Trong những thập kỷ gần đây dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển, đã thúc đẩy nhanh nhu cầu lương thực, thực phẩm, gây sức ép đối với đất đai, đặc biệt là những diện tíc
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LẠI THỊ HÀ
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
TẠI HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Chính
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Lại Thị Hà
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS TS Trần Văn Chính đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện
đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Trắc địa bản đồ, Khoa Quản lý đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức phòng Tài nguyên
và môi trường, phòng Nông nghiệp & Phát triển nông thôn huyện Giao Thủy và Ủy ban nhân dân các xã đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Lại Thị Hà
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
2.1 Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 3
2.1.2 Sự cần thiết của nền sản xuất nông nghiệp bền vững 4
2.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững 5
2.1.4 Tiêu chí đánh giá tính bền vững 6
2.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 7
2.2.1 Quan điểm về hiệu quả 7
2.2.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 8
2.3 Tình hình sử dụng nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 12
2.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới 12
2.3.2 Tình hình sử dụng nông nghiệp ở Việt Nam 13
2.4 Xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 16
2.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới 16
2.4.2 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2020 19
Trang 52.5 Những công trình nghiên cứu đánh giá về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 24
2.5.1 Các nghiên cứu về đánh giá đất đai trên thế giới 24
2.5.2 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 25
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn đề tài 30
3.2 Nội dung nghiên cứu 30
3.2.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Giao Thủy 30
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Thủy 30
3.2.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 30
3.2.4 Định hướng sử dụng đất và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Giao Thủy 31
3.3 Phương pháp nghiên cứu 31
3.3.1 Thu thập số liệu 31
3.3.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 31
3.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất 32
3.3.4 Xử lý số liệu 34
Phần 4 Kết quả và thảo luận 35
4.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên 35
4.1.1 Vị trí địa lý 35
4.1.2 Địa hình, địa mạo 36
4.1.3 Khí hậu 36
4.1.4 Thủy văn 38
4.1.5 Tài nguyên thiên nhiên 39
4.1.6 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên cho phát triển kinh tế xã hội của huyện 42
4.2 Đánh giá về điều kiện kinh tế - xã hội 43
4.2.1 Thực trạng phát triển kinh tế huyện Giao Thủy 43
4.2.2 Dân số, lao động và việc làm 44
4.2.3 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 45
4.2.4 Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế xã hội 48
Trang 64.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Thủy 49
4.3.1 Hiện trạng sử dụng đất 49
4.4 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 53
4.4.1 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Thủy năm 2015 53
4.4.2 Hiệu quả kinh tế 55
4.4.3 Hiệu quả xã hội 67
4.4.3 Hiệu quả môi trường 72
4.4.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất tổng hợp của các kiểu sử dụng đất 80
4.5 Định hướng sử dụng đất và giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Giao Thủy 84
4.5.1 Định hướng sử dụng đất 84
4.5.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 87
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 90
5.1 Kết luận 90
5.2 Kiến nghị 91
Tài liệu tham khảo 92
Phụ lục 95
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Bộ NN& PTNT Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
CN- TTCN Công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước từ năm 2000 - 2010 13
Bảng 2.2 Diện tích các nhóm đất Việt Nam 14
Bảng 3.1 Phân cấp hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp 33
Bảng 3.2 Phân cấp hiệu quả xã hội sử dụng đất nông nghiệp 33
Bảng 4.1 Đặc trưng các yếu tố khí tượng ở Nam Định 37
Bảng 4.2 Các loại đất chính của huyện Giao Thủy 39
Bảng 4.3 Chỉ tiêu phát triển kinh tế của huyện giai đoạn 2010 - 2015 43
Bảng 4.4 Dân số và lao động huyện Giao Thủy giai đoạn 2010 - 2015 44
Bảng 4.5 Hệ thống giao thông đường bộ huyện Giao Thủy 45
Bảng 4.6 Diện tích, cơ cấu các loại đất chính năm 2015 49
Bảng 4.7 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 huyện Giao Thủy 50
Bảng 4.8 Hiện trạng diện tích, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 huyện Giao Thủy 51
Bảng 4.9 Các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản huyện Giao Thủy năm 2015 53
Bảng 4.10 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính, vật nuôi chính tiểu vùng 1 56
Bảng 4.11 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính tiểu vùng 2 58
Bảng 4.12 Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính tiểu vùng 3 59
Bảng 4.13 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 61
Bảng 4.14 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 63
Bảng 4.15 Đánh giá hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 3 65
Bảng 4.16 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 1 68
Bảng 4.17 Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất tiểu vùng 2 70
Bảng 4.18 Hiệu quả xã hội của các LUTs tiểu vùng 3 71
Bảng 4.19 Mức độ bón phân của một số cây trồng chính huyện Giao Thủy 73
Bảng 4.20 Mức sử dụng phân bón cho các loại hình sử dụng đất 74
Bảng 4.21 Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng chính huyện Giao Thủy 76
Trang 9Bảng 4.22 Đánh giá hiệu quả môi trường qua lượng thuốc BVTV sử dụng 77
Bảng 4.23 Đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường của các LUT ở Giao Thủy 78
Bảng 4.24 Một số chỉ tiêu nguồn nước cấp tại khu vực nuôi tôm xã Giao Phong, Giao Thủy, Nam Định (25/ 9/ 2015) 79
Bảng 4.25 Hiệu quả sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 80
Bảng 4.26 Hiệu quả sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 81
Bảng 4.27 Hiệu quả sử dụng đất của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 3 82
Bảng 4.28 Diện tích đề xuất các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Thủy đến năm 2020 85
DANH MỤC HÌNH Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Giao Thủy 35
Hình 4.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp năm 2015 huyện Giao Thủy 52
Trang 10
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lại Thị Hà
Tên Luận văn: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”
Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện các nội dung của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau: phương pháp chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu thứ cấp; phương pháp thu thập số liệu sơ cấp; phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu; phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
- Dựa vào sự khác biệt về địa hình, loại hình sử dụng đất để phân chia thành 3 tiểu vùng trên địa bàn nghiên cứu
- Thu thập số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại chi cục Thống kê huyện Giao Thủy Số liệu cơ cấu hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Giao Thủy được thu thập tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Giao Thủy
- Điều tra phỏng vấn nông hộ thông qua phiếu điều tra soạn sẵn Số lượng phiếu điều tra là 90 phiếu Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có phân tổ cho mỗi tiểu vùng
30 phiếu
- Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007 để tổng hợp các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hệ thống sử dụng đất, tính toán hiệu quả các loại sử dụng đất và các kiểu sử dụng đất (LUT)
Kết quả chính và kết luận:
1 Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Giao Thủy Qua nghiên cứu cho thấy Giao Thủy được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện khí hậu, thủy văn, vị trí địa lý,
Trang 11con người của huyện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội toàn diện Tổng diện tích đất tự nhiên là 23.775,62 ha, quy mô dân số năm 2015 là 189.936 người, cơ sở hạ tầng khá tốt, có khả năng đáp ứng cho phát triển toàn diện ngành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện
2 Giao Thủy có 4 loại hình sử dụng đất với 19 kiểu sử dụng đất với hệ thống cây trồng tương đối phong phú Tiểu vùng 1 có 4 loại hình sử dụng đất; trong đó loại hình nuôi trồng thủy sản cho GTSX/ha cao nhất, cụ thể nuôi trồng thủy sản nước mặn –
lợ cho GTSX/ha là 666,25 triệu đồng, GTGT/ha đạt 403,54 triệu đồng, tiểu vùng 2 có 3 loại hình sử dụng đất; trong đó loại hình sử dụng đất 2 lúa – 1 màu cho hiệu quả kinh tế cao nhất với kiểu sử dụng đất lúa xuân – lúa mùa – bắp cải đông có GTSX/ha đạt 191,27 triệu đồng, GTGT/ha đạt 140,82 triệu đồng, tiểu vùng 3 có 3 loại hình sử dụng đất, loại hình sử dụng đất cho hiệu quả kinh tế cao nhất là chuyên rau màu với kiểu sử dụng đất bí xanh xuân – bí xanh mùa – bắp cải đông đạt GTSX/ha là 264,31 triệu đồng, GTGT/ha là 210,28 triệu đồng
Hiệu quả xã hội kiểu sử dụng đất thu hút nhiều lao động nhất là kiểu sử dụng đất đỗ xanh xuân – đỗ xanh mùa – bắp cải đông, ngô xuân – đậu tương mùa – ngô đông,
bí xanh xuân – bí xanh mùa – bắp cải đông
Tất cả các kiểu sử dụng đất do việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV đều ảnh hưởng xấu tới môi trường, mức sử dụng các loại phân bón và thuốc BVTV ở Giao Thủy còn chưa cân đối và hợp lý
3 Cần đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm: chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật (hệ thống giao thông, thủy lợi ) áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến để phục vụ sản xuất theo hướng hàng hóa, nghiên cứu đưa ra các giống cây trồng, vật nuôi mới có ưu thế vào sản xuất Mở các lớp tập huấn về khoa học kỹ thuật và kiến thức sản xuất cho người nông dân, từ đó ứng dụng thực tế vào sản xuất nâng cao hiệu quả
Trang 12THESIS ABSTRACT Master candidate: Lại Thị Hà
Thesis title: "Evaluating the effectiveness of agricultural land use in Giao Thuy district - Nam Dinh province "
Major:Land Management Code: 60.85.01.03
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives:
- Assessing the effectiveness of the types of agricultural land use in terms of economy, society and environment
- Proposing some solutions to improve the efficiency of agricultural land use in study area
Methods:
Study methodologies carried out include: method of selecting study sites, method of investigating, collecting of secondary data; method of selecting the study sites; method of investigating, collecting of primary data; method of statistics, aggregation and analyzation of data; method of comparison
- Based on the differences in topography, cropping systems the research area is divided into two sub - zones
- Collecting the data on socio- economic and natural conditions from the Branch
of statistit board and division of natural resource and environment of Giao Thuy district
- Direct survey, randomly through printed questionnaires interviewing farmers, Quantity survey of 90 votes 30 votes were surveyed in each sulzone
- Data collected is processed using Microsoft Office Excel 2007 software the data on socio Economic and natural conditions land use systems and land utilization types were compiled
Main results and conclusions:
1 Assessing the impract of socio- economic and natural condition on agricultural production in Giao Thuy district, Nam Dinh province The research results showed that the natural resonrea, climatic conditions, hydrology, geography and human bring are favorable of overal socio- economic development The total natural area is 9560.26 hectares of which, with a population of 189 936 people in 2015
Trang 13was, quite good infrastructure, able to meet the comprehensive development of agriculture sector in the district
2 Giao Thuy has 4 types with 19 types of land use land use system is relatively abundant crops Subregion 1 with 4 types of land use; which type of aquaculture for production value / ha highest, namely aquaculture seawater - Brackish for production value / ha was 666.25 million, VAT / ha reached 403.54 million, subregional 2 3 type of land use; including land use type 2 rice - one color for highest economic efficiency with land use spring wheat - paddy seasons - winter cabbage with production value / ha reached 191.27 million, VAT / ha reached 140, 82 million, the sub-region 3 has 3 types
of land use, land use type for maximum economic efficiency are specialized crops for land use spring squash - zucchini season - winter cabbage achieve production value / ha was 264.31 million,VAT/ha is 210.28million
Effective land use society attracted many workers especially land use spring green beans - green beans seasons - winter cabbage, corn spring - the season soybean - winter corn, zucchini spring - green pumpkin season - winter cabbage
All types of land use due to the use of fertilizers and pesticides have adverse impacts on the environment, the use of fertilizers and pesticides in Giao Thuy has not balanced and reasonable
3 Enhancing the intensive investment to increase productivity and product quality : focus on building technical infrastructure (transport systems, irrigation .) applying advanced science and technology to serve commodity production Selecting newand ontilmal verities and species of cropsand animal for produation development Opening training courses on science and technology and production knowledge to farmers, which in fact contributing to improve the efficiency production
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có giới hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong sử dụng Trong những thập kỷ gần đây dân số tăng nhanh, nhất là ở các nước đang phát triển, đã thúc đẩy nhanh nhu cầu lương thực, thực phẩm, gây sức ép đối với đất đai, đặc biệt là những diện tích đất có khả năng sản xuất nông nghiệp Việc sử dụng đất không hợp lý của con người đã dẫn đến hậu quả phá hủy đất đai tự nhiên, làm ảnh hưởng đến điều kiện sinh thái môi trường
Khai thác tiềm năng đất đai để đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng như của sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước Việc đánh giá tiềm năng đất đai nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững là một việc làm hết sức cần thiết
Huyện Giao Thuỷ là một trong 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định, nằm trong hành lang trọng điểm của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng Giao Thủy nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định 45 km Huyện có 2 con sông lớn chảy qua là sông Hồng và sông Sò với tổng chiều dài 26km với 2 cửa sông lớn là cửa Ba Lạt (sông Hồng) và cửa Hà Lạn (sông Sò) cùng với hệ thống sông, kênh mương nội đồng đã đáp ứng tương đối tốt nhu cầu sản xuất của nhân dân trong huyện Địa hình Giao Thủy mang đặc điểm địa hình đồng bằng ven biển, khá bằng phẳng có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam, đất đai của huyện nhìn chung màu mỡ, thuận lợi phát triển nông nghiệp Trong phát triển kinh tế xã hội và đặc biệt là trong ngành sản xuất nông nghiệp, huyện Giao Thủy cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng vẫn chưa khai thác hết tiềm năng và lợi thế của ngành, nông nghiệp chủ đạo hiện nay vẫn
là sản xuất lương thực lúa gạo và chiếm tỷ trọng rất lớn trong sản xuất nông nghiệp của huyện Một số vùng đất ven biển người dân đã chuyển đổi một phần diện tích đất làm muối, đất mặt nước, đất bằng chưa sử dụng sang mục đích nuôi trồng thuỷ sản mặn - lợ và bước đầu đã thu được hiệu quả nhất định Tuy nhiên,
để góp phần nâng cao giá trị trong sử dụng đất, từng bước cải thiện đời sống
Trang 15người dân thì việc đánh giá đúng tiềm năng và lợi thế so sánh của đất đai trên địa bàn huyện là rất cần thiết nhằm xác định được hướng bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn huyện đạt hiệu quả cao và bền vững là mục tiêu quan trọng
Xuất phát từ yêu cầu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính tại huyện Giao Thủy
- Định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của địa phương
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Phạm vi không gian:
+ Đề tài được tiến hành tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
+ Đề tài tập trung vào các loại hình sử dụng đất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
- Phạm vi thời gian: Hệ thống số liệu, tài liệu phục vụ đề tài được nghiên cứu từ năm 2010 trở lại đây
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Lựa chọn được các loại hình sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao tại huyện Giao Thủy
- Là cơ sở đề xuất sử dụng đất tại huyện Giao Thủy
- Các kết quả nghiên cứu có thể góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, góp phần tăng thu nhập cho người sản xuất nông nghiệp, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội huyện Giao Thủy
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 2.1.1 Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất
đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” (Đỗ Nguyên Hải, 2001) Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng và tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên
Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng các thành phần khác có vai trò quan trọng và có
ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loại người (FAO, 1976)
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất Theo luật đất đai
2013, đất nông nghiệp được chia thành các nhóm đất chính sau: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc cong người đã biết lợi dụng một cách ý thực các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hóa học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm
Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích đất này là diện tích đất chưa
sử dụng Đây là tỉ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể
Trang 17khai thác được diện tích đất nói trên phục vụ cho các mục đích khác nhau So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỉ lệ đất dùng vào mục đích nông nghiệp rất thấp Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún là một trở ngại to lớn Để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân và cung cấp xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững
2.1.2 Sự cần thiết của nền sản xuất nông nghiệp bền vững
Ý tưởng xây dựng nền nông nghiệp bền vững đã xuất hiện ở các nước đang phát triển từ những thập kỷ 80-90 của thế kỷ 20 và ngày càng được nhiều quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp là chính trên thế giới ủng hộ và quan tâm
Đó là một nền sản xuất nông nghiệp phát huy tối đa các nguồn tài nguyên và kiến thức bản địa sẵn có kết hợp với việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật hiện đại Như vậy có thể nói phát triển nông nghiệp bền vững là hướng nghiên cứu phát triển sản xuất nông nghiệp hiện đại
Theo Lê Thái Bạt (2009), tài nguyên đất vô cùng quý giá, bất kể nước nào đất đều là tư liệu sản xuất nông – lâm nghiệp chủ yếu, cơ sở lãnh thổ để phân bố các ngành kinh tế quốc dân Nói đến tầm quan trọng của đất từ xa xưa, người Ấn
Độ, người Ả Rập và người Mỹ đều coi “đất đai là tài sản vay mượn của con cháu”, người Mỹ còn nhấn mạnh “đất không phải là tài sản thừa kế của tổ tiên” Người Es-tô-ni-a, người Thổ Nhĩ Kỳ coi “có một chút đất quý hơn vàng”, người
Hà Lan coi “mất đất còn tệ hơn phá sản” Gần đây trong báo cáo về suy thoái đất toàn cầu, UNEP khẳng định “mặc cho những tiến bộ kĩ thuật vĩ đại, con người hiện đại vẫn phải sống dựa vào đất” Đối với Việt Nam một đất nước với “tam sơn, tứ hải nhất phần điền” đất càng đặc biệt quý giá
Theo Nguyễn Đình Bồng (2013), tài nguyên đất có hạn, đất có khả năng canh tác càng ít ỏi Trái đất có diện tích 51 tỷ ha, diện tích và đại dương chiếm 36
tỷ ha (chiếm 70,58% diện tích trái đất) diện tích đất liền là 15 tỷ ha (29,42% diện tích trái đất, trong đó phần lớn có nhiều hạn chế cho sản xuất do quá lạnh, khô, dốc, nghèo dinh dưỡng hoặc quá mặn, quá phèn, bị ô nhiễm, bị hủy hoại do hoạt động sản xuất hoặc do bom đạn chiến tranh Diện tích có khả năng phát triển nông nghiệp có khoảng 3,3 tỷ ha, chiếm 22% diện tích đất liền Hiện nhân loại mới khai thác được khoảng 1,500 tỷ ha đất canh tác
Trang 18Diện tích đất tự nhiên và đất canh tác trên đầu người ngày càng giảm do
áp lực tăng dân số lên dẫn đến nhu cầu lương thực tăng lên, trong khi diện tích đất nông nghiệp giảm do nền khoa học kỹ thuật tiên tiến đã tác động vào sản xuất nông nghiệp (nông nghiệp hóa học, hóa thạch), phá vỡ cân bằng sinh thái, dẫn đến môi trường sản xuất nông nghiệp bị suy thoái; chất lượng sản phẩm nông nghiệp giảm Đất nông nghiệp còn bị chuyển sang các mục đích sử dụng khác như đất đô thị, dân cư, sản xuất công nghiệp và các hạ tầng kỹ thuật Bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều Quốc gia khu vực châu Á, Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha, ở Việt Nam chỉ còn 0,11 ha Theo tính toán của tổ chức lương thực thế giới (FAO), với trình
độ sản xuất trung bình hiện nay trên thế giới, để có đủ lương thực, thực phẩm, mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác, ước tính ở nước ta hàng năm giảm 5m2 đất canh tác/người (Lê Thái Bạt, 2009)
Do điều kiện tự nhiên, hoạt động tiêu cực của con người, hậu quả của chiến tranh nên diện tích đất đáng kể của lục địa đã, đang và sẽ còn bị thoái hóa, hoặc ô nhiễm dẫn tới tình trạng giảm, mất khả năng sản xuất và nhiều hậu quả nghiêm trọng khác (Lê Thái Bạt, 2009)
Do điều kiện khí hậu toàn cầu và tiểu khí hậu từng khu vực biến đổi lớn
đã gây nên những hiểm họa thiên tai tác động trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp của các Quốc gia trên toàn cầu: Mất đất sản xuất nông nghiệp, đất bị mất khả năng trồng trọt, cây trồng và vật nuôi bị tổn thương, hủy diệt và phá vỡ các dịch
vụ cho sản xuất nông nghiệp, hao tổn lực lượng sản xuất nông nghiệp ,v,v… Ở nhiều nước đang phát triển và chậm phát triển, tập quán canh tác lạc hậu đã dẫn đến một nền sản xuất nông nghiệp không bền vững (Đào Châu Thu, 2009)
2.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hóa học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng của đất Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai” trong sử dụng bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tự nhiên của đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất của tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng cơ giới hóa (Nguyễn Đình Bồng, 2012)
Trang 19Trong sản xuất nông nghiệp đất đai được coi là sử dụng bền vững phải dựa trên cơ sở đảm bảo khả năng hoạt động sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không bị suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu tới con người và môi trường sinh thái (Nguyễn Đình Bồng, 2012)
2.1.4 Tiêu chí đánh giá tính bền vững
Theo FAO,1976 tiêu chí đánh giá sử dụng đất bền vững bao gồm: Bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt xã hội và bền vững về mặt môi trường + Bền vững về mặt kinh tế:
Tổng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng
Tổng giá trị xuất khẩu, thu nhập hỗn hợp, hiệu quả đồng vốn và giá trị ngày công lao động là các chỉ tiêu cơ bản trong đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất Các loại hình sử dụng đất đạt hiệu quả kinh tế cao phải mang lại giá trị cao cho người sản xuất thông qua các chỉ tiêu trên
Giảm rủi ro về sản xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Hệ thống sử dụng đất phải phù hợp với pháp luật hiện hành, phù hợp với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phương, tăng cường khả năng tham gia của người dân, đạt được sự hồng thuận của cộng đồng
+ Bền vững về mặt môi trường
Trang 20- Hệ thống sử dụng đất phải đảm bảo hạn chế ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
- Hệ thống sử dụng đất phải đảm bảo hạn chế các quá trình thoái hóa đất do tác động tự nhiên: xói mòn, rửa trôi, hoang mạc hóa, mặn hóa, phèn hóa, lầy hóa
- Hệ thống sử dụng đất phải đảm bảo ngăn ngừa các tác nhân gây ô nhiễm
do hoạt động của con người: sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng phân vô cơ hợp lý
Giảm mức độ ô nhiễm, nhiễm mặn, nhiễm phèn đất, nước, hạn chế cát bay, giảm thiểu xói mòn, thoái hóa đến mức cho phép, bảo vệ nguồn nước, bảo
vệ và nâng cao đa dạng sinh học, tăng độ che phủ, bảo vệ nguồn nước (Vũ Thị Bình, 2012)
Các tiêu chí đánh giá sử dụng bền vững là căn cứ để xem xét đánh giá các loại hình sử dụng đất bền vững hiện tại và tương lai, xác định các loại hình sử dụng đất phù hợp, đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng sử dụng đất nông nghiệp bền vững
2.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.2.1 Quan điểm về hiệu quả
Trong thực tế, các thuật ngữ “sản xuất có hiệu quả”, “sản xuất không có hiệu quả” hay là “sản xuất kém hiệu quả” thường được sử dụng phổ biến trong sản xuất Vậy hiệu quả là gì? Đến nay, các nhà nghiên cứu xuất phát từ nhiều góc
độ khác nhau, đã đưa ra nhiều quan điểm về hiệu quả, có thể khái quát như sau: Hiệu quả theo quan điểm của C.Mác đó là việc “Tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý”, các nhà khoa học Xô Viết cho rằng đó là sư tăng trưởng kinh
tế thông qua tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đá ứng được yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ( trích theo Nguyễn Văn Bích, 2007)
Có quan điểm cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng một loại hàng hóa mà không cắt giảm một loại hàng hóa khác Một nền kinh
tế có hiệu quả, một doanh nghiệp có hiệu quả thì các điểm lựa chọn đều nằm trên một đường giới hạn khả năng sản xuất của nó”, hoặc “khi sản xuất có hiệu quả, chúng ta nói rằng nền kinh tế đang sản xuất trên giới hạn khả năng sản xuất” (Nguyễn Văn Bích, 2007)
Trang 21Quan điểm khác lại khẳng định “Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối quan
hệ tương quan so sánh giữa kết quả sản xuất đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó” (Ngô Đức Cát, 2000) Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản xuất đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: Vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường
Ý nghĩa của hiệu quả sử dụng đất:
- Tạo điều kiện sử dụng đất đai ngày càng tốt hơn, lâu dài hơn, phục vụ cho các mục tiêu phát triển nền kinh tế xã hội
- Nâng cao thu nhập, tạo ra nhiều lợi ích cho người sử dụng đất
- Bảo đảm nguồn lực và động lực cho đầu tư bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất
- Làm nền tảng nâng cao hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường, bảo đảm
sử dụng đất bền vững
- Thưc hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế
xã hội của đất nước
2.2.2 Phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Sản xuất muốn phát triển phải quan tâm tới cả ba loại hiệu quả: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường Trong đó, hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả
xã hội và môi trường, ngược lại, không có hiệu quả xã hội và môi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không vững chắc
*) Hiệu quả kinh tế
Theo C.Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau (trích theo Phạm Văn Sinh, 2009)
Hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm của tất cả các loại hiệu quả và nó có vai trò quyết định đối với các loại hiệu quả khác Hiệu quả kinh tế là loại hiệu quả có khả năng lượng hóa, được tính toán tương đối chính xác và biểu hiện thông qua các chỉ tiêu
Trang 22Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000) cho rằng hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau Vì thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được
là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của phạm trù kinh tế
sử dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội
*) Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội
và tổng chi phí bỏ ra (Vũ Thị Phương Thụy, 2000) Hiệu quả kinh tế và hiệu quả
xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau và là một phạm trù thống nhất (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001) Nó thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xóa đói giảm nghèo, định canh định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân
Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn
Trang 23Theo Nguyễn Duy Tính (1995), hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm
*)Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả Điều này có
ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi giải pháp về quản lý được coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại hay có những tác động xấu đến môi trường đất, môi trường nước và môi trường không khí cũng như không làm ảnh hưởng xấu đến môi sinh và đa dạng sinh học Có được điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững cho mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng như cả cộng động quốc tế
Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ: Loại hình sử dụng đất phải bảo
vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%)
đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Hội khoa học Đất, 2000)
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích của hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo chiều hướng khác nhau Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù hợp với đặc tính, tính chất của đất Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường Hiệu quả môi trường được phân
ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: Hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999)
Trong mọi quá trình sản xuất của xã hội, việc nâng cao hiệu quả là một mục tiêu chung, chủ yếu, xuyên suốt và cũng tùy theo những mô hình xã hội trong các điều kiện cụ thể mà có những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn đề phức tạp và có nhiều ý kiến khác nhau Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả
Trang 24Trên cơ sở đó, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có thể xem xét ở các mặt sau:
- Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm, hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững (Đào Châu Thu và Nguyễn Khang, 1998)
- Theo Bùi Huy Hiền và Nguyễn Văn Bộ (2001), đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung sau:
+ Bền vững về mặt kinh tế: Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định và đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân trong vùng thì sẽ được thị trường chấp nhận Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp cần được thực hiện tập trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường Mặt khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và hướng tới xuất khẩu tuỳ theo mục tiêu của từng vùng Tóm lại, bền vững về mặt kinh tế thỏa mãn các tiêu chí: nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm tốt, giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích cao
và giảm rủi ro về sản xuất, về thị trường
+ Bền vững về mặt xã hội: Là đáp ứng được nhu cầu lao động, thu hút được nguồn lao động trong nông nghiệp, tăng thu nhập cho người dân trong vùng, đảm bảo đời sống xã hội Thỏa mãn được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích chung của toàn xã hội (bảo vệ đất, môi trường ) Sản phẩm thu được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc và nhu cầu hàng ngày của người nông dân Đảm bảo sự hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả
+ Bền vững về môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì của đất, ngăn chặn được sự thoái hóa đất, giảm thiểu xói mòn, bảo vệ môi trường sinh thái Tăng độ che phủ, bảo vệ nguồn nước, nâng cao đa dạng sinh học của hệ sinh thái tỷ lệ Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài
Trang 25Các tiêu chí và chỉ tiêu phải phản ánh hết được các mặt bền vững (và không bền vững) của một hệ thống sử dụng đất Nếu thỏa mãn hết các chỉ tiêu thì tính bền vững của một hệ sẽ đạt mức tối đa Tuy nhiên trong thực tế sẽ không có một hệ lý tưởng như vậy, mỗi hệ chỉ đạt được một số mặt nào đó ở mức độ nhất định Tùy theo từng đặc tính và mục tiêu của mỗi kiểu sử dụng đất, các tiêu chí
và chỉ tiêu cũng có ý nghĩa khác nhau, cấp độ quan trọng khác nhau và nhận các trọng số khác nhau khi xem xét cho từng trường hợp
2.3 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.3.1 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới
Theo Nguyễn Từ và Phí Văn Kỷ (2006), đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự phát triển Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai
bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu
cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra P.Buringh cho biết, toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt) Như vậy, còn 54% đất
có khả năng trồng trọt chưa được khai thác (Vũ Ngọc Tuyên, 1994)
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp Mặt khác, Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất
Trang 26nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia Ở Châu Á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng
100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua, khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng
tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt Từ số liệu của UNDP năm 1995 (Phùng Văn Phúc, 1996) cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN
2.3.2 Tình hình sử dụng nông nghiệp ở Việt Nam
Theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2010, Việt Nam có diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 10.117.893 ha, dân số là 86.927 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1.164 m2/người (Tổng cục thống kê, 2010)
Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho
xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cấp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo tư liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về
số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong 10 năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước
Đất nông nghiệp khác 402 15.447 25.462 15.045 10.015 25.060
Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng điều tra đất đai năm 2005 và năm 2010)
Trang 27Đất sản xuất nông nghiệp nước ta đang có chiều hướng tăng lên, đến năm
2010 so với năm 2000 tăng lên 1.140.393 ha Tuy nhiên so với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp còn thấp Do đó cần có nhiều biện pháp thiết thực để khai thác diện tích đất chưa sử dụng vào các mục đích khác nhau nhằm nâng cao diện tích đất sản xuất nông nghiệp và tránh mất đất sản xuất nông nghiệp
Bảng 2.2 Diện tích các nhóm đất Việt Nam
Nguồn: Viện QH&KTNN (1980) Theo kết quả điều tra của viện Thiết kế và quy hoạch nông nghiệp (1980), tài nguyên các nhóm đất của Việt Nam trình bày ở bảng 2.1 Như vậy, trong các loại đất, đất đồi núi dốc chiếm đến 70% tổng diện tích, loại đất tốt đáng kể nhất
là đất đỏ bazan có diện tích 2,4 triệu ha chiếm 7,2% Trong các loại đất vùng đồng bằng, đất phù sa có gần 3 triệu ha, chiếm 8,7% tổng diện tích Nếu kể thêm một số loại đất tốt khác thì Việt Nam chỉ có khoảng 20% diện tích Diện tích đất còn lại là các loại đất xấu, có nhiều trở ngại cho sản xuất nông nghiệp như quá dốc, khô hạn, úng, phèn mặn, nghèo dinh dưỡng hoặc tầng đất quá mỏng
Đầu tư và hiệu quả khai thác đất sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung chưa cao Thể hiện ở tỷ lệ đất thủy lợi hóa, hệ số sử dụng đất thấp, chỉ đạt 1,6 vụ/năm; năng suất cây trồng thấp, chỉ có năng suất lúa, cà phê, ngô đã đạt và vượt mức trung bình thế giới Năng suất trung bình thế giới đối với từng loại cây
Trang 28trồng này là: lúa 4 tấn/ha, ngô 5,5 tấn/ha, cà phê đạt 7 tạ nhân/ha Bên cạnh đó, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp còn thấp, năm 2012 thu nhập bình quân của mỗi nông dân chỉ đạt khoảng 4,2 triệu đồng/năm, tức là khoảng 350 nghìn đồng/tháng (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW, 2012)
Chất lượng nhu cầu quỹ đất cho phát triển để đưa vào quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất của các địa phương chưa cao Những con số chưa được tính toán khoa học, chưa sát với phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu của thị trường bất động sản Thực tế này đã dẫn đến hậu quả là vừa thiếu, vừa thừa quỹ đất Hơn nữa trách nhiệm của các cấp trong việc quản lý, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được xác định rõ
Tác giả Đặng Kim Sơn (2011) cho rằng: Các nhà hoạt động chính sách đang lo lắng chính đáng về viễn cảnh chuyển đổi đất lúa bừa bãi và không được giám sát đầy đủ các mục đích sử dụng Ở ngoại ô thành phố có áp lực ngày càng lớn đối với việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp và đô thị Đất lúa chuyển đổi để xây dựng một khu công nghiệp sẽ mất đi mãi mãi đối với nông nghiệp
Báo cáo về Quy hoạch sử dụng đất năm 2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng: Sự kém hiệu quả còn thể hiện ở sự phối hợp chưa tốt giữa các
bộ, ngành, các địa phương trong công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, nhất là quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng, giữa quy hoạch sử dụng đất cho sản xuất nông nghiệp với quy hoạch sử dụng đất cho nuôi trồng thủy sản Phần lớn các địa phương, nhất là các thành phố còn lúng túng trong việc gắn kết giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng
đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn Nhiều quy hoạch ngành được xây dựng sau khi quy hoạch sử dụng đất được xét duyệt nên không được cập nhật đầy đủ dẫn đến vướng mắc trong quá trình thực hiện
Kết quả kiểm kê cho thấy phần lớn các chỉ tiêu đều không đạt quy hoạch
sử dụng đất, hoặc là không hoàn thành, hoặc là thực hiện quá chỉ tiêu quy hoạch
sử dụng đất đã được Chính phủ xét duyệt Trong đó, đất trồng lúa nước vượt 10,3%, đất trồng cây lâu năm vượt 10,87%, và đất ở vượt 2,0%; các loại đất không đạt chỉ tiêu quy hoạch gồm đất nuôi trồng thủy sản chỉ đạt 84,72%, đất lâm nghiệp 96,27%, đất chuyên dùng đạt 94,28%
Vấn đề thoái hoá đất Việt Nam đang là một thách thức to lớn Nguyên nhân thoái hoá đất bắt nguồn từ các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hậu quả
Trang 29của chiến tranh Thoái hoá đất diễn ra trên quy mô rộng lớn từ đồng bằng, ven biển đến trung du miền núi Hậu quả thoái hoá đất rất nghiêm trọng dẫn tới sự suy thoái tài nguyên động thực vật, suy giảm và mất khả năng sản xuất của đất
Để bảo vệ môi trường đất, cần khắc phục các tồn tại đồng thời áp dụng các biện pháp ưu tiên như:
- Nghiên cứu và phổ biến công nghệ tiến bộ trong sinh học, đầu tư thâm canh, đảm bảo sản xuất bền vững nâng cao độ phì nhiêu đất
- Đẩy mạnh trồng cây lâu năm (cây công nghiệp, cây ăn quả, cây dược liệu, cây đặc sản) có giá trị kinh tế cao trên đất dốc, nhân rộng các mô hình trang trại Phục hồi lớp phủ thực vật bằng trồng rừng và hệ thống nông lâm kết hợp
Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp là một trở ngại to lớn Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững
2.4 XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.4.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới
Tác giả Đường Hồng Dật và cs (1994) cho rằng: Trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau:
- Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
- Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình phát triển nông nghiệp Theo chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý và tổ chức;
- Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
1 Nông nghiệp công nghiệp hoá: sử dụng nhiều thành tựu và kết quả của
công nghiệp, sử dụng nhiều vật tư kỹ thuật, dùng trang thiết bị máy móc, sản
Trang 30xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây trồng vật nuôi và năng suất lao động cao Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông nghiệp nhưng vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Tuy nhiên, nông nghiệp công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, gây ô nhiễm môi trường làm giảm tính đa dạng sinh học, làm hao hụt nguồn gen thiên nhiên (Vũ Thị Hồng, 2011)
Theo cách hiểu gần đây nhất được đưa ra: Nông nghiệp công nghiệp hoá
là một nền nông nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội công nghiệp vào nông nghiệp Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông tin, điện tử, sinh học, hoá học, cơ khí Thực tế cho thấy nhiều nước công nghiệp phát triển, nền nông nghiệp công nghiệp hoá thể hiện theo cách thể hiện này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, nhược điểm của nền nông nghiệp này là không chú ý đầy đủ đến các tác động của hoạt động sản xuất nông nghiệp lên môi trường tự nhiên (Vũ Thị Hồng, 2011)
2 Nông nghiệp sinh thái: nhấn mạnh các yếu tố sinh học, các yếu tố tự
nhiên, có chú ý hơn đến các quy luật sinh học, quy luật tự nhiên Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp nông nghiệp sinh thái không đảm bảo hiệu quả cao Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu nền nông nghiệp bền vững Đó
là một dạng nông nghiệp sinh thái với mục tiêu là sản xuất nông nghiệp đi đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững, lâu dài
Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau Cụ thể như :
- “Cách mạng xanh’’ đã được thực hiện ở các nước đang phát triển ở Châu
Á, Mỹ La Tinh và đã đem lại những bước phát triển lớn ở những nước đó vào những năm của thập kỷ 60 Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc
áp dụng các giống cây lương thực có năng suất lúa cao (lúa nước, lúa mì, ngô ), xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học “Cách mạng xanh”
đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và cả thành tựu của công nghiệp
-“Cách mạng trắng’’ được thực hiện dựa vào việc tạo ra các giống gia súc
có tiềm năng cho sữa cao, vào những tiến bộ khoa học đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các phương thức chăn nuôi mang
ít nhiều tính chất công nghiệp Cuộc cách mạng này đã tạo được những bước
Trang 31phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được thực hiện trong mối quan
hệ chặt chẽ với “cách mạng xanh”
- “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của nông dân với ruộng đất Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để tăng năng suất và sản lượng trong nông nghiệp
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc, tháo gỡ những khó khăn trước mắt, chứ chưa thể là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông nghiệp lâu dài và bền vững
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ Bởi vì, tính phong phú
đa dạng và đầy biến động của nông nghiệp đòi hỏi những hiểu biết và những xử
lý đầy trí tuệ và rất biện chứng Nông nghiệp trí tuệ thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội trong mọi mặt hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh tế, quản lý được vận dụng phù hợp với điều kiện của mỗi nước, mỗi vùng
Theo trung tâm thông tin chuyên đề nông nghiệp và phát triển nông thôn: Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và đa dạng hoá sản xuất như: Philipin năm 1987-1992 chính phủ đã có chiến lược chuyển đổi cơ cấu, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982-1996 đã có những chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của chính phủ chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực
Theo Đặng Kim Sơn và cs (2001), khi nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp của một số nước Đông Nam Á cho thấy:
- Các nước đang chuyển đổi nhanh cơ cấu kinh tế và cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập trung phát triển ngành hàng dựa vào lợi thế và cải tổ để đương đầu với những thách thức mới của thế kỷ XXI
Trang 32+ Thái Lan: Phát huy thế mạnh sẵn có, phát triển mạnh sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu nông sản theo hướng đa dạng hoá sản phẩm, giảm bớt rủi ro thị trường và tăng cường đầu tư công nghệ chế biến
+ Malaixia: Tập trung sản xuất hàng hoá có lợi thế cạnh tranh cao để xuất khẩu, phát triển nông nghiệp thành một lĩnh vực hiện đại và thương mại hoá cao Tăng cường phát triển ngành chế biến gắn với sản xuất nông nghiệp dựa vào tài nguyên của từng địa phương
+ Inđônêxia: Hướng mạnh vào sản xuất hàng hoá các mặt hàng có lợi thế như: hạt tiêu, hoa quả, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, tôm đông lạnh và cá ngừ + Philipin: Phát huy thế mạnh sẵn có xây dựng các vùng chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến, hệ thống thông tin, ứng dụng và tiếp thị Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao, áp dụng công nghệ và khuyến nông Thay đổi chiến lược chính sách nông nghiệp từ bảo trợ sản xuất sang tăng cường cạnh tranh
2.4.2 Định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam đến năm 2020
2.4.2.1 Quan điểm phát triển nông nghiệp đến năm 2020
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã nêu rõ quan điểm phát triển nông nghiệp đến năm 2020 trong Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 - 2020, ban hành kèm theo Công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đó là:
- Phát triển nông nghiệp - nông thôn đóng vai trò chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế xã hội, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc phòng, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái đất nước
- Phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt Các vấn đề phát triển nông nghiệp nông thôn phải giải quyết đồng bộ gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội; khai thác tốt các điều kiện
Trang 33thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy cao nội lực, đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội; ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân
- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả
hệ thống chính trị và toàn xã hội Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân
- Phát triển phải vững bền cả về tự nhiên và xã hội Đảm bảo môi trường sản xuất nông nghiệp và nông thôn trong sạch; tài nguyên sinh học đa dạng; giảm thiểu rủi ro do bệnh tật, thiên tai và quá trình biến đổi khí hậu gây ra; thu hẹp khoảng cách phát triển giữa đô thị và nông thôn; hỗ trợ người nghèo, những nhóm đối tượng khó khăn trong quá trình phát triển
2.4.2.2 Mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn đến năm 2020
Mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn Việt nam đến năm 2020 trong Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2011 - 2020, ban hành kèm theo Công văn số: 3310/BNN-KH ngày 12/10/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được chia thành hai giai đoạn:
• Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng
trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng thu nhập và giảm đáng
kể tỷ lệ nghèo, bảo vệ môi trường
- Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3-3,8% Tạo chuyển biến
rõ rệt về mở rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công nghệ
- Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng sản xuất kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông thôn
- Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh Phát triển doanh nghiệp nông thôn
- Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái
Trang 34nông thôn tập trung vào đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, phòng chống thiên tai
• Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020: phát triển nông
nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường
- Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,5- 4%/năm Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam trên thị trường quốc tế
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu cầu thị trường Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp Công nghiệp, dịch
vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp
và phát triển kinh tế nông thôn
- Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội Hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh tế hợp tác và kết nối với thị trường
- Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số
xã đạt tiêu chuẩn Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện nay Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị, công nghiệp
- Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu
2.4.2.3 Định hướng chiến lược phát triển nông nghiệp đến năm 2020
Trên cơ sở quan điểm và mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng sáu định hướng chiến lược cho phát triển nông nghiệp đến năm 2020, đó là:
• Phát triển sản xuất lúa gạo Việt Nam trở thành mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn có hiệu quả và đảm bảo an ninh lương thực
Trang 35Trên cơ sở tính toán cân đối giữa nhu cầu tương lai của đất nước và dự báo nhu cầu chung của thế giới nhằm đảm bảo tuyệt đối an ninh lương thực quốc gia trong mọi tình huống, đảm bảo quyền lợi hợp lý của người sản xuất và kinh doanh lúa gạo và xuất khẩu có lợi nhuận cao, đảm bảo sản lượng lúa đến năm
2020 đạt hơn 41 triệu tấn lúa trên diện tích canh tác 3,7 triệu ha Những khu vực
có khả năng thích nghi cao, ngoài diện tích tối thiểu cần duy trì cho an ninh lương thực, được ưu tiên xây dựng thành vùng chuyên canh phục vụ xuất khẩu
• Phát triển cây trồng hàng hóa có khả năng cạnh tranh mạnh, hiệu quả cao phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu
- Phát huy lợi thế của địa phương, tập trung xây dựng các chương trình phát triển ngành hàng mũi nhọn của Việt Nam với các thương hiệu quốc gia cho các cây trồng Việt Nam hiện đang có lợi thế so sánh và thị trường có nhu cầu (cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao su, rau, chè ) và những mặt hàng có lợi thế tiềm năng (cây ăn quả, cây dược liệu,.)
- Xây dựng một số vùng chuyên canh với các trang trại và doanh nghiệp sản xuất tập trung quy mô lớn gắn với nhà máy chế biến và hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ tiếp thị Hình thành hệ thống sàn giao dịch nông sản để kết nối trực tiếp các vùng chuyên canh nông sản xuất khẩu của Việt Nam với hoạt động thương mại tại các thị trường quốc tế chính
- Đối với cây ăn quả, rau, hoa, tiến hành nghiên cứu tiếp thu khoa học công nghệ để hình thành tập đoàn giống và hệ thống biện pháp kỹ thuật để tạo bước đột phá mở rộng sản xuất các loại cây ăn quả đặc sản của Việt Nam và một số giống tốt của quốc tế Nâng sản lượng rau lên 15 triệu tấn vào năm 2015 và 18 triệu tấn vào năm 2020; sản lượng quả đạt vào năm 2015 và 12 triệu tấn vào năm 2020
• Phát triển chăn nuôi
- Đáp ứng nhu cầu nội địa ngày càng tăng, phát triển chăn nuôi lợn và gia cầm chất lượng cao, phẩm chất tốt Phấn đấu tổng đàn lợn cả nước đạt khoảng 33 triệu con vào năm 2015 và 35 triệu con năm 2020 với sản lượng thịt hơi đạt 3,9 triệu tấn năm 2015 và gần 5 triệu tấn năm 2020; đàn gà có khoảng hơn 252 triệu con vào năm 2015 và 306 triệu con năm 2020 với sản lượng thịt và trứng đạt khoảng 0,8 triệu tấn và 9,1 tỷ quả trứng vào năm 2015, hơn 1,1 triệu tấn và gần
14 tỷ quả trứng năm 2020; đàn trâu đạt gần 3 triệu con, đàn bò gần 13 triệu con năm 2020, trong đó bò sữa khoảng nửa triệu con Phấn đấu đến năm 2020 sản lượng thịt có thể đáp ứng đủ nhu cầu trong nước
Trang 36- Ở các vùng Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ đẩy mạnh chăn nuôi lợn, gà theo hình thức trang trại công nghiệp, gia trại tập trung, ở Đồng bằng sông Cửu Long, phát triển chăn nuôi vịt, chuyển từ hình thức nuôi vịt chạy đồng quảng canh sang tập trung thâm canh Phát triển chăn nuôi gia súc ăn cỏ (trâu, bò thịt, bò sữa ở Trung du miền núi và Tây Nguyên, dê ở miền núi phía Bắc và miền Trung, cừu ở miền Trung)
• Nuôi trồng thủy sản
-Đến năm 2020, giữ ổn định diện tích nuôi trồng thủy sản ở mức 1,1-1,2 triệu ha Trong đó, nuôi trồng thủy sản nước ngọt 550.000 nghìn ha Trong đó khoảng 12.000 ha nuôi thâm canh, công nghiệp (3-5% diện tích) với đối tượng nuôi chính là cá tra, rô phi đơn tính, tôm càng xanh); nuôi hải sản nước lợ: 600-
650 nghìn ha Trong đó 60.000 ha nuôi hải sản theo phương thức nuôi thâm canh, công nghiệp với hai đối tượng nuôi chính là tôm sú và tôm thẻ chân trắng (10-12%); Đẩy mạnh phát triển nuôi trồng hải sản trên biển, đảo từ với diện tích 6070 nghìn ha tập trung Phát triển các đối tượng nuôi chủ lực như cá tra, tôm sú, tôm chân trắng, nhuyễn thể phục vụ xuất khẩu Bảo tồn và phát triển các giống loài thủy sản bản địa, đặc hữu có giá trị kinh tế cao Đẩy mạnh nuôi trồng thủy sản trên biển và hải đảo gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái, phối hợp sản xuất với du lịch, gắn kết hoạt động kinh tế và an ninh quốc phòng
- Đa dạng sự tham gia của các thành phần kinh tế vào hoạt động xúc tiến thương mại thủy sản Hình thành hệ thống kênh phân phối sản phẩm thủy sản trong và ngoài nước; Đa dạng hóa các mặt hàng thủy sản và mở rộng thị trường tiêu thụ nội địa, xuất khẩu
• Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
- Đến năm 2015, ổn định sản lượng khai thác hải sản ở mức 2,2 triệu tấn Trong đó, khai thác biển 2 triệu tấn, khai thác thủy sản nội địa 200.000 tấn Đến năm 2020, hợp tác quốc tế, mở rộng hoạt động khai thác viễn dương đạt sản lượng khai thác 2,4-2,5 triệu tấn
- Quản lý chặt nguồn lợi thủy sản để giảm thiểu, khống chế mức độ đánh bắt ven bờ, nội địa trong phạm vi đảm bảo bền vững và tái tạo nguồn lợi, gắn với hoạt động du lịch Tiến đến phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy sản Khai thác nội địa ổn định ở mức 200.000 tấn Hỗ trợ để chuyển phần lớn cư dân sống bằng đánh bắt ven bờ sang đánh bắt biển xa, nuôi trồng, chế biến thủy sản và các ngành nghề khác
Trang 37• Phát triển 3 loại rừng theo quy hoạch hợp lý
- Sắp xếp, ổn định lại hệ thống 3 loại rừng Có cơ chế, chính sách phù hợp, tạo điều kiện, khuyến khích các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia bảo vệ, phát triển rừng
2.5 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
2.5.1 Các nghiên cứu về đánh giá đất đai trên thế giới
Việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu vào việc đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi loại đất,
để từ đó sắp xếp, bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt hơn lợi thế so sánh của vùng
Hàng năm các Viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều giống cây trồng mới, những kiểu sử dụng đất mới, giúp cho việc tạo thành một số hình thức sử dụng đất mới ngày càng có hiệu quả cao hơn Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) đã có nhiều thành tựu về lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất lúa (Vũ Thị Hồng, 2011)
Nói chung về việc sử dụng đất đai, các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối các vùng nhiệt đới có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn, mang kết quả và hiệu quả cao hơn Tạp chí “Farming Japan” của Nhật Bản
ra hàng tháng đã giới thiệu nhiều công trình ở các nước trên thế giới về các hình thức sử dụng đất đai cho người dân, nhất là ở nông thôn (Nguyễn Văn Bộ, 2008) Tác giả Nguyễn Văn Bộ (2008) cho biết, tại Thái Lan nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân canh lúa xuân - lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước quá lớn và độc canh cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lúa xuân trong công thức luân canh Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng kể, hiệu quả kinh tế được nâng cao, độ phì nhiêu của đất được tăng lên rõ rệt Nhờ đó hiệu quả sử dụng đất được nâng cao
Vũ Thị Hồng (2011) cho biết: kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử
Trang 38dụng đất đai ổn định, chế độ sở hữu giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn một cách toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Tại Philippin tình hình nghiên cứu sử dụng đất dốc được thực hiện bằng
kỹ thuật canh tác SALT
SALT là hệ thống canh tác trồng nhiều băng cây thay đổi giữa cây lâu năm và cây hàng năm theo đường đồng mức Cây lâu năm chính là cây ca cao,
cà phê, chuối, chanh và các loại cây ăn quả
Một số chính sách tập trung vào hỗ trợ phát triển nông nghiệp quan trọng nhất là đầu tư vào sản xuất nông nghiệp Theo Vũ Thị Phương Thụy (2000), ở Mỹ tổng số tiền trợ cấp là 66,2 tỉ USD, chiếm 28,3% trong thu nhập của nông nghiệp, Canada tương ứng là 5,7 tỷ và 39,1 %, Ôxtrâylia 1,7 tỉ và 14,5 %, Nhật Bản 42,3
tỷ và 69,8 %, cộng đồng châu Âu 67,2 tỉ và 40,1 %, Áo là 1,6 tỉ và 69,8 %
2.5.2 Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Trong những năm qua, nhờ sự đổi mới về chính sách của Đảng, Nhà nước
có sự chú trọng đầu tư ngân sách cho nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực nông nghiệp, đội ngũ khoa học của ngành đã nghiên cứu thành công trên nhiều lĩnh vực như: giống cây trồng, vật nuôi, thú y, lâm nghiệp, thủy lợi, canh tác, bảo vệ thực vật, đất, phân bón…Nhiều công tình nghiên cứu được hội đồng khoa học đánh giá cao, được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn công nhận là những tiến bộ khoa học kỹ thuật và đã đưa vào áp dựng trong sản xuất, đưa năng suất, chất lượng sản phẩm nông nghiệp không ngừng tăng trong những năm qua, đem lại hiệu quả kinh tế cao, được người sản xuất đánh giá cao
Các công trình có giá trị trên phạm vi cả nước phải kể đến công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng sử dụng đất theo quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền của tác giả Trần An Phong - Viện quy hoạch và thiết kế nông nghiệp (Trần An Phong, 1995)
Nghiên cứu đánh giá tài nguyên đất đai Việt Nam của Nguyễn Khang và Phạm Dương Ưng (1995)
Nghiên cứu đánh giá tiềm năng sản xuất nông lâm nghiệp của đất trống đồi núi trọc tỉnh Tuyên Quang theo phương pháp phân loại đất thích hợp của FAO của Nguyễn Đình Bồng (1995)
Trang 39Đề tài đánh giá hiệu quả một số mô hình đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của tác giả Vũ Năng Dũng (1997)
Từ năm 1995 đến năm 2000, Nguyễn Ích Tân đã tiến hành nghiên cứu tiềm năng đất đai, nguồn nước và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác có hiệu quả kinh tế cao đối với vùng úng trũng xã Phụng Công, huyện Châu Giang, tỉnh Hưng Yên
Từ năm 1998, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, nay là Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu nông nghiệp quốc tế vì sự phát triển và các thành viên khác như Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, Viện Nghiên cứu vì sự phát triển trong việc thực hiện dự án cho các hệ thống nông nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam, dự án này đặc biệt chú trọng vào công tác nghiên cứu, phát triển và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật trên đất dốc bền vững như biện pháp gieo ủ hạt trực tiếp trên mặt đất, bảo vệ lớp bề mặt đất, ruộng bậc thang có che phủ, biện pháp thâm canh, luân canh,
Các hoạt động chủ yếu tập trung vào nghiên cứu và đưa ra các mô hình nông lâm kết hợp gồm các loại cây ngắn ngày, cây lưu niên (cây ăn quả, cây lâm nghiệp) và cỏ chăn nuôi nhằm phục vụ cho sự phát triển ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và chăn nuôi gia súc Một số giống cỏ như cỏ voi đã được công nhận đưa vào hệ thống nông lâm nghiệp nhằm phát triển ngành chăn nuôi đồng thời tránh được sự khai thác chồng chéo giữa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp
Đinh Duy Khánh và Đoàn Công Quỳ (2006) đã xây dựng mô hình bài toán tối ưu đa mục tiêu để xác định phương án tổ chức sản xuất trên đất canh tác cho huyện Gia Viễn tỉnh Ninh Bình Kết quả nghiên cứu cho thấy hiện trạng sản xuất ngành trồng trọt của huyện Gia Viễn tương đối đa dạng
Đoàn Công Quỳ (2006) đã sử dụng hệ thống chỉ tiêu như giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất/lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế
sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây Trần Đình Thao (2006) đã tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất ngô
hè thu tại Sơn La Nghiên cứu kết luận trình độ giáo dục của chủ hộ, số lần tham gia tập huấn của chủ hộ về kỹ thuật canh tác ngô, cơ hội tiếp cận các dịch vụ khuyến nông, các biện pháp chống xói mòn đất và chất lượng ngô giống có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kỹ thuật của hộ nông dân trồng ngô
Trang 40Nguyễn Văn Hoàn (2007) đã sử dụng các chỉ tiêu như tổng giá trị sản phẩm, thu nhập thuần để đánh giá hiệu quả sử dụng đất và hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai của vùng núi tỉnh Bắc Giang
Marsh et al (2007) trong một nghiên cứu về vấn đề phát triển nông
nghiệp và chính sách đất đai ở Việt Nam trong khuôn khổ dự án ACIAR được tiến hành tại Hà Tây và Yên Bái đã chỉ rõ: Các hộ nông dân đã đa dạng hóa trong việc sử dụng đất nông nghiệp (trong 200 hộ thuộc tỉnh Hà Tây và Yên Bái có đến
63 LUT khác nhau) Lợi ích kinh tế từ việc sử dụng linh hoạt đất đai cũng có thay đổi đáng kể và lợi ích từ trồng cây lâu năm cao hơn cây hàng năm Đối với cây hàng năm, việc luân canh giữa lúa và rau (cây thực phẩm) sẽ đem lại thu nhập cao hơn là luân canh giữa lúa với các loại cây khác như ngô, sắn Thu nhập
từ việc trồng hoa hay các loại cây cảnh cũng cao hơn
Trương Văn Tuấn (2007) sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) và các phương pháp xác định lượng đất bị xói mòn, rửa trôi để đánh giá hiệu quả của một số biện pháp canh tác trên đất dốc của các cộng đồng trên địa bàn huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy trong thực tế các cộng đồng đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ đất dốc nhưng hiệu quả của các biện pháp này như thế nào thì chưa có nghiên cứu nào xác định cụ thể Do đó tác giả tiến hành nghiên cứu đánh giá các biện pháp canh tác trên đất dốc đang được sử dụng, từ đó đề xuất các giải pháp giúp bảo vệ, phục hồi đất dốc nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp trên đất dốc tại địa bàn Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đã xác định được biện pháp canh tác xen canh cho hiệu quả cao nhất (cả hiệu quả kinh tế và hiệu quả môi trường) Kết quả bố trí thí nghiệm cho thấy LUT điều xen sắn có hiệu quả cao hơn các LUT khác trong hạn chế xói mòn rửa trôi Quá trình nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc đánh giá các biện pháp canh tác trên địa bàn, vì vậy cần có những nghiên cứu về các biện pháp canh tác mới có hiệu quả hơn nhằm phát triển một nền sản xuất nông nghiệp bền vững
Nguyễn Văn Toàn và Nguyễn Ngọc Châu (2008) sử dụng một số chỉ tiêu như diện tích, năng suất cây trồng, hệ số sử dụng ruộng đất để đánh giá hiệu quả
sử dụng đất nông nghiệp tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2005 – 2007
Phạm Văn Dư (2009) đã nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng