nuôi lợn được coi là quan trọng nhất trong ngành chăn nuôi ở Việt Nam, đặc biệt là trên khía cạnh thu nhập của người chăn nuôi Việt Nam cũng được coi
là quốc gia có mức tiêu thụ thịt lợn nhiều nhất (70% lượng thịt tiêu thụ) trong số các nước Đông Nam Á và xu hương vẫn đang tiếp tục tăng do giá lợn hơi có xu hương ổn định cho người chăn nuôi (Tổng cục thống kê, 2015) Nhu cầu tăng đã khiến cho chăn nuôi lợn ở Việt Nam có những bước đột biến lớn, đồng thời ngày càng chứng tỏ vị thế quan trọng trong ngành chăn nuôi
Tuy nhiên, trong thời kỳ hội nhập, sản xuất càng đa dạng bao nhiêu thì càng chứa nhiều rủi ro bấy nhiêu, với chăn nuôi lợn cũng vậy, có vô vàn rủi ro mà người dân gặp phải như: thiên tai, dịch bệnh, giá cả đầu vào và đầu ra luôn biến động,… đã gây những thiệt hại đáng kể về kinh tế và ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý đầu tư phát triển sản xuất của người chăn nuôi, cũng như đời sống kinh tế,
xã hội
Hiện tại nhà nước có rất nhiều chính sách hỗ trợ người nông dân nuôi lợn như về thú y, khuyến nông, vốn, kỹ thuật, giống, thị trường, tiêm vacxin phòng
và chữa bênh,… Tuy nhiên những biện pháp này chỉ giảm được một phần rất nhỏ
để chống lại rủi ro mà người dân gặp phải, chứ chưa tập trung và nâng cao năng lực và khả năng ứng phó của hộ nhằm hạn chế tác động rủi ro
Đông Anh là một huyện thuộc thành phố Hà Nội, là một trong những điểm đầu mối cung cấp thịt cho toàn thành phố Sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực
có thế mạnh ở huyện Đông Anh Là huyện có số lượng gia súc, gia cầm đứng thứ
ba toàn thành phố Hiện tổng đàn lợn toàn huyện là 67.000 con với 11.250 hộ chăn nuôi; đàn trâu bò 5.345 con với 3.773 hộ; đàn gia cầm, thủy cầm trên 2,2 triệu con với 15.521 hộ chăn nuôi (Trần Tuyết, 2016) Nhiều hộ đã chuyển sang
mô hình chăn nuôi tập trung xa khu dân cư theo hướng công nghiệp Sản phẩm
Trang 14nông sản huyện cung cấp cho thị trường Hà Nội tiêu thụ Tuy nhiên trong quá trình chăn nuôi lợn xảy ra nhiều rủi ro, trong đó có rủi ro về dịch bệnh như: tai xanh, lờ mồm long móng, là vấn đề mà các hộ chăn nuôi lo sợ nhất Trước tình hình hiện nay, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội”
để giúp hộ chăn nuôi nâng cao khả năng ứng phó với các rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn tại tại địa bàn nghiên cứu, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro của dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn hiện nay;
- Đánh giá thực trạng rủi ro dịch bệnh và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi
ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội;
- Đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới 1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến rủi ro và khắc phục rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
- Đối tượng nghiên cứu: Hộ chăn nuôi, cán bộ quản lý cấp xã, cấp huyện, cán bộ thú y trên địa bàn huyện Đông Anh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên về thực trạng rủi ro dịch bệnh, giải pháp khắc phục rủi ro dịch bệnh chăn nuôi lợn của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
Trang 15- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu ở các hộ chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội Chọn 4 xã đại diện: xã Hải Bối, xã Tiên Dương, xã Tàm Xá, xã Liên Hà để nghiên cứu;
- Về thời gian:
+ Đánh giá thực trạng rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn sử dụng tài liệu từ năm 2014-2016 Dự báo tài liệu nghiên cứu giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện năm 2017-2020;
+ Thời gian thực hiện nghiên cứu: 5/2016 – 4/2017
1.4 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Góp phần làm rõ hơn về lý luận và thực tiễn về về rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn hiện nay; Đánh giá thực trạng rủi ro dịch bệnh và các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn thịt trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội; làm cơ sở để rút kinh nghiệm và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội trong thời gian tới
Trang 16PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hay những vấn đề không chắc chắn có thể xảy ra cho con người” Theo trường phái này có nhiều định nghĩa như:
+ “Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến” (Từ điển Tiếng Việt, 2003)
+ “Rủi ro (đồng nghĩa với rủi) là sự không may” (Nguyễn Lân, Từ điển
Từ và ngữ Việt Nam, 1998)
+ “Rủi ro là gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại…” (Từ điển Oxford) + Một số từ điển khác đưa ra khái niệm tương tự như: “Rủi ro là sự bất trắc gây ra mất mát, hư hại” hay “rủi ro là yếu tố liên quan đến nguy hiểm, sự khó khăn hoặc điều không chắc chắn”
+ Trong lĩnh vực kinh doanh tác giả Hồ Diệu định nghĩa: “Rủi ro là sự tổn thất về tài sản hoặc là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợi nhuận dự kiến”
+ Hoặc “Rủi ro là sự bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”
+ “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” (Frank Knight, 1921) + “Rủi ro là sự bất trắc có thể liên quan đến sự xuất hiện những biến đổi không mong đợi” (Allan Willett, 1951)
Trang 17+ “Rủi ro là một tổng hợp ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất” (Irving Preffer, 1956)
+ “Rủi ro là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến”
+ Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất ổn định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể đoán trước (C Arthur William and Jr Smith, 1924)
Vậy theo trường phái trung hòa thì “Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được” Rủi ro vừa mang tính tiêu cực vừa mang tính tích cực Rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát, nguy hiểm…cho con người nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi
ro người ta có thể tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai (Đoàn Thị Hồng Vân, 2002)
Theo Bùi Thị Gia (2005), trong lĩnh vực nông nghiệp chúng ta có thể hiểu rủi ro là những tổn thất, những bất trắc, khả năng không đạt được kết quả mong muốn và rủi ro có thể đo lường được
Theo Đào Thế Tuấn (1997) đã nhận định về rủi ro theo cách trung hòa hơn Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, nó liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi Đó là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả Rủi
ro có thể xuất hiện trong hầu hết mọi hoạt động của con người Khi có rủi ro, người ta không thể dự đoán được chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định Nguy cơ rủi ro phát sinh bất cứ khi nào một hành động dẫn đến khả năng được hoặc mất không thể dự đoán trước
Như vậy, theo các quan điểm trên thì rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Từ các quan điểm trên cho thấy có sự khác nhau khi nhận thức về rủi ro, điều này có thể hiểu là do cách đánh giá ở từng khía cạnh, từng lĩnh vực của sản xuất và đời sống ở mỗi thời điểm xảy ra rủi ro Bên cạnh đó, do rủi ro xảy ra nhiều lần trong đời sống của con người cho nên những bất trắc xảy ra thì có thể
đo lường được chúng
Trang 18b Không chắc chắn
Trong môi trường tự nhiên, kinh tế và xã hội của người nông dân có rất nhiều điều không chắc chắn xảy ra gây bất lợi đối với mỗi nông dân như thiên tai, giảm giá nông sản, tăng giá đầu vào, bệnh tật,… Các sự kiện đó xảy ra với những xác suất mà không biết trước được Người ta gọi tình trạng đó là không chắc chắn (Đoàn Thị Hồng Vân, 2002)
Theo Bùi Thị Gia, không chắc chắn là các tình trạng không thể gắn xác suất với việc xảy ra các sự kiện Sự không chắc chắn đề cập theo ý nghĩa mô tả đặc điểm môi trường kinh tế mà các nông hộ phải đương đầu Sự không chắc chắn chỉ được xem như là một vấn đề đối với sản xuất nông nghiệp hơn là các ngành khác và được thể hiện trên các dạng chủ yếu sau:
chắn là do gặp phải thiên tai Thiên tai là những tác động có hại đối với sản xuất nông nghiệp mà khó có thể dự đoán được như bệnh dịch, lũ lụt, nắng hạn,… Thiên tai cũng có thể được mô tả như là sự không chắc chắn về năng suất và sản lượng của đối tượng nuôi Khả năng chống lại thiên tai phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như kinh nghiệm, kiến thức, nguồn lực, sự hợp tác trong cộng đồng,… Điều này dẫn đến ảnh hưởng của cùng một loại thiên tai đến các vùng khác nhau, hay ảnh hưởng đến các hộ khác nhau cũng khác nhau Mức độ ảnh hưởng này là một trong những nguyên nhân gây nên sự khác biệt về sản lượng trong sản xuất
dài nên khi lựa chọn một loại cây trồng hoặc loại gia súc nào đó tại thời điểm ra quyết định người ta khó xác định được giá thị trường vào lúc đó của sản phẩm để bán trên thị trường là bao nhiêu Điều này đặc biệt khó khăn đối với các cây trồng và vật nuôi lâu năm như cà phê, chè, cao su, trâu, bò,… những đối tượng nuôi này phải mất thời gian kiến thiết cơ bản nhất định sau đó mới cho thu hoạch sản phẩm Vấn đề càng trầm trọng hơn đối với các nước chậm phát triển, nơi có thị trường không hoàn thiện và thiếu thông tin Với thời gian như vậy đủ để tác động đến các yếu tố quyết định cung và cầu của sản phẩm này trên thị trường Ảnh hưởng này đến nông hộ thể hiện qua việc giá cả sản phẩm khi bán trên thị trường với giá cả được kỳ vọng trước khi sản xuất là rất khác biệt
Hậu quả của nó có thể được mùa nhưng doanh thu từ sản phẩm thấp do sản lượng tăng nhưng giá giảm lớn hơn mức tăng của sản lượng, hoặc sản lượng
Trang 19thấp nhưng giá cả lại cao đủ để làm cho doanh thu tăng lên Điều đặc biệt quan trọng thể hiện đa số thị trường nông sản là thị trường canh tranh hoàn hảo, giá cả
là một biến ngoại sinh trong việc ra quyết định của nông hộ Chính vì điều này,
sự can thiệp của Nhà nước thông qua lượng cầu, can thiệp giá đối với thị trường nông sản khi có sự biến động quá lớn là cần thiết nhằm ổn định đời sống và sản xuất đối với ngành này
lực sản xuất và sự lệ thuộc của một số nông dân vào những người khác Điều này xảy ra khi không có sự công bằng trong quyền sở hữu đất đai và các nguồn lực khác Sự không chắc chắn về xã hội do tính chất của xã hội quyết định nên nó có mức độ khác nhau giữa các vùng hoặc các nước khác nhau
khỏe của mình cũng như các thành viên gia đình trong tương lai Vì vậy, điều này cũng được coi là sự không chắc chắn về con người
Những sự không chắc chắn như trên dẫn đến người nông dân không tình nguyện chấp nhận sự đổi mới kỹ thuật, ngại đầu tư cho sản xuất hoặc tiếp nhận một cách chậm chạp để tăng sự thích nghi với những điều không chắn chắn Điều
đó cũng làm tăng thêm sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội nông thôn
c Nguy cơ
Theo như Luật Vệ sinh An toàn thực phẩm thì “risk” (rủi ro) trong này được gọi là nguy cơ Tuy nhiên, theo như một số tài liệu về bảo hiểm thì nguy cơ khác với rủi ro
Nguy cơ là một thuật ngữ thường được sử dụng trên các đơn bảo hiểm thuộc thị trường bảo hiểm Anh - Mỹ Trên thực tế, người ta rất khó phân biệt và thường lẫn lộn giữa nguy cơ và hiểm họa ("hiểm họa" thường được sử dụng trong các đơn bảo hiểm "Mọi rủi ro" (All Risk Policy) Nó biểu hiện hàng loạt các sự cố có thể xẩy ra gây thiệt hại cho một đối tượng hoặc một sự cố không chắc chắn nào đó có thể ảnh hưởng đến nhiều người khác nhau với tư cách khác nhau) Một khi có nguy cơ thì có nghĩa là sự phát động của hiểm họa gần với hiện thực hơn, khả năng xẩy ra tổn thất cao hơn (Phạm Thị Mỹ Dung, 2002)
Nguy cơ xuất hiện như một điều kiện phối hợp, tác động làm rủi ro xẩy ra dẫn đến tổn thất Bản thân nguy cơ là hoàn toàn độc lập với rủi ro Một cách
Trang 20ngắn gọn, nguy cơ có thể định nghĩa như sau: Nguy cơ là những điều kiện phối hợp, tác động làm tăng khả năng tổn thất
Nguy cơ là tình tiết của rủi ro, là những điều kiện, nhân tố tác động làm gia tăng khả năng xảy ra các tổn thất mang lại từ các hiểm họa phát sinh trong điều kiện đó Nguy cơ là những điều kiện tác động làm gia tăng khả năng xảy ra các tổn thất Nguy cơ có thể làm tăng xác suất xảy ra tổn thất, cả về tần số xuất hiện và mức độ nghiêm trọng Tần số xuất hiện ở đây có thể hiểu như là con số các trường hợp tổn thất xảy ra trong thời gian cụ thể Mức độ nghiêm trọng được hiểu như là giá trị tổn thất quy đổi thành tiền tính cho mỗi trường hợp xảy ra tổn thất (Phạm Thị Mỹ Dung, 2002)
Như vậy, có thể hiểu nguy cơ là những nguyên nhân có thể dẫn đến các tổn thất; rủi ro là xác suất xảy ra các tổn thất Nguy cơ và rủi ro không được xem
là hai thuật ngữ tương tự nhau mặc dù nguy cơ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến rủi ro, mặc dù rủi ro liên quan đến khả năng xảy ra sự kiện và được thể hiện thông qua xác suất, nhưng con số đó chưa thể hiện đầy đủ nguy cơ hàm chứa trong các sự việc
Sự phân biệt nguy cơ và rủi ro không có ý nghĩa nhiều trong sản xuất nông nghiệp vì nguy cơ là một điều kiện làm gia tăng khả năng tổn thất Không
có nguy cơ rủi ro vẫn tồn tại, có nguy cơ, khả năng rủi ro phát động cao hơn Do
đó, giảm thiểu nguy cơ chỉ có thể làm giảm khả năng xảy ra biến cố chứ không làm giảm mức độ rủi ro hay triệt tiêu rủi ro Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển giúp ích cho con người rất nhiều trong việc giảm thiểu nguy cơ bằng các biện pháp như: dự báo tình hình sâu bệnh, dịch bệnh trong quá trình sản xuất, khi điều kiện ngoại cảnh thay đổi,…
d Phân biệt rủi ro và không chắc chắn
P.H.Callkin et al (1983) nói rằng F.H.Knight (1921) đã phân biệt giữa rủi ro (risk) và không chắc chắn (Uncertainty) Theo Knight, rủi ro tồn tại khi người sản xuất biết vùng kết quả (Outcome) có khả năng xảy ra và xác suất của vùng kết quả đối với quyết định của người sản xuất Ngược lại sự không chắc chắn xảy ra khi các kết quả hoặc sự kiện (event) xảy ra và xác suất của chúng không biết Thông thường không chắc chắn bao gồm các sự cố thỉnh thoảng xảy
ra như lũ lụt cả một con sông hay cái chết của một con bò đực đánh giá,…
Trang 21Còn R.D.Kay (1988) nói rằng, có nhiều tác giả phân biệt giữa rủi ro và không chắc chắn, họ định nghĩa rủi ro là tình trạng mà ở đó tất cả các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó là biết trước đối với người ra quyết định Còn không chắc chắn là tình trạng mà các kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của
nó không biết trước khi quyết định quản lý Với sự phân biệt này, phần lớn quyết định trong nông nghiệp được phân biệt ra rủi ro và không chắc chắn
J.B.Hardaker (1997) cho rằng rủi ro và không chắc chắn có thể định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, song cách phân biệt thông thường đó là: rủi ro là sự không hoàn hảo về kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó, còn không chắc chắn là kết quả có khả năng xảy ra và xác suất của nó là không biết trước
Sự phân biệt rủi ro và không chắc chắn không có ích nhiều đối với nhà quản lý sản xuất nông nghiệp Một tình trạng rủi ro thuần túy là rất hiếm thấy vì không biết được xác suất thực Do đó, mà một số tác giả cho rằng, người quản lý sản xuất nông nghiệp luôn luôn phải quyết định trong môi trường không chắc chắn, hay nói cách khác là mọi quyết định đều chứa đựng rủi ro Cơ sở của những tranh luận này là mặc dù không biết xác suất thực nhưng các nhà quyết định vẫn đưa ra hàng loạt xác suất chủ quan phục vụ cho việc ra quyết định
Lý lẽ cuối cùng nêu trên có thể giải thích tại sao mà hai nhà quản lý gặp cùng một vấn đề như nhau trong điều kiện như nhau lại có hai quyết định khác nhau Vì kinh nghiệm, kiến thức và những thông tin sẵn có của họ đã khiến họ đưa ra những xác suất chủ quan khác nhau, do đó họ có thể có những quyết định khác nhau
2.1.1.2 Khái niệm về rủi ro trong sản xuất nông nghiệp
Rủi ro được coi như là đặc điểm nội tại của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Tuy nhiên, những nghiên cứu mang tính điển hình về rủi ro trong nông nghiệp ở Việt Nam lại không có nhiều hoặc ít được công bố Các thông tin
về rủi ro nông nghiệp phần lớn thường được tìm thấy trong các báo cáo điều tra hoặc báo cáo phát triển của các tổ chức
Cuộc điều tra nông thôn gần đây do IPSARD tiến hành (2007) cho thấy trong 5 năm qua, có tới 47% hộ nông dân chịu thiệt hại do các loại rủi ro gây ra Trong đó chủ yếu phải kể đến rủi ro về người do ốm đau, bệnh tật (19%), dịch bệnh vật nuôi, mất mùa (22,9%), thiên tai (10,1%) Tuy nhiên các biện pháp
Trang 22chính thức như bảo hiểm và hỗ trợ Chính phủ trong giảm thiểu thiệt hại của các
cú sốc lớn lại chỉ có vai trò rất khiêm tốn và phần lớn người dân buộc phải dựa vào chính mình chứ không dựa vào bên ngoài, thậm chí áp dụng những biện pháp hết sức tiêu cực như cho trẻ nghỉ học hoặc đi ăn xin
Ngân hàng thế giới và DFID (1999) cũng chỉ ra rằng, bệnh dịch và vật nuôi bị chết là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Roland-Holst
et al (2007) qua phân tích tác động của trường hợp cúm gà đã đưa ra kết luận rằng người dân, đặc biệt là dân nghèo chịu ảnh hưởng khá nặng nề của các cú sốc lớn trong khi các công cụ nhằm giảm thiểu rủi ro như đa dạng hóa thu nhập lại không có tác dụng nhiều do hạn chế về nguồn lực
không đoán trước được và thường liên quan đến thời tiết như mưa lớn, hạn hán, nhiệt độ tăng quá cao, sương muối, côn trùng và bệnh dịch Kỹ thuật và công nghệ cũng đóng một vai trò quan trọng trong rủi ro sản xuất Việc đưa vào áp dụng một cách nhanh chóng các giống mới hay kỹ thuật canh tác mới tuy đem lại
sự gia tăng về năng suất và sản lượng nhưng không phải lúc nào cũng thành công, nhất là khi chưa qua khảo sát và thử nghiệm cần thiết Thêm vào đó, việc
áp dụng kỹ thuật mới cũng góp phần làm nảy sinh các loại rủi ro mới, ví dụ việc đẩy nhanh tốc độ ứng dụng hóa học hóa trong nông nghiệp có thể tạo ra các hiểm họa về môi trường (Phạm Thị Lam, 2010)
Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của vật nuôi luôn tồn tại những tiềm
ẩn về dịch bệnh xảy ra đối với vật nuôi Dịch bệnh chưa bao giờ được khống chế triệt để hoặc thanh toán trong chăn nuôi, thậm chí nó có có hướng xuất hiện thêm nhiều loại bệnh mới, nhiều bệnh đã xuất hiện trở nên kháng thuốc
và khó chữa hơn Do vậy, rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi có thể được coi là một trong những rủi ro lớn nhất trong rủi ro sản xuất hiện nay (Phạm Thị Mỹ Dung, 2002)
không biết trước của thị trường đầu vào cũng như đầu ra trong nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp thường có chu kỳ dài và không phải lúc nào cũng tạo ra lợi nhuận ngay lập tức Lấy ví dụ như ngành chăn nuôi, việc đầu tư cho thức ăn và
Trang 23các trang thiết bị có thể diễn ra vài tháng cho tới vài năm trong khi giá cả đầu vào
và đầu ra là rất khó dự tính nên lợi nhuận của người chăn nuôi thường bị ảnh hưởng mạnh Bên cạnh đó, yếu tố thị trường bao gồm cả thị trường nội địa và quốc tế có liên quan chặt với nhau nên lợi nhuận của người sản xuất nông nghiệp
có thể bị ảnh hưởng một cách đột ngột khi có các biến động lớn ở khu vực địa lý cách rất xa địa điểm sản xuất (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
định của nhà nước hoặc chính quyền địa phương gây ảnh hưởng đến nông nghiệp Loại rủi ro này thường diễn ra khi các quy định và chính sách mới ban hành gây ra các rào cản và hạn chế cho sản xuất hoặc khiến giá cả đầu ra hoặc đầu vào thay đổi Chẳng hạn như các quy định của Chính phủ về sử dụng phân bón trong trồng trọt hoặc các chất kích thích trong chăn nuôi có thể gây ảnh hưởng đến giá cả nông sản đầu ra, hoặc chính sách hạn chế nhập khẩu của nước nào đó có thể gây phương hại đến sản xuất nông nghiệp của nước xuất khẩu Các hình thái khác của rủi ro thể chế có thể được kể đến như các quy định về chất thải chăn nuôi, các ràng buộc trong bảo tồn đất hoặc sự thay đổi về chính sách tín dụng và thuế thu nhập (Phạm Thị Lam, 2010)
sức khỏe bị ảnh hưởng bởi ốm đau, bệnh tật Thêm vào đó, việc thay đổi mục tiêu sản xuất của các cá nhân trong ngành nông nghiệp cũng được coi là một loại rủi ro gắn với con người khi nó có các ảnh hưởng về lâu dài đối với toàn bộ ngành nông nghiệp hoặc một lĩnh vực đặc thù nào đó trong ngành nông nghiệp Các rủi ro về mất mát tài sản do trộm cắp, cháy nổ, hoặc các thiệt hại về nhà cửa, vật nuôi gắn với yếu tố quản lý và sử dụng của con người cũng được liệt kê vào nhóm rủi ro này Trong lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp, việc phá bỏ các hợp đồng kinh doanh đã được ký kết và thỏa thuận từ trước cũng được tính là rủi ro
do yếu tố con người (Phạm Thị Lam, 2010)
huy động vốn trong sản xuất và kinh doanh Trong nông nghiệp, đa phần người sản xuất thường phải đối mặt với những chu kỳ sản xuất không hiệu quả kéo dài
do các nhân tố khách quan và chủ quan Sự không hiệu quả này, kết hợp với những hạn chế về nguồn lực tài chính khiến người sản xuất phải đối mặt với những thiệt hại khó bù đắp do vay mượn gây ra
Trang 24Bảng 2.1 Loại rủi ro trong nông nghiệp và cơ chế tác động
Loại rủi ro
Rủi ro riêng biệt (vi mô) tác động đến cá nhân hoặc hộ
Rủi ro tương quan, ảnh hưởng đến nhóm hộ cộng đồng
Rủi ro vĩ mô (rủi ro
hệ thống) ảnh hưởng đến vùng hoặc quốc qia
Sản xuất
Sương muối, bệnh truyền nhiễm, mưa
đá, mất mát tài sản, rủi ro về con người
Mứa lớn, lở đất, ô nhiễm
Bão lũ, hạn hán, dịch bệnh, côn trùng gây hại, công nghệ áp dụng hàng loạt
Thị trường
Thay đổi giá đất, những đòi hỏi mới trong công nghiệp thực phậm
Thay đổi giá đầu vào, đầu ra do các
cú sốc, do chính sách thương mại, thị trường mới được thành lập và các thay đổi nội sinh khác của thị trường,
Tài chính
Thay đổi thu nhập
từ nguồn khác (phi nông nghiệp)
Thay đổi về chính sách lãi suất, tài sản tài chính, tiếp cận
Thay đổi các chính sách quốc gia, các quy định pháp luật
về môi trường, các chương trình trong nông nghiệp Nguồn: OECD (2008) Trong khi đó, OECD (2000) phân biệt rủi ro trong nông nghiệp thành 4 nhóm căn cứ vào các đặc thù của sản xuất nông nghiệp so với các ngành kinh doanh khác, bao gồm: rủi ro sản xuất (điều kiện tự nhiên, bệnh dịch, sâu bệnh, thay đổi công nghệ), rủi ro sinh thái (sản xuất, biến đổi khí hậu, quản lý tài
Trang 25nguyên thiên nhiên), rủi ro thị trường (sự biến động của thị trường đầu vào và đầu ra, mối quan hệ giữa chuỗi cung ứng với chất lượng sản phẩm, số lượng sản phẩm, các sản phẩm mới) và rủi ro thể chế (chính sách nông nghiệp, quy định về
an toàn lương thực và môi trường)
Trên góc độ tổng quát hơn và gắn chặt với các nước đang phát triển Holzman and Jorgensen (2001) phân loại rủi ro thành 6 nhóm bao gồm rủi ro tự nhiên, rủi ro sức khỏe, rủi ro xã hội, rủi ro kinh tế và rủi ro về chính trị và môi trường Trên cơ sở 6 loại rủi ro này, các nhà nghiên cứu cũng gắn các đặc tính tác động tới đối tượng chịu rủi ro để phân ra thành 3 nhóm chính gồm: các rủi ro chuyên biệt, (hay còn gọi là rủi ro ở mức độ vi mô, chỉ tác động đến cá nhân) Rủi ro khu vực, ảnh hưởng đến toàn bộ một cộng đồng hoặc một vùng nào đó; và rủi ro vĩ mô hay còn gọi là rủi ro hệ thống, ảnh hưởng đến cả khu vực hoặc một quốc gia Cho dù phân biệt rủi ro ở dưới góc độ nào thì người nông dân vẫn là đối tượng phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau trong cùng thời gian Do
đó, việc lựa chọn một chiến lược quản lý rủi ro phù hợp với họ đòi hỏi phải xem xét tính tương quan của rủi ro Bảng 2.1 đưa ra những tổng kết của OECD (2008)
về phân loại rủi ro trong nông nghiệp gắn với cơ chế tác động của rủi ro
Trong nhiều thập kỷ qua, các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp khá
đa dạng về đối tượng cũng như phương pháp Ở thời kỳ đầu, các nghiên cứu thường tập trung ở các nước có nền nông nghiệp phát triển như Mỹ, EU, Canada, Australia với mối quan tâm chính là tác động của yếu tố ngoại vi như thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, đối với sản xuất nông nghiệp; lựa chọn quyết định sản xuất trong điều kiện rủi ro; các phương pháp xác định rủi ro; và sự cần thiết phải can thiệp của chính phủ đối với sản xuất trong nông nghiệp Đóng góp đáng kể trong thời kỳ này phải kể đến Arrow (1971), Just (1974, 1975, 1984); Jodna (1975, 1978); Binswanger (1979); Butler (1979); Quiggin (1979, 1981, 1986); Anderson
et al (1971, 1979, 1983, 1984); Gardner et al (1984, 1985); Walker (1986) et al
Kế thừa những nghiên cứu này, các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp được mở rộng cả về phạm vi lẫn đối tượng nghiên cứu Sản xuất nông nghiệp ở các nước thế giới thứ 3 với những đặc thù riêng cũng đã được quan tâm
Sự biến động của thị trường; tác động qua lại và ảnh hưởng tổng hợp của các loại rủi ro đối với lựa chọn của người sản xuất; các chiến lược giảm thiểu rủi ro đối với cá nhân, cộng đồng và vai trò của chính phủ; các phương pháp tiếp cận mới đối với rủi ro, đánh giá lại các chương trình giảm thiểu rủi ro của chính
Trang 26phủ là những nội dung mà các học giả và nhiều tổ chức nghiên cứu đề cập đến Bên cạnh đó, nghiên cứu rủi ro không chỉ liên quan đến người sản xuất mà còn hướng đến những tác động do biến đổi môi trường khí hậu toàn cầu, cũng như những rủi ro đem đến cho sức khỏe của cộng đồng Những đóng góp chính trong giai đoạn này đến từ Anderson et al.(1988, 1990, 1992, 1994, 1997, 2001); Facler (1988); Antle (1989); Fafchamps (1992); Dercon (1996, 1998); Huirne et
al (1997, 200); Dehm (2000); Glauber and Narod (2001); Skees (2001); Moschini and Hennessy (2001); World Bank (2000, 2001) và nhiều tổ chức, học giả khác
Các nghiên cứu về rủi ro trong nông nghiệp đã đóng góp rất lớn trong việc hình thành và ứng dụng các chiến lược và công cụ nhằm quản lỷ rủi ro vốn đã và đang được thực hiện thành công ở nhiều quốc gia
Phân theo mức độ ảnh hưởng của rủi ro
Phân theo mức độ xuất hiện của rủi ro
Nông nghiệp là ngành quan trọng với toàn xã hội Thái độ không ưa thích rủi ro có thể ảnh hưởng đến vấn đề phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả của người nông dân Thường những người quan tâm đến rủi ro trong nông nghiệp là: Nông dân, các nhà khuyến nông, những người cung cấp đầu vào, các nhà nghiên cứu trong nông nghiệp, các nhà hoạch định chính sách
2.1.1.3 Các loại rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
gây viêm dạ dày và ruột, là một trong những nguyên nhân gây chết lợn con sơ sinh từ 1- 10 ngày tuổi Bệnh nhẹ và tỉ lệ chết thấp cho lợn trên 5 tuần tuổi trở lên (Vũ Đình Tôn, 2009)
Bệnh lây lan chủ yếu do tiếp xúc trực tiếp, đường xâm nhập chủ yếu là miệng Có thể lây truyền qua thức ăn, nước uống hoặc người lao động (tay chân, giày dép) hoặc do chó mèo, chuột, chim mang mầm bệnh từ nơi này sang nơi khác
Trang 27Dấu hiệu đầu tiên trên lợn con là nôn mửa Tiêu chảy bắt đầu 18 - 30 giờ sau khi lợn con tiếp xúc với virus, triệu chứng thấy dễ dàng trong ổ dịch hoặc khi lợn mẹ bị bệnh Lúc đầu tiêu chảy ít nhưng toàn là nước, lúc tiêu chảy nhiều thì phân có màu vàng xám trông giống như bùn trên sàn chuồng, lợn rất khát, cố gắng uống nước ở bất cứ chỗ nào có nước và kêu ré lên một cách yếu ớt khi bị cầm giữ Lợn con tiêu chảy kéo dài, mất nước, yếu và chết trong vòng 2 - 5 ngày
Tỉ lệ chết của lợn dưới 7 ngày tuổi có thể đến 100% khi bệnh thể cấp tính
Ở các lợn đang lợn mẹ lớn hơn thì tỉ lệ chết thấp hơn nhưng dễ bị ảnh hưởng bởi lạnh, ẩm ướt, hay nhiễm trùng vi khuẩn gây bệnh kế phát
Lợn nái bệnh thường có triệu chứng thông thường như bỏ ăn, mệt mỏi, lượng sữa giảm hoặc ngừng tiết sữa, tiêu chảy phân màu xanh xám từ một ngày đến vài ngày
Bệnh E.COLI: Có nhiều nhóm E.coli gây bệnh với những đặc điểm khác nhau nhưng quan trọng nhất là nhóm E.coli gây tiêu chảy phân trắng ở lợn con, lợn mẹ và nhóm gây phù thủng, tích nước xoang bụng ở lợn cai sữa
Nhóm E.coli gây tiêu chảy phân trắng thường gặp trên lợn sơ sinh Khi bệnh lợn con đi tiêu phân lỏng như nước, có bọt, trắng, vàng nhạt, có mùi hôi khó chịu Một số lợn bệnh bị ói mửa, bụng thót, mắt lõm sâu, da tím tái Lợn bị mất nước nhanh, lông xù, dơ, suy yếu trầm trọng, không bú và có thể chết sau 24
- 48 giờ tiêu chảy (Vũ Đình Tôn, 2009)
Nhóm E.coli gây phù thủng thường gặp trên lợn con sau cai sữa 1 - 2 tuần
và những con lớn trội trong đàn là những con bị nhiễm đầu tiên Lợn bệnh lờ đờ,
đi đứng xiêu vẹo hay nằm liệt, co giựt, hôn mê Có thể tiêu chảy hoặc không Sưng phù ở mí mắt, lưỡi, âm hộ, hầu họng
Bệnh Lở mồm long móng: Bệnh truyền nhiễm chung cho nhiều loài
móng hiện có 7 type với nhiều type phụ Ở nước ta hiện nay type gây bệnh được xác định là type O (Vũ Đình Tôn, 2009)
Thời gian nung bệnh từ 24 - 72 giờ có khi đến 10 ngày Bệnh biểu lộ 3 triệu chứng rõ rệt:
Trang 28nhiễm trùng thành vết loét Lợn nái bầu vú nổi nhiều mụn nước có mủ
nhiễm trùng lở loét nung mủ, lợn đi khập khễnh, đau đớn Bệnh nặng có thể sút móng
Bệnh thường chỉ gây chết cho thú non, ít gây chết cho thú trưởng thành nhưng làm giảm năng suất và sản lượng Đối với lợn nái chửa mang thai giai đoạn cuối có thể gây sảy thai
Bệnh cúm lợn: Bệnh do virus gây ra, đặc trưng bởi những triệu chứng xảy ra thình lình nhưng chóng khỏi, con vật sốt cao, ho thở khó Chủ yếu ở lợn con còn bú (1-2 tháng tuổi) Lợn trưởng thành cũng có thể mắc bệnh nhưng nhẹ hơn Bệnh lây lan qua đường hô hấp (Vũ Đình Tôn, 2009)
Bệnh xảy ra thình lình, toàn đàn đều mắc bệnh Lợn bệnh sốt 40- 41oC, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, hắt hơi, ho khan, co giật từng cơn, thở nhanh, thở khó Một số con nổi mẩn đỏ ở da tai, da chân, hoặc có những vệt tím bầm Lợn có thể táo bón hoặc tiêu chảy Lợn nái mang thai ở cuối kỳ có thể bị sảy thai Bệnh kéo dài 2 - 7 ngày Tỉ lệ chết chỉ vài phần trăm nhưng nếu có sự kế phát của vi khuẩn khác bệnh sẽ nặng hơn, tỉ lệ chết cao
Bệnh Lepto: Là bệnh truyền nhiễm chung cho người và nhiều loài gia súc Bệnh do xoắn khuẩn leptospira gây ra Các chủng xoắn khuẩn gây bệnh ở nước ta được xác định là L.pomona, L.icterohaemorrahagiae, L.batavie, L.mitis, L.canicola, L.hebdomadis Xoắn khuẩn xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hoá Ngoài ra có thể xâm nhập qua da, qua nhau thai hoặc bị côn trùng chích (Vũ Đình Tôn, 2009)
Thể cấp tính: Thời gian nung bệnh từ 3 - 5 ngày, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, thở nhiều, thỉnh thoảng có những con run giật tăng dần, nhiều con kêu thét lên sau đó ngã chúi xuống đất, lúc đứng dậy loạng choạng Thân nhiệt tăng cao 40 - 41,5oC Sau 4 - 5 ngày, niêm mạc, da có màu vàng, nước tiểu vàng có huyết sắc tố, mắt
có ghèn, thậm chí bị mù Lợn con có thể thấy vàng da, sốt nhẹ kèm lợn tiêu chảy nhưng không quá 3 ngày nên khó nhận biết Lợn con lợn mẹ bị thiếu máu, da nhợt nhạt và hơi vàng, chậm lớn, lông dựng và phù rõ ở đầu
Thể mãn tính: Bệnh phát âm ỉ, thời gian nung bệnh từ 3 - 20 ngày, lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, uống nhiều nước, táo bón sau chuyển sang tiêu chảy, tiêu tiểu khó khăn,
Trang 29nước tiểu vàng, nước mắt chảy nhiều, thỉnh thoảng có những cơn run giật nhẹ Mũi lợn khô bóng, mõm sưng, dần dần mặt phù to, mi mắt sụp xuống
Ở lợn đực, bao dương vật sưng to trương thành một cái túi, đầu dương vật
có khi thò ra ngoài không tụt vào được
Ở lợn con, da có thể bong từng mãng, có con hai chân sau bị liệt nằm một chỗ hoặc đi khập khiễng
Lợn nái thường có những rối loạn về sinh sản, sảy thai có thể từ 10 - 30% Lợn con đẻ ra chết ngay hoặc có thể sống nhưng còi cọc chết dần
Bệnh giun đũa: Do Ascaris suum, ký sinh trong ruột non của lợn Lợn 2 –
7 tháng tuổi có tỉ lệ nhiễm cao Giai đoạn ấu trùng giun còn gây bệnh ở gan, ở mạch máu phổi, làm tắt ruột, chui vào ống dẫn mật làm tắt ống mật hoặc tác động bằng độc tố lên thần kinh trung ương làm lợn bị co giật, động kinh (Vũ Đình Tôn, 2009)
Lợn bệnh có triệu chứng lông xù, chậm chạp, tiêu chảy, còi cọc, rối loạn tiêu hoá, sưng phổi, chậm lớn, ho, thở gấp, kém ăn Trường hợp nhiễm với số lượng nhiều giun có thể làm tắt ruột, lợn chết nhanh
Hội chứng rối loạn tiêu hóa: Hội chứng rối loạn tiêu hoá thường xảy ra ở lợn 2- 4 tháng tuổi do thay đổi thức ăn, thức ăn có tỷ lệ chất béo, chất đạm tăng lên đột ngột, thức ăn nhiễm nấm mốc và độc tố của nấm mốc (Vũ Đình Tôn, 2009)
Lợn kém ăn, mệt mỏi, thích ăn rau xanh và uống nước Phân lỏng màu xám xanh hoặc xám vàng Thức ăn không tiêu hoá hết còn thấy trong phân, nhất
là cuống rau Vi khuẩn có sẵn trong hệ thống tiêu hóa phát triển lên men làm cho phân có mùi tanh khẳm Sau đợt tiêu chảy lợn bị táo bón, phân khô cứng Hội chứng rối loạn tiêu hoá làm cho bộ máy tiêu hoá của lợn giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá thức ăn và hấp thu các chất dinh dưỡng kém nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ mắc các bệnh khác Một số bị bệnh nặng sẽ chết trong tình trạng mất nước, kiệt sức
Viên âm đạo - tử cung: Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo và tử cung, tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái hoặc do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp cũng sẽ truyền bệnh sang lợn cái Bệnh cũng có thể do can thiệp khi lợn đẻ khó và nhiễm trùng từ chuồng trại kém vệ sinh (Vũ Đình Tôn, 2009)
Trang 30Thể cấp tính: Lợn sốt 41- 42oC trong vài ngày đầu, âm hộ sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ âm đạo chảy ra nhày trắng đục đôi khi có máu Lợn đứng nằm, bứt rứt không yên, biếng ăn
Thể mãn tính: Lợn không sốt, âm hộ không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy, trắng đục tiết ra từ âm đạo dịch nhầy thường không liên tục mà chỉ chảy ra từng đợt
từ vài ngày đến một tuần Lợn nái thường không đậu thai hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu đi vì quá trình viêm nhiễm từ niêm mạc âm đạo, tử cung lan sang thai lợn
Bệnh Viêm phổi màng phổi: Viêm phổi màng phổi ở lợn là một bệnh truyền nhiễm lây lan nhanh, phân bố nhiều nơi trên thế giới Bệnh do vi khuẩn Actinobacillus leuropeumoniae gây ra (trước đây gọi là Haemophilus pleuropeumoiae) Lợn ở mọi lứa tuổi đều mẫn cảm nhưng thường gặp nhất ở lợn
Lợn bệnh sốt cao 41,5oC, bơ phờ, biếng ăn, biến vận động, suy nhược
Da trên mũi, tai, chân, và toàn cơ thể trở nên xanh
Ở giai đoạn cuối lợn bệnh có biểu hiện trên đường hô hấp như ho, thở miệng Nhiệt độ trực tràng giảm đáng kể
Mổ khám phổi lợn bệnh chắc đặc và xuất huyết, có dịch trong xoang bụng Hạch lâm ba bị sưng to và xuất huyết
Bệnh Viêm phổi địa phương: còn gọi là bệnh suyễn lợn do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, vi khuẩn tác động chủ yếu trên bộ máy hô hấp gây viêm phổi: Lợn con từ 3-4 tháng tuổi dễ mắc bệnh Bệnh lây lan nhanh do tiếp xúc trực tiếp và qua hơi thở, bệnh xảy ra quanh năm nhưng nghiêm trọng nhất là lúc trời lạnh và ẩm (Vũ Đình Tôn, 2009)
Thể cấp tính: Bệnh ít phổ biến chỉ xảy ra khi bệnh xâm nhập vào trại lần đầu và tất cả lợn mọi lứa tuổi đều có thể mắc bệnh đường hô hấp cấp tính Lợn thường tách đàn nằm ở góc chuồng, kém ăn, chậm lớn, da nhợt nhạt, thân nhiệt bình thường hoặc sốt nhẹ, 40- 40,5oC Lợn bệnh hắt hơi từng hồi, chảy nước
Trang 31mũi, vài ngày sau lợn ho liên tiếp 2 - 3 tuần sau đó giảm dần Đôi khi có trường hợp lâu hơn
Lợn thở khó, thở nhanh và nhiều, lợn há hốc mồm để thở Trong một ô chuồng, đầu tiên chỉ một vài con bị ho, sau đó lan ra toàn cho đến khi tất cả đều bị
ho kéo dài Bệnh ít gây chết nhưng lợn thường bệnh nhiễm khuẩn phổi do kế phát
Thể mãn tính: Thường là do từ thể cấp tính chuyển sang, đây là thể bệnh phổ biến nhất Lợn ho khan từng tiếng hay từng chuỗi dài, đặc biệt là lúc sáng sớm hoặc buổi tối, sau khi ăn xong Lợn thở khó, thở khò khè về đêm Bệnh tiến triển trong vòng vài tháng đến nửa năm, thỉnh thoảng có con chết, nếu quản lý chăm sóc tốt đàn lợn có thể phục hồi
Thể ẩn: Thường thấy ở lợn trưởng thành, lợn vỗ béo Không thấy hiện tượng thở khó, chỉ thỉnh thoảng thấy ho nhẹ, tăng trọng giảm
Bệnh Tụ huyết trùng: Bệnh do vi khuẩn Pasteurella multocida gây ra Bệnh xảy ra trên lợn mọi lứa tuổi, phổ biến nhất là lợn từ 3 - 6 tháng tuổi (Vũ Đình Tôn, 2009)
Thể quá cấp: Lợn sốt 41oC hoặc cao hơn, ho, thở khó, tím tái vùng bụng, tai và bẹn, phù thủng dưới da vùng hầu, mặt, tai Lợn chết nhanh sau 1 - 2 ngày
do ngạt thở
Thể cấp tính: Lợn ủ rũ, ăn ít hoặc bỏ ăn, sốt cao 41oC hay hơn Niêm mạc mũi bị viêm, chảy nước mũi đặc, đôi khi có lẫn máu Lợn thở khó và nhanh, ho khan từng tiếng, khi ho co rút toàn thân Xuất hiện nhiều vệt tím đỏ trên da, đặc biệt là ở vùng hầu, niêm mạc bị tím tái Thường lợn chết sau 3 - 4 ngày do hiện tượng ngạt thở
Thể mãn tính: Thường kế tiếp lợn thể cấp tính Lợn thở khó, thở nhanh, khò khè, ho từng hồi, ho khi vận động nhiều, tiêu chảy Khớp xương bị viêm, sưng nóng, đau, nhất là khớp đầu gối, da đỏ ửng từng mảng, bong vẩy Lợn bệnh gầy yếu dần, chết sau 1- 2 tháng
Bệnh Phó thương hàn: Bệnh Phó thương hàn do vi khuẩn họ Salmonella gây ra Ở nước ta chủ yếu là Salmonella choleraesuis và Salmonella typhisuis gây ra Vi khuẩn tác động chủ yếu đến bộ máy tiêu hoá gây viêm dạ dày, ruột, tiêu chảy, mụn loét ở ruột già Bệnh thường xảy ra trên lợn con từ cai sữa đến 4 tháng tuổi Ở lợn lớn bệnh ít xảy ra hơn và thường là do kế phát của bệnh dịch tả (Vũ Đình Tôn, 2009)
Trang 32Thể cấp tính: Lợn sốt 41,5 – 42oC, kém ăn hoặc bỏ ăn Giai đoạn đầu lợn táo bón, bí đại tiện, nôn mửa, sau đó lợn tiêu chảy, phân lỏng, màu vàng, có nước
và máu, lợn hay kêu la do viêm dạ dày, viêm ruột nặng
Lợn thở khó, thở gấp, ho, suy nhược Cuối thời kỳ bệnh, da tụ máu thành từng nốt, đỏ ửng rồi chuyển thành màu tím xanh ở tai, bụng, mặt trong đùi ngực Bệnh tiến triển trong 2 - 4 ngày, lợn gầy còm, còi cọc, tiêu chảy nhiều rồi chết
Thể mãn tính: Lợn gầy yếu dần, ăn uống giảm sút, chậm lớn thiếu máu, da xanh, có khi trên da có những mảng đỏ hoặc tím bầm Lợn tiêu chảy phân lỏng vàng rất thối Thở khó, ho, sau khi vận động lợn mệt nhọc, đi lại khó khăn Bệnh kéo dài trong vài tuần, một số có thể khỏi bệnh nhưng chậm lớn
Bệnh PARVO: Bệnh do Porcine Parvovirus gây ra hiện tượng rối loạn sinh sản đặc trưng bởi hiện tượng chết phôi, thai khô, sẩy thai, giảm khả năng thụ thai Bệnh chủ yếu lây qua đường tiêu hoá, hô hấp và sinh dục (Vũ Đình Tôn, 2009)
Lợn nái bị bệnh thường không thấy có dấu hiệu lâm sàng rõ Một số biểu hiện có thể nhận thấy là nái đẻ ra ít con hoặc đẻ ra với nhiều thai khô Nhiều trường hợp lợn con sinh ra bị chết Các dấu hiệu rối loạn sinh sản thường thấy là phôi không đậu thai chậm động dục trở lại, sảy thai, tăng số thai khô hoặc số đẻ non Tuỳ lợn giai đoạn nái mang thai bị nhiễm mà số lượng thai tiêu biến, thai khô, thai chết, đẻ ra yếu ớt thay đổi khác nhau
Sự nhiễm bệnh ở lợn đực không gây ảnh hưởng gì đến khả năng sinh dục của chúng
Bệnh rối loạn sinh sản hô hấp (Tai xanh) (PRRS): Hội chúng rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn (PRRS: porcine reproductive respiratory syndrome) do virus Artevirus gây ra ảnh hưởng trên lợn ở mọi lứa tuổi Bệnh gây sảy thai, chậm lên giống lại, lợn con chết tươi, chết khô, còi cọc chậm lớn Đặc biệt những biểu hiện hô hấp trầm trọng trên lợn con lợn mẹ và sau cai sữa (Vũ Đình Tôn, 2009)
Triệu chứng chung: Thay đổi tùy thuộc vào chủng virus, trạng thái miễn dịch của cơ thể và tình trạng quản lý: Lợn thường sốt 39 –41oC, thở khó, một số
ít (1- 2%) xung huyết dưới da hoặc tím xanh ở tai, mũi, vú, âm hộ
thở há mõm, có vết xanh tím ở tai Mặt có thể bị phù, viêm kết mạc, phù thủng mí mắt, có thể bị chảy máu ở rốn, phân có thể màu nâu hoặc xám (do xuất huyết ruột)
Trang 33Ở lợn cai sữa, phát triển không đồng đều trong đàn Biểu hiện lâm sàng chủ yếu trên lợn lứa tuối này là ho, đặc biệt là giai đoạn từ 40-50 ngày tuổi Một vài trường hợp trong đàn có biểu hiện thở thể bụng, còi cọc chậm lớn dễ nhiễm kết hợp với các vi sinh vật khác: virus cúm, Haemophilus, Mycoplasma, Actinobacillus
biểu hiện sảy thai cuối kỳ (2 -3 tuần trước khi đẻ), nhiều lợn con sơ sinh chết tươi hoặc chết khô và dễ nhầm lẫn với một số bệnh khác ảnh hưởng đến rối loạn sinh sản như bệnh giả dại, Parvo, Lepto
2.1.2 Đặc điểm rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp thì chăn nuôi giữ một vai trò quan trọng
và lợn là một trong những số gia súc được người nông dân lựa chọn Đây là một ngành có những đặc điểm khác xa so với các ngành khác, trong chăn nuôi luôn tiềm ẩn những yếu tố không may Sự khác nhau ở đây có thể xuất phát do những đặc điểm vốn có của ngành Nuôi lợn thường gắn liền với quá trình sản xuất nông nghiệp nên mức độ rủi ro thường cao hơn các lĩnh vực khác Trong đó bao gồm những đặc điểm sau:
- Nuôi lợn chịu tác động nhiều của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết, dịch bệnh Đặc biệt là dịch bệnh, mặc dù khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến
và hiện đại, con người ngày càng có điều kiện để chế ngự nó nhưng những chế ngự này thường gây ra những chi phí trực tiếp hoặc chi phí gián tiếp cho chủ hộ Nhiều khi những tiến bộ về khoa học kỹ thuật cũng không chế ngự được những yếu tố đó (Hồ Sĩ Sáng, 2010)
- Đối tượng là các gia súc lớn nên chịu tác động nhiều của các quá trình sinh học vì vậy xác suất rủi ro là rất lớn
- Chu kỳ chăn nuôi lợn thường dài từ 6 tháng đến 1 năm nên việc kiểm soát và đánh giá rủi ro là rất khó thực hiện
- Trong chăn nuôi lợn nhiều lúc hộ gia đình muốn vay thêm vốn để mở rộng quy mô chăn nuôi, họ cũng không dám mạnh dạn vay thêm vốn để đầu tư bởi vì lãi suất cho vay khá cao trong khi nông hộ không có tài sản để thế chấp
- Đa phần hộ chăn nuôi theo kinh nghiệm truyền thống, cơ sở vật chất về chuồng trại theo đúng tiêu chuẩn vật nuôi sạch (HACCP) khó áp dụng do chăn nuôi lợn không tập trung, quy mô nhỏ, gần khu sinh hoạt của nông hộ gây ô nhiễm môi trường, không đảm bảo được quy trình kỹ thuật nuôi sạch Nên khi có dịch bệnh thì việc bùng phát dịch là rất lớn (Hồ Sĩ Sáng, 2010)
Trang 34- Hầu hết nông hộ chăn nuôi đều thiếu thông tin về thị trường lợn thịt Trong điều kiện có rủi ro nhiều hộ gia đình có xu hướng giảm chăn nuôi hay chuyển sang chăn nuôi các sản phẩm thay thế thịt lợn hoặc các ngành khác với mong muốn thu được lợi nhuận cao hơn
Chịu sự tác động mạnh mẽ của điều kiện thời tiết Sản xuất nông nghiệp nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng được tiến hành trên phạm vi rộng lớn, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện thời tiết, khí hậu Mặc dù, trong thời kì CNH - HĐH, có nhiều khoa học công nghệ tiến bộ đã và đang được áp dụng vào trong quá trình sản xuất làm cho con người chăn nuôi có thể ngày càng chế ngự được nhiều ảnh hưởng xấu của tự nhiên nhưng mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên vẫn tồn tại trong quá trình sản xuất, chăn nuôi này (Hồ Sĩ Sáng, 2010)
Đối tượng là vật nuôi - không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên mà còn chịu sự tác động của các quy luật sinh học Đó là các quy luật đồng hóa, dị hóa, biến dị, di truyền nên xác suất xảy ra rủi ro là lớn và việc kiểm soát cũng như đánh giá rủi ro thường gặp nhiều khó khăn Mặt khác, chu
kỳ sản xuất của nó kéo dài, thời gian lao động và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do đó việc đánh giá và kiểm soát, phòng ngừa hay quản lý rủi ro là khó thực hiện
Do chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún và chăn nuôi thep phương thức truyền thống nên khi gặp rủi ro, đa số các hộ chăn nuôi sẽ lựa chọn cách giảm đầu lợn hoặc có thể chuyển sang nuôi con khác với mong muốn thu được lợi nhuận cao hơn so với chăn nuôi lợn Lí do đơn giản là rủi ro sẽ đòi hỏi sản xuất phải có lãi cao hơn trong trường hợp sản xuất không có rủi ro
Đối với nông hộ, ngoài gặp rủi ro trong quá trình sản xuất họ còn gặp rủi
ro trong cuộc sống do điều kiện sinh hoạt khó khăn hơn các tầng lớp khác trong xã hội Đó là sự khó khăn về cơ sở hạ tầng, môi trường sống nhiều khi không đảm bảo Những rủi ro về con người đã làm cho nông dân cành thêm khó khăn và phát sinh thêm nhiều rủi ro khác mà chính bản thân họ không thể lường trước được (Hồ Sĩ Sáng, 2010)
2.1.3 Các hoạt động hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
a Đảm bảo chăn nuôi tốt
Cách tốt nhất để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn là đảm bảo cho chúng được chăn, nuôi dưỡng ở mức độ tốt nhất Lợn khỏe mạnh được nuôi dưỡng tốt,
Trang 35ăn uống đầy đủ, chuồng, trại hợp vệ sinh, không bị stress,… sẽ chống lại tốt hơn với bất kì bệnh tật gì mà chúng mắc phải Lợn lớn nhanh hơn, sức kháng bệnh tốt, đảm bảo an toàn dịch bệnh là có ý nghĩa về xã hội và giá trị về mặt kinh tế (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
b Phòng bệnh tốt
Cũng như chăn nuôi tốt để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn thì phòng bệnh
là khâu không thể thiếu trong quá trình chăn nuôi nhằm ngăn chặn, khống chế dịch bệnh xảy ra đối với chăn nuôi Ngoài khâu phòng các bệnh có vắc xin và tiêm các loại vắc xin bắt buộc theo pháp lệnh thúy y, thì cán bộ chỉ đạo sản xuất
và thú y viên cùng với hộ chăn nuôi cần phải biết kết hợp các biện pháp vệ sinh phòng bệnh khác như tiêu độc môi trường, khử trùng chuồng trại chăn nuôi, dụng
cu quần áo bảo hộ (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
c Chuồng, trại chăn nuôi đảm bảo vệ sinh
- Chuồng nuôi lâu dài
Nếu không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật chăn nuôi – Thú y, chuồng nuôi lâu dài, cố định thường có nguy cơ lơn đối với đàn lợn về ô nhiễm môi trường và phát sinh dịch bệnh Vì vậy chuồng nuôi phải đảm bảo kĩ thuật, tiêu chuẩn để lợn nằm xuống được và xoay xở mà không đông quá mức Hệ thống thông gió tốt cũng giúp làm giảm nguy cơ ô nhiễm, tồn dư mầm bệnh, nhất là ở nơi nóng ẩm Nền chuồng luôn khô ráo, đảm bảo chuồng nuôi sạch sẽ là rất quan trọng để đề phòng tích tụ ô nhiễm phân, nước tiểu, phòng chống ô nhiễm vi sinh vật và ruồi muỗi sinh sôi Máng ăn và nước uống phải đặt ở vị trí cao vừa phải Không nên nuôi lợn nhiều lứa tuổi cùng với nhau mà phải phân đàn theo lứa tuổi phù hợp (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng, cố gắng để nuôi lợn trong môi ường hoàn toàn không có bệnh là điều không thực tế Lợn nái nuôi nhốt lâu dài, hay lợn thịt nuôi trong thời gian ngắn đều không thể tránh khỏi tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh rất đa dạng trong môi trường sống Tuy nhiên, phương pháp quản lý đàn lợn hợp lý tức là chúng ta đã giảm tối đa cơ hội tiếp xúc để xảy ra bệnh nghiêm trọng, chứ không thể ngăn chặn hết mầm bệnh ngoài môi trờng
tr Chuồng nuôi tạm thời
Đối với nhiều gia đình, nông hộ nuôi ít lợn, không xây chuồng trại kiên cố
mà thường tận dụng, cải tạo một nơi nào đó thuận tiện để làm chuồng tạm thời
Trang 36cho lợn ở Hoặc đàn lợn nuôi thả thường được nhốt dưới hình thức quây dồn lại ban đêm để bảo vệ, nhất là ở các vùng trung du miền núi Vì thế lợn các lứa tuổi khác nhau thường ở chung trong một chuồng, trại quá đông, ẩm ướt, bẩn thỉu cũng có nguy cơ mắc bệnh như lợn nuôi trong chuồng xây chắc chắn Chính vì vậy để khắc phục hiện tượng này, chuồng trại tạm thời để nuôi lợn cũng phải đảm bảo cao ráo, thoáng mát, sạch sẽ để tránh tích tụ ô nhiễm phân, nước tiểu (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
d Vệ sinh chung
Một số điểm nêu trên đã khái quát yêu cầu tầm quan trọng của vệ sinh và quản lý tốt nơi nuôi lợn Biện pháp vệ sinh chung cần chú ý đến tất cả các nội dung, yêu cầu, qui định về vệ sinh phòng dịch trong chăn nuôi, tất cả các đồ dùng, dụng cụ lưu động, cố định, nơi nuôi lợn, v.v…, phải đảm bảo giữ sạch sẽ và được tiêu độc Nếu không dụng cụ sẽ bị chất hữu cơ phủ lên trở thành nơi cư trú, sinh sôi lý tưởng cho mầm bệnh có hại Dụng cụ bẩn cũng là nguy cơ lây lan vi sinh vật gây bệnh theo phương thức truyền lây cơ giới (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
e Tiêm phòng tốt
Tiêm phòng để tạo miễn dịch cho đàn lợn phòng các bệnh dịch truyền nhiễm là việc làm cần thiết, không thể bỏ qua và đem lại hiệu quả kinh tế nhất trong chăn nuôi Kết hợp với tiêm phòng dịch, tăng cường công tác quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng đúng kỹ thuật, đảm bảo khẩu phần dinh dưỡng sẽ giúp cho lợn có sức đề kháng tốt hơn để phòng chống bệnh tật (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
f Yêu cầu cần thiết khi có bệnh
Trong quá trình chăn nuôi, những tiêu chuẩn quản lý và vệ sinh tốt, các ổ dịch bệnh vẫn có thể xảy ra, vì thế cần áp dụng một số nguyên tắc thông thường
để giảm tối đa các nguyên nhân gây bệnh dịch
- Trước hết, quan trọng nhất là phát hiện ra bệnh, xác định và phân loại bệnh
- Bằng mọi biện pháp, khả năng phải tách con ốm và cách ly khỏi đàn
- Vệ sinh tiêu độc chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi.v.v…
- Hộ lý, chăm sóc, điều trị con ốm
- Tăng cường giám sát, theo dõi lợn bị bệnh
Trang 372.1.4 Nội dung nghiên cứu giải pháp hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn
2.1.4.1 Nhận dạng, phân tích, đo lường rủi ro
Để hạn chế rủi ro trước hết phải nhận dạng rủi ro, nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi trong hoạt động chăn nuôi lợn Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm phát triến các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu
tố mạo hiểm, hiểm họa, đối tượng rủi ro và các loại tổn thất Nhận dạng rủi ro bao gồm các công việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉ những rủi ro
đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới có thể xuất hiện Trên cơ sở đó sẽ tiến hành phân tích rủi ro nhằm xác định nguyên nhân gây ra rủi ro cũng như các nhân tố làm tăng khả năng rủi ro trong chăn nuôi, từ
đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợ rủi ro thích hợp (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
Để nhận dạng rủi ro cần phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã
và đang và sẽ có thể xuất hiện, có thể sử dụng các phương pháp sau:
Lập bảng câu hỏi nghiên cứu về rủi ro và tiến hành điều tra Các câu hỏi được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro, hoặc môi trường tác động…
Thanh tra hiện trường: Để hạn chế rủi ro đòi hỏi phải thường xuyên thanh tra hiện trường Nhờ quan sát, theo dõi trực tiếp hiện trường sẽ tiến hành phân tích, đánh giá, nhận dạng rủi ro
Nhận dạng được các rủi ro và lập bảng liệt kê các rủi ro có thể đến tuy là công việc quan trọng không thể thiếu, nhưng mới chỉ là bước khởi đầu của công tác quản lý rủi ro Bước tiếp theo là phải tiến hành phân tích rủi ro, phải xác định được nguyên nhân gây ra rủi ro, trên cơ sở đó mới có thể tìm ra các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi ro (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
Là công việc xác định tần suất hiện rủi ro trong khoảng thời gian nhất định
và xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro Trên cơ sở đó có thể lập được bảng
ma trận đo lường rủi ro
Để đánh giá mức độ quan trọng của rủi ro người ta sử dụng cả hai tiêu chí: Mức độ tổn thất nghiêm trọng và tần suất xuất hiện, trong đó mức độ tổn thất nghiêm trọng đóng vai trò quyết định Vì vậy sau khi đo lường, phân loại các rủi
Trang 38ro sẽ tập chung quản lý trước hết những rủi ro thuộc nhóm I, sau đó theo thứ tự
II III và cuối cùng là nhóm IV (Phạm Thị Lam, 2010)
2.1.4.2 Kiểm soát và phòng ngừa rủi ro
Công việc trọng tâm của hạn chế rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi
ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến luợc, các chương trình, hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể đến Kiểm soát rủi ro phải sáng tạo, mềm dẻo, linh hoạt, bao gồm các biện pháp sau:
+ Các biện pháp né tránh rủi ro: Là các biện pháp né tránh những hoạt động hoặc nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Đây là biện pháp đuợc sử dụng thường xuyên trong cuộc sống
+ Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất: Là sử dụng các phương pháp giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại + Các biện pháp giảm thiểu tổn thất: Là những biện pháp cứu vớt những tài sản còn lại, xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi ro, lập quỹ dự phòng phân tán rủi ro
+ Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Là những biện pháp chuyển rủi ro đến cho người khác, tổ chức thông qua các con đường ký hợp đồng
+ Các biện pháp đa dạng rủi ro: Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, bao gồm đa dạng hóa mặt hàng, đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa thị trường,
đa dạng hóa vật nuôi, cây trồng, để phòng chống rủi ro Là những biện pháp dự phòng để giảm rủi ro có thể xảy ra (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
2.1.4.3 Tài trợ rủi ro
Rủi ro có nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, rủi ro có thể đến với bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào Do đó, dù phòng kỹ đến đâu, dù kiểm soát rủi ro chặt chẽ cách nào thì cũng không thể né tránh, ngăn chặn, được tất cả tổn thất Vì vậy khi tổn thất xảy ra phải có các biện pháp để tài trợ rủi ro thích hợp Nhóm các biện pháp tài trợ rủi ro bao gồm các biện pháp chấp nhận rủi
ro và bảo hiểm (Nguyễn Thị Tâm, 2008)
Đây là hình thức mà người gặp phải tổn thất tự chấp nhận tổn thất đó hay
tự khắc phục rủi ro đã xảy ra Có rất nhiều cách thức khác nhau trong biện pháp chấp nhận rủi ro, tuy nhiên có thể chia làm hai nhóm: Chấp nhận rủi ro thụ động
và chấp nhận rủi ro chủ động Trong chấp nhận rủi ro thụ động, người ta gặp tổn
Trang 39thất không có sự chuẩn bị trước và có thể vay mượn để khắc phục hậu quả tổn thất Đối với chấp nhận rủi ro chủ động, người ta lập ra quỹ dự trữ dự phòng va quỹ này chỉ được sử dụng để bù đắp tổn thất do rủi ro gây ra Tuy nhiên, việc này dẫn đến việc nguồn vốn không được sử dụng một cách tối ưu hoặc nêu đi vay sẽ
bị động và còn gặp phải vấn đề gia tăng về lãi suất (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
Trong cuộc sống dù muốn hay không, thì nhiều loại rủi ro đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình và toàn
xã hội Rủi ro xẩy ra và nhu cầu cần được bảo hiểm phát sinh Bảo hiểm là một phần quan trọng của chương trình quản lý rủi ro
Thực chất của bảo hiểm là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau nghĩa là không phải ai tham gia bảo hiểm cũng được phân phối và phân phối số tiền như nhau Hoạt động bảo hiểm dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít Bảo hiểm có rất nhiều tác dụng đối với người tham gia trong đó quan trọng nhất là góp phẩn ổn định tài chính cho người tham gia trước tổn thất rủi ro xảy ra (Phạm Thị Lam, 2010)
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hạn chế rủi ro dịch bệnh trong chăn nuôi lợn 2.1.5.1 Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của người chăn nuôi
Từ hàng nghìn năm nay đất nước chủ yếu là sống bằng nghề nông nghiệp, bản chất con người Việt Nam vẫn nổi tiếng cần cù, chịu thương chịu khó, tính vươn lên trong cuộc sống, đây là điều kiện trong quá trình phát triển của ngành nông nghiệp Tuy nhiên, các chủ hộ ở Việt Nam đa số là chưa được qua đào tạo, hoặc được đào tạo chắp vá, tổ chức sản xuất, kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và sự học hỏi lẫn nhau Điều này đã khiến không ít người chăn nuôi làm
ăn thua lỗ (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
2.1.5.2 Quy mô, diện tích chuồng trại
Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi tốt quanh năm, diện tích đất trong nông nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn Ngoài
ra, đất đai còn là một loại hàng hóa đặc biệt, khi có sự đầu tư của con người thì đất đai ngày càng tốt, độ phì ngày càng cao, diện tích đất canh tác ngày càng lớn, chứ không giống loại tài sản khác là có hao mòn, và dẫn đến hư hỏng Tuy diện tích lớn nhưng đất canh tác của Việt Nam lại thiếu, vì nước ta phân làm bốn vùng
Trang 40rõ rệt, vùng cao nguyên, vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng Diện tích vùng đồng bằng phù hợp cho phát triển chăn nuôi thì bình quân trên đầu người lại ít, mà vùng núi và trung du lại nhiều Để cải tạo và tạo vùng nguyên liệu rộng lớn là rất khó khăn, thậm chí là không thể
Ngoài ra, chuồng trại của người dân thường xây bán kiên cố hoặc sử dụng chuồng tạm bợ nên không đảm bảo trong quá trình chăn nuôi, chịu tác động nhiều bởi thiên nhiên bên ngoài và làm tốn nhiều chi phí sửa, chữa chuồng trại hằng năm (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
2.1.5.3 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Sản phẩm nông nghiệp có đặc điểm khi tiêu thụ là sản phẩm tươi sống, khó khăn cho việc bảo quản, sản phẩm nông nghiệp mang tính mùa vụ và có đặc điểm là cung muộn không thể đáp ứng một cách ngay lập tức, vì đối tượng sản xuất nông nghiệp là những sinh vật sống nên cần có thời gian sinh trưởng, phát triển sau đó mới đến bước thu hoạch Do đó, dù giá nông sản rất cao, các nông sản phải mất hàng tháng, thậm chí phải mất hàng năm mới có được sản phẩm Khi giá xuống mới có sản phẩm để bán điều này gây nên thiệt hại cho nông hộ Khách hàng thu mua sản phẩm nông nghiệp cũng được phân chia thành nhiều nhóm đối tượng khác nhau Mỗi đối tượng khách hàng sẽ có những yêu cầu khác nhau về sản phẩm mà mình sẽ mua chính vì thế nên sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức giá bán ra Yếu tố thông tin trên thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tiêu thụ do nếu có thông tin nào sai tác động xấu đến sản phẩm thì giá ngay lập tức sẽ bị giảm và tình hình tiêu thụ sẽ chậm lại
Chính vì thế, thị trường tiêu thụ sản phẩm đầu ra cho nông hộ không thể
dự doán trước được sự thay đổi của giá cả đầu ra, thị hiếu của người tiêu dùng cùng với yếu tố thông tin tác động rất lớn đến giá bán của người chăn nuôi (Nguyễn Văn Huyên, 2014)
2.1.5.4 Thị trường đầu vào
Phát triển kinh tế rất khó khăn, nông nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp phát triển kém Chính điều này làm mất đi thế cạnh tranh so với các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới Do vậy, việc nhập khẩu nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi đang gây ra những bất lợi cho người chăn nuôi nhất là vấn đề giá cả Giá thức ăn trong nước luôn cao hơn nhiều so với