1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội

87 254 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để khắc phục được những tồn tại, bất cập hiện nay trong công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, ta cần chú trọng c

Trang 1

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH ĐẢM BẢO BẰNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT, QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở

VÀ TÀI SẢN KHÁC GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TẠI

HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Thời

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2017 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 3

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,

Bộ môn Trắc địa - Bản đồ Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức UBND huyện Thanh Trì, các tổ chức, cá nhân đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày 15 tháng 04 năm 2017 Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

1.2.1 Mục đích 3

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 4

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4

1.5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4

1.5.1 Ý nghĩa khoa học 4

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 4

Phần 2 Tổng quan nghiên cứu 5

2.1 Cơ sở khoa học về giao dịch quyền sử dụng đất 5

2.1.1 Cơ sở lý luận về giao dịch đảm bảo 5

2.1.2 Cơ sở thực tiễn từ các giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 18

2.2 Cơ sở pháp lý về giao dịch quyền sử dụng đất 23

2.2.1 Các văn bản luật liên quan đến giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 23

2.2.2 Các văn bản pháp quy dưới luật liên quan đến việc thực hiện các giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 23

Trang 5

2.2.3 Các văn bản quy định các giao dịch đảm bảo và đăng ký giao dịch đảm

bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất tại Hà Nội 25

2.3 Thực tiễn đăng ký giao dịch đảm bảo tại thành phố Hà Nội 26

2.4 Nhận xét và đánh giá chung 27

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Phạm vi nghiên cứu 28

3.2 Nội dung nghiên cứu 28

3.2.1 Đánh giá điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì 28

3.2.2 Đánh giá tình hình quản lý sử dụng đất huyện Thanh Trì 28

3.2.3 Thực trạng công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất huyện Thanh Trì 28

3.2.4 Thực trạng các hoạt động giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất ở huyện Thanh Trì 28

3.2.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 28

3.3 Phương pháp nghiên cứu 28

3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 28

3.3.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 29

3.3.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu 30

3.3.4 Phương pháp phân tích so sánh 30

Phần 4 Kết quả và thảo luận 31

4.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Thanh Trì 31

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

4.1.2 Thực trạng phát triển kinh tế, xã hội 34

4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội 34

4.2 Công tác quản lý, sử dụng đất đai huyện Thanh Trì 36

4.2.1 Công tác quản lý đất đai 36

4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Trì năm 2016 38

4.2.3 Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất huyện Thanh Trì 40

4.2.4 Công tác đăng ký biến động về đất đai tại huyện Thanh Trì 41

4.2.5 Nhận xét chung về tình hình quản lý, sử dụng đất đai huyện Thanh Trì 43

Trang 6

4.3 Đánh giá hoạt động giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở

hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất huyện thanh trì 43

4.3.1 Công tác đăng ký thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giai đoạn 2012-2016 43

4.3.2 Công tác đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp 45

4.3.3 Đánh giá chung 46

4.4 Đánh giá công tác giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại các xã nghiên cứu 47

4.4.1 Đặc điểm chung các xã nghiên cứu 47

4.4.2 Đánh giá công tác giao dịch thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu 47

4.4.3 Tình hình thực hiện các giao dịch cầm cố tài sản là nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 54

4.4.4 Tình hình thực hiện các giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 58

4.4.5 Đánh giá chung về tình hình thực hiện các giao dịch đảm bảo bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu 63

4.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giao dịch đảm bảo bằng QSD đất, qsh nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất 64

4.5.1 Giải pháp về cơ chế chính sách 64

4.5.2 Giải pháp về bồi dưỡng nguồn nhân lực 64

4.5.3 Giải pháp tuyên truyền pháp luật 65

4.5.4 Giải pháp khoa học công nghệ 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị 67

Tài liệu tham khảo 68

Phụ lục 70

Trang 7

Hội đồng nhân dân

Phát triển nông thôn

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Thanh Trì năm 2016 38 Bảng 4.2 Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến hết năm 2016 40 Bảng 4.3 Kết quả tiếp nhận và giải quyết một số thủ tục hành chính về đất đai

giai đoạn 2012 - 2016 tại huyện Thanh Trì 41 Bảng 4.4 Tình hình thực hiện đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giai đoạn 2012 – 2016 tại huyện Thanh Trì 44 Bảng 4.5 Tình hình thực hiện đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông

nghiệp giai đoạn 2012 – 2016 tại huyện Thanh Trì 45 Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu cơ bản 03 xã nghiên cứu 47 Bảng 4.7 Kết quả thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 48 Bảng 4.8 Ý kiến người dân về mức vay vốn và thủ tục thực hiện thế chấp bằng QSD

đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu 50 Bảng 4.9 Kết quả điều tra cán bộ ngân hàng về cho vay có thế chấp bằng QSD

đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Thanh Trì 52 Bảng 4.10 Tình hình thực hiện cầm cố tài sản là nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 54 Bảng 4.11 Ý kiến người dân về việc thực hiện giao dịch cầm cố nhà ở và tài sản

khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 56 Bảng 4.12 Tình hình thực hiện giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng QSD đất,

QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giai đoạn 2012-2016 59 Bảng 4.13 Ý kiến người dân về giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012-2016 60

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Sơ đồ địa giới hành chính huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 31

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Thị Thu Hương

Tên luận văn: Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu

- Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp

- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp

độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 6,85%/năm

2 Giai đoạn 2012-2016 toàn huyện Thanh Trì đã thực hiện đăng ký 6.830 hồ sơ đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Các giao dịch đảm bảo về thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất được người sử dụng đất thực hiện và đăng ký thường xuyên tại Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Thanh Trì

3 Kết quả nghiên cứu tình hình thực hiện giao dịch đảm bảo bằng quyền sử

Trang 11

dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất tại thị trấn Văn Điển, xã Tân Triều và xã Đông Mỹ ta thấy:

- Các giao dịch đảm bảo được thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước là giao dịch thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là 1.960 hồ sơ; giao dịch thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp là 42 hồ sơ

- Các giao dịch cầm cố tài sản là nhà ở gắn liền với đất là 1.150 hồ sơ

- Các giao dịch đặt cọc là 2.087 hồ sơ, trong đó phần lớn là không thực hiện công chứng và không thực hiện đăng ký tại cơ quan nhà nước

4 Đánh giá công tác giao dich đảm bảo thông qua điều tra lấy ý kiến của người dân ta thấy:

- 90% người dân đồng thuận với thủ tục thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai; 87% người dân đồng tình thực hiện thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại Văn phòng đăng ký đất đai; 100% người dân yêu cầu phải thay đổi thủ tục hành chính tại Văn phòng đăng ký đất đai; 77% người dân cho rằng chỉ vay vốn ngân hàng được 70% giá trị quyền sử dụng đất

- Trong 100 hộ gia đình cầm cố tài sản thì có 80% người dân muốn thực hiện đăng ký giao dịch cầm cố là nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Văn phòng đăng

ký đất đai để hạn chế rủi ro trong giao dich

- Trong 100 hộ gia đình đặt cọc thì có 86% người dân thực hiện giao dịch đặt cọc muốn thực hiện đăng ký giao dịch đặt cọc là nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Văn phòng công chứng

5 Để khắc phục được những tồn tại, bất cập hiện nay trong công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, ta cần chú trọng các giải pháp sau: giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách; giải pháp bồi dưỡng nguồn nhân lực; giải pháp tuyên truyền pháp luật; giải pháp về khoa học công nghệ

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Thi Thu Huong

Thesis title: Assessing the current situation and solutions to improve the efficiency of registration of secured transactions using land use rights, ownership of houses and assets attached to land in Thanh Tri district, Hanoi

Major: Land Management Code: 60 85 01 03

Educational oganization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research methods

1 Method of selecting study sites

2 Method of data collection survey

- Method of secondary data investigation

- Method of primary data investigation

3 Methods of data synthesis and processing

4 Comparative analysis methods

Main results and conclusions

1 Thanh Tri is a suburban district of Hanoi with a total natural area of 6,292.71 hectares; There are 16 administrative units at district and commune levels (01 Van Dien town and 15 communes) By 31/12/2016, the total population of the district was 218,483 people; Natural population growth rate is 1.06%; Per capita income reached 23.20 million VND / person / year and average economic growth rate reached 6.85% / year

2 In the period 2012-2016, Thanh Tri district has registered 6,830 dossiers of registration of mortgage with land use rights, ownership of houses and assets attached to land Guaranteed transactions of mortgaging by land use rights, ownership of houses and assets attached to land are carried out by the land users and regularly registered at the Land Registration Office of Hanoi district office Wall

Trang 13

3 The results of the study on the implementation of transactions secured by land use rights, ownership of houses and assets on land in Van Dien township, Tan Trieu commune and Dong My commune show that:

- Guaranteed transactions that are registered at state agencies are mortgage transactions using land use rights, ownership of houses and assets attached to land, of 1,960; The agricultural land use right mortgage loan is 42 records

- Property pledge transactions are housing on land is 1,150 records

- The deposit is 2,087 records, most of which do not perform notarization and not registered at state agencies

4 Evaluation of the transaction through questionnaire survey of people shows that:

- 90% of people agree with the mortgage procedure at the Land Registration Office; 87% of people agree to mortgage with land use rights at the Land Registration Office; 100% of people required to change administrative procedures at the Land Registration Office; 77% of people think that only bank loans are 70% of the value of land use rights

- Of the 100 households pledged assets, 80% of people want to register mortgage transactions are houses and assets on land at the Land Registration Office to limit transaction risks

- Of the 100 households, 86% of the people making deposit transactions want to register their house deposit and property on the land at the notary office

5 To overcome the current shortcomings in the registration of transactions secured with land use rights, ownership of houses and assets attached to land, we should pay attention to the following solutions Solution to perfect mechanisms and policies; Solutions for fostering human resources; Legal dissemination solution; Solution on science and technology

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý giá, di sản của nhân loại, dân tộc Con người sinh ra từ đất, lớn lên nhờ đất và khi chết cũng trở về với đất, vì vậy đất đai gắn bó máu thịt với con người nói chung và mỗi gia đình nói riêng

Việc đăng ký nhà nước về đất đai có ý nghĩa: các quyền về đất đai được đảm bảo bởi nhà nước, liên quan đến tính tin cậy, sự nhất quán tập trung, thống nhất của dữ liệu địa chính Đăng ký đất đai là một công cụ của nhà nước để bảo

vệ lợi ích nhà nước, lợi ích cộng đồng cũng như lợi ích công dân

Lợi ích đối với nhà nước và xã hội: phục vụ thu thuế sử dụng đất, thuế tài sản, thuế sản xuất nông nghiệp, thuê chuyển nhượng; cung cấp tư liệu phục vụ các chương trình cải cách đất đai, bản thân việc triển khai một hệ thống đăng ký đất đai cũng là một cải cách pháp luật; giám sát giao dịch đất đai; phục vụ quy hoạch; phục vụ quản lý trật tự an

Lợi ích đối với công dân: tăng cường sự an toàn về chủ quyền đối với bất động sản; khuyến khích đầu tư cá nhân; mở rộng khả năng vay vốn (thế chấp); hỗ trợ các giao dịch về bất động sản; giảm tranh chấp về đất đai

Việc đăng ký giao dịch đảm bảo là một trong những cách thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên nhận đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và các bên cùng tham gia giao dịch trong hợp đồng, loại bỏ được những rủi ro pháp lý cho các giao dịch, tạo lập, duy trì và đảm bảo một trật tự lợi ích chung trong đời sống kinh tế - dân sự, xóa bỏ thị trường

“ngầm”, tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng đất có thể thực hiện một cách tốt nhất các quyền của mình theo quy định của Pháp luật

Đăng ký giao dịch đảm bảo còn góp phần vào việc ngăn ngừa các tranh chấp về dân sự liên quan đến giao dịch đảm bảo, hợp đồng vay, góp vốn và cung cấp chứng cứ để Tòa án giải quyết các tranh chấp đó Tuy nhiên, trong thực tiễn, công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản gắn liền với đất vẫn còn nhiều bất cập

Trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở Việt Nam Hiện nay, đất đai được khẳng định là một loại hàng hóa đặc

Trang 15

biệt, là nguồn lực đầu vào và nguồn vốn để phát triển kinh tế của đất nước Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, nhu cầu vay vốn có đảm bảo bằng tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày càng không ngừng gia tăng Các hoạt động giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được diễn ra hết sức phức tạp, dưới nhiều hình thức khác nhau như: cầm cố, cho thuê, thế chấp, góp vốn… và một phần các hoạt động đang được diễn ra trôi nổi trên thị trường tạo thị trường “ngầm” Điều này, đã làm thất thu cho nguồn ngân sách nhà nước, làm ảnh hưởng, kìm hãm sự phát triển kinh tế chung và phát sinh các tranh chấp dân

sự Vấn đề đặt ra hiện nay là cần có các biện pháp quản lý nhà nước chặt chẽ về các hoạt động này thông qua việc đăng ký giao dịch đảm bảo Việc đăng ký giao dịch đảm bảo là một trong những cách thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bên nhận đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất và các bên cùng tham gia giao dịch trong hợp đồng, loại bỏ được những rủi ro pháp lý cho các giao dịch, tạo lập, duy trì và đảm bảo một trật tự lợi ích chung trong đời sống kinh tế - dân sự, xóa bỏ thị trường “ngầm”, tạo điều kiện thuận lợi để người sử dụng đất có thể thực hiện một cách tốt nhất các quyền của mình theo quy định của Pháp luật Tuy nhiên, trong thực tiễn, công tác đăng

ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất vẫn còn nhiều bất cập cần giải quyết

Hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có thời hạn từ một năm trở lên là đối tượng phải đăng ký Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì các hợp đồng này không phải là giao dịch đảm bảo và không thuộc đối tượng phải đăng ký giao dịch đảm bảo Do đó, mặc dù quy định về đăng ký hợp đồng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn

và nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tế nhưng chế định này dường như vượt ra ngoài phạm vi và sự hiệu chỉnh của Bộ luật dân sự năm 2005 - một Bộ luật được xem là văn bản gốc về giao dịch đảm bảo và đăng ký giao dịch đảm bảo

Các văn bản quy phạm pháp luật nhiều, đôi lúc còn chồng chéo ảnh hưởng đến việc thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo cho người sử dụng đất

Từ khi thực hiện Luật Đất đai năm 2003 cùng với việc thực hiện cải cách hành chính theo cơ chế “một cửa”, các cấp, các ngành đã có nhiều nỗ lực trong việc đơn giản hoá các thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai đối với các đối tượng sử dụng đất: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư,

Trang 16

người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất

ở Việt Nam Việc đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận được thực hiện công khai, minh bạch hơn, giảm thời gian và chi phí cho tổ chức, công dân có nhu cầu giao dịch Công nghệ thông tin và trình độ của cán bộ làm việc tại cơ quan đăng

ký đất đai các cấp được từng bước nâng cao đã phát huy thành quả cải cách hành chính trong lĩnh vực này Tuy nhiên, việc cung ứng các dịch vụ về đăng ký, cấp giấy chứng nhận nhà đất vẫn là một trong những vấn đề bức xúc đối với người sử dụng đất, đặc biệt là tại các đô thị

Huyện Thanh Trì là một trong những huyện phát triển công nghiệp, thương mại và các làng nghề thủ công của Thành phố Hà Nội Trong những năm vừa qua, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, thị trường bất động sản đang trong thời kỳ phát triển, giá trị về đất ngày càng được nâng cao đã dẫn đến nhiều biến động về sử dụng đất Vì vậy việc thực hiện giao dịch về đất đai trên địa bàn Thành phố tại Văn phòng Đăng ký đất đai rất nhiều, dẫn đến việc quá tải trong công việc, dồn hồ sơ, không thực hiện đảm bảo thời gian trình tự thủ tục hồ sơ đất đai theo quy định cấp xã, cấp huyện và cấp Thành phố

Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi xin tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội" dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Khắc Thời - Giảng viên Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, cùng với sự giúp đỡ của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Thanh Trì, Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Thanh Trì 1.2 MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

- Điều tra đầy đủ các giao dịch đảm bảo của người dân thực hiện các quyền

sử dụng đất tại các cơ quan nhà nước và các phòng giao dịch cầm đồ tư nhân

Trang 17

- Đánh giá đúng và đầy đủ việc thực hiện giao dịch đảm bảo của hộ gia đình và tổ chức toàn địa bàn huyện Thanh Trì

- Các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giao dịch đảm bảo phải phù hợp với thực tế

1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ gia đình, cá nhân có tham gia giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội

1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

Đánh giá đầy đủ các giao dịch đảm bảo bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giao dịch đảm bảo nhằm tăng thu ngân sách Nhà nước và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất theo luật pháp hiện hành

1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.5.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu đã góp phần bổ sung cơ sở khoa học và cơ sở lý luận

về công tác giao dịch đảm bảo bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trong nền kinh tế thị trường

1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn để hoàn thiện các chính sách về quản

lý các giao dịch đảm bảo bằng QSD đất giúp các nhà quản lý nhìn nhận khách quan và có chính sách quản lý tốt hơn các giao dịch đảm bảo bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

Trang 18

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ GIAO DỊCH QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

2.1.1 Cơ sở lý luận về giao dịch đảm bảo

2.1.1.1 Một số khái niệm giao dịch đảm bảo theo quy định của pháp luật Việt Nam

* Khái niệm về giao dịch bảo đảm: Theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Dân

sự (BLDS) 2005 thì, “Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”; bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của các quan hệ về giao dịch bảo đảm, BLDS 2005 quy định: các giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng

ký giao dịch bảo đảm (Đinh Dũng Sỹ, 2003) và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm

Cầm cố tài sản là việc một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (Điều 326 Bộ luật Dân sự 2005)

Thế chấp tài sản là việc một bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên kia và không chuyển giao tài sản

đó cho bên nhận thế chấp (Điều 432 Bộ luật Dân sự 2005)

Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự Việc đặt cọc phải được lập thành văn bản Trong trường hợp hợp đồng dân sự được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân

sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác (Điều 358 Bộ Luật Dân sự 2005)

Ký cược là việc bên thuê tài sản là động sản giao cho bên cho thuê một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm việc trả lại tài sản thuê Trong trường

Trang 19

hợp tài sản thuê được trả lại thì bên thuê được nhận lại tài sản ký cược sau khi trừ tiền thuê; nếu bên thuê không trả lại tài sản thuê thì bên cho thuê có quyền đòi lại tài sản thuê; nếu tài sản thuê không còn để trả lại thì tài sản ký cược thuộc về bên cho thuê (Điều 359 Bộ Luật Dân sự 2005)

Ký quỹ là việc bên có nghĩa vụ gửi một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc giấy tờ có giá khác vào tài khoản phong toả tại một ngân hàng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự Trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền được ngân hàng nơi ký quỹ thanh toán, bồi thường thiệt hại do bên có nghĩa vụ gây ra, sau khi trừ chi phí dịch vụ ngân hàng (Điều 360 Bộ Luật Dân sự 2005)

Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình (Điều 361 Bộ Luật Dân sự 2005)

Tín chấp là việc một tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở (Hội Phụ nữ tại địa phương, Công đoàn cơ sở) có thể đảm bảo bằng tín chấp cho cá nhân của tổ chức mình, hộ gia đình nghèo tại địa phương vay một khoản tiền tại Ngân hàng hoặc

tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của Chính phủ (Điều 372 Bộ luật Dân sự 2005)

* Khái niệm về đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:

Đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào

sổ đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc nhập vào cơ sở dữ liệu các thông tin về giao dịch bảo đảm dùng tài sản bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở

và các tài sản gắn liền với đất để thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm Các tài sản dùng bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trong giao dịch bảo đảm có thể có trước khi thông tin được ghi vào sổ hay nhập vào cơ sở dữ liệu hoặc được xác lập sau khi cơ quan đăng ký ghi thông tin về các giao dịch bảo đảm vào sổ đăng ký, nhập vào cơ sở

dữ liệu theo quy định của pháp luật (Nguyễn Thị Mai, 2002)

Trang 20

Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện tại Văn phòng đăng ký đất đai theo trình tự, thủ tục quy định tại Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm Hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất gồm có: Đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm; Hợp đồng bảo đảm hoặc hợp đồng bảo đảm có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc các Giấy chứng nhận đã cấp qua các thời kỳ; Bản sao có chứng thực giấy tờ chứng minh tư cách pháp lý của người yêu cầu đăng ký; trường hợp người yêu cầu đăng ký là người được ủy quyền thì phải có văn bản ủy quyền Văn phòng đăng ký đất đai sẽ ghi nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm vào giấy chứng nhận, sổ địa chính, sổ theo dõi biến động đất đai theo quy định của pháp luật

2.1.1.2 Lịch sử phát triển các hoạt động giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở Việt Nam

* Giai đoạn từ những năm cuối thập kỷ 80, 90 của thế kỷ trước:

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, các giao dịch tự nguyện, tự chịu trách nhiệm giữa các chủ thể bình đẳng về quyền, nghĩa vụ pháp lý hầu như không tồn tại và điều đó đồng nghĩa với thực tế ở nước ta, thời kỳ này không có pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm Tình trạng nói trên kéo dài cho đến năm cuối cùng của thập kỷ 80 của thế kỷ trước, khi nước ta bước vào giai đoạn đầu của quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế, với việc ban hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (năm 1989), Pháp lệnh hợp đồng dân sự (năm 1991), lần đầu tiên các biện pháp bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng kinh tế bao gồm: thế chấp tài sản, cầm cố, bảo lãnh tài sản; và các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng dân sự là: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh, đặt cọc đã được luật hoá trong văn bản của Nhà nước Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu thực hiện chuyển đổi nền kinh tế này, giao dịch bảo đảm mới được tiếp cận dưới giác độ là biện pháp bảo đảm thi hành nghĩa vụ trong quan hệ hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế chứ chưa phải là đối tượng của hoạt động đăng ký với ý nghĩa công khai hoá các quyền tồn tại từ trước đối với tài sản bảo đảm nhằm hạn chế và loại trừ rủi ro pháp lý cho các giao dịch được thiết lập sau liên quan đến tài sản đó (Trần Quang Huy, 2013)

Trong thời kỳ này, các hợp đồng kinh tế được ký kết chủ yếu giữa các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do vậy, mục đích thiết lập hợp đồng nói

Trang 21

chung và những hợp đồng có điều khoản bảo đảm thi hành nghĩa vụ nói riêng trong nhiều trường hợp không xuất phát từ nhu cầu và lợi ích thực sự của các bên

mà chủ yếu thực hiện theo “chỉ tiêu”, “pháp lệnh” của Nhà nước Chính tư duy kinh tế kế hoạch hoá tập trung cùng với sự thiếu sinh động, phong phú của thực tiễn đời sống kinh tế, dân sự khi chúng ta mới bước vào giai đoạn đầu xây dựng nền kinh tế thị trường đã có sự ảnh hưởng mang tính chi phối đến cách tiếp cận của pháp luật thời kỳ này về giao dịch bảo đảm (Nguyễn Thị Mai, 2002)

Có thể nói giao dịch bảo đảm của pháp luật thời kỳ này là sự quy định riêng về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng kinh tế và biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự trên nền quan điểm pháp lý phân biệt rạnh ròi giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự Theo đó, hai văn bản quy phạm pháp luật được xem là “xương sống”, phục vụ trực tiếp cho việc xây dựng và điều tiết sự vận hành của các quan hệ thị trường là Pháp lệnh hợp đồng dân sự và Pháp lệnh hợp đồng kinh tế đều quy định về biện pháp thi hành nghĩa vụ, tuy nhiên, giữa hai Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề này lại có nhiều nét khác biệt Điều này thể hiện ở chỗ: Thứ nhất,

về loại hình giao dịch bảo đảm Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng kinh tế bao gồm: thế chấp, cầm cố; trong khi đó, theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng dân sự, ngoài thế chấp, cầm cố, đặt cọc cũng được xem là biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ dân sự Thứ hai, về nội dung và bản chất của biện pháp bảo lãnh

Theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Nghị định số 17.HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (sau đây gọi là Nghị định số 17.HĐBT), bảo lãnh được coi là biện pháp bảo đảm mang tính chất “đối vật” Tại Điều 2 Nghị định số 17.HĐBT, bảo lãnh được định nghĩa là “sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của người nhận bảo lãnh để chịu trách nhiệm tài sản thay cho người được bảo lãnh khi người này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết” Trong khi đó, theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng dân sự, bảo lãnh lại được hiểu “là việc cá nhân hoặc pháp nhân, gọi chung là người bảo lãnh, cam kết chịu trách nhiệm thay cho người được bảo lãnh, nếu đến hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện hợp đồng không đúng thoả thuận

Người bảo lãnh chỉ có thể bảo lãnh bằng tài sản hoặc bằng việc thực hiện một việc (Điều 40) Như vậy, khác với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, bảo lãnh

Trang 22

trong Pháp lệnh hợp đồng dân sự có thể là bảo lãnh bằng tài sản (mang tính chất đối vật) hoặc bằng hành vi cụ thể (mang tính chất đối nhân) Thứ ba, về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Trên nền tư duy quan hệ pháp luật giữa các đơn vị kinh tế thuộc sở hữu nhà nước mà đại diện chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước là quan hệ mang tính chất “công”, chịu sự quản lý và điều hành trực tiếp của chủ sở hữu là Nhà nước thông qua các “chỉ tiêu”, “pháp lệnh”, còn quan hệ pháp luật dân sự là các quan hệ mang tính chất

“tư” nên quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự có phần “mềm dẻo” và “linh hoạt” hơn so với quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng kinh tế

Một đặc điểm nữa của pháp luật thời kỳ này, giao dịch bảo đảm là đã bước đầu có những quy định mang tính khuyến nghị bên có quyền cần tìm hiểu thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm Tuy nhiên, pháp luật mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra quy định mang tính cảnh báo bên có quyền mà chưa luật hoá cơ chế công khai thông tin để bên cho vay (bên có quyền) biết được thông tin về tài sản bảo đảm (Chính phủ 2012- Nghị định số 11/2012/NĐ-CP)

Theo quy định tại Mục V Thông tư số 108/TT-PC ngày 19/5/1990 của Trọng tài kinh tế nhà nước hướng dẫn ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, khi

áp dụng biện pháp thế chấp, “Để tránh tình trạng một số tài sản được đem thế chấp nhiều nơi bên đòi thế chấp phải xem xét cụ thể tài sản đó hiện còn đang thế chấp ở đâu chưa Nếu tài sản đó hiện không thế chấp ở một nơi nào khác thì khi nhận thế chấp cần yêu cầu giữ giấy tờ sở hữu tài sản đó nhằm ngăn chặn không để cho tài sản đó được đem thế chấp nơi khác” Điều này cho thấy, ý nghĩa và mục đích của khuyến nghị mang tính cảnh báo này là nhằm hạn chế và loại trừ tình trạng dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, chứ không phải nhằm giảm thiểu rủi ro cho bên nhận bảo đảm sau trong trường hợp tài sản bảo đảm đã được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ trước đó

Có thể nói, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồng dân sự về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ còn ở phạm vi hẹp và mang tính sơ khai, một số quy định còn chưa phù hợp với sự phát triển của thị trường tín dụng hiện đại Mặc dù vậy, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế và Pháp lệnh hợp đồng dân sự cũng đã đặt nền móng quan trọng cho việc hình thành và phát triển của pháp luật

Trang 23

về giao dịch bảo đảm tại Việt Nam, tạo tiền đề cần thiết cho sự ra đời của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm

* Giai đoạn ra đời Bộ luật dân sự 1995 đến trước BLDS 2005:

Với sự ra đời của BLDS 1995, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

đã được quy định đầy đủ hơn, bao gồm các quy định chung về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và các quy định cụ thể về từng biện pháp như cầm

cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, phạt vi phạm Đây có thể xem là một bước tiến mới của Bộ luật nước ta về giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, việc để Pháp lệnh hợp đồng kinh tế có hiệu lực thi hành song song với BLDS đã làm cho tình trạng cùng tồn tại các quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong pháp luật dân sự

và pháp luật kinh tế vẫn tiếp tục được duy trì cho dù các quy định về vấn đề này trong nhiều trường hợp thể hiện nhiều quan điểm và nội dung pháp lý không thống nhất Bên cạnh đó, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, để thi hành các quy định của BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quan hệ tín dụng, Ngân hàng nhà nước đã ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng

về lĩnh vực này Như vậy, thay vì quy định thống nhất về giao dịch bảo đảm, pháp luật thời kỳ này lại phân chia các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo từng lĩnh vực áp dụng, đó là bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong lĩnh vực dân

sự, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm thực hiện nghĩa

vụ trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng Thực tế cho thấy, sự thiếu nhất quán của pháp luật thời kỳ này về giao dịch bảo đảm đã dẫn đến nhiều “hệ luy” về mặt pháp lý cũng như nhiều vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

Điểm nhấn đáng kể của pháp luật thời kỳ này là lần đầu tiên, thuật ngữ về giao dịch bảo đảm được quy phạm hoá trong một văn bản pháp quy của Nhà nước, đó chính là Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm Theo quy định của Nghị định này, giao dịch bảo đảm được hiểu “là hợp đồng cầm cố, thế chấp bằng tài sản theo đó bên bảo đảm cam kết với bên nhận bảo đảm về việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” (khoản 1 Điều 2) Từ quy định này cho thấy, giao dịch bảo đảm chính là một loại hình giao dịch dân sự, có danh vị độc lập là hợp đồng về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không phải thuần tuý là thoả thuận về biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế như quan niệm của pháp luật thời kỳ trước đó (Nguyễn Đình Bồng, 2005) Với định

Trang 24

nghĩa này, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP đã cho thấy tư duy pháp luật mới về giao dịch bảo đảm

Tuy nhiên, dấu ấn mang tính đột phá của pháp luật thời kỳ này không phải

ở việc luật hoá khái niệm giao dịch bảo đảm, mà ở việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm Với việc ban hành Nghị định số 08/2000/NĐ-CP, lần đầu tiên, giao dịch bảo đảm được coi là đối tượng của hoạt động đăng ký với ý nghĩa công bố công khai lịch sử tồn tại của các quyền (giao dịch) cũng như chủ thể quyền (giao dịch) đối với tài sản bảo đảm Thực tiễn đã minh chứng rằng, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã ngày càng cho thấy vai trò quan trọng của nó trong việc mở rộng cơ hội tiếp cận tín dụng cho nền kinh tế nước ta Bởi lẽ, trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại, giao dịch bảo đảm được thiết lập trên cơ sở bên cho vay không cần trực tiếp nắm giữ tài sản, nghĩa là, bên vay vẫn giữ tài sản đã được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho bên cho vay và tiếp tục sử dụng nó, phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh của mình Đặc điểm này của nền tài chính hiện đại có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nhà đầu tư, bởi lẽ, thương gia phải có hàng trong tay thì mới có thể giới thiệu, tiếp thị hàng hoá; nhà thầu phải sử dụng thiết bị mới có thể thực hiện hợp đồng; một nhà nông phải có máy móc để gieo trồng và thu hoạch mùa màng

Xét dưới phương diện lợi ích của bên thứ ba, “điểm yếu” của cơ chế cho vay này là, trong nhiều trường hợp bên thứ ba có thể bị lừa đảo nếu không có cơ chế minh bạch hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm Thực tế nêu trên phản ánh nhu cầu thiết lập cơ chế công khai hoá thông tin về tài sản bảo đảm và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán theo thứ tự thời gian công khai hoá; bên cạnh việc thừa nhận và bảo hộ việc dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; và cơ chế cho vay trên cơ sở bên vay vẫn nắm giữ và kiểm soát tài sản bảo đảm

Từ thực tiễn trên, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã được ban hành trong vai trò là giải pháp quan trọng cho vấn đề nêu trên, thông qua việc công nhận một cách đầy đủ các quyền bảo đảm tồn tại từ trước đối với tài sản nếu được công khai hoá dưới hình thức nộp Đơn yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan đăng ký; cũng như quy định về quyền tiếp cận thông tin về tài sản bảo đảm nếu những thông tin đó được công bố công khai thông qua thiết chế đăng ký

Trang 25

(Điều 24) và xác lập thứ tự ưu tiên giữa các giao dịch bảo đảm bằng cùng một tài sản theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 22)

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số điểm hạn chế, bất cập đang được nghiên cứu, sửa đổi, nhưng theo đánh giá chung, với sự ra đời của Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã cho thấy một bước tiến dài của pháp luật nước ta trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm Thông qua việc thiết lập cơ chế đăng ký, Nghị định số 08/2000/NĐ-CP đã góp phần bảo vệ chủ thể quyền đã được công khai hoá, đồng thời loại bỏ được những rủi ro pháp lý cho các giao dịch được thiết lập sau; từ đó, tạo lập, duy trì và đảm bảo một “trật tự lợi ích” chung trong đời sống kinh tế - dân sự

* Giai đoạn từ khi Bộ luật dân sự 2005 ra đời:

BLDS 2005 đã đưa ra khái niệm bao quát hơn về giao dịch bảo đảm Theo khoản 1 Điều 323 BLDS 2005 thì, “Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”; bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp Bên cạnh đó, nhằm đảm bảo tính công khai, minh bạch của các quan hệ về giao dịch bảo đảm, BLDS 2005 quy định các giao dịch bảo đảm được đăng ký theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm (Điều 323, Điều 325), và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm

Trước tiên, có thể dễ dàng nhận thấy, BLDS 2005 không chỉ ra những đặc điểm chung, cơ bản nhất của các giao dịch bảo đảm mà chỉ liệt kê những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Điều này hoàn toàn khác so với khái niệm giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật nhiều nước Tham khảo pháp luật một số quốc gia trên thế giới cho thấy, khái niệm giao dịch bảo đảm được hiểu là toàn bộ các giao dịch, không giới hạn và phụ thuộc vào hình thức và tên gọi của giao dịch, có mục đích tạo lập một quyền lợi được bảo đảm đối với tài sản, bao gồm: hàng hoá, giấy tờ (có giá) hoặc các tài sản vô hình khác Chính

vì vậy, bên cạnh các biện pháp bảo đảm truyền thống như cầm cố, thế chấp, pháp luật về giao dịch bảo đảm của các quốc gia này còn được áp dụng với các giao dịch khác có tính chất bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ như thuê mua tài chính; gửi bán thương mại; chuyển giao nợ, cho thuê tài sản dài hạn, bán có bảo lưu quyền sở hữu; mua trả chậm, trả dần; chuyển nhượng quyền đòi nợ; quyền cầm giữ… Điều này cũng đồng nghĩa, loại hình giao dịch bảo đảm với tư cách là

Trang 26

đối tượng của hoạt động đăng ký theo quy định của pháp luật các nước này không bị “bó hẹp” trong khái niệm giao dịch bảo đảm

Tuy nhiên, giao dịch bảo đảm trong BLDS 2005 đã bộc lộ một số điểm hạn chế, bất cập trong môi trường tín dụng hiện đại Bởi lẽ, công khai hoá những thông tin về các giao dịch bảo đảm truyền thống như cầm cố, thế chấp, đặt cọc,

ký cược, ký quỹ vẫn còn là chưa đủ để loại trừ rủi ro đối với nhà đầu tư; vẫn còn những người có quyền đối với tài sản phát sinh trên cơ sở giao dịch hoặc theo quy định của pháp luật cần phải được công khai hoá nhằm đảm bảo tính minh bạch về tình trạng pháp lý của tài sản như cầm giữ tài sản, thuê mua tài chính, gửi bán thương mại… Điều này cho thấy, BLDS 2005 về giao dịch bảo đảm vô hình chung đã thu hẹp phạm vi đăng ký và yêu cầu cung cấp thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm

Chính vì vậy, để khắc phục những tồn tại trên Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 04/2007/TT-BTP và Thông tư số 07/2007/TT-BTP quy định các lợi ích được bảo đảm khác, đó là một số hợp đồng như hợp đồng mua trả chậm, trả dần có bảo lưu quyền sở hữu của bên bán, hợp đồng cho thuê có thời hạn từ một năm trở lên, hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng chuyển giao quyền đòi nợ;

và việc kê biên tài sản thi hành án thuộc diện đăng ký (thông báo) và được biết đến dưới một định chế chung là “đăng ký hợp đồng” hay “thông báo kê biên tài sản thi hành án” Tuy nhiên, nếu xét theo tiêu chí giao dịch bảo đảm theo quy định của BLDS 2005, các hợp đồng này không phải là giao dịch bảo đảm và không thuộc diện phải đăng ký giao dịch bảo đảm Do đó, mặc dù quy định về đăng ký hợp đồng xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn, và nhằm đáp ứng nhu cầu của thực tiễn nhưng chế định này dường như vượt ra ngoài phạm vi và sự hiệu chỉnh của BLDS 2005 - một Bộ luật được xem là văn bản gốc về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm

Theo quy định của BLDS 2005, tất cả các giao dịch dân sự do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm như cầm

cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, tín chấp đều được “gọi” dưới tên chung là giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, mục đích của việc đăng ký là nhằm công khai hoá thông tin về giao dịch bảo đảm và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp một tài sản được bảo đảm

để thực hiện cho nhiều nghĩa vụ theo thứ tự thời gian công khai hoá (đăng ký)

Do đó, giao dịch bảo đảm với tư cách là đối tượng của hoạt động đăng ký chỉ có

Trang 27

thể các biện pháp bảo đảm bằng một tài sản cụ thể (mang tính chất đối vật), không bao hàm tín chấp (là biện pháp bảo đảm theo quy định của BLDS 2005) nhưng lại có tính chất đối nhân

Mặc dù BLDS 2005 không trực tiếp giải quyết vấn đề này, nhưng xuất phát từ nguyên lý của việc xử lý tài sản bảo đảm, phạm vi giao dịch bảo đảm thì không có sự đồng nhất với phạm vi đối tượng đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm Điều này tiếp tục được khẳng định tại Thông tư số 03/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28/9/2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp Theo đó, bảo lãnh, tín chấp theo quy định của khoản 2 Thông tư này không thuộc diện đăng ký giao dịch bảo đảm (Trần Quang Huy và Nguyễn Quang Tuyến, 2013)

Bên cạnh đó, dưới giác độ lý luận về đăng ký giao dịch bảo đảm và quy định của pháp luật hiện hành là các biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân nên không thuộc diện đăng ký giao dịch bảo đảm Tuy nhiên, sự thiếu nhất quán của BLDS 2005 về bảo lãnh đã gây ra vướng mắc trong việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm giữa giao dịch bảo đảm bằng tài sản (ví dụ: như cầm cố, thế chấp) với bảo lãnh Theo quy định của Điều 361 BLDS 2005,

“Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.” Tuy nhiên, tại Điều 369 -

xử lý tài sản của bên bảo lãnh, BLDS lại quy định: “Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh”

Theo quy định của BLDS 2005, bảo lãnh không hoàn toàn là biện pháp bảo đảm mang tính đối nhân Điều này đã đặt ra vấn đề cần giải quyết, đó là thứ

tự ưu tiên thanh toán giữa giao dịch bảo đảm bằng tài sản với bảo lãnh được xác định theo tiêu chí nào, đăng ký giao dịch bảo đảm hay xác lập giao dịch giao dịch

Trang 28

bảo đảm Bởi lẽ, theo quy định của khoản 2 Điều 325 BLDS 2005, “Trong trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự

mà có giao dịch bảo đảm có đăng ký, có giao dịch bảo đảm không đăng ký thì giao dịch bảo đảm có đăng ký được ưu tiên thanh toán.”; tuy nhiên, bảo lãnh theo quy định của pháp luật hiện hành lại không thuộc diện đăng ký giao dịch bảo đảm, nghĩa là, trong trường hợp có nhu cầu, các bên trong quan hệ bảo lãnh cũng không thể thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm Do đó, nếu lấy tiêu chí đăng ký để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán sẽ không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo lãnh Nếu lấy theo tiêu chí xác lập giao dịch, thì không phù hợp với tinh thần của Điều 325 BLDS 2005 quy định về nguyên tắc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các giao dịch bảo đảm; cũng như mục tiêu công khai, minh bạch hoá thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản thông qua thiết chế đăng ký, nhằm giảm thiểu rủi ro cho các nhà đầu tư, qua đó, góp phần phát huy tối đa mọi nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà chúng ta đang nỗ lực hướng đến

Thực tiễn cho thấy, đăng ký giao dịch bảo đảm đã và đang ngày càng khẳng định vai trò và vị thế của nó trong môi trường kinh doanh của nền tài chính hiện đại Vấn đề đặt ra là, để thiết chế đăng ký phát huy hết những giá trị tích cực của

nó đối với đời sống kinh tế, dân sự của nước ta, cần phải có sự nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm Bởi lẽ, pháp luật về giao dịch bảo đảm thuộc lĩnh vực pháp luật về nội dung, trong khi đó pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm lại thuộc lĩnh vực pháp luật về thủ tục, có vai trò giúp cho quyền của các bên trong quan hệ bảo đảm được công khai hoá (Vũ Thị Hồng Yến, 2009) Điều này càng cho thấy sự cần thiết của việc đăng ký giao dịch bảo đảm

Từ khi Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm ra đời đã đánh dấu sự thành công bước đầu trong việc nhất thể hoá pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm của nước ta, góp phần tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong việc tìm hiểu và áp dụng pháp luật Với những quy định mới tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động đăng

ký giao dịch bảo đảm, đồng thời thể hiện một cách rõ nét vai trò của đăng ký giao dịch bảo đảm, tác động trực tiếp tới các bên tham gia giao dịch cũng như các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tác động tới nền kinh tế xã hội một cách đáng kể, cụ thể đó là:

- Đối với bên nhận bảo đảm:

Trang 29

Đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những cách thức để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên nhận bảo đảm Pháp luật về giao dịch bảo đảm của các nước đều thừa nhận giao dịch bảo đảm được đăng ký mang ý nghĩa công bố quyền lợi của bên nhận bảo đảm với người thứ ba và tất cả những ai (người thứ ba) xác lập giao dịch liên quan đến tài sản bảo đảm đều buộc phải biết về sự hiện hữu của các quyền liên quan đến tài sản bảo đảm đã được đăng ký

Ngoài quyền truy đòi tài sản bảo đảm, việc đăng ký giao dịch bảo đảm còn giúp cho bên nhận bảo đảm có được thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm so với các chủ nợ khác Trong trường hợp một tài sản bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ, thì khi xử lý tài sản đó, thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm được xác định căn cứ theo thứ tự đăng ký giao dịch bảo đảm Về nguyên tắc "ai đăng ký trước hoặc hoàn thiện lợi ích bảo đảm trước thì được ưu tiên trước" Điều này có nghĩa, bên nhận bảo đảm đăng ký giao dịch bảo đảm hoặc hoàn thiện lợi ích bảo đảm (nắm giữ tài sản bảo đảm) sẽ được ưu tiên thanh toán trước Như vậy, thời điểm đăng ký giao dịch bảo đảm là một trong những cách thức để xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên nhận bảo đảm với nhau

- Đối với bên bảo đảm:

Một trong những yêu cầu đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội là việc dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ không được ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt của bên bảo đảm Điều này có nghĩa, bên bảo đảm vẫn giữ tài sản bảo đảm và tiếp tục khai thác, sử dụng tài sản nhằm phục

vụ mục đích sản xuất, kinh doanh của mình Đặc điểm này vô cùng quan trọng trong nền tài chính hiện đại, vì thương gia buộc phải có hàng trong tay thì mới có thể giới thiệu, tiếp thị hàng được, nhà thầu phải sử dụng thiết bị mới có thể thực hiện hợp đồng và một nhà nông phải có máy móc để gieo trồng và thu hoạch mùa màng Thông qua cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm, bên bảo đảm vừa đạt được mục đích dùng tài sản để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, vừa duy trì được hoạt động sản xuất - kinh doanh của mình Chính nguồn lợi thu được từ việc khai thác tài sản bảo đảm sẽ giúp bên nhận bảo đảm từng bước thu hồi vốn, tái đầu tư và thanh toán được nợ cho bên nhận bảo đảm Do vậy, nếu phải giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm hoặc người thứ ba giữ, thì mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh của bên bảo đảm bị ngưng trệ Điều này đi ngược lại với mục đích của giao dịch bảo đảm hiện đại, đó là vừa giúp các giao dịch được an toàn, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 30

- Đối với bên thứ ba:

Trong nhiều trường hợp, do thiếu thông tin nên bên thứ ba có thể dễ dàng cho rằng tài sản vẫn chưa được dùng để bảo đảm cho bất kỳ một nghĩa vụ nào trên thực tế Vậy làm thế nào để bên thứ ba (ví dụ: bên cho vay tiếp theo hoặc bên mua tài sản) có thể xác định để biết được liệu còn có ai đó có quyền lợi liên quan đến một tài sản cụ thể nào đó hay không? Việc công khai hóa thông tin về giao dịch bảo đảm được đăng ký là một giải pháp, cụ thể là bên thứ ba có thể tìm hiểu thông tin tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm để biết được những giao dịch bảo đảm liên quan đến tài sản bảo đảm đã tồn tại từ trước, vì những thông tin về giao dịch bảo đảm được lưu giữ, công bố rộng rãi Nhờ đó, rủi ro pháp lý trong giao dịch sẽ giảm thiểu, nhất là trong trường hợp tài sản bảo đảm vẫn do bên bảo đảm chiếm giữ, khai thác

Công khai thông tin về giao dịch bảo đảm là mục tiêu quan trọng hàng đầu của hệ thống giao dịch bảo đảm hiện đại, vì nhờ đó sẽ giúp các chủ nợ đánh giá

và phòng ngừa rủi ro Thông tin được cung cấp giúp nhận biết được sự tồn tại các quyền của bên nhận bảo đảm đối với tài sản bảo đảm, đặc biệt trường hợp động sản là đối tượng của giao dịch và người cần biết ở đây chính là người có ý định xác lập giao dịch đối với tài sản bảo đảm (ví dụ: người mua, người thuê, người nhận bảo đảm tiếp theo ) Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm sẽ giúp các tổ chức, cá nhân đạt được mục đích đó thông qua những thông tin được cung cấp công khai theo yêu cầu

- Đối với nền kinh tế - xã hội:

Nền kinh tế - xã hội phát triển đòi hỏi hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm phải thực sự hiện đại, khoa học Khi giao dịch bảo đảm được đăng ký chính xác, thuận lợi với chi phí đăng ký hợp lý thì chi phí giao dịch (gồm chi phí về thời gian, công sức, tiền của ) trong xã hội sẽ ở mức thấp, nhờ đó, tính cạnh tranh của nền kinh tế sẽ tăng cao Mặt khác, nếu giao dịch bảo đảm được đăng ký và công khai hoá, thì sẽ hạn chế được những tranh chấp phát sinh trong cuộc sống

do các tổ chức, cá nhân dễ dàng tiếp cận với thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm trước khi ký kết, thực hiện các giao dịch có liên quan đến tài sản

đó Bên cạnh đó, thông qua hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, Nhà nước sẽ có được những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình hoạch định các chính sách mang tính vĩ mô, đặc biệt liên quan trực tiếp đến chính sách bảo đảm an toàn tín dụng Hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm được vận hành hiệu quả sẽ khuyến

Trang 31

khích hoạt động cho vay phục vụ nhu cầu vốn trong xã hội, nhờ đó nguồn vốn trong xã hội sẽ được luân chuyển liên tục, khắc phục tình trạng khan hiếm vốn và

sự mất cân đối về nhu cầu vốn giữa các thành phần kinh tế

2.1.2 Cơ sở thực tiễn từ các giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

2.1.2.1 Một số kinh nghiệm đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở một số nước trên Thế giới

* Thụy Điển:

Tại Thụy Điển, pháp luật đất đai về cơ bản là dựa trên việc sở hữu tư nhân

về đất đai và nền kinh tế thị trường Tuy nhiên, sự giám sát chung của xã hội tồn tại trên rất nhiều lĩnh vực, ví dụ như phát triển đất đai và bảo vệ môi trường Hoạt động giám sát là một hoạt động phổ biến trong tất cả các nền kinh tế thị trường cho dù hệ thống pháp luật về chi tiết được hình thành khác nhau

Hệ thống pháp luật đất đai của Thụy Điển gồm có rất nhiều các đạo luật, luật, pháp lệnh phục vụ cho các hoạt động đo đạc địa chính và quản lý đất đai Các hoạt động cụ thể như hoạt động địa chính, quy hoạch sử dụng đất, đăng ký đất đai, bất động sản và việc xây dựng ngân hàng dữ liệu đất đai đều được luật hóa (Nguyễn Thị Thu Hồng, 2000), cụ thể:

Việc thế chấp: Quyền sở hữu được đăng ký sau khi hợp đồng đã được ký kết nhưng thế chấp lại được thực hiện theo một cách khác Theo quy định của pháp luật về thế chấp, có 3 thủ tục để thực hiện thế chấp:

Bước 1: Trước tiên người sở hữu đất đai phải làm đơn xin thế chấp để vay một khoản tiền nhất định Nếu đơn được duyệt thì thế chấp đó sẽ được đăng ký

và tòa án sẽ cấp cho chủ sở hữu một văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp này sẽ được sử dụng cho một cam kết thế chấp thế chấp thực tế được thực hiện sau khi đăng ký Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp dường như chỉ có ở Thụy Điển

Bước 2: Văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp được gửi cho bên cho vay Khi thực hiện bước 1, tòa án không kiểm tra, xác minh các yêu cầu đối với thế chấp Yêu cầu đối với thế chấp chỉ được xét đến khi thực sự sử dụng bất động sản

để vay vốn (tức là chỉ được xem xét đến ở bước 2) Các yêu cầu đặt ra khi thế chấp là: bên đi vay phải là chủ sở hữu bất động sản; bên cho vay cần đặt ra các điều kiện

Trang 32

cho người đi vay; bên đi vay phải cam kết việc thực hiện thế chấp và bên cho vay

sẽ giữ văn bản thế chấp Khi không đáp ứng các yêu cầu này thì thế chấp sẽ không hợp pháp Đó là trình tự thế chấp theo quy định của pháp luật nhưng trên thực tế hầu hết các thế chấp đều do ngân hàng và các tổ chức tín dụng thực hiện Tại ngân hàng, bên đi vay sẽ ký ba văn bản: hợp đồng vay (nêu rõ lượng tiền vay), hợp đồng thế chấp (thế chấp bất động sản) và một đơn gửi tòa án để xin đăng ký thế chấp Ngân hàng sẽ gửi hai tài liệu đầu tiên và gửi đơn xin thế chấp đến tòa án Sau khi được xử lý, đơn xin thế chấp lại được chuyển lại ngân hàng và lưu trong hồ sơ thế chấp Thông thường ngân hàng đợi đến khi có quyết định phê duyệt của tòa án mới chuyển tiền cho người đi vay Khi nợ thế chấp được thanh toán hết, văn bản xác nhận đủ điều kiện thế chấp sẽ được trả lại cho bên đi vay

Bước 3: Được áp dụng khi hợp đồng thế chấp bị vi phạm Khi không được thanh toán đúng hợp đồng, bên cho vay sẽ làm đơn xin tịch thu tài sản để thế nợ Việc này sẽ do một cơ quan có thẩm quyền đặc biệt thực hiện, đó là: cơ quan thi hành pháp luật Nếu yêu cầu không được chấp nhận, tài sản sẽ được bán đấu giá

và bên cho thế chấp sẽ được thanh toán khoản tiền đã cho thế chấp Thủ tục này được tiến hành khá nhanh chóng Vụ việc sẽ được xử lý trong vòng 6 tháng kể từ khi có đơn xin bán đấu giá

* Trung Quốc:

Theo Điều 10, Hiến pháp năm 1982 của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu Nhà nước (đối với đất đô thị) hoặc sở hữu tập thể (đối với đất thuộc khu vực nông thôn) Vì đất đai ở nông thôn cũng là đối tượng quản lý của chính quyền địa phương và Trung ương, nên quyền sở hữu đối với toàn bộ đất đai ở Trung Quốc đều “dưới sự làm chủ” của Nhà nước Trung Quốc Mặc dù không thừa nhận tư hữu đất đai nhưng Điều 2 của Hiến pháp được sửa đổi năm 1988, quyền sử dụng đất được phép chuyển nhượng tại Trung Quốc Trong điều kiện này, quyền sử dụng đất đã được tách rời khỏi quyền sở hữu đất đai

Hiện nay quyền sử dụng đất ở Trung Quốc có thể chia làm 2 loại: quyền

sử dụng đất được “cấp” và quyền sử dụng đất được “giao” Quyền sử dụng đất được “cấp” là loại quyền sử dụng đất truyền thống được áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước Nhà nước cấp đất cho các doanh nghiệp nhà nước không thu tiền hoặc thu rất ít và có thể thu hồi bất cứ lúc nào (Hoàng Huy Biểu, 2000) Đối với trường hợp này, quyền sử dụng đất không thể chuyển nhượng, cho thuê hay thế chấp

Trang 33

Người sử dụng đất có thể thế chấp quyền sử dụng đất thông qua giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các tổ chức tín dụng ở địa phương để vay vốn Giao dịch thế chấp phải được thực hiện thông qua hợp đồng giữa người sử dụng đất và chủ thể cho vay Nếu đến hạn thanh toán mà người thế chấp không trả được nợ, bên cho vay có thể phải đăng ký quyền sử dụng với tư cách là người sử dụng đất mới (Lưu Quốc Thái, 2006)

Đối với người sử dụng đất nước ngoài, việc thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn từ các tổ chức tín dụng địa phương vẫn còn khó khăn, bởi họ thường được coi là nguồn cấp vốn cho thị trường trong nước, chứ không phải là người đi vay tiền của Trung Quốc

2.1.2.2 Quá trình thực hiện một số quyền sử dụng đất trong hoạt động giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở Việt Nam

Những năm qua, pháp luật Việt Nam đã có những điều chỉnh nhất định đối với lĩnh vực đăng ký, quản lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Việc thực hiện quyền thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữư nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thực sự đã phát huy được nguồn vốn đầu tư đất đai, góp phần đáng kể vào quá trình phát triển sản xuất, kinh doanh Người sử dụng đất sử dụng quyền này ngày càng nhiều hơn Trình

tự, thủ tục để thực hiện quyền thế chấp đã được cải cách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cả người đi vay và người cho vay Việc thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để vay vốn tăng dần qua các năm (dư nợ cho vay có bảo đảm bằng quyền sử dụng đất năm 1998 tăng 7,3 lần so với năm 1993, năm 2001 tăng 3,1 lần so với năm 1998) Mặc dù vậy, cho đến nay, chúng ta chưa có một đạo luật riêng điều chỉnh nội dung đăng ký giao dịch bảo đảm mà các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm được tìm trong BLDS 2005 và các đạo luật chuyên ngành như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật nêu trên Các văn bản điều chỉnh những quan hệ phát sinh trong lĩnh vực đăng ký giao dịch bảo đảm tách biệt và giới hạn theo loại tài sản như: đất, nhà, rừng cây (Nguyễn Đình Bồng, 2009)

Có thể nói, thời gian vừa qua, việc đăng ký giao dịch bảo đảm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc công khai và minh bạch các giao dịch bảo đảm Một

Trang 34

mặt, giúp cho người dân và các doanh nghiệp có thêm cơ hội tiếp cận với các nguồn vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh Mặt khác, hoạt động đăng ký bảo đảm cũng giúp các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, tổ chức và cá nhân khác có nguồn thông tin để tra cứu, tìm hiểu trước khi xem xét, quyết định ký kết hợp đồng nói chung cũng như hoạt động đầu tư và cho vay nói riêng

Tuy nhiên, việc đăng ký giao dịch bảo đảm vẫn còn một số hạn chế đó là các quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm được quy định rải rác tại nhiều văn bản dẫn đến việc tra cứu, áp dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn Liên quan đến đăng ký giao dịch bảo đảm có Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày (23/7/2010)

về đăng ký giao dịch bảo đảm; Thông tư 05/2011/TT-Bộ TP ngày (16/2/2011) của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm, hợp đồng tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản của Cục đăng

ký Quốc gia giao dịch bảo đảm – Bộ Tư pháp Ngoài ra, còn có Thông tư liên tịch 20/2011/TTLT – Bộ TP – Bộ TNMT ngày 18/11/2011 hướng dẫn việc thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liến với đất Việc xác định trình tự, thủ tục,

cơ quan có thẩm quyền đăng ký giao dịch bảo đảm đối với một số loại tài sản còn được quy định ở nhiều luật chuyên ngành như: Luật Đất đai, Bộ luật dân sự

2005, hay văn bản hướng dẫn việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với căn hộ chung cư hình thành trong tương lai của Bộ Tư pháp…Vì được quy định ở nhiều văn bản pháp luật nên việc giải thích pháp luật, xác định thẩm quyền, thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm trong nhiều trường hợp còn chưa thống nhất, chưa tách bạch và thể hiện rõ thẩm quyền thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm đối với các loại tài sản (Nguyễn Đình Bồng, 2005) Thực tế, đang có một số vướng mắc trong thực hiện đăng ký giao dịch này Cụ thể, việc đăng ký giao dịch bảo đảm đối với nhà ở hình thành trong tương lai theo quy định của Luật Nhà ở và Nghị định 11/2012/NĐ –CP của Chính phủ thì căn hộ chung cư mua của chủ đầu tư cũng là một loại tài sản hình thành trong tương lai Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn cụ thể về việc đăng ký thế chấp đối với loại tài sản này nên hiện nay việc thế chấp căn hộ chung cư được tiến hành đăng ký thế chấp quyền tài sản tại các Trung tâm đăng ký giao dịch bảo đảm của Bộ Tư pháp Ngoài ra, việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện ở nhiều cơ quan khác nhau tùy thuộc vào mỗi loại tài sản thế chấp hay cầm cố Đối với tài sản bảo đảm

là động sản thì tiến hành đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường các cấp

Trang 35

Trong khi đó, đối với loại tài sản là động sản nói chung thì tiến hành đăng

ký tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp Đối với tài sản bảo đảm là tàu bay, tàu biển thì việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện tại Cục Hàng không Việt Nam, Cục hàng hải hoặc Cảng vụ hàng hải thuộc Cục hàng hải Việt Nam Và đang có một thực tế là, có doanh nghiệp phải thế chấp, cầm cố nhiều tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại một ngân hàng thì doanh nghiệp buộc phải đi đến nhiều cơ quan để thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm Do vậy, chi phí, thời gian để đăng ký việc thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp bị tăng lên, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình hoàn thành thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm

Một bất cập khác nữa chính là việc phân chia nhiều cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm cũng dẫn đến tình trạng thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm tại nhiều địa phương không thống nhất Thực tế, cùng một loại tài sản bảo đảm, đặc biệt là tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, mỗi nơi có sự hướng dẫn khác nhau

về hồ sơ, giấy tờ thủ tục chưa đúng với quy định Trong một số trường hợp, thời gian tiếp nhận hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm chưa tuân thủ đúng quy định, một số cơ quan lại quy định một cách cứng nhắc là chỉ nhận hồ sơ vào một số ngày nhất định trong tuần, gây khó khăn cho người đi đăng ký (Nguyễn Thị Dung, 2010)

Không chỉ có những bất cập trong đăng ký giao dịch bảo đảm mà ngay cả đối với việc tra cứu thông tin về giao dịch này cũng gặp không ít khó khăn Hiện đăng ký giao dịch bảo đảm được chia thành loại tài sản là động sản và bất động sản và được thực hiện bởi nhiều cơ quan đăng ký khác nhau Đối với trường hợp nhiều tài sản khác nhau cùng để bảo đảm nghĩa vụ thì ngân hàng sẽ phải tiến hành thủ tục tra cứu tại nhiều cơ quan khác nhau Với những trường hợp đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, hệ thống cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm đối với trường hợp này thuộc về hai cấp (cấp tỉnh và cấp quận, huyện) Nhưng hiện tại, việc phối hợp trao đổi thông tin giữa hai cấp chưa bảo đảm, do

đó, muốn tra cứu thông tin thì người có nhu cầu phải đến đúng cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc đăng ký Như vậy, ngay cả việc tra cứu thông tin cũng không thuận tiện cho người dân và các tổ chức khi có nhu cầu

Những năm gần đây, Việt Nam đang rất tích cực trong việc cải cách thủ tục hành chính, việc xây dựng, hoàn thiện theo hướng đơn giản thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm là điều rất cần thiết Ngoài việc cần có quy định cụ thể, thống

Trang 36

nhất về vấn đề này thì tinh thần trách nhiệm và thái độ của cán bộ thực thi có ý nghĩa rất quan trọng nhằm giảm thiểu nhũng nhiễu, tiêu cực tạo cho người dân và

tổ chức trong quá trình đăng ký giao dịch bảo đảm được thuận tiện và tiết giảm chi phí không đáng có (Nguyễn Quang Tuyến, 2009)

2.2 CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ GIAO DỊCH QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

2.2.1 Các văn bản luật liên quan đến giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991

+ Luật Đất đai năm 1993, có hiệu lực từ ngày 15/10/1993

+ Bộ Luật dân sự năm 1995

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998, có hiệu lực từ ngày 01/01/1999

+ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001, có hiệu lực từ ngày 01/10/2001

+ Luật Đất đai năm 2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2004

+ Bộ luật Dân sự năm 2005

+ Luật sửa đổi, bổ sung điều 126 của Luật Nhà ở và điều 121 của Luật Đất đai, có hiệu lực từ ngày 01/9/2009

2.2.2 Các văn bản pháp quy dưới luật liên quan đến việc thực hiện các giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Nghị định số 17/HĐBT ngày 16/01/1990 của Hội đồng bộ trưởng + Thông tư số 108/TTKT ngày 19/5/1990 của Trọng tài kinh tế nhà nước hướng dẫn ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế, khi áp dụng biện pháp thế chấp

+ Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

+ Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm

+ Nghị định số 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 về đăng ký giao dịch bảo đảm

Trang 37

+ Nghị định 79/2001/NĐ-CP ngày 01/11/2001 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 17/1999/NĐ-CP ngày 29/3/1999 của Chính phủ

về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất

+ Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật đất đai

+ Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của

Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn việc đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất

+ Thông tư liên tịch số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của

Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 của Bộ

Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn việc đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất

+ Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28/9/2006 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin

về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp

+ Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm

+ Thông tư số 03/2007/TT-BTP ngày 17/5/2007 của Bộ Tư pháp sửa đổi,

bổ sung một số điều của Thông tư số 06/2006/TT-BTP ngày 28/9/2006 của Bộ

Tư pháp hướng dẫn một số vấn đề về thẩm quyền, trình tự và thủ tục đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản của Cục Đăng ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc Bộ Tư pháp

+ Nghị định 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

+ Thông tư liên tịch số 06/2010/TTLT/BTP-BTNMT ngày 01/3/2010 của

Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường sửa đổi, bổ sung một số quy định

Trang 38

của Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 và Thông

tư số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 của Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên và Môi trường

+ Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 của Chính phủ về đăng

ký giao dịch bảo đảm

+ Thông tư 16/2011/TT-BTNMT ngày 20/5/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính về lĩnh vực đất đai

+ Thông tư 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 của Bộ Tư pháp - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản khác gắn liền với đất

+ Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về sửa đổi,

bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm

2.2.3 Các văn bản quy định các giao dịch đảm bảo và đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Hà Nội

+ Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của UBND Thành phố Hà Nội quy định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà trên địa bàn Thành phố Hà Nội

+ Quyết định số 156/2004/QĐ-UB ngày 15/10/2004 của UBND Thành phố Hà Nội về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 158/2002/QĐ-UB ngày 25/11/2002 của UBND Thành phố Hà Nội quy định về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, chuyển quyền sở hữu nhà trên địa bàn Thành phố Hà Nội

+ Quyết định số 117/2009/QĐ-UBND ngày 01/12/2009 của UBND Thành phố Hà Nội quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đăng ký biến động về sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Trang 39

+ Chỉ thị số 9976/UBND-NC ngày 09/12/2010 về việc triển khai thực hiện Nghị định 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm

+ Chỉ thị số 11282/UBND-TNMT ngày 27/12/2011 về việc thực hiện Thông tư số 20/2011/TTLT-BTP-BTNMT về việc hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trên địa bàn Thành phố

2.3 THỰC TIỄN ĐĂNG KÝ GIAO DỊCH ĐẢM BẢO TẠI THÀNH PHỐ

HÀ NỘI

Trong những năm gần đây, do sự phát triển kinh tế - xã hội của Thủ đô và nhận thức của tổ chức, cá nhân về vai trò và tầm quan trọng của công tác đăng ký giao dịch bảo đảm nên việc thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn Thành phố Hà Nội ngày càng có chiều hướng tăng Đến nay, toàn Thành phố có 29 cơ quan đăng ký giao dịch bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, bao gồm 01 Văn phòng Đăng ký đất đai Thành phố Hà Nội, 28 Văn phòng Đăng ký đất đai cấp quận, huyện Các thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được niêm yết công khai tại

Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ hành chính quận, huyện

Từ năm 2012 đến năm 2016, toàn Thành phố đã tiếp nhận và giải quyết được 386.009 hồ sơ đăng ký, cung cấp thông tin về giao dịch bảo đảm bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Trong đó, hồ sơ đăng ký thế chấp là 127.814 hồ sơ; đăng ký thay đổi là 921 hồ sơ; đăng ký văn bản thông báo

về việc xử lý tài sản đảm bảo là 41 hồ sơ; xóa đăng ký thế chấp là 246.900 hồ sơ; cung cấp thông tin về giao dịch đảm bảo là 285 hồ sơ (Nguồn: Văn phòng Đăng

Trang 40

phép công chứng mà tổ chức hành nghề công chứng, tổ chức tín dụng không biết vẫn công chứng, vẫn giải ngân Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại:

- Công tác chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất còn hạn chế;

- Sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan của Thành phố như: Sở Tư pháp, Sở Tài nguyên và Môi trường, các Văn phòng Đăng ký đất đai còn chưa nhịp nhàng, đồng bộ nên ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc;

- Công tác tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về đăng ký giao dịch bảo đảm chưa được thực hiện thường xuyên;

- Cán bộ Văn phòng Đăng ký đất đai cấp quận, huyện còn quá mỏng, phải kiêm nhiệm nhiều việc nên cũng ảnh hưởng đến chất lượng công việc;

- Việc thẩm định hồ sơ thế chấp quyền sử dụng đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của một số tổ chức tín dụng chưa được thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình nên xảy ra tranh chấp và khó khăn khi xử lý tài sản thế chấp 2.4 NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ CHUNG

- Từ các nghiên cứu về giao dịch đảm bảo trên thế giới và Việt Nam, đặc biệt về thành phố Hà Nội có thể nhận thấy công tác giao dịch đảm bảo trên thị trường là nhu cầu tất yếu của người dân trong điều kiện phát triển kinh

tế hộ gia đình

- Công tác giao dịch đảm bảo là một quá trình giao dịch của người dân hết sức phức tạp Họ có thể thực hiện tại Văn phòng đăng ký đất đai, ngân hàng, hiệu cầm đồ Đặc biệt, nếu để người dân thực hiện giao dịch bằng cách thế chấp tài sản tại hiệu cầm đồ sẽ dẫn đến có sự tranh chấp dân sự xảy ra phức tạp Mà Nhà nước lại thất thu một nguồn ngân sách cực lớn

- Xuất phát từ tình hình đó nên việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác giao dịch đảm bảo là hết sức cần thiết để đề xuất với các cơ quan quản lý Nhà nước nhằm quản lý các giao dịch đảm bảo được tốt và hiệu quả hơn, tránh mọi tình trạng nảy sinh, tranh chấp từ giao dịch ngoài và làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên & Môi trường (2011). Thông tư số 20/2011/TTLT/BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 20/2011/TTLT/BTP-BTNMT ngày 18/11/2011 hướng dẫn việc đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên & Môi trường
Năm: 2011
3. Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên & Môi trường (2006). Thông tư số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 về việc hướng dẫn đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 03/2006/TTLT/BTP-BTNMT ngày 13/6/2006 sửa đổi, bổ sung một số quy định của Thông tư số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 về việc hướng dẫn đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất
Tác giả: Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên & Môi trường
Năm: 2006
6. Chính phủ (2010). Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch đảm bảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch đảm bảo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
8. Chính phủ (2006). Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch đảm bảo
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2006
10. Hoàng Huy Biểu (2000). Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của Trung Quốc, Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới, Vụ Khoa học và Hợp tác Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của Trung Quốc
Tác giả: Hoàng Huy Biểu
Nhà XB: Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới
Năm: 2000
11. Lưu Quốc Thái (2006). Pháp luật đất đai và vấn đề đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản ở Trung Quốc, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật đất đai và vấn đề đầu tư nước ngoài vào thị trường bất động sản ở Trung Quốc
Tác giả: Lưu Quốc Thái
Nhà XB: Tạp chí Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2006
12. Nguyễn Đình Bồng (2009). Bài giảng “Hệ thống pháp luật về quản lý đất đai và thị trường bất động sản; Quản lý đất đai và thị trường bất động sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng “Hệ thống pháp luật về quản lý đất đai và thị trường bất động sản; Quản lý đất đai và thị trường bất động sản”
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2009
13. Nguyễn Đình Bồng và NNK (2005). Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài cấp nhà nước Nghiên cứu đổi mới hệ thống quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất đai – Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài cấp nhà nước Nghiên cứu đổi mới hệ thống quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng, NNK
Nhà XB: Trung tâm Điều tra Quy hoạch đất đai – Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2005
14. Nguyễn Thị Dung (2010). Đảm bảo minh bạch của thị trường bất động sản- Pháp luật một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Luật học. (08). tr.123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảm bảo minh bạch của thị trường bất động sản- Pháp luật một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2010
15. Nguyễn Thị Thu Hồng (2000). Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của Vương quốc Thụy Điển, Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới, Vụ Khoa học và Hợp tác Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và tình hình sử dụng đất đai của Vương quốc Thụy Điển
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hồng
Nhà XB: Báo cáo chuyên đề Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới
Năm: 2000
16. Nguyễn Thị Mai (2002). Hướng dẫn hoàn thiện pháp luật về đất đai; Hội thảo Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới, Vụ Khoa học và Hợp tác Quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn hoàn thiện pháp luật về đất đai
Tác giả: Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Hội thảo Tổng hợp về chính sách và tình hình sử dụng đất đai của một số nước trong khu vực và trên thế giới
Năm: 2002
17. Nguyễn Quang Tuyến (2009). Những tiêu chí cơ bản của thị trường bất động sản minh bạch, Tạp chí Luật học. (3) . tr. 106 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tiêu chí cơ bản của thị trường bất động sản minh bạch
Tác giả: Nguyễn Quang Tuyến
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2009
21. Trần Quang Huy, Nguyễn Quang Tuyến (2013). Giáo trình Luật Đất đai, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Đất đai
Tác giả: Trần Quang Huy, Nguyễn Quang Tuyến
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2013
23. Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì (2016). Báo cáo đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trên địa bàn huyện Thanh Trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đăng ký biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam trên địa bàn huyện Thanh Trì
Tác giả: Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì
Năm: 2016
24. Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Thanh Trì (2012, 2013, 2014, 2015, 2016). Số liệu thống kê đất đai và các số liệu khác liên quan đến quản lý và sử dụng đất các năm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê đất đai và các số liệu khác liên quan đến quản lý và sử dụng đất các năm
Tác giả: Văn phòng Đăng ký đất đai Hà Nội chi nhánh huyện Thanh Trì
Năm: 2012, 2013, 2014, 2015, 2016
25. Vũ Thị Hồng Yến (2009). Về mối quan hệ giữa thủ tục công chứng, chứng thực và đăng ký hợp đồng thế chấp tài sản, Tạp chí Luật học. (01). tr.104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối quan hệ giữa thủ tục công chứng, chứng thực và đăng ký hợp đồng thế chấp tài sản
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến
Nhà XB: Tạp chí Luật học
Năm: 2009
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009). Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009 quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Khác
4. Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên & Môi trường (2005). Thông tư số 05/2005/TTLT/BTP-BTNMT ngày 16/6/2005 về việc hướng dẫn đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất Khác
5. Chính phủ (2012). Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/12/2012 về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm Khác
7. Chính phủ (2009). Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.1. Sơ đồ địa giới hành chính huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Hình 4.1. Sơ đồ địa giới hành chính huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (Trang 44)
- Cơng tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý và sử dụng đất đai: đã đạt được những kết quả nhất định - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
ng tác thanh tra, kiểm tra tình hình quản lý và sử dụng đất đai: đã đạt được những kết quả nhất định (Trang 51)
Bảng 4.2. Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến hết năm 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.2. Kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến hết năm 2016 (Trang 53)
Qua số liệu cấp giấy chứng nhận tại bảng 4.2 toàn huyện đã cơ bản hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và  tài sản khác gắn liền với đất - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
ua số liệu cấp giấy chứng nhận tại bảng 4.2 toàn huyện đã cơ bản hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Trang 54)
Bảng 4.4. Tình hình thực hiện đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.4. Tình hình thực hiện đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Trang 57)
Bảng 4.5. Tình hình thực hiện đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2012 – 2016 tại huyện Thanh Trì - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.5. Tình hình thực hiện đăng ký thế chấp bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2012 – 2016 tại huyện Thanh Trì (Trang 58)
Bảng 4.6. Một số chỉ tiêu cơ bản 03 xã nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.6. Một số chỉ tiêu cơ bản 03 xã nghiên cứu (Trang 60)
Bảng 4.7. Kết quả thế chấp bằng QSD đất,QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.7. Kết quả thế chấp bằng QSD đất,QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 (Trang 61)
Bảng 4.8. Ý kiến người dân về mức vay vốn và thủ tục thực hiện thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.8. Ý kiến người dân về mức vay vốn và thủ tục thực hiện thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu (Trang 63)
Bảng 4.9. Kết quả điều tra cán bộ ngân hàng về cho vay có thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Thanh Trì - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.9. Kết quả điều tra cán bộ ngân hàng về cho vay có thế chấp bằng QSD đất, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện Thanh Trì (Trang 65)
4.4.3. Tình hình thực hiện các giao dịch cầm cố tài sản là nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
4.4.3. Tình hình thực hiện các giao dịch cầm cố tài sản là nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Trang 67)
Bảng 4.11. Ý kiến người dân về việc thực hiện giao dịch cầm cố nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.11. Ý kiến người dân về việc thực hiện giao dịch cầm cố nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã nghiên cứu giai đoạn 2012 - 2016 (Trang 69)
Tổng hợp tình hình thực hiện giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng QSD đất,QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất từ năm 2012 - 2016 được thể tại bảng 4.12 - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
ng hợp tình hình thực hiện giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng QSD đất,QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất từ năm 2012 - 2016 được thể tại bảng 4.12 (Trang 72)
Bảng 4.13 Ý kiến người dân về giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
Bảng 4.13 Ý kiến người dân về giao dịch đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại 03 xã (Trang 73)
BẢNG TỔNG HỢP PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ - (LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đăng ký giao dịch đảm bảo bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại huyện thanh trì, thành phố hà nội
BẢNG TỔNG HỢP PHIẾU ĐIỀU TRA HỘ GIA ĐÌNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THANH TRÌ (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm