TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Khánh Tân Tên Luận văn: “Đánh giá hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” Ngành: Khoa h
Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Các hộ gia đình tái chế sắt tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích ô nhiễm KLN (Cd, Cu, Pb, Zn) trong đất sản xuất nông nghiệp tại làng nghề tái chế sắt phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Thời gian nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều tra, khảo sát, thu thập các tài liệu, số liệu Điều tra điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của phường Tình hình phát triển làng nghề của phường: Quy mô, sản lượng, cơ cấu ngành nghề, công nghệ sản xuất Sự phân bố của các cơ sở sản xuất, tình hình quản lý phế thải, rác thải của các cơ sở sản xuất Hiện trạng sử dụng đất của khu vực nghiên cứu và TCCP của các KLN trong đất nông nghiệp
3.3.2 Đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong đất nông nghiệp
Căn cứ vào QCVN 03 – MT: 2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng trong đất và số liệu phân tích hàm lượng KLN trong đất để: Đánh giá mức độ ô nhiễm KLN trong đất nông nghiệp của phường Châu Khê
3.3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế hàm lượng KLN trong đất nông nghiệp phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp chính sẽ được sử dụng để thực hiện đề tài đó là:
Lấy mẫu đất theo phương pháp hỗn hợp Trên phạm vi đại diện của mẫu nghiên cứu lấy đất ở 5-7 vị trí khác nhau trên tầng đất mặt, sau đó trộn đều thành một mẫu hỗn hợp Mẫu được lấy bằng dao inox sạch, mẫu được bảo quản bằng túi nilon màu đen bọc bên ngoài là túi nilon màu trắng Lấy 12 mẫu đất sản xuất nông nghiệp ở làng nghề tái chế sắt tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Mẫu đất được phơi khô rồi đem đi phân tích Mẫu được lấy để xác định các chỉ tiêu kim loại nặng quy định tại mục 2 Quy chuẩn 03-MT:2015/BTNMT theo TCVN 4046 : 1985 - Đất trồng trọt - Phương pháp lấy mẫu và TCVN 5297: 1995
- Chất lượng đất - Lấy mẫu Vị trí lấy mẫu được kế thừa và lấy đúng 12 mẫu từ nghiên cứu của năm 2010 Cao Trường Sơn, Nguyễn Xuân Hòa, Hồ Thị Lam Trà và Trần Thị Lệ Hà (2011) Hiện trạng sử dụng đất trong 5 năm không có biến động nào các mẫu đất được lấy trên nền đất sản xuất nông nghiệp thể hiện thông qua sơ đồ vị trí lấy mẫu
3.4.2 Phương pháp phân tích tính chất đất
- Thành phần cơ giới : phương pháp ống hút Robinson;
- pH : đo bằng máy đo pH, tỷ lệ đất : nước = 1:5;
- Hàm lượng hữu cơ trong đất (OM %) : phương pháp Walkley – Black;
- Xác định cation trao đổi và dung tích cation trao đổi (CEC)
Sử dụng công thức tính CEC = S + H, trong đó S là tổng cation bazơ trao đổi (Ca 2+ , Mg 2+ , Na 2+ , K + ): tiến hành chiết bằng dung dịch CH4CH3COO1M ở pH = 7 Đo Ca 2+ , Mg 2+ , bằng máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Atomic Absorption Spetro – Photometer ANA 182, đo Na + , K + , bằng máy đo quang kế ngọn lửa Flame Photometer ANA 135 Phân tích độ chua thủy ngân (H) bằng phương pháp Kappen
3.4.3 Phương pháp phân tích hàm lượng KLN trong đất
Công phá 12 mẫu đất nông nghiệp bằng dung dịch cường thủy, xác định hàm lượng trong mẫu triết bằng máy quang phổ hấp phụ nguyên tử
Thủ tục phân tích: cân 1g đất cho vào cốc teflon, sử dụng H2O2 7% để loại hữu cơ Sau đó thêm 9ml HCl đặc và 3ml HNO3 đặc Ngâm trong khoảng 16 giờ, sau đó đun hồi lưu đến khi trắng mẫu Lên thể tích đến 50ml bằng nước cất loại ion, lọc dịch rồi đo bằng máy quang phổ hấp phụ nguyên tử (AAS) ANA 182 Cu đo ở bước sóng 324,8nm; Zn đo ở bước sóng 213,9 nm; Pb đo ở bước sóng 217,0 nm; Cd đo ở bước sóng 228,8nm
Hàm lượng Cd, Cu, Pb, Zn tổng số được công phá bằng axit HCl và axit HNO 3 đặc theo tỷ lệ 3:1 Các kim loại nặng (Cd, Cu, Pb, Zn) di động được chiết rút bằng axit HCl nồng độ 0,1N theo tỷ lệ axit : đất là 10:1 Các nguyên tố Cd, Cu, Pb,
Zn, được đo trên máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS Cu đo ở bước sóng 324,8nm; Zn đo ở bước sóng 213,9 nm; Pb đo ở bước sóng 217,0 nm; Cd đo ở bước sóng 228,8nm Các mẫu đất được công phá hoặc chiết rút 2 lần lặp lại, có trị số đo giữa hai lần sai khác không quá 5%
Các chỉ tiêu kim loại nặng được xác định theo các phương pháp sau : TCVN 6649:2000 (ISO 11466:1995) Chất lượng đất - Chiết các nguyên tố vết tan trong cường thuỷ TCVN 6496:1999 (ISO 1 1047:1995) Chất lượng đất - Xác định Cadimi, Crom, Coban, Đồng, Chì, Kẽm, Mangan, Niken trong dịch chiết đất bằng cường thuỷ - Phương pháp phổ hấp thụ ngọn lửa và không ngọn lửa
3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
3.4.4.1 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
Các số liệu phân tích của đề tài được thống kê xử lý mô tả và phân tích tương quan trên phần mềm Excel 2007 Trong Excel vào mục Data anaysis, chọn chức năng corelation từ đó sẽ tính được tương quan giữa KLN tổng số và di động
3.4.4.2 Phương pháp so sánh với Quy chuẩn môi trường
So sánh với hàm lượng Cd, Cu, Pb, Zn tổng số của đất với giới hạn quy định trong QCVN 03 – MT:2015/BTNMT, từ đó đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong đất
3.4.5 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: các số liệu được Trung tâm quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh điều tra, khảo sát vào tháng 3/2016 tại phường Châu Khê cung cấp ( Đề án, đánh giá chất lượng môi trường làng nghề tỉnh Bắc Ninh, 2016) Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn
(2015) Kết quả kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm
2015 thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Bảng 3.1 Tọa độ của các vị trí lấy mẫu đất nông nghiệp tại phường Châu Khê Tên điểm lấy mẫu
Mô tả xung quanh điểm lấy mẫu
E N Điểm 1 BN1 00596388 02335873 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa cách khu dân cư 100m và cách sông 20m Điẻm 2 BN2 00596356 02335914 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa cách khu dân cư 130m và cách sông 50m Điểm 3 BN3 00596283 02335999 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 220m Điểm 4 BN4 00596245 02335998 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 200m Điểm 5 BN5 00596259 02335986 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 170m Điểm 6 BN6 00596126 02336183 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 400m Điểm 7 BN7 00596157 02336146 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 420m Điểm 8 BN8 00596207 02336070 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 380m Điểm 9 BN9 00596113 02336207 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Cách khu dân cư 400m Điểm 10 BN10 00596403 02335858 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa cách khu dân cư 100m và cách sông 20m Điểm 11 BN11 00596374 02335896 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Cạnh mương thoát nước
Cách khu dân cư 100m Điểm 12 BN12 00596286 02335965 Điểm lấy mẫu nằm giữa cánh đồng lúa Sát mương cấp nước tưới tiêu
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hiện trạng sử dụng đất phường Châu Khê
Phường Châu Khê nằm ở phía Tây của thị xã Từ Sơn, cách trung tâm thị xã 3km và giáp thủ đô Hà Nội Phường Châu Khê có diện tích tự nhiên 495,86ha nằm tiếp giáp với các đơn vị hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp xã Phù Khê;
- Phía Nam giáp xã Đình Bảng và huyện Đông Anh – Hà Nội;
- Phía Đông giáp xã Đình Bảng và phường Trang Hạ;
- Phía Tây giáp huyện Đông Anh – Hà Nội;
Châu Khê có nhiều lợi thế cho sự phát triển toàn diện kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển công nghiệp, thương mại dịch vụ
Châu Khê là phường đồng bằng có địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Châu Khê thuộc vùng đồng bằng Sông Hồng, có địa hình tương đối bằng phẳng và độ cao dao động từ 4,5m – 6,5m so với mực nước biển Địa mạo mang những nét đặc trưng của cấu trúc địa chất thuộc vùng trũng Sông Hồng, bề mặt trầm tích đệ tứ chịu ảnh hưởng rõ rệt của cấu trúc mỏng; cấu tạo địa tầng chủ yếu là đất sét pha, cường độ chịu lực khá, đáp ứng được yêu cầu và hoạt động về xây dựng công trình
Châu Khê nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều và chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
- Mùa mưa: lượng mưa lớn tập trung vào tháng 7,8,9 và đăc biệt có những trận mưa rào cường độ lớn kèm theo gió, báo gây ngập úng cục bộ
- Mùa khô: lượng mưa ít tập trung vào tháng 1,2 và thường có mưa phùn cộng với giá rét kéo dài do có ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc
+ Gió, bão: hướng gió chủ đạo là gió Đông và Đông Bắc, mùa hè có gió Nam và Đông Nam, tốc độ gió mạnh nhất vào khoảng 34m/s Bão thường xuất hiện vào tháng 7,8,9 kèm theo mưa to gió lớn
+ Độ ẩm không khí, nhiệt độ không khí: độ ẩm không khí trung bình năm khoảng 84%, độ ẩm trung bình tháng cao nhất trong năm là 88% và độ ẩm trung bình tháng thấp nhất là 79% Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23,3 0 C trong đó nhiệt độ cao tối đa là 39,5 0 C và nhiệt độ tối thiểu tuyệt đối là 4,8 0 C
Nhìn chung, điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động xây dựng công trình kết cấu hạ tầng
Phường Châu Khê thị xã Từ Sơn thuộc hệ thống thủy văn sông Ngũ Huyện Khê, có sông Tháp cũng với nhiều ao, hồ nhỏ phân bố rải rác khắp địa bàn, là nơi chứa lượng nước mặt và thoát nước cho khu vực
4.1.1.5 Tài nguyên đất Đất đai phường Châu Khê được hình thành chủ yếu bởi quá trình bồi tụ các sản phẩm phù sa của hệ thống sông Hồng, đất đai có đại hình bằng phẳng, gồm 3 loại đất chính như sau:
- Đất phù sa glây của hệ thống Sông Hồng (P h g)
Diện tích khoảng 40 ha chiếm 8,0% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung về phía Tây Bắc của phường Là sản phẩm phù sa và chủ yếu ở địa hình vàn, vàn thấp Hình thái phẫu diện đất bị phân hóa có màu xám xanh biểu hiện của quá trình glây Thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng nên khả năng giữ nước, giữ phân khá Đây là loại đất có độ phì khá, thích hợp với trồng 2 vụ lúa, các chân ruộng địa hình vàn có thể trồng 2 vụ lúa – 1 vụ màu
- Đất phù sa có tầng loang lổ của hệ thống Sông Hồng ( P h f)
Diện tích khoảng 80 ha chiếm 16,1% diện tích tự nhiên, phân bố ở khu vực phía Bắc và phía Nam Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nhẹ; hàm lượng mùn ở tầng mặt khá, các tầng kế tiếp giảm; đạm tổng số ở tầng mặt và tầng kế tiếp đạt trị số trung bình đến khá; lân dễ tiêu rất nghèo, tầng mặt tuy có khá hơn nhưng cũng không vượt quá ngưỡng nghèo lân Loại đất này thuận lợi cho thâm canh tăng vụ, thích hợp các loại rau, hoa cây cảnh
- Đất phù sa sông Hồng không được bồi hàng năm ( P h )
Diện tích có khoảng 143 ha chiếm 28,85% diện tích tự nhiên, phân bố đều ở các khu vực trên địa bàn Đất có phản ứng ít chua, hàm lượng mùn trung bình; đạm tổng số ở tầng mặt trung bình; lân tổng số ở tầng mặt nghèo Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, tình hình kinh tế – xã hội của phường Châu Khê có nhiều chuyển biến tích cực, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhanh và đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện Phát triển kinh tế theo xu hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp Các vấn đề xã hội được chú trọng quan tâm, tạo cơ hội và giải quyết việc làm cho nhiều lao động dư thừa, bộ mặt nông thôn đổi mới và được khởi sắc
4.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
Ngành nông nghiệp tuy gặp nhiều khó khăn do quá trình đô thị hóa, nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn ổn định, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt vẫn đạt bình quân từ 40 – 45 triệu đồng/ha; tổng số sản lượng lương thực đạt trên 15.202 tấn; chăn nuôi phát triển theo hướng nuôi công nghiệp, bước đầu áp dụng và phát triển mô hình VAC đạt hiệu quả
* Công nghiệp xây dựng – tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ
- Công nghiệp xây dựng – tiểu thủ công nghiệp: trong những năm qua, sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường phát triển khá nhanh; đã hình thành cụm công nghiệp sản xuất thép với quy mô lớn và các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ, thương mại Hiện nay, có trên 1.767 hộ sản xuất kinh doanh đúc, cán, mạ, hàn bấm, đinh đã giải quyết việc làm hàng ngày cho khoảng 5-7 nghìn lao động trong phường cũng như ngoài địa phương Bên cạnh đó, đã có nhiều hộ gia đình mạnh dạn mở rộng đầu tư sản xuất sắt thép ở các vùng, miền trong nước và sang cả nước bạn Lào
- Đầu tư xây dựng cơ bản kết cấu hạ tầng đang từng bước hoàn thiện, nhiều công trình đã được đầu tư xây dựng kịp thời, phục vụ yêu cầu sản xuất và nhu cầu đời sống cho nhân dân: Xây dựng trụ sở UBND, trường THCS Châu Khê II, nâng cấp cải tạo trạm y tế Ngoài ra xã đã hỗ trợ các đơn vị xây dựng nhà mẫu giáo, đường làng, đường nội đồng, kênh mương với tổng kinh phí hỗ trợ trên 1 tỷ đồng
- Thương mại, dịch vụ diễn ra sôi động, là nguồn thu quan trọng của nhân dân, hiện nay trên địa bàn có trên 350 hộ tham gia các hoạt động dịch vụ, bao gồm dịch vụ vận tải, kinh doanh sắt thép và các mặt hàng lương thực, thực phẩm Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ trên địa bàn đều tăng và ổn định, hàng hóa đa dạng về các loại đáp ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng tại chỗ cho người dân
Một số tác động chính đến môi trường đất nông nghiệp tại phường Châu Khê
Ô nhiễm đất chủ yếu do hoạt động phát triển công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, dịch vụ , do chất thải, nước thải chưa được xử lý và phân bón hóa học, hóa chất bảo vệ thực vật chưa được quản lý, kiểm soát, xả thải vào môi trường đất
Trong quá trình điều tra hiện trạng sử dụng đất của phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (Nguồn Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã Từ Sơn (2015)) Nhóm đất sản xuất nông nghiệp của phường bao gồm 4 loại đó là đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây hàng năm khác và đất trồng cây lâu năm đặc điểm của các nhóm đất này chuyên dùng để canh tác và sản xuất nông nghiệp Sự tích lũy kim loại nặng trong đất đến từ nhiều yếu tố bao gồm cả yếu tố tự nhiên lẫn nhân tạo Trong đó nguyên nhân chủ yếu là do tác động của con người Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu các tác động chính đến môi trường đất của phường Châu Khê
4.2.1 Tình hình hoạt động và sản xuất tái chế sắt của phường Châu Khê
Quy trình chế biến thép tại các cơ sở sản xuất đi theo một số bước chung từ đúc thép đến cán thép, kéo thép và tùy theo từng hộ chuyên sản suất phôi thép hay cán thép, kéo thép tạo sản phẩm phôi hay sản phẩm khác
- Quy trình sản xuất phôi thép:
Nguyên liệu được thu mua từ những người, hộ gia đình thu mua phế liệu và được phân loại thành các loại phế liệu khác nhau và được đổ vào khu vực kho chứa nguyên liệu Sau đó nguyên liệu được đưa vào lò nấu bằng điện ở nhiệt độ khoảng 1200-1500 0 C Sau khoảng 1,5h cho hóa chất là Mn, Si, Al để tạo những đặc trưng kỹ thuật cho phôi Sau khi thép đạt được đặc trưng kỹ thuật thì được công nhân múc đổ vào khuôn dài khoảng 1-1,2m, dày 5-10cm, rộng 8-10cm)
- Quy trình sản xuất thép U, V:
Nguyên liệu chính là phôi thép thu mua từ các cơ sở đúc của Châu Khê và CCN sản xuất thép Châu Khê, được cho vào lò nung ở 800÷1000 o C để tạo độ dẻo cho thép Tiếp theo, phôi thép được đi qua máy cán (5-7 quả lô) để tạo ra các sản phẩm thép U, V theo yêu cầu kỹ thuật phục vụ cho làm cơ khí, giằng cột điện, mái nhà…
Quy trình sản xuất các loại sản phẩm thép được mô tả như sơ đồ sau:
Sơ đồ 4.1 Quy trình công nghệ sản xuất các loại sản phẩm thép
Nguồn : Trung tâm quan trắc tài nguyên và môi trường Bắc Ninh (2015)
Máy làm đinh Rút dây
Lò nấu Al, Mn, Si
Máy cán 5-7 quả lô Máy cán 3 quả lô
Các khí thải, bức xạ nhiệt, tiếng ồn,CTR
Các khí thải, bức xạ nhiệt, nước làm mát, CTR, xỉ than
Tiếng ồn, bức xạ nhiệt, nước làm mát
Khí thải, bức xạ nhiệt
Nước thải, hơi a xít Tạp chất bẩn
- Quy trình sản xuất sắt cây tròn:
Nguyên liệu chính là phôi thép thu mua từ các cơ sở đúc của Châu Khê và CCN sản xuất thép Châu Khê, được cho vào lò nung ở 800÷1000 o C để tạo độ dẻo cho thép Tiếp theo, phôi thép được đi qua máy cán (3 quả lô) để tạo ra các sản phẩm sắt cây tròn, sắt 6, sắt 8 theo yêu cầu kỹ thuật Sau đó, thép được đi qua bể axít để làm sạch, nhẵn sản phẩm rồi được rút bằng đường băng cho ra sản phẩm theo đúng yêu cầu kỹ thuật
- Quy trình sản xuất đinh, dây thép, dây thép gai:
Nguyên liệu chính là sắt 6 thu mua từ các cơ sở đúc của Châu Khê và CCN sản xuất thép Châu Khê, được cho vào lò nung ở 800÷1000 o C để tạo độ dẻo cho thép Tiếp theo, sắt 6 được đi qua máy kéo để tạo ra các dây thép với nhiều loại kích thước khác nhau Sau đó, dây thép được đi qua lò ủ Sau khi ủ, dây thép được đi qua bể mạ (sản xuất dây thép) Đối với sản xuất đinh thì chỉ qua công đoạn từ sắt 6 qua máy làm đinh và tạo ra sản phẩm là các loại đinh theo đúng yêu cầu kỹ thuật
* Tác động của quá trình hoạt động sản xuất của các hộ sản xuất sắt thép tại phường Châu Khê
- Do bụi và các khí thải độc hại
Theo kết quả Quan trắc do Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh thực hiện, nồng độ các chất ô nhiễm trong không khí tại một số cơ sở sản xuất trong Cụm công nghiệp sản xuất thép Châu Khê (có cùng loại hình sản xuất của sơ đồ 4.1 nêu trên) như sau:
Bảng 4.2 Kết quả quan trắc không khí CCN Châu Khê
TT Thông số Đơn vị TC 3733-2002
Ghi chú: (-) không quy định
KK1: Vị trí lấy mẫu tại cơ sở sản xuất Phạm thị Mai (2 lò); KK2: Vị trí lấy mẫu tại cơ sở sản xuất Anh Sơn (1 lò); KK3: Vị trí lấy mẫu tại cơ sở sản xuất Quang Thơm (3 lò)
Nhận xét: Kết quả thử nghiệm mẫu không khí tại các vị trí lấy mẫu cho thấy nồng độ SO2 cao hơn TCCP 2,1-16,8 lần; NO2 cao hơn TCCP 1,1-1,5 lần; hàm lượng bụi cao; các chỉ tiêu đo tại hiện trường như: nhiệt độ cao hơn TCCP 3,6 o C; độ ồn có thời điểm cao hơn TCCP 4,1dBA Các chỉ tiêu phân tích khác có giá trị nằm trong giới hạn cho phép TC 3733-2002 BYT-QĐ
Từ kết quả trên cho thấy, đối với những CCN làng nghề sản xuất thép nếu các cơ sở sản xuất không có biện pháp xử lý khí thải tại nguồn thì sẽ gây tác động đến môi trường không khí xung quanh ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân trong khu vực Những bệnh thường liên quan đến bụi và các khí thải độc hại là các bệnh về da, phổi hen phế quản và ung thư vòm mũi
- Ảnh hưởng do tiếng ồn
Từ việc điều tra tại một số xưởng đúc thép, cán thép, kéo thép tại CCN Châu Khê cho thấy tiếng ồn tại các khu sản xuất phát sinh chủ yếu từ lò nung, nấu, máy cán, máy kéo và các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ nguyên vật liệu với cường độ tiếng ồn rất lớn, có thể lên tới 110 dBA Những người công nhân trực tiếp làm bên các tại các xưởng sản xuất là người chịu ảnh hưởng rất lớn nếu không có biện pháp bảo vệ thích hợp
- Ảnh hưởng do chất thải rắn, nước thải sản xuất, sinh hoạt
Chất thải rắn phát sinh trong quá trình sản xuất tái chế sắt thép của phường Châu Khê chủ yếu là xỉ than, xỉ kim loại lượng phát thải
Nước thải sản xuất chủ yếu của CCN Châu Khê là nước thải phát sinh từ quá trình làm mát Nước thải cũng từ đây đổ ra mương và mang theo những hóa chất độc hại như dung môi kiềm, axit, sơn công nghiệp, chất dầu, mỡ
Bên cạnh đó việc việc phát thải từ quá trình sinh hoạt đời thường của người dân Châu Khê cũng là một yếu tố gây ô nhiễm môi trường đất Nước thải từ quá trình sinh hoạt được xả thẳng vào môi trường qua các rãnh nước và đổ thải trực tiếp ra các ao, hồ và đặc biệt là kênh mương tiêu thoát nước của phường đổ thẳng ra ngoài cánh đồng gây ra ô nhiễm và làm giảm năng suất cây trồng Mặt khác các chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, túi nilong, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả … ko được thu gom triệt để gây ứ đọng làm mất cảnh quan thẩm mĩ và gây ra mùi khó chịu Lượng rác ứ đọng tích tụ ngày một nhiều do không có chỗ đổ và không có nơi xử lý nên rác thải được người dân nơi đây đổ trực tiếp xuống những thửa ruộng ngay sát các lò xưởng tái chế dần dần tích tụ thành những đống rác khổng lồ gây ra mùi khó chịu và gây ô nhiễm môi trường
4.2.2 Hoạt động sản xuất nông nghiệp của phường Châu Khê
Bên cạnh các tác động của việc tái chế sắt thép của phường Châu Khê gây ảnh hưởng đến chất lượng đất nông nghiệp thì hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng là nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiêm đất Nguyên nhân là do phân bón hóa học được sử dụng phổ biến trong quá trình sản xuất nông nghiệp do ưu thế về chi phí và hiệu quả nhanh đối với cây trồng Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu cây trồng chỉ hấp thụ được trung bình khoảng 40 - 50% lượng phân bón (hấp thụ phân đạm khoảng 30 – 45%, phân lân 40 – 45 %, phân kali 50 – 60%) Lượng phân bón còn lại được thải xa ngoài môi trường ngấm dần và tích tụ dưới đất Theo số liệu của Trạm khuyến nông thị xã Từ Sơn (2015) lượng phân bón của phường Châu khê tương đối cao được thể hiện qua bảng 4.3
Bảng 4.3 Lượng phân bón và thuốc BVTV tính cho 1 ha ở phường Châu Khê Đơn vị: Kg/ha
(ha) NPK (kg) Đạm Urê Kali đỏ Vôi bột Thuốc
Nguồn: Trạm khuyến nông thị xã Từ Sơn (2015)
Đánh giá tính chất đất nông nghiệp tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
4.3.1 Một số tính chất hóa học đất nông nghiệp
Bảng 4.5 Một số tính chất hóa học của đất nông nghiệp ở Châu Khê – Từ Sơn – Bắc Ninh Mẫu đất pH
Cation trao đổi (lđl/100g đất)
Số liệu phân tích được ghi nhận trong bảng 4.5 cho thấy:
- Về chỉ tiêu pH đất
Trong số 12 mẫu đất nghiên cứu, chỉ số pH (H 2 O) dao động từ 4,65 (mẫu
5) đến 6,87 (mẫu 6), cho thấy đất của khu vực nghiên cứu là đất chua (đánh giá theo Agriculture Compedium, 1989)
- Về chất hữu cơ trong đất
Số liệu ở bảng trên cho thấy OM dao động từ 2,16 đến 6,14% Như vậy hàm lượng chất hữu cơ của đất nông nghiệp của làng nghề tại phường Châu Khê là rất ít (11 mẫu), chỉ có 1 mẫu có hàm lượng chất hữu cơ cao
- Về cation trao đổi và dung tích trao đổi (CEC)
Dung tích hấp thụ cation (CEC) của 12 mẫu đất nghiên cứu dao động trong khoảng 7,83 đến 13,01 lđl/100g đất, đánh giá theo Agriculture Compedium
(1989) thì CEC của đất nghiên cứu ở mức thấp đến trung bình Có 10 mẫu ở mức thấp (CEC khoảng 6-12 lđl/100g đất) và có 2 mẫu ở mức trung bình (CEC trong khoảng 13-25 lđl/100g đất)
Các cation trao đổi được trình bày ở bảng: Ca ++ dao động trong khoảng 2,48 đến 14,58 lđl/100g đất; Mg ++ trong khoảng 0,74 đến 1,81 lđl/100g đất; K ++ trong khoảng 0,21 đến 3,33 lđl/100g đất; Na ++ trong khoảng 0,19 đến 0,83 lđl/100g đất Đánh giá theo Agriculture Compedium (1989) thì đất ở khu vực này có hàm lượng Ca ++ rất cao (mẫu 6 = 14,58 lđl/100g đất); Mg ++ cũng khá là cao tất cả các mẫu đều(> 0,5 lđl/100g đất); K ++ chủ yếu từ thấp đến trung bình, có 1 mẫu cao (mẫu 6 = 3.33 lđl/100g đất); Na ++ chủ yếu là từ thấp đến trung bình
4.3.2 Thành phần cơ giới đất
Số liệu thành phần cơ giới đất nông nghiệp phường Châu Khê được trình bày trong bảng sau:
Bảng 4.6 Thành phần cơ giới đất nông nghiệp phường Châu Khê Mẫu đất
3 49,86 32,04 20,60 Đất thịt pha sét và cát
Số liệu phân tích ở bảng 4.6 cho thấy: tỷ lệ cấp hạt sét trong các mẫu dao động từ 5,92 đến 25,34%; tỷ lệ cấp hạt limon dao động từ 16,54 đến 37,64% Theo bảng phân loại của USDA và FAO – UNESCO thì đất thuộc 4 loại là : đất thịt, đất thịt pha sét và cát, đất pha cát, đất thị pha cát.
Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng (Cd, Cu, Pb, Zn) trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Pb, Zn) TRONG ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI PHƯỜNG CHÂU KHÊ, THỊ
XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
4.4.1 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng (Cd, Cu, Pb, Zn) tổng số trong đất
Kết quả phân tích hàm lượng KLN (Cd, Cu, Pb, Zn) tổng số trong đất được trình bày trong bảng sau:
Bảng 4.7 Hàm lượng Cd, Cu, Pb, Zn dạng tổng số trong đất nông nghiệp ở phường Châu Khê – Từ Sơn – Bắc Ninh Đơn vị :mg/kg đất khô
Mẫu đất Cd ts Cu ts Pb ts Zn ts
Số liệu ở bảng 4.7 cho thấy:
+ Về hàm lượng Cd tổng số trong đất
Kết quả phân tích 12 mẫu đất tại phường Châu Khê cho thấy hàm lượng
Cd tổng số biến động từ 0,30 đến 0,63 mg/kg đất; trung bình là 0,46 mg/kg đất
Cả 12 mẫu đều nằm dưới giới hạn cho phép (GHCP) về hàm lượng Cd trong đất nông nghiệp được quy định trong QCVN 03-MT:2015/BTNMT(Biểu đồ 4.1)
Hàm lượng kim loại nặng tổng số trong đất nông nghiệp phường Châu Khê –
Cd tổng số QCVN 03-MT:2015
Cu tổng số QCVN 03-MT:2015
Biểu đồ 4.1 Hàm lượng Cd tổng số trong đất nông nghiệp
Biểu đồ 4.2 Hàm lượng Cu tổng số trong đất nông nghiệp
Pb tổng số QCVN 03-MT:2015
Zn tổng số QCVN 03-MT:2015
Biểu đồ 4.3 Hàm lượng Pb tổng số trong đất nông nghiệp
Biểu đồ 4.4 Hàm lượng Zn tổng số trong đất nông nghiệp
+ Về hàm lượng Cu tổng số trong đất
Hàm lượng Cu tổng số trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê dao động từ 29,06 đến 72,95 mg/kg đất; trung bình là 41,70 mg/kg Cả 12 mẫu đều nằm dưới giới hạn cho phép (GHCP) về hàm lượng Cd trong đất nông nghiệp được quy định trong QCVN 03-MT:2015/BTNMT(Biểu đồ 4.2)
+ Về hàm lượng Pb tổng số trong đất
Hàm lượng Pb tổng số trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê dao mẫu mg/kg đất mg/kg đất mg/kg đất mẫu mẫu mẫu động từ 26,78 đến 46,48 mg/kg đất; trung bình là 34,70 mg/kg Cả 12 mẫu đều nằm dưới giới hạn cho phép (GHCP) về hàm lượng Cd trong đất nông nghiệp được quy định trong QCVN 03-MT:2015/BTNMT(Biểu đồ 4.3)
+ Về hàm lượng Zn tổng số trong đất
Hàm lượng Zn tổng số trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê dao động trong khoảng khá lớn, từ 112,93 đến 690,50 mg/kg đất; trung bình là 320,19 mg/kg Trong 12 mẫu đất, có 6 mẫu hàm lượng Zn vượt GHCP trong QCVN 03-MT:2015/BTNMT là mẫu 2 (690,50 mg/kg đất), mẫu 3 595,88 mg/kg đất), mẫu 4 (503,00 mg/kg đất), mẫu 5 (297,50 mg/kg đất), mẫu 10 (391,13 mg/kg đất), mẫu 11 (458,88 mg/kg đất), còn lại 6 mẫu đều nằm dưới ngưỡng GHCP (Biểu đồ 4.4)
4.4.2 Kết quả phân tích hàm lượng kim loại nặng (Cd, Cu, Pb, Zn) di động trong đất
Kết quả phân tích hàm lượng KLN (Cd, Cu, Pb, Zn) di động trong đất được trình bày trong bảng sau:
Bảng 4.8 Hàm lượng Cd, Cu, Pb, Zn dạng di động trong đất nông nghiệp ở phường Châu Khê – Từ Sơn – Bắc Ninh Đơn vị :mg/kg đất khô
Mẫu đất Cddđ Cudđ Pbdđ Zndđ
Số liệu phân tích ở bảng 4.8 cho thấy:
- Hàm lượng Cd di động trong đất
Số liệu bảng 4.6 cho thấy hàm lượng Cd di động trong khoảng 0,042 đến 0,088 mg/kg đất, giá trị trung bình của Cd di động là 0,061 mg/kg đất Trong đó, mẫu 1,4 và mẫu 9 có hàm lượng Cd cao nhất; mẫu 11 có hàm lượng Cd thấp nhất
So sánh hàm lượng Cd di động và tổng số, kết quả cho thấy tỉ lệ này biến động trong khoảng từ 26,92 đến 42,31%, trung bình là 33,29% Có 7/12 mẫu đất có tỷ lệ hàm lượng Cd di động/ Cd tổng số trên 30% (biểu đồ 4.5)
- Hàm lượng Cu di động trong đất
Hàm lượng Cu di động trong các mẫu đất nghiên cứu dao động từ 8,01 đến 17,87 mg/kg đất; giá trị trung bình của Cu di động là 14,55 mg/kg đất Trong đó, mẫu số 11 có hàm lượng Cu thấp nhất; mẫu số 7 có hàm lượng Cu cao nhất
So sánh hàm lượng Cu di động và tổng số, kết quả cho thấy tỷ lệ này biến động trong khoảng 30,20 đến 41,91%, trung bình là 38, 19 % Có 4 mẫu đất có tỷ lệ hàm lượng Cu di động/ Cu tổng số trên 40% (biểu đồ 4.6)
- Hàm lượng Pb di động trong đất
Qua bảng số liệu ở trên cho thấy hàm lượng Pb di động trong các mẫu đất nghiên cứu dao động từ 5,87 đến 14,89 mg/kg đất; giá trị trung bình của Pb di động là 9,32 mg/kg đất Trong đó, mẫu số 10 có hàm lượng Pb di động cao nhất; mẫu số 1 có hàm lượng Pb di động thấp nhất
So sánh hàm lượng Pb di động và tổng số, kết quả cho thấy tỷ lệ này biến động trong khoảng từ 27,49 đến 43,75%, trung bình là 35,48% Có 9/12 mẫu có tỷ lệ hàm lượng Pb di động/ Pb tổng số trên 30% (biểu đồ 4.7)
- Hàm lượng Zn di động trong đất
Hàm lượng Zn di động trong các mẫu đất nghiên cứu dao động từ 35,84 đến 513,63 mg/kg đất; giá trị trung bình của Zn di động là 196,91 mg/kg đất Trong đó, mẫu 2 có hàm lượng Zn cao nhất, mẫu 7 có hàm lượng Zn thấp nhất
So sánh hàm lượng Zn di động và tổng số, kết quả cho thấy tỷ lệ này biến động trong khoảng từ 15,68 đến 48,85%, trung bình là 36,19% Có 10/12 mẫu có tỷ lệ hàm lượng Zn di động/Zn tổng số trên 30% (biểu đồ 4.8)
So sánh hàm lượng kim loại nặng tổng số và di động trong đất nông nghiệp phường Châu Khê – Từ Sơn – Bắc Ninh
Cd tổng số Cd di động
Cu tổng số Cu di động
Biểu đồ 4.5 So sánh hàm lượng Cd tổng số và di động
Biểu đồ 4.6 So sánh hàm lượng
Cu tổng số và di động
Pb tổng số Pb di động
Zn tổng số Zn di động
Biểu đồ 4.7 So sánh hàm lượng Pb tổng số và di động
Biểu đồ 4.8 So sánh hàm lượng
Zn tổng số và di động mẫu mg/kg đất mg/kg đất mg/kg đất mg/kg đất mẫu mẫu mẫu
4.4.3 Biến động hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
4.4.3.1 Biến động hàm lượng KLN dạng tổng số trong đất
Bảng 4.9 So sánh biến động hàm lượng KLN dạng tổng số trong đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của làng nghề ở phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Đơn vị :mg/kg đất khô
Mẫu đất Cd ts Cu ts Pb ts Zn ts
Nguồn : Kết quả phân tích của đề tài (2015); Cao Trường Sơn, Nguyễn Xuân Hòa (2010)
Số liệu ở bảng 4.9 cho thấy : Năm 2015, chúng tôi lấy mẫu phân tích kim loại nặng tại 12 vị trí ( theo sơ đồ lấy mẫu ), vị trí lấy mẫu được lấy đúng theo vị trí của chương trình nghiên cứu năm 2010, phương pháp phân tích như nhau và đều được phân tích tại phòng phân tích đất và môi trường của viện quy hoạch và thiết kế nông thôn Kết quả so sánh cho thấy sự khác biệt như sau:
- Về hàm lượng Cd tổng số
Trong 12 mẫu đất phân tích của năm 2015 chỉ có 03 mẫu có hàm lượng
Cd tổng số cao hơn kết quả phân tích của năm 2010 Hàm lượng Cd trung bình trong đất năm 2015 thấp hơn 0,75 lần so với năm 2010
- Về hàm lượng Cu tổng số
Hàm lượng Cu tổng số trong 12 mẫu đất cho kết quả phân tích năm 2015 cao hơn năm 2010 Có 7 mẫu tăng và 5 mẫu giảm so với năm 2010 Hàm lượng
Cu trung bình trong đất năm 2015 cao hơn 1,02 lần so với năm 2010
- Về hàm lượng Pb tổng số
Trong 12 mẫu đất phân tích của năm 2015 chỉ có duy nhất mẫu số 12 tăng nhẹ, còn lại 11 mẫu đều giảm so với năm 2010 Hàm lượng Pb tổng số trung bình trong đất năm 2015 giảm 1,03 làn so với năm 2010
- Về hàm lượng Zn tổng số
Hàm lượng Zn tổng số trong 12 mẫu đất nghiên cứu cho thấy có 8 mẫu cho hàm lượng Zn tổng số cao hơn và 4 mẫu giảm nhẹ so với năm 2010 Hàm lượng Zn trung bình trong đất năm 2015 cao hơn 1,63 lần so với năm 2010
4.4.3.2 Biến động hàm lượng KLN dạng di động trong đất
Tương quan giữa các hàm lượng kim loại nặng trong đất với nhau và với một số tính chất lý, hóa học của đất
Trong quá trình nghiên cứu đề tài có phân tích đến mối tương quan của các hàm lượng kim loại nặng trong đất với nhau nhằm mục đích tìm ra các nguyên nhân, các nguồn gây ô nhiễm tới môi trường đất Bên cạnh đó tìm ra sự liên kết mối quan hệ giữa các tính chất đất với hàm lượng kim loại nặng trong đất
4.5.1 Tương quan giữa các KLN trong đất với nhau
Bảng 4.11 Bảng biểu hệ số tương quan giữa các KLN trong đất với nhau
Cu Pb Zn Cd Cu dt Pb dt Zn dt Cd dt
Qua bảng số liệu trên cho ta thấy hệ số tương quan KLN cứ >0,5 % là có tương quan, + là tương quan dương, - là tương quan âm Để xem xét sự biến động của hàm lượng trung bình các KLN trong đất ở hai thời điểm 2010 và 2015 chúng tôi đã tiến hành phân tích t-test hai chiều ở mức ý nghĩa 95% Kết quả phân tích cho thấy đối với các KLN tổng số chỉ có duy nhất xu hướng giảm của Pb là có ý nghĩa thống kê (r = 0,00001) còn lại xu hướng giảm của Cd, xu hướng tăng của Zn và Pb theo thời gian đều không có ý nghĩa về mặt thống kê Ngược lại, đối với dạng dễ tiêu xu hướng tăng, giảm của tất cả các KLN đều có ý nghĩa về thống kê ở mức 95%, cụ thể Cu dt giảm (r 0,0284), Pb giảm (r = 0,00001), Zndt tăng (r = 0,0691) và Cddt tăng (r = 0,0003)
Xu hướng biến động hàm lượng các KLN dễ tiêu trong đất, đặc biệt là sự ra tăng của Zndt và Cddt rất quan trọng bởi đây là dạng mà cây trồng có thể hút và tích lũy trong cơ thể làm tăng nguy cơ ô nhiễm nông sản, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người
4.5.2 Tương quan giữa các KLN trong đất với một số tính chất lý, hóa học của đất
Quan hệ giữa hàm lượng một số tính chất lý, hóa học với các kim loại nặng (Cu, Pb, Zn, Cd) tổng số và di động trong đất của đất khu vực nghiên cứu được tính toán theo hệ số tương quan, kết quả được thể hiện ở bảng 4.12
Bảng 4.12 Hệ số tương quan giữa kim loại nặng trong đất với một số tính chất lý, hóa học pH(KCl) OM % Ca Mg K Na CEC
Số liệu ở bảng 4.12 cho thấy:
Hầu hết các KLN tổng số đều không có tương quan với các tính chất đất trừ
Znts Cụ thể Znts có tương quan yếu với hàm lượng Mg ++ (r = -0,41), Na + (r 0,45), CEC (r = -0,46) và có tương quan rõ với pH (r = -0,56) và Ca ++ (r = -0,53) Hầu hết tương quan này là tương quan âm chỉ có duy nhất mối tương quan với
Na + là tương quan dương Ngược lại, mối tương quan giữa tính chất đất với hàm lượng các KLN dễ tiêu trong đất lại khá rõ ràng, cụ thể Cudt có tương quan quan âm chặt với OM (r = -0,64) và tương quan dương yếu với Mg ++ (r = 0,49); Zn dt có tương quan âm chặt với cả pH (r = -0,56) và hàm lượng Ca ++ (r = -0,56); đồng thời có tương quan âm yếu với hàm lượng Mg ++ (r = -0,45), CEC (r = -0,49) và tương quan dương yếu Na + (r= 0,42); đối với Cd dt hàm lượng của chúng có tương quan dương khá chặt với pH ( r= 0,82), hàm lượng Ca ++ (r = 0,78), hàm lượng
Mg ++ (r = 0,52), hàm lượng K + (r = 0,56) và CEC (r =0,72) đất
Kết quả phân tích tương quan giữa hàm lượng KLN trong đất với các tính chất đất cho thấy có mối liên hệ khá mật thiết giữa các tính chất đất với dạng dễ tiêu của các KLN điều này gợi ý cho chúng ta biện pháp giảm thiểu tác động của việc tích lũy KLN trong đất thông qua việc cải tạo các tính chất đất Cụ thể là cải tạo các tính chất đất để KLN chuyển từ dạng dễ tiêu sang tổng số để hạn chế sự hấp thụ các KLN của cây trồng, từ đó giảm nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe của con người.
Thảo luận
Theo QCVN03 – MT: 2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về giới hạn cho phép của một số kim loại nặng trong đất thị ngưỡng tối đa cho phếp đối với hàm lượng tổng số của Cd là 1,5 mg/kg đất khô; Cu là 100mg/kg đất khô;
Pb là 70 mg.kg đất khô và Zn là 200 mg/kg đất khô dành cho đất nông nghiệp Đối chiếu các kết quả phân tích đất nông nghiệp tại phường Châu Khê với QCVN03- MT: 2015/BTNMT ta thấy các ngưỡng giá trị này với các kết quả phân tích trên cho thấy nồng độ trung bình của Cu, Pb và Cd vẫn nằm dưới ngưỡng quy định Tuy nhiên, nồng độ trung bình của Zn tại thời điểm năm 2015 tăng cao hơn hẳn so với năm 2010 và đã vượt quá ngưỡng cho phép Như vậy, đất nông nghiệp xung quanh làng nghề tái chế sắt Châu Khê đã bị ô nhiễm bởi kim loại Zn (Biểu đồ 4.9) Điều đáng lo ngại là cả hàm lượng Zn ts và Zn dt đều có xu hướng gia tăng theo thời gian
Qua phân tích các mối tương quan chúng ta có thể thấy giữa hàm lượng tổng số và di động của các kim loại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, hàm lượng tổng số tăng dẫn đến hàm lượng di động tăng theo và ngược lại Bên cạnh đó pH của đất cũng có ảnh hưởng khá mạnh đến hàm lượng Pb, Zn cả tổng số lẫn di động.
Đề xuất được một số biện pháp nhằm giảm thiểu kim loại nặng trong đất nông nghiệp của phường Châu Khê
Môi trường nói chung và môi trường đất nói riêng là một đối tượng nghiên cứu quan trọng của kinh tế môi trường và quản lý môi trường
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích chủ thể (con người, địa phương, quốc gia ) lên đối tượng (môi trường) nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người trong khoảng thời gian dự định Bản chất của quản lý môi trường là tạo được môi trường ổn định, luôn ở trạng thái cân bằng với các chỉ tiêu khách quan, khoa học, bảo đảm cuộc sống tốt đẹp, an toàn và đủ cho các thế hệ con người trên hành tinh chúng ta
Do đó, để vấn đề môi trường nói chung và môi trường đất nông nghiệp ở phường Châu Khê nói riêng ngày càng tốt,chúng tôi đề xuất một số biện pháp sau:
4.7.1 Biện pháp bảo vệ môi trường
Bảo vệ môi trường là công việc của toàn xã hội, nhưng ý thức của mỗi người trong vấn đề môi trường hoàn toàn khác nhau, vì vậy giáo dục môi trường được coi là vấn đề cốt lõi trong công tác bảo vệ môi trường Do đó, Đảng ủy, UBND phường Châu khê cần chỉ đạo, kết hợp với các cơ quan đoàn thể như Hội nông dân, Đoàn thanh niên, hội phụ nữ tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin về tác động của các chất ô nhiễm đến sức khỏe con người và đời sống cộng đồng, đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh cho mọi tầng lớp nhân dân trong phường, nhất là những gia đình làm nghề truyền thống Đẩy mạnh phong trào làng nghề bảo vệ môi trường như phong trào xanh – sạch – đẹp, vườn – ao – chuồng, tuần lễ nước sạch và vệ sinh môi trường
4.7.1.2 Biện pháp quy hoạch không gian gắn với BVMT
Quy hoạch các khu cụm công nghiệp ở các làng nghề để di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu vực dân cư, đồng thời tại các cụm, khu công nghiệp này cần phải xây dựng hệ thống xử lý khí thải, nước thải, thu gom chất thải rắn,…
Có 2 loại hình quy hoạch chính là quy hoạch tập trung theo cụm công nghiệp nhỏ và quy hoạch phân tán tại chỗ:
- Quy hoạch tập trung theo cụm công nghiệp nhỏ: xa khu dân cư, quy hoạch đồng bộ mặt bằng sản xuất, cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống điện, nước, thông tin, hệ thống thu gom và xử lý khi thải, nước thải, thu gom chất thải rắn để xử lý tập trung
- Quy hoạch phân tán: Quy hoạch sản xuất ngay tại hộ gia đình kết hợp cải thiện vệ sinh môi trường mà không cần di dời, hạn chế tối đa việc cơi nới, mở rộng đường, xây nhà cao tầng, lưu giữ khung cảnh sản xuất, tính cổ truyền nhân văn của làng
Cần nghiên cứu kỹ về các điều kiện liên quan để áp dụng thích hợp loại hình cho làng nghề
Thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở các cơ sở sản xuất, các hộ gia đình nhằm đảm bảo cho pháp luật về tài nguyên và môi trường được thực hiện nghiêm chỉnh, chủ động ngăn ngừa và xử lý vi phạm
Ngoài ra, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư cho làng nghề nghiên cứu các công nghệ, thiết bị xử lý chất thải thích hợp với quy mô hộ, nhóm hộ, hỗ trợ các các cơ sở sản xuất, hộ gia đình và nhóm hộ nắm được các công nghệ xử lý, có cơ chế hỗ trợ từng phân trong việc đầu tư sử dụng các trang thiết bị xử lý chất thải thông qua các dự án hoặc vốn ưu đãi
Xây dựng hệ thống chính sách cũng như tổ chức quản lý làng nghề, tạo hành lang pháp lý cho làng nghề hoạt động và phát triển Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh khâu xúc tiến thương mại, mở rộng đầu ra, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa, kích thích đầu tư tập trung, đồng bộ, thay vì sản xuất quy mô nhỏ làm hạn chế khả năng đầu tư cho công nghệ, thiết bị sản xuất và xử lý chất thải như hiện nay
4.7.1.4 Biện pháp khoa học kỹ thuật
- Áp dụng dây truyền công nghệ, máy móc trang thiết bị tiên tiến vào từng công đoạn tái chế sắt để nâng công suất, hiệu quả kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề
- Lắp đặt trang thiết bị tiên tiến đánh giá tác động và kiểm soát môi trường làng nghề
- Tăng cường trồng cây xanh, cây bóng mát để điều hòa tiểu khí hậu, giảm phát thải và bảo vệ cảnh quan môi trường làng nghề
4.7.1.5 Các biện pháp hạn chế và nghiêm cấm
- Hạn chế phát triển mới, hạn chế mở rộng các cở sở tái chế sắt
- Nghiêm cấm sử dụng trong làng nghề những phương pháp sản xuất thủ công và các thiết bị gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
4.7.2 Biện pháp cải tạo sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
Việc cải tạo đất nông nghiệp có thể thực hiện thông qua các biện pháp sau:
4.7.2.1 Làm sạch đất nông nghiệp
- Tiêu nước vùng trũng, điều tiết Eh đất làm cho một số nguyên tố KLN chuyển sang dạng khó tan
- Cải thiện thành phần cơ giới của đất, tăng cường bón phân hữu cơ để làm giảm khả năng hút KLN của cây trồng do chất hữu cơ sẽ cố định các KLN trong đất
4.7.2.2 Thay cây trồng và xây dựng trạm thu gom nước thải làng nghề
- Đối với đất bị ô nhiễm nặng nên thay cây lương thưc, cây ăn quả bằng cây hoa, cây cảnh hoặc cây lấy gỗ
- Lợi dụng thủy thực vật để hấp thu KLN, từ đó làm giảm hàm lượng KLN trong đất nông nghiệp
- Thiết kế trạm thu gom nước thải làng nghề, hồ, cánh đồng tưới để quản lý và xử lý nước thải.