HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THU HIỀN ĐÁNH GIÁ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG VỪNG MỚI THU THẬP VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN LÂN ĐẾN NĂNG SUẤT CỦA BA GIỐNG V
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được tiến hành tại khu thí nghiệm Khoa nông học, Học viện nông nghiệp Việt Nam.
Thời gian nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành trong vụ hè từ tháng 4/2016-10/2016.
Vật liệu nghiên cứu
* Giống: 18 giống vừng thu thập được cung cấp từ Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đậu đỗ (TTTN), Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Bảng 3.1 Ký hiệu tên các giống vừng trong thí nghiệm
STT Ký hiệu tên giống Nguồn gốc
1 VĐ11(Đ/C) Giống được phân lập từ giống nhập nội Nhật Bản
2 V13TQ Giống nhập nội, Trung Quốc
3 V14T Trung tâm tài nguyên Di truyền
5 V28 Trung tâm tài nguyên Di truyền
6 V30 Trung tâm tài nguyên Di truyền
7 V31 Trung tâm tài nguyên Di truyền
8 V32 Trung tâm tài nguyên Di truyền
9 V33 Trung tâm tài nguyên Di truyền
11 V36 Trung tâm tài nguyên Di truyền
12 V36-4 múi Trung tâm tài nguyên Di truyền
15 T7337 BXLC Bát xát –Lào Cai
16 Đen Nghi Lộc Nghi Lộc - Nghệ An
18 Vừng đen Bắc Giang Bắc Giang
* Các loại phân vô cơ:
- Phosphate Lâm Thao: hàm lượng P2O5 17%.
Nội dung nghiên cứu
Khảo sát đặc điểm sinh trưởng, phát triển và năng suất của 18 giống vừng thu thập được tại Việt Nam
Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân lân đến sinh trưởng, phát triển và năng suất 3 giống vừng.
Phương pháp nghiên cứu
* Thí nghiệm gồm 18 công thức (CT) (bảng 3.1) được bố trí ngẫu nhiên lặp lại 2 lần
* Thí nghiệm gồm 9 công thức (CT) (bảng 3.2) Thí nghiệm 2 được bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ với 9 công thức và 3 lần nhắc.
Bảng 3.2 Các công thức thí nghiệm
TT Công thức Giống (Gi) và mức phân bón (P)
1 CT1 Giống VĐ11, bón 60 kg P2O5/ha (353 kg super lân/ha)
2 CT2 Giống VĐ11, bón 80 kg P2O5/ha (471 kg super lân/ha)
3 CT3 Giống VĐ11, bón 100 kg P2O5/ha (588 kg super lân/ha)
4 CT4 Giống V14T, bón 60 kg P2O5/ha (353 kg super lân/ha)
5 CT5 Giống V14T, bón 80 kg P2O5/ha (471 kg super lân/ha)
6 CT6 Giống V14T, bón 100 kg P2O5/ha (588 kg super lân/ha)
7 CT7 Giống V33, bón 60 kg P2O5/ha (353 kg super lân/ha)
8 CT8 Giống V33, bón 80 kg P2O5/ha (471 kg super lân/ha)
9 CT9 Giống V33, bón 100 kg P2O5/ha (588 kg super lân/ha)
SƠ ĐỒ BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 2
Trong đó: G1: giống VĐ11; G2:giốngV14T; G3: giống V33 P1: bón 60 kg P 2 O 5 /ha; P2: bón 80 kg P 2 O 5 /ha; P3: bón 100 kg P 2 O 5 /ha
3.5.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng Áp dụng theo "Quy trình kỹ thuật thâm canh cây vừng" của Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm đậu đỗ, Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam
* Làm đất: Đất trồng vừng cày sâu 15 – 20 cm, bừa kỹ 2 - 3 lần cần đảm bảo đất nhỏ, bằng phẳng và sạch cỏ Lên luống, diện tích mỗi luống (ô) thí nghiệm là 3m 2 (1,5 × 2 m) Chiều cao mỗi ô 20 cm Khoảng cách giữa các ô nhắc lại và giữa các công thức là 30 cm
Hạt được ngâm nước ấm 50°C trong 15 phút Sau đó trộn đều với tro bếp để gieo Trên luống rạch hàng ngang để gieo hạt sâu 3 – 4cm, hàng cách hàng 35 – 40cm Lấp đất phủ kín hạt Sau khi 3 – 4 lá tiến hành làm cỏ và tỉa dặm để lại mật độ cây cách cây 10 – 12cm Đảm bảo mật độ 45 - 50 cây/m 2
Nền phân bón thí nghiệm cho 1 ha là : 70 kgN + 60 kgP2O5 + 70 kgK Lượng phân bón: U-rê: 150 kg/ha; KCl 100 kg/ha, Vôi bột 200 kg/ha, phân super lân ở thí nghiệm 1 bón 353 kg/ha Riêng thí nghiệm 2 bón theo các công thức thí nghiệm nêu ở trên
Cách bón: Bón lót toàn bộ lượng phân lân và vôi bột trong các công thức + 20% phân đạm và kali trước khi gieo hạt Lượng phân kali và phân đạm còn lại bón thúc khi làm cỏ, xới xáo
Xới xáo + bón thúc phân vô cơ, làm cỏ 2 lần:
- Lần 1: Khi cây vừng có 3 – 4 lá thật, tiến hành tỉa cây để mật độ đảm bảo
40 – 45 cây/m 2 Xới nhẹ (sâu 5 – 7 cm) làm cho đất tơi xốp, diệt cỏ dại, kết hợp bón 40% lượng phân đạm + 40% kali
- Lần 2: Sau lần 1 khoảng 15 ngày khi cây có 6 – 7 lá thật, xới xáo (sâu 5 –
7 cm) làm cho đất tơi xốp, diệt cỏ dại, bón 40% lượng phân đạm và 40% lượng phân kali
3.5.3 Các chỉ tiêu theo dõi
* Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng, phát triển của cây vừng:
Thời gian từ khi gieo đến khi nảy mầm (ngày): tính từ khi gieo đến khi có 70% số cây nảy mầm
Tỷ lệ hạt nảy mầm (%) = ──────────── x 100%
Tổng số hạt theo dõi
Phương pháp: đếm số cây mọc trên hàng có đánh dấu trước, mỗi ngày đếm một lần vào buổi sáng
Thời gian từ khi nảy mầm đến khi ra hoa (ngày): tính từ khi có 10% cây ra hoa
Thời gian từ khi nảy mầm đến khi quả chín thu hoạch: Căn cứ xác định thời điểm quả chín thu hoạch (khi lá vàng khô, rụng 2/3)
Màu sắc và hình dạng hoa Động thái tăng trưởng của lá (số lá/cây/tuần): Theo dõi 10 cây trên ô, đếm số lá trên cây định kỳ 7 ngày 1 lần
Hình thái lá Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm/cây/tuần): Đo từ khi cây mọc 2 tuần, định kỳ 7 ngày 1 lần Số cây lấy mẫu 10 cây/ô có đánh dấu trước (đo từ đốt lá mầm đến đỉnh sinh trưởng ngọn)
Chiều cao đóng quả (cm): Tính từ đốt lá mầm đến đốt mang quả đầu tiên Theo dõi 10 cây/ô có đánh dấu trước
Số đốt/cây: Theo dõi 10 cây trên ô, đếm số đốt trên cây sau đó lấy giá trị trung bình
Số nhánh/cây: Theo dõi 10 cây trên ô đếm số nhánh trên mỗi cây, sau đó lấy giá trị trung bình
Khoảng cách từ nhánh đầu tiên đến gốc (cm): theo dõi 10 cây /ô đo chiều cao từ lá mầm đến nhánh đầu tiên, sau đó lấy giá trị trung bình Đường kính thân (cm/cây) (sử dụng thước panme): Theo dõi 10 cây /ô, định kỳ 7 ngày đo 1 lần
Diện tích lá (cm 2 ): sử dụng phương pháp cân trực tiếp Xác định diện tích lá
3 thời kỳ: bắt đầu ra hoa, sau ra hoa 2 tuần và quả mẩy
Chỉ số diệp lục (SPAD): đo bằng máy SPAD-502
Chỉ số diện tích lá (LAI) = ──────────── (m 2 lá/m 2 đất)
Khối lượng khô của toàn cây (g/cây): cây sau khi tính khối lượng tươi được phơi khô kiệt rồi cắt nhỏ, để trong túi giấy và đem sấy ở 80°C trong 12h và cân để tính khối lượng khô
Chỉ số Chlorophyll fluorescence: đo bằng máy
Tốc độ sinh trưởng tương đối (Relative Growth Rate - RGR) của các giống được xác định theo công thức (1) như mô tả của Kriedemann (1998): lnW2 – lnW1
Trong đó: W1, W2 là khối lượng khô (gam) của cây tại thời điểm t1, t2 (ngày sinh trưởng)
Tốc độ tích lũy thuần (Net Assimilation Rate – NAR(g/ngày) của các giống được xác định theo công thức (2) như mô tả của Kriedemann (1998):
Trong đó: dW = W2-W1 là khối lượng khô (gam) tăng thêm sau t ngày, A1,
A2 là tổng diện tích lá sau t1 và t2 ngày
Tiến hành đo ở 3 thời kỳ: Bắt đầu ra hoa, sau ra hoa 2 tuần( ra hoa rộ), quả mẩy
* Các chỉ tiêu về năng suất:
+ Tổng số quả/cõy: theo dừi 10 cõy/ụ, ủếm số quả trờn mỗi cõy, sau ủú lấy giá trị trung bình
∑ Quả các cây theo dõi (quả)
- Số quả trung bình/cây (quả/cây) = ─────────────────
∑ Số cây theo dõi (cây)
∑ Quả chắc các cây theo dõi (quả)
∑ Các cây theo dõi (cây)
- Số múi/quả (số hàng hạt): Đếm số múi trên mỗi quả
- Màu sắc hạt, vỏ hạt: Quan sát màu sắc hạt (trắng, đen, vàng)
- Chiều rộng quả: Sử dụng thước panme đo chính giữa quả
- Chiều dài quả : Sử dụng thước panme đo đầu đến cuống quả
Lấy ngẫu nhiên 10 quả, đếm số múi trên quả, chiều dài, chiều rộng quả, tính giá trị trung bình
- Khối lượng 100 quả (g): Cân khối lượng 100 quả khô
- Khối lượng 1000 hạt (g): Cân khối lượng 1000 hạt khô
- Tỷ lệ nhân: cân khối lượng 100 quả khô, bóc vỏ cân khối lượng hạt tính ra tỷ lệ nhân
- Năng suất cá thể (gam hạt/cây): Lấy 10 cây/ô, cân khối lượng hạ của 10 cây, tính giá trị trung bình, cho cả 2 lần nhắc
Năng suất cá thể × mật độ
- Năng suất lý thuyết = ─────────────── (tạ/ha)
10 ∑ Năng suất 1 ô thí nghiệm (kg) 10.000
- Năng suất thực thu (tạ/ha) = ───────────────── × ─── ∑ Diện tích các ô thí nghiệm (m 2 ) 100
* Mức độ nhiễm bệnh hại Đối với sâu hại: xác định mức độ nhiễm các loại côn trùng gây hại: Sâu khoang, sâu cuốn lá, sâu đục quả, rệp, bọ xít xanh, nhện đỏ Mỗi ô công thức điều tra ít nhất 10 cây đại diện theo phương pháp 5 điểm chéo góc Xác định tỷ lệ sâu hại (% cây bị sâu hại) Đối với bệnh hại chủ yếu:
+ Bệnh héo tươi: Do nấm Fusarium sesami gây ra Tỷ lệ cây bị bệnh (%) + Bệnh đốm phấn: Do nấm Oidium sp: Tỷ lệ cây bị bệnh (%)
+ Bệnh khảm virus: Tỷ lệ cây bị bệnh (%)
Ngoài ra, bệnh đốm phấn và bệnh khảm do virus, quan sát diện tích lá bị bệnh, từ đó đánh giá, phân loại mức bệnh, cấp bệnh để có biện pháp phòng, trừ bệnh thích hợp
Phân cấp lá bệnh theo các cấp như sau:
Cấp 1: Rất nhẹ < 1% diện tích lá bị bệnh;
Cấp 3: Nhẹ từ 1 - 5% diện tích lá bị bệnh;
Cấp 5: Trung bình > 5 - 25% diện tích của lá bị bệnh;
Cấp 7: Nặng > 25 - 50% diện tích của lá bị bệnh;
Cấp 9: Rất nặng > 50% diện tích của lá bị bệnh
Số liệu được xử lý trung bình bằng phần mềm Excel và phần mềm thống kê sinh học IRRISTAT 5.0.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Kết quả đánh giá đặc điếm sinh trưởng, phát triển của một số giống vừng mới thu thập trong vụ hè năm 2016 tại Gia Lâm, Hà Nội
2016 TẠI GIA LÂM, HÀ NỘI
4.1.1 Một số đặc điểm hình thái của các giống vừng Đặc điểm hình thái của các giống là các đặc tính sinh học, do bản chất di truyền quyết định Những đặc điểm này tạo nên nét đặc thù riêng của từng giống Tuy nhiên các đặc điểm này không phải luôn ổn định tuyệt đối, chúng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố ngoại cảnh như: Nhiệt độ, cường độ ánh sáng, chất lượng ánh sáng, số giờ nắng… Việc lựa chọn giống có tính ổn định cao về kiểu hình hoặc khả năng thích ứng rộng có ý nghĩa rất quan trọng trong sản xuất
Các chỉ tiêu hình thái trên cây vừng được mô tả với trên 40 chỉ tiêu khác nhau Đây là những chỉ tiêu thể hiện sự khác biệt giữa các giống về mặt hình thái nhưng đồng thời cũng là những chỉ tiêu nông học quan trọng trong công tác tuyển chọn giống mới (Lê Khả Tường và cs., 2011)
Qua theo dõi một số đặc điểm hình thái các giống vừng, kết quả thu được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Một số đặc điểm về hình thái của một số giống vừng Giống
Thân Phân cành Mầu sắc Hoa Màu
Tầng dưới Tầng trên hạt
VĐ11(Đ/C) Lá nhỏ, dài, mép lá phẳng Lá nhỏ, dài, mép lá phẳng Tròn Ít Trắng Đen
V13TQ Lá to, mép lá răng cưa ít Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn trên thân, lá có nhiều lông Ít Trắng viền tím Trắng
V14T Lá to, mép lá răng cưa,phân thùy Lá nhỏ, dài, mép lá phẳng Tròn, trên thân, lá có nhiều lông Ít Trắng viền tím Trắng
V26 Lá to, mép lá răng cưa to Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Đen
V28 Lá to, mép lá răng cưa Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Đen
V30 Lá to, mép lá răng cưa,phân thùy Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Tím nhạt Đen
V31 Lá to, dài, phân thùy mép lá răng cưa Lá thuôn dài, mép phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Đen
V32 Lá to, mép lá răng cưa Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Ít Trắng viền tím Đen
V33 Lá to, mép lá răng cưa ít Lá nhỏ, dài, mép lá phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Vàng
V34 Lá nhỏ, dài, mép lá phẳng Lá thuôn dài, mép lá phẳng Tròn Nhiều Tím nhạt Vàng
V36 Lá to, dài, phân thùy mép lá răng cưa Lá dài, mép phẳng Tròn Ít Trắng viền tím Đen
V36-4m Lá to, mép lá răng cưa Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Đen
Vừng vàng Lá to, mép lá răng cưa Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Tím nhạt Vàng
SĐK6699 Lá to, mép lá răng cưa,phân thùy Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Đen
T7337BXLC Lá to, mép lá răng cưa Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Trắng Vàng Đen Nghi Lộc Lá to, mép lá răng cưa Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Trắng viền tím Đen
Vừng đen T8082 Lá to, mép lá răng cưa,phân thùy Lá thuôn dài,mép phẳng Tròn Nhiều Tím nhạt Đen Vừng đen Bắc Giang Lá to, mép lá răng cưa,phân thùy Lá thuôn dài,mép phẳng Vuông Nhiều Trắng viền tím Đen
- Đặc điểm của lá: Hầu hết các giống đều có tầng dưới lá to, mép lá răng cưa và phân thùy, chỉ có giống VĐ11(Đ/C) và V34 có lá nhỏ, dài mép lá phẳng Ở tầng trên các giống đều có lá thuôn dài, mép lá phẳng Giống V13TQ và V14T trên lá có nhiều lông trắng
- Đặc điểm thân: Các giống chủ yếu là thân tròn chỉ có vừng đen Bắc Giang là thân vuông Trên thân của 2 giống V13TQ, V14T có rất nhiều lông trắng
Từ bảng trên cũng cho thấy đặc điểm phân cành của các giống vừng được chia làm 2 nhóm chính: nhóm phân cành ít (VĐ11, V13TQ, V14T, V32, V36), nhóm phân cành nhiều (vừng đen Bắc Giang, V32, V33, V36-4m )
- Màu sắc hoa của các giống vừng chia làm 3 nhóm: nhóm hoa màu trắng viền tím (V13TQ, V31, V36, vừng đen Bắc Giang ), nhóm hoa màu tím nhạt (V30, V34, vừng đen T8082, vừng vàng), nhóm hoa màu trắng (VĐ11, T7337 BXLC)
- Màu sắc hạt của các giống vừng chia ra làm 3 nhóm: nhóm vừng màu trắng (V13 TQ, V14T), nhóm vừng màu vàng (V33, V34, vừng vàng, T7337 BXLC,), nhóm vừng màu đen (VĐ11, V28, V31, V36, V36-4m, vừng đen Bắc Giang )
4.1.2 Thời gian sinh trưởng của các giống vừng
Thời gian sinh trưởng của cây vừng bắt đầu từ khi gieo đến khi chín, để kết thúc chu kỳ sống, cây vừng phải trải qua các giai đoạn khác nhau Mỗi giai đoạn đều có vai trò nhất định trong việc hình thành năng suất và chất lượng vừng Vì vậy, xác định các giai đoạn sinh trưởng, phát triển có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc chăm sóc và tác động các biện pháp kỹ thuật vào từng giai đoạn nhằm nâng cao năng suất và chất lượng Thời gian của các giai đoạn sinh trưởng, phát triển ngắn hay dài phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm giống và điều kiện môi trường
Nghiên cứu thời gian sinh trưởng của các giống chúng ta có thể đưa ra được những biện pháp kỹ thuật gieo trồng, bố trí thời vụ, kỹ thuật sử lý những tác hại do điều kiện thời tiết bất thuận gây ra làm giảm năng xuất, phẩm chất của nông sản
Thời gian sinh trưởng của cây vừng được chia thành các giai đoạn khác nhau Do vậy, nghiên cứu về thời gian sinh trưởng của các dòng, giống vừng là việc làm rất cần thiết giúp cho việc đánh giá các dòng, giống chín sớm hay chín muộn Điều này có ý nghĩa trong sản xuất, nó cho phép ta bố trí thời vụ hợp lý để tránh những ảnh hưởng xấu của thời tiết vào các giai đoạn mẫn cảm của cây như giai đoạn mọc mầm, giai đoạn ra hoa, hình thành quả, giai đoạn thu hoạch
Kết quả theo dõi các giai đoạn sinh trưởng của các giống vừng được thể hiện qua bảng 4.2
Bảng 4.2 Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của các giống vừng
Giai đoạn mọc mầm: Giai đoạn này là sự khởi đầu của một chu kỳ sinh trưởng của thực vật nói chung và cây vừng nói riêng Thời gian từ gieo đến mọc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, chất lượng hạt giống Thời gian từ gieo đến mọc của các giống càng ngắn thì nguy cơ bị hỏng do các vi sinh vật trong đất gây hại càng thấp, thời gian từ gieo đến nảy mầm càng dài thì nguy cơ gây hại của các vi sinh vật đất càng cao, độ gây hại làm ảnh hưởng đến mật độ trồng và năng suất cuối cùng của cây
Qua bảng 4.2 cho thấy: Các giống vừng khác nhau thì có thời gian từ gieo đến mọc mầm khác nhau Trong đó thời gian từ gieo đến mọc mầm của các giống biến động từ 6-7 ngày Các giống thường có thời gian từ gieo đến mọc mầm là 6 ngày, VĐ11(Đ/C) có thời gian từ gieo đến mọc là 6 ngày Riêng giống V14T, V28VĐ, V34, V36, đen Nghi Lộc, vừng vàng, T7337 BXLC có thời gian từ gieo đến mọc mầm dài 7 ngày (dài hơn đối chứng 1 ngày)
Thời gian từ gieo đến ra hoa: Thời kỳ này được tính từ khi gieo hạt đến khi có khoảng 70% cây nở hoa đầu tiên, hay còn gọi là giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng của cây Thời kỳ này có ý nghĩa quyết định đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất vừng Nó quyết định sức sinh trưởng của cây, sự phân cành, số đốt hữu hiệu, số hoa trên cây
Thời gian từ gieo đến ra hoa của các giống vừng biến động trong khoảng: 36-50 ngày Trong đó giống có thời gian ra hoa sớm nhất V14T là 36 ngày, vừng đen T8082 có thời gian từ gieo đến ra hoa là muộn nhất trong các giống là 50 ngày Giống VĐ11(Đ/C) có thời gian từ gieo đến ra hoa là 38 ngày Các giống còn lại có thời gian từ gieo đến ra hoa trong khoảng từ 40-48 ngày Các giống có thời gian từ mọc đến ra hoa dài nhất là vừng đen T8082 (44 ngày) và thấp nhất là V14T (29 ngày)
Ảnh hưởng của lượng phân lân đến năng suất của 3 giống V33, VĐ11,
4.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của 3 giống vừng VĐ11, V14T và V33 Đối với cây trồng, sự tăng trưởng chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình trạng sinh trưởng của cây Như chúng ta đã biết, đối với các loại cây trồng thân cây có chức năng quan trọng như : Là khung nâng đỡ cho toàn bộ các bộ phận phía trên mặt đất của cây, dẫn truyền nước và các chất khoáng từ rễ lên các bộ phận phía trên như thân, lá, hoa, quả, hạt,…và dẫn dòng nhựa luyện từ lá xuống rễ
Chiều cao thân chính quyết định bởi bản chất di truyển của giống, ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện canh tác, điều kiện kỹ thuật và các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ khác Ở vừng có điểm khác biệt với các cây khác là sinh trưởng sinh dưỡng giai đoạn ra hoa nhanh hơn giai đoạn trước ra hoa, tuy nhiên, giai đoạn đầu ra hoa sinh trưởng sinh dưỡng chiếm ưu thế sau đó thì giảm dần Vì vậy nghiên cứu chỉ tiêu chiều cao thân là rất cần thiết, xác định được các biện pháp kỹ thuật thích hợp tạo ra sự cân đối của thân cây vừng góp phần nâng cao năng suất cuối cùng của cây vừng
Nghiên cứu ảnh hưởng của phân lân ở liều lượng khác nhau đến động thái tăng trưởng chiểu cao thân chính của 3 giống vừng VĐ11, V14T và V33 đã thu được kết quả được trình bày ở bảng 4.11
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến động thái tăng trưởng chiều cao thân chính của 3 giống vừng VĐ11, V14T và V33 Đơn vị: cm/cây
Sự tăng trưởng chiều cao qua ngày…
Qua bảng 4.11 cho ta thấy: Việc sử dụng phân lân với các liều lượng khác nhau đã có tác động ảnh hưởng khác nhau đến chiều cao thân chính của cả 3 giống vừng VĐ11, V14T và V33 Chiều cao thân chính của vừng tăng dần qua các tuần theo dõi và đạt tối đa khi thu hoạch Qua bảng 4.11 ta có thể thấy, giống V33 có chiều cao cây lớn nhất sau đó đến giống V14T và có chiều cao thấp nhất là giống VĐ11 Ở 3 tuần đầu theo dõi ở cả ba giống với ba mức phân khác nhau chưa có sự khác nhau nhiều về chiều cao Nhưng các lần tiếp theo các công thức khác nhau ở các mức phân khác nhau đã có sự sai khác
Giống VĐ11: Chiều cao thân chính ở lần đo cuối cùng dao động trong khoảng từ 105,67 cm đến 106,66 cm Chiều cao cây đạt cao nhất trong cùng giống là ở mức bón 80 kg P2O5/ha, chiều cao cây thấp nhất ở mức bón 100 kg
P2O5/ha Và sự sai khác chiều cao cây trong cùng 1 giống là không có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%
Giống V14T: Chiều cao thân chính ở lần đo cuối cùng dao động trong khoảng từ 101,17 cm đến 110,26 cm Chiều cao cây đạt cao nhất ở mức bón 100 kg P2O5/ha và thấp nhất ở mức bón 60 kg P2O5/ha Qua bảng 4.11 cho thấy, các công thức bón lân khác nhau làm cho chiều cao cây khác nhau, sự sai khác về chiều cao cây ở mức bón 100 kg P2O5/ha so với mức bón 80 kg P2O5/ha không có ý nghĩa thống kê nhưng so với mức bón 60 kg P2O5/ha thì sự sai khác chiều cao cây có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05
Giống V33: Chiều cao thân chính ở lần đo cuối cùng dao động trong khoảng từ 111,46 cm đến 114,22 cm Sự sai khác về chiều cao cây không có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%, tuy nhiên với mức bón 100 kg P2O5/ha cho chiều cao cây cao nhất, tiếp đến là mức bón 80 kg P2O5/ha (113,46 cm), thấp nhất là mức bón 60 kg P2O5/ha (11,46 cm)
Xét theo các công thức phân bón
- Mức phân bón 60 kg P2O5/ha: Cao nhất ở giống V33 cao hơn so với giống V14T là 10,29cm, tiếp theo là giống VĐ11 cao hơn so với giống V14T là 4,93cm Như vậy, giống V33 sai khác so với giống V14T có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%, nhưng giống V33 so với giống VĐ11 sai khác không có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05 Giữa 2 giống VĐ11 và V14 sự sai khác chiều cao cây không có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05
- Mức phân bón 80 kg P2O5/ha: cao nhất ở giống V33 (111,82cm) cao hơn so với giống VĐ11 đạt 5,16 cm và cao hơn giống V14T là 5,15 cm Ở mức bón này, thì chiều cao của giống V33 đạt cao nhất, giống V14T và VĐ11 là tương đương nhau (106,66 cm và 106,67 cm) Vậy ở mức bón 80 kg P2O5/ha các giống khác nhau cho chiều cao cây sai khác không có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%
- Mức phân bón 100 kg P2O5/ha: giống V33 có chiều cao cây cao nhất (114,22 cm), tiếp đến là V14T (110,26 cm) và VĐ11 có chiều cao cây thấp nhất (105,67 cm) Qua bảng 4.11 cho thấy, giống V33 và giống V14T có chiều cao cây sai khác không có ý nghĩa thống kê, nhưng giống V33 so với VĐ11 thì sự sai khác về chiều cao cây có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%
4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến động thái tăng trưởng số lá của 3 giống vừng VĐ11, V14T và V33
Trong suốt quá trình sống của cây, lá vừng có chức năng vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tại, sinh trưởng và phát triển của cây, tham gia vào quá trình hô hấp, quang hợp của cây Nhờ có bộ lá phát triển mà cây liên tục được tích lũy chất khô, lượng chất khô tích lũy được là do quang hợp tạo ra Bộ lá được coi như là nơi khởi nguồn của năng suất cho cây trồng Ở cây vừng, bộ lá đặc biệt có ý nghĩa ở giai đoạn ra hoa – hình thành quả Các lá nằm cạnh hoa sẽ có tác dụng quan trọng cho việc phát triển hình thành quả và thông qua quá trình quang hợp của lá mà các chất hữu cơ được tích lũy vào quả và hạt Ngay từ ban đầu nếu số lượng lá càng nhiều, lá càng to và duy trì màu xanh trong thời gian dài thì tiềm năng năng suất càng cao Ngoài công tác giống ra thì các biện phát kỹ thuật và chế độ chăm sóc cũng ảnh hưởng rất lớn đến số lượng lá trên cây Nghiên cứu ảnh hưởng của phân lân đến động thái tăng trưởng số lá của 3 giống vừng VĐ11, V14 VT và V33:
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của liều lượng phân lân đến động thái tăng trưởng số lá của 3 giống vừng VĐ11, V14T và V33 Đơn vị: lá/cây
Sự tăng trưởng số lá qua ngày …
Qua bảng 4.12 cho ta thấy: Động thái ra lá trên cây vừng ở tất cả các công thức đều tăng dần qua các thời gian theo dõi và đạt tối đa ở ngày theo dõi cuối cùng
Ngay từ những lần theo dõi đầu tiên, số lá của giống V33 đã cao hơn số lá của giống V14T và thấp nhất là số lá của giống VĐ11 Ở lần đo cuối, mức chênh lệch số lá giữa ba giống ở ba mức phân bón khác nhau là khác nhau
Giống VĐ11: Có số lá dao động từ 50,3 lá/cây đến 55,3 lá/cây, sự sai khác số lá/cây giữa các giống không có ý nghĩa thống kê ở mức 0,05 Tuy nhiên, các công thức bón 80 kg P2O5/ha và 100 kg P2O5/ha cho tổng số lá cuối cùng bằng nhau (55,3 lá/cây), công thức bón 60 kg P2O5/ha cho số lá/cây thấp hơn 50,3 lá
Giống V14T: Số lá dao động từ 53,0 lá/cây đến 66,7 lá/cây, trong đó ở mức bón 80 kg P2O5/ha có số lá cao nhất và sau đó đến mức bón phân 100 kg P2O5/ha (61,7 lá/cây) và 100kg P2O5/ha (53,0 lá/cây) Với mức bón phân khác nhau làm số lá trên thân chính khác nhau, tuy nhiên giữa công thức bón phân khác nhau làm sự sai khác số lá không có ý nghĩa thống kê ở độ tin cậy 95%