HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THỤ ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ CHỦNG NẤM LINH CHI TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TRỒNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO Chuyên ngành: Công nghệ si
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ THỤ
ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ CHỦNG NẤM LINH CHI TRONG ĐIỀU KIỆN NUÔI TRỒNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
Chuyên ngành: Công nghệ sinh học
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Bích Thùy
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi được thực hiện tại Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và phát triển nấm, Khoa Công nghệ Sinh học
- Học viện Nông nghiệp Việt Nam, và Trạm nghiên cứu Trồng cây thuốc Tam Đảo dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Bích Thùy Toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để công bố trong các công trình nghiên cứu để nhận học vị, các thông tin trích dẫn trong Luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc.Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình trước hội đồng và nhà trường
Hà Nội, ngày tháng10 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thụ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của các cá nhân, tập thể khoa Công nghệ sinh học, Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo và các đơn vị khác
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Bích Thùy (Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và phát triển nấm, Khoa Công nghệ Sinh học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam) đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ, anh chị em của Trung tâm Đào tạo, Nghiên cứu và phát triển nấm, Khoa Công nghệ Sinh học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo; phòng phân tích tiêu chuẩn - Viện Dược liệu nơi tôi thực hiện các nội dung chính của đề tài, đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu Học Viện Nông nghiệp Việt Nam và ban chủ nhiệm khoa Công nghệ Sinh học đã tạo môi trường học tập thuận lợi cho tôi trong suốt 2 năm Cao học Quý thầy cô trong Công nghệ Sinh học của Học Viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giảng dạy truyền đạt kiến thức và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian theo học tại trường
Tôi xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng10 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thụ
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục chữ viết tắt viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract x
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
Phần 2 Tổng quan 3
2.1 Nguồn gốc, phân bố và phân loại thực vật của nấm linh chi 3
2.2 Đặc điểm hình thái 4
2.3 Chu trình sống của nấm linh chi 5
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của sợi nấm và hình thành quả thể nấm 6
2.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng 6
2.4.2 Độ PH 8
2.4.3 Nhiệt độ 8
2.4.4 Ẩm độ 8
2.4.5 Ánh sáng 9
2.4.6 Không khí 9
2.5 Giá trị của nấm linh chi 10
2.5.1 Thành phần hóa học và tác dụng dược lý của Ganoderma lucidum 10
2.5.2 Giới thiệu sơ lược về hoạt chất sinh học có trong nấm Linh Chi 13
2.6 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm linh chi trên thế giới và Việt Nam 15
2.6.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm Linh Chi trên thế giới 15
2.6.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi ở Việt Nam 17
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 19
3.1 Vật liệu, địa điểm, thời gian nghiên cứu 19
Trang 53.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 19
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 19
3.2 Nội dung nghiên cứu 19
3.3 Phương pháp nghiên cứu 20
3.3.1 Bố trí thí nghiệm 20
3.3.2 Các bước tiến hành 20
3.3.3 Phương pháp phân tích một số hoạt chất trong nấm Linh Chi 22
3.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25
3.3.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 25
Phần 4 Kết quả và thảo luận 26
4.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của 5 chủng nấm linh chi được nuôi trồng tại vườn quốc gia tam đảo 26
4.1.1 Đánh giá tốc độ mọc sợi của các chủng nấm và tỷ lệ nhiễm bệnh trong giai đoạn ươm sợi 26
4.1.2 Đánh giá thời gian sinh trưởng của các chủng nấm Linh Chi 28
4.1.3 Đánh giá đặc điểm hình thái quả thể của 5 chủng nấm Linh Chi 30
4.1.4 Đánh giá khả năng nhiễm sâu bệnh hại nấm Linh Chi trong giai đoạn hình thành quả thể 33
4.1.5 Đánh giá năng suất cá thể các chủng nấm và hiệu suất sinh học 34
4.2 Đánh giá sinh trưởng, phát triển của 5 chủng nấm linh chi được trồng tại Hà Nội 36
4.2.1 Đánh giá tốc độ mọc sợi của các chủng nấm và tỷ lệ nhiễm bệnh trong giai đoạn ươm sợi 36
4.2.2 Đánh giá thời gian sinh trưởng của các chủng nấm Linh Chi 38
4.2.3 Đánh giá đặc điểm hình thái quả thể của 5 chủng nấm Linh Chi 39
4.2.4 Đánh giá khả năng nhiễm sâu bệnh hại nấm Linh Chi khi nuôi trồng tại Hà Nội 40
4.2.5 Đánh giá năng suất cá thể các chủng nấm và hiệu suất sinh học 42
4.3 Phân tích hàm lượng dược liệu chính 43
4.3.1 Phân tích hàm lượng % các triterpen một số chủng nấm Linh Chi (ganodermanontriol, acid ganoderic a, acid lucidenic N) 43
4.3.2 Phân tích hàm lượng % polysaccharide trong các giống Linh Chi 44
Trang 64.4 So sánh năng suất, chất lượng của các chủng nấm linh chi nuôi trồng tại
tam đảo so với năng suất của các chủng nấm linh chi được nuôi trồng tại
hà nội 46
4.4.1 So sánh năng suất cá thể của các chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại Tam Đảo so với năng suất các chủng nấm được nuôi trồng tại Hà Nội 46
4.4.2 So sánh về hàm lượng dược liệu giữa chủng GA1 được trồng tại Vườn Quốc gia Tam Đảo và GA1 được trồng tại Hà Nội 48
Phần 5 Kết luận và đề nghị 49
5.1 Kết luận: 49
5.2 Đề nghị: 49
Tài liệu tham khảo 50
Phụ lục 52
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các hoạt chất triterpenoid có tác dụng chữa bệnh trong nấm Linh Chi
(Ganoderma lucidum) (Lê Xuân Thám, 1996) 14
Bảng 4.1 Thời gian hệ sợi mọc kín bịch nguyên liệu của các chủng nấm và tỷ lệ nhiễm bệnh 27
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các chủng nấm 29
Bảng 4.3 Đặc điểm hình thái quả thể của các chủng nấm Linh Chi 31
Bảng 4.4 Thành phần và mức độ sâu bệnh hại trên các chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại Tam Đảo 34
Bảng 4.5 Đánh năng suất cá thể các chủng nấm và hiệu suất sinh học 35
Bảng 4.6 Tốc độ mọc sợi của các chủng nấm và tỷ lệ nhiễm bệnh 37
Bảng 4.7 Thời gian sinh trưởng của các chủng nấm 38
Bảng 4.8 Đặc điểm hình thái của quả thể của các chủng nấm Linh Chi 39
Bảng 4.9 Thành phần và mức độ sâu bệnh hại trên các chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại VNUA 41
Bảng 4.10 Đánh năng suất cá thể các chủng nấm và hiệu suất sinh học 42
Bảng 4.11 Hàm lượng (%) các triterpen trong Linh Chi 44
Bảng 4.12 Hàm lượng (%) polysaccarit trong các mẫu nấm Linh Chi 45
Bảng 4.13 So sánh năng suất của các chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại Tam Đảo với năng suất của các chủng nuôi trồng tại Hà Nội 47
Bảng 4.14 So sánh về hàm lượng dược liệu giữa chủng GA1 được trồng tại Tam Đảo và GA1 được trồng tại VNUA 48
Trang 8
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Quả thể nấm 5
Hình 2.2 Chu trình phát triển của Linh Chi 6
Hình 4.1 Giai đoạn quả thể non 33
Hình 4.2 Giai đoạn quả thể trưởng thành 33
Hình 4.3 Hình ảnh quả thể GA1, GA10, GA4, GA2 và GA3 40
Hình 4.4 Hình ảnh quả thể GA10 và GA1 nuôi trồng tại Hà Nội bị sâu bệnh hại 41
Hình 4.5 Hàm lượng % Acid ganoderic A 44
Hình 4.6 Biểu đồ so sánh hàm lượng % Acid ganoderic A và Polysaccarit trong ba mẫu GA1, GA2, GA3 được trồng tại Tam Đảo 46
Hình 4.7 So sánh năng suất của các chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại Tam Đảo với năng suất của các chủng nuôi trồng tại Hà Nội 47
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Thị Thụ
Tên Luận văn: “Đánh giá năng suất và chất lượng một số chủng nấm Linh Chi trong điều kiện nuôi trồng tại Vườn quốc gia Tam Đảo”
- So sánh được năng suất và chất lượng dược liệu giữa trồng ở Tam Đảo và Hà Nội
- Xác định được hàm lượng dược liệu chính một số chủng nấm Linh Chi có năng suất cao
Phương pháp nghiên cứu:
Thí nghiệm được thực hiện trong điều kiện nhà nuôi trồng nấm, từ tháng 4-9/2017 Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 3 lần nhắc lại
Số liệu được xử lý bằng phần mềm SAS 9.1 và Microsoft Excel
5 Các chủng nấm GA1, GA2, GA3, GA4, GA10 không phù hợp trồng từ tháng 4 đến tháng 9 tại Hà Nội
Trang 11THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Thi Thu
Thesis title: “Evaluating of yield and quality of Lingzhi mushroom in culture conditions
in Tam Dao National Park”
Educational organnization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Researchh Objectives:
- Morphological, growth and developmental characteristics of 5 strains of Ganoderma lucidum (GA1, GA2, GA3, GA4, GA10) were evaluated
- Determine the main drug content of some high yielding lucerne strains
- Comparison of yield and quality of medicinal plants between Tam Dao and Hanoi Material and methods:
The experiment was conducted under the conditions of the mushroom cultivator, April-September 2017 The experiments were arranged in a randomized block design (RCBD) with 3 replicates The data was processed using SAS 9.1 and Microsoft Excel Main findings and conclusions:
1 GA1, GA2, GA3, GA4, and GA10 fungi grow well in the climatic conditions of Tam Dao National Park, culturing period from April to September
2 The GA2 and GA4 varieties are the most productive varieties The GA10 variety has the lowest productivity but has beautiful shapes
3 Ganoderma lucidum GA1, GA2, GA3, GA4, GA10 were cultivated at Tam Dao with higher productivity when grown in Hanoi
4 Determination of% content of triterpenes and polysaccharides in GA1, GA2, GA3 samples cultured in Tam Đảo and GA1 cultivated in Hanoi, in which GA3 had the highest level of ganoderic acid, reaching 0.238%, followed by GA2 has a ganoderic acid content of 0.208% GA1 planted in Tam Đảo has the highest polysaccharide content, reaching 0.734% Higher than the GA1 model planted in Hanoi The polysaccharide content of the GA1 cultivar was 0.546%
5 GA1, GA2, GA3, GA10, GA10 were not suitable for planting from April to September in Hanoi
Trang 12PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nấm Linh Chi là vị thuốc quý từ thiên nhiên đã được sử dụng từ hàng nghìn năm nay trong bồi bổ sức khỏe và hỗ trợ chữa bệnh Ngày nay, nấm Linh Chi ngày càng được sử dụng rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới Nấm Linh Chi đỏ
đã được nuôi trồng số lượng lớn ở nhiều nước trên thế giới để đáp ứng nhu cầu
sử dụng có thể kể đến: Nhật Bản, hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Việt nam
Có rất nhiều chủng Linh Chi khác nhau và không phải chủng Linh Chi nào cũng có dược tính, dược lý giống nhau Polysaccharide và triterpenoid được xem
là những hoạt chất quan trọng nhất trong Linh Chi (Skalicka-Woźniak et al., 2012; Wasser, 2010) Tuy nhiên, hàm lượng triterpene, polysaccharide trong nấm Linh Chi lại không ổn định, chúng phụ thuộc rất nhiều vào giống, loài, nơi trồng, điều kiện canh tác cũng như phương pháp chế biến, điều này đã được thể hiện trong một nghiên cứu của Chen và Su được tiến hành vào năm 1999 và 2001 (Chen et al., 1999; Su et al., 2001)
Ở Việt Nam, trong một vài năm gần đây, Linh Chi đang được nuôi trồng rất nhiều và mang lại thu nhập đáng kể cho người dân Tuy nhiên, đặc tính của các chủng Linh Chi hệ sợi chỉ sinh trưởng tốt trong khoảng nhiệt độ 24-270C;
ẩm tương đối trung bình khoảng 85 -86%, vào thời điểm nóng nhất, nhiệt độ trong nhà tối đa đến 300C Đây là điều kiện lý tưởng cho nấm linh chi sinh trưởng và phát triển
Nghiên cứu di thực, thuần hóa các chủng nấm Linh Chi có nguồn gốc xuất
xứ từ các nước khác nhau Nghiên cứu đánh giá về năng suất cũng như chất lượng dược liệu của các chủng nấm Linh Chi có vai trò rất quan trọng và cần thiết để có thể cung cấp cho các giống nấm chất lượng tốt để nuôi trồng, cung cấp nguồn dược liệu có giá trị cho cộng đồng
Để đánh giá về năng suất cũng như chất lượng dược liệu của các chủng nấm Linh Chi, nuôi trồng trồng tại vườn Quốc gia Tam Đảo, chúng tôi tiến hành thực
Trang 13hiện đề tài : “Đánh giá năng suất và chất lượng một số chủng nấm Linh Chi trong điều kiện nuôi trồng tại Vườn quốc gia Tam Đảo”
Các chủng nấm Linh Chi nghiên cứu phù hợp với điều kiện của tiểu vùng khí hậu đặc thù của Vườn Quốc gia Tam Đảo, nên các chủng nấm nghiên cứu sinh trưởng phát triển thuận lợi và cho năng suất chất lượng cao Chọn vùng có khí hậu phù hợp nhất để sản xuất nấm Linh Chi có cho chất lượng tốt nhất Chọn được chủng nấm có năng suất và chất lượng tốt cung cấp cho vùng nuôi trồng, cung cấp nguồn dược liệu giá trị cho cộng đồng
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN
2.1 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ VÀ PHÂN LOẠI THỰC VẬT CỦA NẤM LINH CHI
Linh Chi là một loại nấm dược liệu Cách đây hàng ngàn năm, Linh Chi
đã được dùng để làm thuốc Các sách dược thảo của nhiều triều đại ở Trung Quốc đều ghi nhận Linh Chi như một loại thần dược Theo cách diễn đạt truyền thống của người phương Đông, các tác dụng cụ thể của nấm Linh Chi được tập hợp vào những mặt tác dụng lớn sau: Kiện não (làm sáng suốt, minh mẫn), bảo can (bảo vệ gan); Cường tâm (thêm sức cho tim); Kiện vị (củng cố dạ dày và hệ tiêu hóa); Cường phế (thêm sức cho phổi, hệ hô hấp); Giải độc (giải tỏa trạng thái nhiễm độc); Giải cảm (giải tỏa trạng thái dị cảm); Trường sinh (sống lâu, tăng tuổi thọ)
Linh Chi là loại nấm hóa gỗ, sống một năm hay lâu năm Thể quả có mũ dạng thận, tròn hoặc dạng quạt, dày, đường kính 3-10 cm, cuống dài đính lệch, hình trụ tròn hay dẹt, có khi phân nhánh; mặt trên có mũ có những vòng đồng tâm, mép lượn sóng Bào tử hình bầu dục hoặc hình trứng, cụt đầu màu gỉ sắt, có một mấu lồi và nhiều gai nhọn Quả thể nấm màu nâu đỏ, đỏ vàng hoặc nâu đen
Chi Ganoderma Karsten có khoảng vài chục loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt và á nhiệt đới châu Á, châu Đại Dương và châu Mỹ ở việt Nam có 26 loài và 1 dưới loài (var) (Đàm Nhận, 1997), trong đó có một số loài được dùng làm thuốc
Linh Chi thường được phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, sống hoại sinh hoặc ký sinh rộng khắp ở các loại cây lá rộng đến lá kim, thậm trí ở các loại tre trúc, dừa, cau, cọ và nho Linh Chi tiết ra các men phân giải màng tế bào endopholygalacturorase và endopectin methyl – tranlinase, có tác dụng làm nhũn
tế bào thực vật rất mạnh, làm cho các loại gỗ và rễ cây bị mủn ra
Về Lâm nghiệp, nấm Linh Chi là một trong những loại nấm phá gỗ, đặc biệt trên các cây thuộc bộ Đậu (Fabales) Nấm xuất hiện nhiều vào mùa mưa, trên thân cây hoặc gốc cây Có những loài đa niên, tai nấm phát triển qua nhiều năm,
và những loài hằng niên, tai nấm chỉ phát triển qua một mùa Nấm Linh Chi có ở
Trang 15vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Trong thiên nhiên, nấm này thường chỉ có nơi rừng rậm, ít ánh sáng và độ ẩm cao
Vị trí, phân loại
Nấm Linh Chi có tên khoa học là: Ganoderma lucidum (Curtis) P Karst Tên tiếng Anh: Ling zhi, Reishi
Tên khác: Xích chi, đan chi, tiên thảo, thụy thảo
Theo tác giả Trịnh Tam Kiệt (2011) nấm Linh Chi thuộc:
Giới: Nấm Fungi
Ngành: Nấm đảm Basidiomycota
Lớp: Agaricomycetes
Bộ: Nấm lỗ Polyporales
Họ: Linh Chi Ganodermataceae
Chi: Linh Chi Ganoderma
Loài: Linh Chi Ganoderma lucidum
2.2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI
Cây nấm Linh Chi (quả thể) gồm 2 phần: cuống nấm và mũ nấm (phần phiến đối diện với mũ nấm) Cuống nấm dài hoặc ngắn, đính bên phần lõm vào của mũ nấm Cuống có hình trụ, gần như tròn hoặc hơi dẹp, đường kính từ 0,5 - 3
cm Cuống nấm ít phân nhánh, đôi khi có uốn khúc cong queo Lớp vỏ cuống màu đỏ, nâu đỏ, nâu đen, bóng, không có lông, phủ suốt lên mặt tán nấm
Mũ nấm khi còn non có dạng cục lồi, tròn; sau phát triển thành dạng thận, dạng bán cầu, dạng quạt, có khi hầu như tròn Trên mặt mũ có vân gạch đồng tâm, lượn sóng nhiều hay ít; hơi có vân răn dạng phóng xạ Mép nấm mỏng hoặc hơi tù, lượn sóng; hơi chia thùy ở những mũ nấm có kích thước lớn Mũ còn non
có màu trắng có sắc thái vàng lưu huỳnh, sau chuyển sang màu vàng, vàng rỉ sắt, nâu, nâu đỏ, nâu hồng tím tạo nên một lớp vỏ nhẵn bóng như quét sơn hoặc như đánh vecni (Trịnh Tam Kiệt, 2012) Mũ nấm thường có đường kính từ 2 - 15 cm, dày 0,8 - 1,2 cm có loài Linh Chi đường kính lớn tới trên 100cm phần đính cuống thường gồ lên hoặc hơi lõm (Đỗ Tất Lợi, 1977)
Mặt dưới mũ nấm phẳng, có màu trắng hoặc màu vàng nhạt, mặt này có nhiều lỗ nhỏ li ti Đây chính là nơi hình thành và phát tán các bào tử nấm Khi
Trang 16nấm đến tuổi trưởng thành phát tán bào tử từ lỗ sinh bào tử ở phía dưới phiến có màu nâu sẫm (Đỗ Tất Lợi, 1977)
Thể sinh sản của nấm Linh Chi có dạng ống màu nâu nhạt đến màu nâu, một lớp dày từ 0,1 đến 0,7 cm Mô của ống và thịt nấm đồng nhất Miệng ống lúc non có màu trắng sau có màu vàng lưu huỳnh, màu trắng vàng, khi già khô chuyển sang màu nâu
Hình 2.1 Quả thể nấm 2.3 CHU TRÌNH SỐNG CỦA NẤM LINH CHI
Chu trình sống của nấm Linh Chi kéo dài từ 5 – 6 tháng, bắt đầu từ khi quả thể trưởng thành và phóng thích bào tử đảm đơn bội vào không khí để phát tán nhờ gió Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng … bào tử đảm sẽ nảy mầm, hình thành hệ sợi mầm sơ cấp đơn nhân Hệ sợi sơ cấp phát triển thành hệ sợi thứ cấp nhờ sự tiếp hợp giữa hai sợi sơ cấp Hệ sợi thứ cấp phát triển và phân nhánh mạnh tràn ngập khắp giá thể và chiếm hầu hết chu kỳ sống của Linh Chi
Hệ sợi thứ cấp phát triển đến khi đạt đến giai đoạn cộng bào thì các vách ngăn được hòa tan Sau đó hệ sợi hấp thu và tích lũy dinh dưỡng rồi liên kết lại tạo mầm quả thể
Trang 17Hình 2.2 Chu trình phát triển của Linh Chi
Ở môi trường thuận lợi, độ ẩm và dinh dưỡng dồi dào, mầm quả thể sẽ sinh trưởng nhanh, phần phụ bắt đầu xòe tán, phát triển dần thành quả thể trưởng thành Lúc này sự dung hòa của hai nhân xảy ra, sau đó giảm nhiễm tạo thành bốn nhân Chúng di chuyển về bốn bào tử hình thành nên bốn bào tử đơn nhân (n) Các bào tử trưởng thành sẽ phóng thích ra môi trường và bắt đầu chu kỳ mới 2.4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG CỦA SỢI NẤM
VÀ HÌNH THÀNH QUẢ THỂ NẤM
2.4.1 Các yếu tố dinh dưỡng
Nấm là những sinh vật dị dưỡng Trong tự nhiên nấm mọc trên các loại phế thải có nguồn gốc thực vật, nấm có khả năng phân hủy các chất hữu cơ mà các vi sinh vật không có khả năng này Trong các yếu tố dinh dưỡng cho nấm, phải kể đến cacbon, nitơ, muối khoáng
Cacbon: Khoảng một nửa trọng lượng khô của tế bào nấm được tạo thành
từ cacbon, điều đó chỉ ra vai trò quan trọng của nó đối với tế bào nấm Nguồn cacbon thích hợp cho sợi nấm phát triển gồm các monosaccharide, oligosaccharide và polysaccharide, đường glucose, saccharose, galactose, tinh
Trang 18bột, cellulose Nồng độ đường thích hợp cho sợi nấm sinh trưởng xấp xỉ 2% (Miles, P G., 1993) Nấm có thể sử dụng một số nguồn cacbon không phải là cacbonhydrate như ethanol, glycerin (Sugimori, 1971) Ở giai đoạn mầm quả thể,
sự tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào nguồn dinh dưỡng cacbon Theo kết quả đã nghiên cứu, nấm sinh trưởng trên đường hỗn hợp tốt hơn trên đường đơn (Horr, 1936) Pepton, amino acid, urea, các muối amon là nguồn dinh dưỡng nitơ cần thiết cho sợi nấm sinh trưởng
Nitơ: là yêu cầu cơ bản trong môi trường để sợi nấm sinh trưởng Nitơ được đòi hỏi bởi tất cả các cơ thể sống để tổng hợp các axit amin, và từ chúng tổng hợp protein là những nguyên liệu cần thiết cho việc tạo thành tế bào chất Không có protein sự mọc không diễn ra Nguồn đạm nitơ phổ biến nhất đối với nấm là nitrat và amôn (Trịnh Tam Kiệt, 2013)
Lượng nitơ tổng số trong mùn cưa thấp, từ 0,03 – 0,3%, là yếu tố giới hạn sinh trưởng của sợi nấm Một trong những nhu cầu đạm của sợi nấm là tổng hợp enzyme cellulase để phân giải cellulose (Komatsu, M And Tokimoto, K., 1982)
Vì vậy, để nuôi trồng nấm có hiệu quả thường bổ sung thêm đạm Tuy nhiên, nếu hàm lượng nitơ quá cao sẽ khuyến khích sợi nấm sinh trưởng nhưng lại kìm hãm
sự hình thành quả thể nấm (Miles, P G.,1993)
Dinh dưỡng khoáng: Trong môi trường nuôi cấy sợi nấm, các nguyên tố khoáng là không thể thiếu được Những muối khoáng quan trọng nhất bao gồm: phospho, lưu huỳnh, kali, canxi, magne, silic, clo, nhôm, sắt và kẽm (Trịnh Tam Kiệt, 2013)
Phospho cần thiết để tổng hợp ATP, nucleic acid, phospho lipid Theo Miles (1993) nồng độ phospho thích hợp cho nấm sinh trưởng là 0,004M
Kali là nguyên tố đóng vai trò là cofactor trong nhiều enzyme, nồng độ thích hợp từ 0,001 – 0,004M (Miles, P G., 1993)
Lưu huỳnh cũng cần thiết cho sự sinh trưởng của sợi nấm, nguồn cung cấp
huỳnh tham gia trong cấu tạo các amino acid chứa lưu huỳnh như cystein, methionin (Miles, P G., 1993)
Magne tham gia hoạt hóa nhiều enzyme nên cần thiết cho quá trình trao đổi chất của nấm, nồng độ magne thích hợp là 0,001 M (Miles, P G.,1993)
Ngoài ra các yếu tố khoáng khác như mangan, đồng, kẽm cũng không thể
Trang 19thiếu đối với sự sinh trưởng của sợi nấm, chúng là những phần tử cấu tạo nên
enzyme (Miles, P G.,1993)
Vitamin là những hợp chất hữu cơ có hoạt tính xúc tác và chức năng như
một coenzyme Chúng tác dụng ở một lượng rất nhỏ và không được sử dụng như
là thành phần cấu trúc thông thường của tế bào Mọi cơ thể đều cần vitamin,
nhưng khả năng tổng hợp của chúng rất khác nhau Nhiều loại nấm có khả năng
tạo tạo nên vitamin trên những môi trường đơn giản, nhưng một số loại nấm lại
đòi hỏi chúng ta phải cung cấp thêm một số vitamin đã được tổng hợp sẵn vào
môi trường để có sự mọc bình thường Những vitamin cần cho sự mọc và hình
thành quả thể nấm là vitamin B1, B2, B6, B12, biotin, vitamin K Yêu cầu vitamin
cho giai đoạn sinh trưởng của quả thể cao hơn giai đoạn sinh trưởng của sợi nấm
(Trịnh Tam Kiệt, 2013)
2.4.2 Độ PH
pH môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm, do pH ảnh
hưởng đến hoạt tính enzyme và khả năng hòa tan các hợp chất Các nhóm nấm
khác nhau thích hợp với pH khác nhau Nhìn chung các loại nấm sống ở trên gỗ
đặc biệt là nấm ký sinh tên thực vật ưa môi trường axit hoặc hơi axit khoảng 5 - 6
(Trịnh Tam Kiệt, 2013)
2.4.3 Nhiệt độ
Nhiệt độ rất quan trọng trong việc xác định sự mọc cũng như tốc độ mọc
của nấm Nhiệt độ ảnh hưởng đến hoạt tính của enzyme do đó ảnh hưởng đến
trao đổi chất và sinh trưởng của nấm Phạm vi nhiệt độ ra quả thể của nấm hẹp
hơn phạm vi nhiệt độ sinh trưởng sinh dưỡng (Wang Zhiqiang, 2003) Đối với
nhiệt độ ra quả thể là từ 22oC - 28oC (Đỗ Tất Lợi, 1977)
Nhiệt độ không chỉ ảnh hưởng đến năng suất mà còn ảnh hưởng đến hình
thái quả thể nấm: nhiệt độ cao chân nấm dài, mũ nấm mỏng, nhiều sâu bệnh và
ngược lại, nhiệt độ thấp, nấm phát triển chậm nhưng cuống nấm ngắn, mũ nấm dày
2.4.4 Ẩm độ
Nước có vai trò quan trọng trong quá trình nuôi trồng nấm Nước là chất
hòa tan các chất dinh dưỡng cần thiết cho nấm Thành phần của nấm chiếm 85 -
95% là nước, hàm lượng nước trong cơ chất trồng nấm chiếm 50 – 75% Do đó
nếu bị mất nước quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nấm
Trang 20Phần lớn nấm yêu cầu độ ẩm cao, độ ẩm cơ chất từ 50 - 75% là điều kiện tối ưu cho nấm sinh trưởng, phát triển (Flegg, P.B., 1962)
Độ ẩm cơ chất để nấm Linh Chi sinh trưởng tốt nhất là từ 60% - 65% Độ
ẩm không khí thích hợp cho quá trình hình thành quả thể nấm Linh Chi là 80% - 95% Việc duy trì độ ẩm không khí trong quá trình hình thành mầm rất quan trọng, khi đã hình thành mầm rồi thì độ ẩm tương đối nên giữ ở mức thấp hơn một chút (Vedder, P., 1978)
Trong giai đoạn nuôi sợi nấm Linh Chi hoàn toàn không cần ánh sáng, còn giai đoạn phát triển quả thể thi cần ánh sáng tán xạ (ánh sáng đọc sách được) Cường độ ánh sáng cân đối từ mọi phía (Đinh Xuân Linh và cs., 2012)
Ánh sáng ảnh hưởng rõ đến màu sắc và hình dạng quả thể, ánh sáng còn cần thiết cho cho sự phát triển mũ của một số loại nấm Ánh sáng kích thích sự hình thành mũ nấm, khi chuyển vào bóng tối thì kích thích sự hình thành cuống nấm mà không kích thích sự hình thành mũ (Kitamoto, Y.,1968; Kitamoto, Y.,1974a; Kitamoto, Y.,1974b)
2.4.6 Không khí
Nấm là sinh vật hiếu khí, sử dụng oxi và nhả ra khí cacbonic Thành phần của không khí, đặc biệt là nồng độ khí cacbonic có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của nấm Các nghiên cứu cho thấy khi tăng nồng độ khí cacbonic đến 0,6% sẽ làm tăng sinh trưởng của sợi nấm Nồng độ khí cacbonic từ 0,4 – 0,6%
sẽ ức chế hoàn toàn sự hình thành mầm quả thể, khi nồng độ khí cacbonic từ 0,2
- 04% quả thể có chân dài, mũ mỏng Nồng độ khí cacbonic thích hợp nhất cho giai đoạn ra quả thể là dưới 0,2% (Vedder, P., 1978)
Trong suốt quá trình nuôi sợi và phát triển quả thể, nấm Linh Chi đều cần
có độ thông thoáng tốt để quả nấm đạt chất lượng tốt và không bị dị dạng
Trang 212.5 GIÁ TRỊ CỦA NẤM LINH CHI
2.5.1 Thành phần hóa học và tác dụng dược lý của Ganoderma lucidum
Trong Linh Chi có chứa hơn 400 thành phần hoạt chất có lợi cho sức khỏe con người đã được biết đến
Linh Chi chứa:
- Sterol: ergosterol 0,3- 0,4 % B-sitosterol, 24-methylcholesta-7, dien-3b-ol và một số hoạt chất sterol khác
-22 Enzym: lysozym, protease acid, và một số enzym khác(lacase, edopolygalacturonase, celulase, amylase )
- Protid: protein hòa tan, polypeptid, acid amin
- Đường: trehalose, mantitolan
- Amin: betain
- Alkan: tetracosan, hentriacontan
- Acid béo: các acid tetracosanoic, stearic, palmitic
- Triterpen (chủ yếu thuộc nhóm lanostan): các acid ganoderic A, B, C, D,
E, F, H, G, I, J, K, L, M, N, O các acid lucidenic A, B, C, E, F, G
- Polysaccharid: một nhánh của arabinoxyloglucan tan trong nước (polysaccharid GL-1), một chất chiết bằng kiềm, heteroglcan tan trong nước, nhiều hetcuglucan không tan trong nước, các ganoderan A và B, các glycan A,B,C
- Các nguyên tố vô cơ: Ca, Mg, Na, Mn, Fe, Zn, Cu và Ge (Đỗ Huy Bích
và cs., 2003)
Ganoderm lucidum không chứa nhiều chất dinh dưỡng tạo năng lượng nhưng lại có các dược chất quý ít có ở các loài nấm ăn khác Nhiều công trình nghiên cứu đã định danh được các hoạt chất và xác định tác dụng dược lý của chúng trong thể quả, khuẩn ty, bào tử và dịch nuôi cấy của nấm Theo Wasser (2010), trong các thử nghiệm tiền lâm sàng và lâm sàng, Linh Chi được cho là có nhiều tác dụng dược lý quý giá Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng cần có những nghiên cứu chi tiết hơn, chính xác hơn về những tác dụng dược lý này trên
cơ thể người Cho đến gần đây, Linh Chi được dùng như thuốc hỗ trợ điều trị bệnh bạch cầu, ung thư biểu mô, viêm gan, và tiểu đường (type II)
Theo Wachtel-Galor et al (2011), loại nấm này có thành phần hoạt chất sinh học khá đa dạng, chứa vitamin, khoáng chất, có tất cả acid amin thiết yếu
Trang 22(đặc biệt giàu leucine và lysine) Hàm lượng chất béo thấp và tỉ lệ acid béo không
no cao là một trong những tính chất quan trọng tạo nên giá trị cho nấm Linh Chi
Không như nhiều loài nấm khác có hàm lượng nước đến 90%, nấm Linh Chi tươi chỉ chứa khoảng 75% nước Thành phần chủ yếu của G lucidum là chất
xơ, carbohydrate, chất béo và protein, trong đó tỉ lệ xơ thô là trên 50% khối lượng khô (Mau et al 2001; Wasser, 2010) Các nghiên cứu cho thấy thể quả, khuẩn ty và bào tử của nấm có chứa khoảng 400 hoạt chất sinh học khác nhau, chủ yếu là các polysaccharide, triterpenoid, nucleotide, acid béo, sterol, steroid, protein/peptide, các nguyên tố vi lượng
Trong nghiên cứu của Mizuno (1995), chiết xuất G lucidum chứa các kim loại như kali, magnesi, calci, natri, sắt, kẽm, mangan, đồng, selenium và germanium; trong đó kali, magnesi, calci là những thành phần kim loại chính, và germanium đứng thứ 5 trong số các kim loại có hàm lượng cao nhất (489 µg/g) Các chất khoáng này tham gia vào nhiều quá trình sinh hóa quan trọng trong cơ thể Đặc biệt, germanium hữu cơ có khả năng làm tăng khả năng vận chuyển oxy của hồng cầu, từ đó giúp chữa được nhiều bệnh đồng thời duy trì sức khỏe Nguyên tố này cũng có nhiều tác dụng dược lý khác, trong đó quan trọng là các khả năng: giải tỏa stress, chống oxy hóa, chống khối u, điều hòa lượng cholesterol trong máu, giải độc, chữa bệnh bạch cầu, ngăn chặn sự phát triển của ung thư hay tác hại của chất phóng xạ, kích thích các interferon(1) chống lại các virus kể cả HIV, kích thích hệ miễn dịch sản sinh các tế bào tiêu diệt tự nhiên (tế bào NK - natural killer cells) và đại thực bào (Asai, 1980; Loren, 1987)
Công dụng của nấm Linh Chi
Nấm Linh Chi có vị đắng hoặc ngọt, tính ấm, không độc (Nguyễn Lân Dũng, 2004) Cho đến nay, Linh Chi đã được nghiên cứu và sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới Linh Chi (G lucidum) có các công dụng đáng lưu ý sau:
+ Chữa trị ung thư:
Nhiều nghiên cứu in vitro (2) và in vivo (3) đã chứng minh Linh Chi có khả năng ức chế phát triển của tế bào khối u (Boh, 2013; Wachtel-Galor et al., 2011) Một số ít nghiên cứu lâm sàng chứng minh vai trò của Linh Chi trong chữa trị một số bệnh ung thư Ví dụ như, phép trị liệu ung thư tuyến tiền liệt sử dụng hỗn hợp các thảo dược chứa Linh Chi làm giảm rõ rệt lượng kháng nguyên đặc hiệu trong tuyến tiền liệt (Gao et al., 2003)
Trang 23Mặt khác, trong chữa trị ung thư, Linh Chi được sử dụng để phòng ngừa nhiễm trùng cơ hội, chống lại tác dụng phụ của các liệu pháp giảm đau, hạn chế việc sử dụng morphine, ngăn ngừa bệnh tái phát, tăng cường sự phục hồi sức khỏe sau phẫu thuật (Wasser, 2010)
+ Điều biến miễn dịch:
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng kích thích hệ miễn dịch của
G lucidum Theo Roy (2006), trong các liệu pháp bằng thảo dược hiện nay ở phương Tây, Linh Chi chủ yếu được dùng như thuốc bổ, đặc biệt là như chất điều biến miễn dịch Linh Chi được dùng để tăng cường chức năng miễn dịch và đề phòng nhiễm trùng cơ hội trong các phác đồ điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV Nhờ khả năng điều biến miễn dịch và ức chế sự sản sinh histamine, Linh Chi cũng có thể được dùng như tác nhân chống viêm trong điều trị hen suyễn và dị ứng Linh Chi cũng được dùng trong điều trị viêm khớp, viêm phế quản dị ứng, (Nguyễn Hữu Đống và Đinh Xuân Linh, 2000; Wasser, 2010)
+ Tăng khả năng cung cấp oxy cho tim, não:
Vì germanium trong Linh Chi có thể tăng cường khả năng cung cấp oxy cho tế bào, Linh Chi được dùng để: giải tỏa sự căng thẳng; chữa đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, mất ngủ; giảm tình trạng thiếu oxy do động mạch vành bị tắc nghẽn; giúp cơ thể chịu được tình trạng huyết áp thấp (Wasser, 2010)
+ Hỗ trợ chức năng tim mạch và hệ tuần hoàn:
Các nghiên cứu chứng minh Linh Chi có các tác động tích cực đến hệ tuần hoàn và chức năng tim mạch: giảm cholesterol thừa trong máu, chống tình trạng
mỡ máu cao, làm giãn mạch vành và tăng cường sự lưu thông máu, chống xơ vữa động mạch, tăng tần số và biên độ co tim, có tác dụng nhất định trong điều trị bệnh tim, điều hòa huyết áp, giảm lượng đường trong máu, chống sự kết tụ của tiểu cầu, (Wasser, 2010)
+ Kháng khuẩn và kháng virus:
Theo Wasser (2010), gần đây, nhiều nghiên cứu chứng minh G lucidum
có chứa các thành phần kháng khuẩn có khả năng ức chế một số loại vi khuẩn Các thành phần dược tính quan trọng (polysaccharide và triterpenoid) trong Linh Chi có khả năng ức chế sự nhân bản của HIV, virus viêm gan siêu vi B, virus Herpes, v.v
Trang 24Theo một số nghiên cứu, khả năng tăng cường hệ miễn dịch của Linh Chi cũng đóng vai trò trong hoạt tính kháng khuẩn và kháng virus Dù cơ chế vẫn chưa được xác định, Linh Chi mở ra một khả năng mới trong sử dụng Linh Chi kèm theo các liệu pháp nhằm giảm tác hại của các loại thuốc kháng khuẩn, kháng virus
+ Chống oxy hóa:
Nhiều thành phần trong Linh Chi, đặc biệt là polysaccharide và triterpenoid, thể hiện khả năng chống oxy hóa in vitro Các hoạt chất trong Linh Chi giúp cơ thể tiêu diệt các gốc tự do, chống oxy hóa, từ đó ngăn ngừa ung thư
và các bệnh mãn tính khác (Wachtel-Galor et al., 2011; Wasser, 2010)
+ Các công dụng khác:
Theo y học cổ truyền Việt Nam và Trung Quốc cũng như y học hiện đại, bên cạnh các công dụng đáng lưu ý nêu trên, Linh Chi còn được sử dụng để: Tăng cường trí nhớ và chức năng hô hấp; chống lão hóa, làm tăng tuổi thọ; an thần; giảm đau; chống xơ hóa, bảo vệ gan, chữa trị viêm gan mãn tính; giải độc, ngăn tác hại của chất phóng xạ; hạ đường huyết; cải thiện chuyển hóa dinh dưỡng; hỗ trợ chữa trị tiểu đường type II; điều trị ho do cảm cúm, ho có đờm, chứng giảm bạch cầu, cơn đau thắt ngực; có tác dụng nhất định đến suy nhược thần kinh, suy nhược tim, đau lá lách, đau dạ dày, đau thận, đau nửa đầu, đau mật, (Nguyễn Hữu Đống và Đinh Xuân Linh, 2000; Roy, 2006; Wasser, 2010) 2.5.2 Giới thiệu sơ lược về hoạt chất sinh học có trong nấm Linh Chi
Một trong 4 loại polysaccharide có đặc tính chống khối u mạnh nhất là beta – D glucan, có tác dụng chống ung thư và tăng tính miễn dịch cho cơ thể
Vai trò dược học của polysaccharide:
Trang 25- Kích thích hệ miễn dịch cơ thể
- Gia tăng khả năng dung nạp oxy
- Giảm gốc tự do hydroxyl
- Ức chế khối u phát triển
- Bảo vệ cơ thể chống lại tia bức xạ
- Tăng chức năng gan
- Duy trì khả năng tái sinh tuyrvaf cơ một cách bình thường
- Than gia tống hợp ADN, ARN và protein
Ganoderic Acid
Ganoderic acid được định hướng là một cyclopropene hoặc cyclopentene Hàm lượng G.acid thay đổi theo giống Linh Chi, môi trường nuôi trồng, giai đoạn bào tử ganodermal Chính sự thay đổi này làm cho mức độ đắng bị ảnh hưởng Hàm lượng G.acid cao thì có nhiều vị đắng
Triterpenoid là những hợp chất được tổng hợp từ 6 đơn vị isopren Các
trong thực vật Các triterpenoid tồn tại dưới dạng tự do (không có phần đường),
có cấu trúc vòng, mang một số nhóm chức như: -OH; -Oac; eter -O-; Carbanil C=O; nối đôi C=C Đặc tính chung là có tính thân dầu (tan tốt trong eter dầu hỏa, hexan, eter ethyl, cloroform),ít tan trong nước ngoại trừ khi chúng kết hợp với đường để tạo thành glycosid
Bảng 2.1 Các hoạt chất triterpenoid có tác dụng chữa bệnh
Ganoderma Adenosine
Adenosine thuộc nhóm purine và là thành phần chính trong cấu trúc
Trang 26nucleic acid Nấm Linh Chi có nhiều dẫn xuất adenosine, tất cả chúng đều có hoạt tính dược liệu mạnh
Chức năng của adenosine:
cho não
- Lọc máu và tăng tuần hoàn máu trong cơ thể
Germanium hữu cơ
Gemanium là nguyên tố hiếm, do nhà khoa học người Đức khám phá vào năm 1885 Germanium có thể cung cấp một lượng lớn oxygen và thay thế chức năng của oxygen Nó kích thích khả năng vận chuyển oxygen tuần hoàn máu trong cơ thể lên đến 1,5 lần Vì thế, làm tăng mức độ trao đổi chất và ngăn chặn quá trình lão hóa
Cơ thể con người là thành phần của các electron Khi mức năng lượng tăng hoặc giảm thấp, dẫn đến sự xáo trộn cân bằng và biểu lộ tình trạng bệnh lý Gemanium hữu cơ sẽ duy trì mức năng lượng một cách bình thường trong cơ thể
và bảo vệ sức khoẻ Khi tế bào ung thư xuất hiện, chúng làm xáo trộn quá trình trao đổi chất Gemanium sẽ điều hoà và kiểm soát quá trình này, từ đó ngăn chặn
tế bào ung thư phát triển
Chức năng của Germanium:
- Giảm nguy hiểm từ kết quả trị liệu phóng xạ
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT NẤM LINH CHI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.6.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất nấm Linh Chi trên thế giới
Nấm Linh Chi có giá trị dược liệu và kinh tế cao nên được rất nhiều nhà khoa học của nhiều nước nghiên cứu
Trang 27Theo Wang X J., từ năm 1621 nấm Linh Chi đã được nuôi trồng ở Trung Quốc Đến năm 1936, Dật Kiến Vũ Hưng và Trực Tính Mạnh Hùng Thị đã nuôi trồng đại trà thành công nấm Linh Chi Ganoderma lucidium ở Đại học Nông nghiệp Tokyo, Nhật Bản Từ đó công nghệ nuôi trồng Linh Chi ở Nhật Bản phát triển mạnh, sản lượng từ năm 1979 – 1995 đã tăng 40 lần (Đỗ Tất Lợi, 1997; Đỗ Tất Lợi, 1994) Nhật Bản là nước đầu tiên trồng thành công nấm Linh Chi và việc nghiên cứu khoa học và bào chế các sản phẩm dược liệu được sếp vào hàng đầu trên thế giới Hàn Quốc cũng là một nước có công nghệ sản xuất nấm Linh Chi rất phát triển
Từ năm 1929, Linh Chi cũng đã được nghiên cứu và nuôi trồng tại Ấn Độ (Beos, 1929) nhưng chỉ phát triển ở quy mô nhỏ
Ở Canada cũng nghiên cứu nuôi trồng nấm Linh Chi nhằm đánh giá đặc tính phá hủy xenlulose và vận dụng để định dạng nhóm loài, đặc biệt là nhóm Ganoderma lucidium
Tại Đài Loan, Peng (1990) và Hseu (1992) đã sưu tầm, nuôi trồng thành công hơn 10 loài Ganoderma khác nhau Hàn Quốc cũng chiếm một thị phần đáng kể và đặc biệt chú ý tới loài Cổ Linh Chi với hiệu lực chống khối u cao Song Trung Quốc vẫn được thừa nhận là trung tâm lớn nhất thế giới về nuôi trồng và sản xuất nấm Linh Chi (Zao et Zhang, 1994) Theo thống kê của Moore and Chiu (2000) thì tổng sản lượng Linh Chi toàn cầu năm 1997 đạt khoảng 4300 tấn thì sản lượng của Trung Quốc đã là 3000 tấn
Các nước Đông Nam Á gần đây cũng bắt đầu nghiên cứu về Linh Chi Malaysia chú trọng cải tiến các qui trình trồng Linh Chi ngắn ngày trên các phế thải nông nghiệp, thậm chí cho thu quả thể sau 40-45 ngày Malaysia cũng
đã nghiên cứu nuôi trồng thành công loài G bobisense thường mọc trên cây
cọ dầu
Do có tính dược liệu cao mà nấm Linh Chi đã được xác định là đối tượng trên các thực nghiệm học và qui mô trồng công nghiêp ở Hoa Kỳ (Allice Chen et al., 1996) Việc thành lập viện nghiên cứu nấm Linh Chi Quốc tế ở New York được cho là một bước tiến quan trọng , đánh dấu một giai đoan mới trong lĩnh vực nghiên cứu và nuôi trồng nấm Linh Chi
Trang 282.6.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất nấm Linh Chi ở Việt Nam
Từ thập kỷ 70 trở lại đây, một số cơ quan, đơn vị chủ yếu ở Việt Nam
đã bắt đầu quan tâm đến nghiên cứu chọn tạo các giống nấm ăn và nấm dược liệu như:
- Trung tâm nghiên cứu nấm ăn – Đại học Quốc gia Hà Nội
- Trung tâm Vi sinh học và Công nghệ Sinh học – Đại học Quốc gia Hà Nội
- Khoa Sinh học – Đại học Tổng hợp TP Hồ Chí Minh
- Công ty Dược liệu Trung ương II (TP Hồ Chí Minh)
- Viên nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt
- Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật – Viện Di truyền Nông nghiệp Vào năm 1978, loài G lucidium mới bắt đầu được nuôi trồng thành công trong phòng thí nghiệm Từ năm 1990, Linh Chi mới bùng nổ ở thành phố Hồ Chí Minh (Đỗ Tất Lợi, 1994), lượng Linh Chi hàng năm mới đạt khoảng 10 tấn (Đỗ Tất Lợi, 1994; Cổ Đức Trọng, 1993;1995) Đến năm 1994, Phạm Quang Thu
đã đưa nấm Lim – một chủng Linh Chi của vùng rừng lim Bắc Bộ vào nuôi trồng chủ động Năm 1995 -1996, Lê Xuân Thám ở Viên nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt
đã nuôi trồng thành công 11 chủng Linh Chi thuộc 3 chi: Ganoderma, Amayroderma và Humphreya
Từ năm 1997 đến nay, Trung tâm Công nghệ Sinh học Thực vật – Viện Di truyền Nông nghiệp đã nghiên cứu và nuôi trồng thành công nhiều chủng nấm Linh Chi khác nhau, mở rộng phong trào nuôi trồng Linh Chi ở Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
Hiện nay, việc trồng các loại nấm ăn nói chung và nấm dược liệu nói riêng theo hướng sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đang thu hút được sự quan tâm của nhiều người, mà đặc biệt là nấm Linh Chi – một loại nấm dược liệu quý
Tuy nhiên, công tác phát triển nghề trồng nấm ở nước ta trong thời gian qua còn tồn tại một số vấn đề sau:
Các chủng loại giống nấm đưa ra nuôi trồng còn ít so với khu vực và thế giới
Công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gen nấm cần được đầu tư, học tập và trao đổi nhiều hơn để nâng cao trình độ, chống thoái hóa giống
Trang 29Các cơ sở nuôi trồng nấm còn nhỏ lẻ, phân tán Quy mô sản xuất còn mang tính thời vụ, thủ công, chưa áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất công nghiệp
Khâu chế biến trình độ còn thấp, chủ yếu là sơ chế và tiêu thụ sản phẩm tuơi Công tác nghiên cứu và các giải pháp về phòng trừ sâu bệnh trong sản xuất còn chưa được chú ý đúng mức để phát triển nấm bền vững
Công việc nghiên cứu xử lý bã nấm thành nguồn phân bón hữu cơ chưa được đầu tư nhiều, còn bỏ phí nguồn phân hữu cơ rất lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp
Chính vì vậy, lượng nấm sản xuất ra ở nước ta hiện nay mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước Các sản phẩm nấm được người tiêu dùng sử dụng hiện nay vẫn phải nhập khẩu từ các nước Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan… và vấn đề về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm không được đảm bảo
Nhưng hiện nay, dưới định hướng của Chính phủ, các Bộ, Ngành việc phát triển sản xuất Nấm ăn – Nấm dược liệu đã được coi trọng Trong chương trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020, sản phẩm Nấm ăn – Nấm dược liệu đã được đưa vào danh mục Sản phẩm quốc gia
Trang 30PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đề tài được thực hiện từ một số chủng nấm Linh Chi có nguồn gốc Việt Nam, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật bản được phân lập và lưu trữ tại phòng thí nghiệm của Bộ môn Công nghệ Vi sinh, trung tâm đào tạo, nghiên cứu và phát triển nấm, khoa Công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Chủng GA-1 xuất xứ Việt Nam
Chủng GA-2 xuất xứ Thái Lan
Chủng GA-3 xuất xứ Nhật Bản
Chủng GA-4 xuất xứ Hàn Quốc
Chủng GA-10 xuất xứ Việt Nam
- Vật liệu nghiên cứu
+ Các vật liệu phục vụ trồng nấm Linh Chi: Mùn cưa bồ đề, cám mạch, bột CaCO3
+ Dụng cụ đo, đếm: Thước, máy đo độ ẩm, pH
+ Hệ thống giàn, giá đỡ, máy sấy
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:
Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại:
- Khoa công nghệ sinh học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
- Vườn Quốc gia Tam Đảo
- Phòng phân tích tiêu chuẩn, Viện Dược liệu 3B Quang Trung – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: 9 tháng, từ tháng 01 đến tháng 09 năm 2017
3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Nội dung 1 Đánh giá sinh trưởng, phát triển của 5 chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại Vườn Quốc gia Tam Đảo
Nội dung 2 So sánh sinh trưởng của các chủng nấm Linh Chi nuôi trồng tại
Trang 31Vườn Quốc gia Tam Đảo với năng suất của các chủng nuôi trồng tại Hà Nội Nội dung 3 Phân tích hàm lượng dược liệu chính (polysaccharides, triterpenoid) của các chủng nấm Linh Chi
3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tạo ẩm mùn cưa bằng nước sạch hòa vôi theo tỷ lệ 1%, ủ thành đống, đậy đống
ủ bằng bạt nilon để mùn cưa ngấm đủ nước và trương nở các tế bào gỗ Sau 2 - 3 ngày, kiểm tra độ ẩm đạt 65%, đảo đống ủ, ủ lại 2 - 3 ngày
Trang 323.3.2.3 Đóng túi
- Mùn cưa đã tạo ẩm được phối trộn thêm 10% cám mạch + 3% bột ngô + 1% CaCO3 trộn nhiều lần thật đều Cho hỗn hợp trên vào túi 25 x 35, trọng lượng mỗi túi đạt 1,2 kg Luồn cổ nút vào miệng túi, buộc dây su, cho nút bông vào, đậy nắp lại, đưa vào nồi hấp
Cách cấy: Dùng bông thấm cồn lau box cấy, lau tay thật kỹ từ khuỷu tay đến bàn tay, kẽ tay bằng bông cồn Các dụng cụ cấy (que cấy, panh kẹp, kéo) được lau bằng bông thấm cồn.Đốt đèn cồn trong box cấy, Lau chai giống, túi nguyên liệu cho vào tủ cấy Mở nút chai giống phía trước ngọn lửa cồn, mở nút bông ở túi nguyên liệu ra, (nút bông được kẹp trên tay) Dùng que cấy hơ qua ngọn lửa cồn rồi khều giống cho vào túi nguyên liệu Lắc cho giống đều trên bề mặt túi nguyên liệu, hơ nút bông qua ngọn lửa cồn rồi đậy vào cổ nút Đưa túi nguyên liệu đã cấy giống ra khỏi box cấy và dùng giấy mỏng buộc lên trên cổ nút
Như vậy ta đã hoàn thành xong một bịch phôi nấm Linh Chi, tiếp tục cấy các bịch nguyên liệu còn lại theo từng bước thao tác trên
3.3.2.6 Ươm sợi
Nhà ươm sợi phải đảm bảo các yêu cầu: Sạch sẽ, thông thoáng; Ánh sáng
Ươm bịch: Chuyển nhẹ nhàng các bịch được cấy giống vào nhà ươm, xếp thành từng luống Giữa các luống có lối đi để kiểm tra Trong thời gian ươm không được tưới nước trực tiếp vào bịch nấm Hạn chế việc vận chuyển Trong
Trang 33quá trình sợi nấm phát triển quan sát kỹ, nếu thấy có túi bị nhiễm phải loại bỏ ra khỏi khu vực ươm, tránh lây nhiễm
Khoảng 25 - 35 ngày, sợi tơ nấm mọc được 1/3 - 1/2 bịch nấm, bắt đầu có
sự hình thành quả thể ở miệng cổ nút
3.2.2.7 Chăm sóc, thu hái
Nhà trồng nấm phải đảm bảo sạch sẽ, thông thoáng, có mái chống nắng, mưa và chủ động được các điều kiện sinh thái như:
Nhiệt độ thích hợp thích hợp cho nấm mọc, dao động từ 22ºC - 28ºC, độ
ẩm không khí đạt 80 - 90%, ánh sáng khuyếch tán và chiếu đều từ mọi phía (mức
độ đọc sách được) Tránh gió lùa trực tiếp vào phòng nuôi trồng, độ thông thoáng vừa phải Xếp các bịch nấm trên giàn giá (bịch nấm nằm ngang)
Tưới phun sương nhẹ nhàng vào túi nấm mỗi ngày từ 3 - 5 lần (tùy theo điều kiện thời tiết) Duy trì sự chăm sóc như trên cho đến khi mặt trên của quả thể nấm có một màu nâu đồng nhất (không còn màu trắng, vàng) nữa thì thu hái Thu hái: Dùng dao thật sắc, cắt cuống nấm sát bề mặt cổ nút Quả thể nấm sau khi thu hái được phơi khô hoặc sấy ở nhiệt độ từ 40º - 45ºC (sấy ở nhiệt độ trên 45ºC sẽ làm mất tính chất dược liệu của nấm)
Khi thu hái hết đợt 1, tiến hành chăm sóc như lúc ban đầu để tận thu đợt 2, 3 Khi kết thúc đợt nuôi trồng cần phải vệ sinh và thanh trùng nhà xưởng thật
kỹ bằng foocmon nồng độ 0,5 - 1%
3.3.3 Phương pháp phân tích một số hoạt chất trong nấm Linh Chi
3.3.3.1 Quy trình phân tích ganodermanontriol, acid ganoderic a, acid lucidenic N trong nấm Linh Chi
Tiến hành theo phương pháp HPLC
Điều kiện phân tích
Trang 34Thời gian (phút) Kênh B Kênh A
ml với khoảng 20 ml ethanol 96% Định mức vừa đủ rồi lọc qua màng lọc 0,45μl, thu được dung dịch tiến hành sắc ký
Chuẩn bị dung dịch đối chiếu: Cân chính xác khoảng 5 mg mỗi loại chất đối chiếu, chuyển vào mỗi bình định mức 5,0 ml Thêm 3 ml dung dịch ethanol 96%, lắc cho tan, định mức vừa đủ bằng dung dịch ethanol 96%, lắc đều được các dung dịch đối chiếu có nồng độ 1,0 mg/ml
+ Tiến hành: Tiêm riêng biệt 10 µl mỗi dung dịch đối chiếu và dung dịch thử vào máy Tiến hành sắc ký theo điều kiện đã mô tả, ghi sắc ký đồ
St, Sc: diện tích pic dung dịch thử và dung dịch đối chiếu (mAu.s)
mc: khối lượng của chất đối chiếu (mg)
Trang 35Cc: Nồng độ của chất đối chiếu (mg/ml)
P: độ tinh khiết của chất đối chiếu (%)
B: độ ẩm dược liệu (%)
3.3.3.2 Quy trình định lượng polysaccharid trong nấm Linh Chi
Tiến hành theo phương pháp UV-VIS
Dung dịch đối chiếu: Cân chính xác khoảng 4 mg chuẩn glucose vào bình định mức 100ml, thêmnước cất, lắc cho tan, bổ sung vừa đủ thể tích bằng nước cất, lắc đều được dung dịch chuẩn glucose có nồng độ 0,04mg/ml
Dung dịch thử: Mẫu thử là dược liệu:Cân chính xác khoảng 1 g dược liệu (đã được xay nhỏ và xác định độ ẩm) vào bình cầu, thêm 100 ml dung dịch ethanol 80%, tiến hành chiết hồi lưu để loại tạp trong 1giờ Chiết lặp lại với 100
ml ethanol 80% Sau khi loaị tạp 2 lần, chiết dược liệu với 100 ml nước cất trong vòng 1h Lọc dịch chiết vào bình định mức 100 ml Rửa bình và bã dược liệu Định mức vừa đủ bằng nước cất, lắc đều
Tiến hành: Hút 2ml dịch thử và chuẩn cho vào bình tam giác có nút nhám, thêm 1 ml phenol 4 % và lắc đều; Thêm từ từ 7 ml axit sulfuric đặc vào bình nón,
Mẫu trắng được tiến hành tương tự mẫu thử, thay dịch thử bằng nước cất Tiến hành đo quang ở bước sóng 490 nm
Hàm lượng (%) polysaccarit trong Linh Chi được tính theo công thức:
At x Cc x P x 100
X = - (%)
AC x Cbdx (1 – B) Trong đó:
P: độ tinh khiết của chất chuẩn acid gallic (%)
B: độ ẩm của mẫu thử (%)
Trang 363.3.4 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
Các chỉ tiêu theo dõi
Giai đoạn hệ sợi
- Tốc độ mọc của sợi nấm được tính theo công thức: V = D/T
V: Sinh trưởng trung bình của hệ sợi (mm/ngày)
D: Chiều dài bình (bịch) nguyên liệu sinh trưởng kín trắng (mm)
T: Thời gian hệ sợi nấm mọc kín bịch nguyên liệu (ngày)
- Tỉ lệ nhiễm bệnh:
Tổng số bịch nhiễm
Tỷ lệ bịch nhiễm (%) = ──────────────── × 100%
` Tổng số bịch được nuôi cấy
Giai đoạn quả thể
- Thời gian hình thành mầm quả thể (ngày): Tính từ khi cấy giống đến khi
- Hiệu quả sinh học:
Khối lượng nấm tươi
Hiệu quả sinh học = ──────────────── × 100
Khối lượng nguyên liệu khô
+ Các chỉ tiêu khác
Hàm lượng dược liệu chính (polysaccharides, triterpenoid)
3.3.5 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu
Số liệu sau khi tổng hợp được xử lý bằng các phần mềm xử lý thống kê IRISTART 4.0 và Microsoft Excel
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA 5 CHỦNG NẤM LINH CHI ĐƯỢC NUÔI TRỒNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
4.1.1 Đánh giá tốc độ mọc sợi của các chủng nấm và tỷ lệ nhiễm bệnh trong giai đoạn ươm sợi
Tại Việt Nam có nhiều triển vọng cho việc nuôi trồng nấm Linh Chi do có nguồn nguyên liệu và nhân lực dồi dào Mùn cưa được sử dụng làm môi trường giá thể và chúng có hàm luợng cacbon rất cao Tuy nhiên, mùn cưa là nguyên liệu nghèo chất dinh dưỡng Do đó để nâng cao hiệu suất nuôi trồng nấm cũng như rút ngắn thời gian nuôi trồng thì cần thiết phải trộn thêm nhiều chất bổ sung Chất bổ sung chủ yếu thường là cám gạo, cám ngô, đường… Các nguyên liệu này sẽ cung cấp các chất cần thiết cho hệ sợi nấm sinh trưởng nhanh
Sau khi cấy giống bịch được chuyển sang phòng nuôi sợi, trong thời gian nuôi sợi liên tục kiểm tra để loại bỏ bịch nhiễm, phân tích nguyên nhân nhiễm và tìm biện pháp xử lý Trong giai đoạn ươm sợi, bịch nấm bắt đầu xuất hiện nấm bệnh Những bịch nấm không thấy hệ sợi phát triển màu trắng mà thấy bịch có hiện tượng mốc xanh hay mốc trắng đó là những bịch bị nhiễm bệnh Hệ sợi không phát triển triển được nên ta phải loại bỏ những bịch bị nhiễm bệnh ra khỏi phòng ươm để tránh lây nhiễm sang các bịch khác
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát sinh trưởng nấm Linh Chi trên giá thể mùn cưa Theo dõi sự phát triển của hệ sợi trong bịch và tỷ lệ nhiễm bệnh của của các chủng nấm Linh Chi trên giá thể mùn cưa có bổ sung dinh dưỡng, sau thời gian khoảng 40-50 ngày, khi hệ sợi lan kín bịch nguyên liệu, bịch được chuyển sang phòng nuôi có ánh sáng khuyếch tán, độ ẩm gần như bão hòa, thông khí, bắt đầu cho sự hình thành quả thể
Kết quả theo dõi giai đoạn ươm sợi chúng tôi thu được kết quả được trình bày trong bảng 4.1
Tốc độ sinh trưởng của hệ sợi khá chậm vào khoảng 49-55 ngày tùy từng chủng, do nhiệt độ giai đoạn này ở ngưỡng hơi thấp Nhiệt độ đo được thường là
Trang 38biệt nhau quá lớn Chủng GA1 thời gian hệ sợi mọc kín đáy bịch trung bình là ngắn nhất, thời gian hệ sợi mọc kín bịch nguyên liệu là 49 (ngày) Tiếp đến là chủng nấm GA10, thời gian hệ sợi mọc kín bịch nguyên liệu là 52 (ngày) Chủng GA2 VÀ GA4 có thời gian hệ sợi mọc kín bịch nguyên liệu lần lượt là
53 ngày Chủng GA3 có thời gian hệ sợi mọc kín bịch nguyên liệu là chậm nhất đạt 55 ngày
Bảng 4.1 Thời gian hệ sợi mọc kín bịch nguyên liệu của các chủng nấm
Đặc điểm hệ sợi nấm
Hệ sợi khi non màu trắng muốt, sợi nấm dày, sợi nấm nhanh ngả màu vàng, nhanh hình thành mô sẹo so với các chủng cùng nghiên cứu
Hệ sợi khi non màu trắng muốt, sợi nấm đậm, mật độ sợi dày, sợi mượt như nhung, sợi nấm chậm ngả màu, khi già hình thành
mô sẹo nhiều
Hệ sợi khi non màu trắng, mật độ sợi phân
bố đồng đều Khi trưởng thành hệ sợi dày hơn, khi già không chuyển màu, không có
mô sẹo
Hệ sợi khi non màu trắng muốt, sợi nấm đậm, mật độ sợi dày, sợi mượt như nhung, sợi nấm chậm ngả màu, khi già hình thành
mô sẹo nhiều Hệ sợi chủng Ga-4 có nhiều đặc điểm giống hệ sợi chủng Ga-2
Hệ sợi khi non màu trắng muốt, sợi nấm mảnh, mật độ sợi trung bình, sợi nấm nhanh chuyển màu vàng, hình thành mô sẹo nhiều
Theo dõi về đặc điểm hệ sợi chúng tôi thu được kết quả ở cột 4 bảng 4.1 Đặc điểm hệ sợi của các chủng nấm khác nhau là khác nhau Chủng nấm GA4 có đặc điểm hệ sợi gần giống với chủng nấm GA2, sợi nấm đậm, mật độ dày
Trang 39Theo dõi về tỷ lệ nhiễm bệnh trong giai đoạn ươm sợi, chúng tôi thu được kết quả ở cột 3 bảng 4.1
Kết quả cho thấy giữa các giống khác nhau tỷ lệ nhiễm bệnh khác nhau, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm bệnh không có sự chênh lệnh quá lớn Giống có tỷ lệ nhiễm bệnh thấp nhất là giống GA2, GA3 đạt trung bình là 6,7% , tiếp đến là GA4 đạt trung bình là 8,9% Tỷ lệ nhiễm bệnh cao nhất là giống GA10 và giống GA1 đạt trung bình lần là 10,0 %
4.1.2 Đánh giá thời gian sinh trưởng của các chủng nấm Linh Chi
Sau pha ủ sợi kéo dài khoảng 40-50 ngày, khi hệ sợi bắt đầu bện kết, đưa các bịch nấm đã mọc trắng lên phòng nuôi, tiến hành tưới phun sương để duy trì
độ ẩm 80 – 95%, ánh sáng nhẹ (700 – 800 lux), độ thông khí cao Pha phát triển thể quả: ngày thứ 40-50 thì mầm quả thể bắt đầu hình thành, ngày thứ 55 – 85 thì mầm nấm đang trong giai đoạn tăng trưởng và từ ngày 90- 105 quả thể nấm bắt đầu già, có thể thu hái quả thể Trong quá trình chăm sóc cần tưới nước dạng phun sương đều đặn, đảm bảo độ ẩm, nhiệt độ, khống chế ánh sáng và tránh gây tổn thương cơ học do ruồi, muỗi, chích hút… Đặc biệt trong giai đoạn phát triển của thể quả nếu nhiệt độ cao, cường độ ánh sáng mạnh, phòng nuôi có độ thoáng khí kém sẽ gây ức chế sự hình thành và phát triển của quả thể Vì vậy trong quá trình nuôi trồng nên giữ nhiệt độ thích hợp, tưới nước thường xuyên để tạo độ ẩm luôn cao, thiết kế trại nuôi trồng ở nơi mát mẻ và có độ thông khí cao, chỉ nên cho nấm tiếp xúc với nguồn sáng khuyếch tán có cường độ khoảng 700 – 800 lux, tránh sự xâm nhập của côn trùng hay các tác nhân gây tổn thương cho quả thể nấm
Theo dõi toàn bộ thời gian quá trình sinh trưởng của các chủng nấm chúng tôi thu được kết quả ở bảng 4.2
Theo dõi về thời gian xuất hiện mầm quả thể, chúng tôi thu được kết quả ở cột 2, bảng 4.2 Kết quả cho thấy: Chủng nấm GA1 xuất hiện mầm quả thể sớm nhất, thời gian theo dõi được trung bình là 46 ngày sau cấy giống Tiếp đến là chủng GA10, thời gian xuất hiện mầm quả thể 48 ngày Chủng GA2 và GA4 có thời gian xuất hiện mầm quả thể lần lượt là 50, 49 ngày Chủng GA3 có thời gian xuất hiện mầm quả thể chậm nhất, là 51 ngày
Trang 40Theo dõi về thời gian quả thể trưởng thành hay thời gian thu hoạch, chúng tôi thu được kết quả ở cột 3 bảng 4.2 Kết quả cho thấy, chủng nấm GA1 có thời gian đạt đến thời kì trưởng thành nhanh nhất so với các chủng giống khác Do vậy, nó cũng cho thu hoạch sớm hơn các chủng khác, trung bình sau 95 ngày kể từ khi nuôi cấy đã cho thu hoạch Chủng GA3 có thời gian sinh trưởng dài nhất đạt trung bình sau thời gian là 110 kể từ khi nuôi cấy cho đến khi thu hoạch Hai chủng GA2, GA4 có thời gian từ khi cấy đến khi thu hoạch giống nhau là 103 ngày Còn chủng GA10 có thời gian từ khi cấy đến khi thu hoạch là 100 ngày
Sau khi cắt thu hoạch lần 1, tiến hành chăm sóc như lúc ban đầu để tận thu đợt 2, 3
Theo dõi thời gian từ khi thu lần 1 đến thời gian thu lần hai chúng tôi thu được kết quả ở cột 4 bảng 4.2
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng của các chủng nấm
Chủng
nấm
Thời gian hình thành mầm quả thể (ngày)
Thời gian từ khi cấy đến khi thu hoạch lần 1 (ngày)
Thời gian từ khi thu lần 1 đến khi thu hoạch lần 2 (ngày)
Có thể thấy toàn bộ quá trình sinh trưởng của các giống dao động như sau: giai đoạn ươm sợi kéo dài từ 45 đến 51 ngày tùy từng giống, giai đoạn phát triển quả thể từ 50 đến 60 ngày cho thu hoạch đợt 1, tiếp tục chăm sóc từ 55 đến 62 ngày sau sẽ cho thu hoạch đợt 2