1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện yên phong, tỉnh bắc ninh

88 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 11,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không những vậy việc quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt còn gây ra sự nhức nhối cho người dân, xã hội tại nhiều địa phương vẫn còn rất nhiều tình trạng rác tập trung thành từng bãi lâu ng

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN VĂN THỦY

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI HUYỆN YÊN PHONG,

TỈNH BẮC NINH

Chuyên ngành: Khoa Học Môi Trường

Mã số: 8440301 Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Hải Vân

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là của riêng tôi, được nghiên cứu một cách độc lập Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được ghi rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thủy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc đến TS Đinh Thị Hải Vân đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Môi trường – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức, người lao động Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng, Chi cục Tieu chuẩn Đo lường Chất lượng, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục hình, đồ thị vi

Danh mục chữ viết tắt vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract x

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Gıả thuyết khoa học 2

1.3 Mục tıêu nghıên cứu 2

1.4 Phạm vı nghıên cứu 2

1.5 Những đóng góp mớı, ý nghĩa khoa học thực tıễn 3

Phần 2 Tổng quan nghiên cứu 4

2.1 Tổng quan về rác thảı sınh hoạt 4

2.1.1 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt 5

2.1.2 Thành phần chất rác thải sinh hoạt 6

2.1.3 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến môi trường và con người 7

2.2 Cơ sở thực tiễn về xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam và trên thế giới 13

2.2.1 Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam 13

2.2.2 Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới 18

2.2.3 Một số phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt hoạt hiện nay 20

2.3.4 Các công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay 25

Phần 3 Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu 27

3.1 Địa đıểm nghıên cúu 27

3.2 Thờı gıan nghıên cứu 27

3.3 Đốı tượng nghıên cứu 27

3.4 Nộı dung nghıên cứu 27

3.5 Phương pháp nghıên cứu 27

Trang 5

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27

3.5.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp 27

3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 29

Phần 4 Kết quả nghıên cứu và thảo luận 30

4.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 30

4.1.1 Điều kiện tự nhiên 30

4.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 33

4.2 Thực trạng phát sinh rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Phong 35

4.2.1 Nguồn gốc phát sinh 35

4.2.2 Khối lượng rác thải sinh hoạt 36

4.2.3 Mối liên hệ thu nhập và rác thải sinh hoạt 37

4.2.4 Thành phần, khối lượng của RTSH phát thải quy mô hộ gia đình sau khi tiến hành khảo sát điều tra phân theo khu vực 41

4.3 Đánh giá hiện trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Phong 45

4.3.1 Hình thức quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Phong 45

4.3.2 Các hình thức xử lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 47

4.4 Hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Phong 52

4.4.1 Tình hình thu gom, hoạt động của tổ đội vệ sinh môi trường và phân loại rác thải tại hộ gia đình 52

4.4.2 Tình hình trang thiết bị và số tiền nhận thầu 57

4.5 Đề xuất các gıảı pháp gıảm thıểu ô nhıễm do rác thải sinh hoạt 59

4.5.1 Giải pháp về cơ chế, chính sách 59

4.5.2 Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục cộng đồng bảo vệ môi trường 60

4.5.3 Giải pháp về quy hoạch, kinh tế 60

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 62

5.1 Kết luận 62

5.2 Kıến nghị 63

Tài liệu tham khảo 64

Phụ lục 66

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở Hà Nội 7

Bảng 4.1 Khối lượng RTSH theo các nhóm phân loại tại các hộ gia đình theo nhóm thu nhập và tổng lượng RTSH tại các hộ phỏng vấn 36

Bảng 4.2 Tỉ lệ % các thành phần của RTSH tại thị trấn Chờ (đơn vị: %) 41

Bảng 4.3 Tỷ lệ thành phần của RTSH tại khu vực nông thôn (đơn vị: %) 42

Bảng 4.4 Khối lượng của RTSH tại các hộ điều tra ở thị trấn Chờ 43

Bảng 4.5 Khối lượng của RTSH tại các hộ điều tra ở khu vực nông thôn

44

Bảng 4.6 Số người thu gom tại thị trấn Chờ 52

Bảng 4.7 Số người thu gom tại vùng nông thôn 53

Bảng 4.8 Tần suất thu gom tại khu vực thị trấn huyện Yên Phong 54

Bảng 4.9 Tần suất thu gom tại vùng nông thôn 55

Bảng 4.10 Khoảng cách từ khu dân cư đến bãi chôn lấp RTSH tại thị trấn Chờ 55

Bảng 4.11 Khoảng cách từ khu dân cư đến bãi chôn lấp tại các xã vùng nông thôn 56

Bảng 4.12 Số tiền thầu phí vệ sinh môi trường tại thị trấn Chờ 58

Bảng 4.13 Số tiền thầu phí vệ sinh môi trường tại các xã vùng nông thôn 58

Trang 7

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Nguồn gốc phát sinh RTSH 6

Hình 2.2 Bãi rác tại thôn Trần Xá, xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 9

Hình 2.3 Ô nhiễm rác thải tại Sông Ngũ Huyện Khê tỉnh Bắc Ninh 10

Hình 2.4 Đốt rác gây ô nhiễm không khí tại xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh 11

Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Phong 31

Hình 4.2 Các nguồn phát sinh RTSH tại huyện Yên Phong 35

Hình 4.3 Sơ đồ hệ thống quản lý RTSH trên địa bàn huyện Yên Phong 47

Hình 4.4 Cách xử lý với RTSH có thể tái chế ở khu vực thị trấn Chờ 48

Hình 4.5 Cách xử lý với RTSH có thể tái chế ở khu vực nông thôn 48

Hình 4.6 Cách xử lý chất thải rắn hữu cơ khu vực thị trấn 49

Hình 4.7 Cách xử lý chất thải rắn hữu cơ khu vực nông thôn 50

Hình 4.8 Cách xử lý với RTSH vô cơ tại thị trấn 51

Hình 4.9 Cách xử lý với RTSH vô cơ tại khu vực nông thôn 51

Hình 4.10 Công tác thu gom RTSH được diễn ra tại thị trấn Chờ 57

Đồ thị 4.1 Mối tương quan thu nhập với tổng lượng rác hữu cơ 38

Đồ thị 4.2 Mối tương quan thu nhập với tổng lượng nilon 38

Đồ thị 4.3 Mối tương quan thu nhập với tổng lượng kim loại 39

Đồ thị 4.4 Mối tương quan thu nhập với tổng lượng chất thải nguy hại 40

Đồ thị 4.5 Mối tương quan thu nhập với tổng lượng nhựa 40

Trang 8

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Nguyễn Văn Thủy

Tên Luận văn: Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

Rác thải sinh hoạt đang là một vấn đề nan giải đối với con người hiện nay, nó được toàn xã hội quan tâm Ô nhiễm rác thải sinh hoạt đang diễn ra ngày càng trầm trọng Từ đó tác giả làm đề tài về đánh giá hiện trạng quản lý rác thải tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Đề tài này nhằm tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, khối lượng, tính chất và công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đồng thời đánh giá yếu tố thu nhập ảnh hưởng đến thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm làm giảm thiểu lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu chính đó là phương pháp thu nhập số liệu thứ cấp tập hợp các tài liệu có sẵn từ nhiều nguồn khác nhau liên quan đến rác thải sinh hoạt Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp Ở phương pháp này ta chia ra làm các phương pháp khác nhau để thu được số liệu sơ cấp là các phương pháp chọn điểm điều tra: điều tra tại hai vùng là thành thị và nông thôn Phương pháp điều tra phỏng vấn: đã thực hiện điều tra phỏng vấn ở 200 hộ và 16 cán bộ thu gom Phương pháp xác định khối lượng

và thành phần rác sinh hoạt tiến hành điều tra 200 hộ và sau khi điều tra chia các nhóm

hộ thành 3 nhóm theo thu nhập bình quân đầu người và phân rác sinh hoạt thành các nhóm khác nhau Phương pháp xử lý số liệu xử lý bằng phương pháp thống kê toán học,

sử dụng phần mềm excel Sử dụng các hàm SUM, COUNTIF, AVERAGE, STDEV, phân tích ANOVA Kết quả được hiện bằng các dạng bảng biểu đồ

Kết quả chính và kết luận

Lượng rác thải ra trung bình đầu người của các hộ nhóm 1 có thu nhập trung bình

<2 triệu/người/tháng nhỏ nhất là 0,161 kg/người/ngày Lần lượt của nhóm 2 có thu nhập trung bình 2<x<4,5 triệu/người/tháng là 0,254 kg/người/ngày Nhóm 3 có thu nhập trung bình >4,5 triệu/người/tháng có lượng rác trung bình cao nhất là 0,279 kg/người/ngày so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp hơn rất nhiều Thành phần

Trang 10

chính trong rác thải sinh hoạt chủ yếu là rác thải hữu cơ Đặc biệt là các thành phần có trong rác thải sinh hoạt như là nilon, rác hữu cơ, nhựa và kim loại có sự biến động tùy theo tùng nhóm hộ có khoảng thu nhập trung bình theo đầu người khác nhau Đa phần thì các thành phần đó trong rác thải sinh hoạt đều có mối tương quan một chiều chưa chặt Nắm được hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện và đưa ra một

số đề xuất hạn chế sự phát sinh rác thải sinh hoạt và tăng cường công tác quản lý Nhà nước về rác thải sinh hoạt

Trang 11

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Nguyen Van Thuy

Thesis title: Assessment of waste management status in Yen Phong district, Bac Ninh province

Major: Environmental Science Code: 8440301

Educational organization: Vietnam Nationnal University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

Domestic waste is a serious problem for people today, it is the whole society concerned Contamination of domestic waste is occurring more and more serious Since then, the author has been working on assessing waste management situation in Yen Phong district, Bac Ninh province This project is aimed at understanding the origin, volume, nature and management of domestic waste in Yen Phong district, Bac Ninh province, while assessing the factors influencing the composition and volume The amount of domestic waste from which to propose some solutions to reduce the amount

of waste in the field study

Materials and Methods

The main research methodology is the secondary data collection method which collects available materials from various sources related to domestic waste Methodology of primary data survey In this method we divide the different methods to obtain primary data as the method of selecting survey sites: survey in two regions, urban and rural Survey method: interviews were conducted in 200 households and 16 collectors The method of determining the volume and composition of household waste was surveyed by 200 households and after the survey divided the household groups into

3 groups according to the per capita income and the distribution of household waste into different groups Data processing method using mathematical statistics method, using excel software Use of SUM, COUNTIF, AVERAGE, STDEV, ANOVA The results are shown in chart form

Main findings and conclusions

The average amount of garbage per capita in group 1 households has an average income of <2 million VND / person / month at 0.161 kg / person / day In turn, group 2 has an average income of 2 <x <4.5 million / person / month is 0.254 kg / person / day Group 3 has an average income of 4.5 million VND / person / month with the highest average waste of 0.279 kg / person / day The main component of waste is mainly

Trang 12

organic waste Especially, the components of household waste such as plastic, organic waste, plastic and metal fluctuate according to different groups of households with different per capita incomes Most of these components in household waste have a negative one-way relationship Knowing the status of waste management activities in the district

Trang 13

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội thì tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinh hoạt càng trở nên phổ biến, không chỉ với các khu đô thị, thành phố mà nông thôn cũng vậy Chúng ta thường xuyên bắt gặp những hình ảnh không đẹp về các bãi rác, các nơi đổ rác không đúng quy định Trên các tuyến đường thành, thị, huyện, xã nhiều đoạn hai bên đường có vô số những đống rác thải do một số người dân sinh sống gần đường chở rác thải đến

đổ thành đống Hoặc dọc những kênh mương nhiều nơi rác thải trôi lềnh bềnh trên mặt nước với mật độ ngày càng dày đặc Đây là bãi rác tự phát do người dân

ở gần đổ ra vì do ý thức của người dân còn hạn chế, có nhiều vùng còn chưa có bãi rác tập trung và không có đội thu gom rác thải

Trong những năm qua, ô nhiễm rác thải sinh hoạt (RTSH) tiếp tục là một trong những vấn đề môi trường trọng điểm Trên phạm vi toàn quốc, RTSH phát sinh ngày càng tăng với tốc độ gia tăng khoảng 10% mỗi năm và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới cả về số lượng và mức độ độc hại (Bộ TN&MT, 2016) Đối với công tác quản lý chất thải rắn, tỷ lệ thu gom chất thải rắn khu vực nông thôn còn rất thấp khoảng 40%-55%, tập trung ở các thị trấn, thị tứ Các vùng sâu vùng xa tỷ lệ này chỉ đạt khoảng 10% Thêm vào đó công tác quản lý chất thải rắn nông thôn vẫn đang còn bỏ ngỏ, chưa rõ trách nhiệm cụ thể của các bên liên quan Chính điều này làm cho hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn nông thôn gặp rất nhiều khó khăn (Bộ TN&MT, 2016)

Không những vậy việc quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt còn gây ra sự nhức nhối cho người dân, xã hội tại nhiều địa phương vẫn còn rất nhiều tình trạng rác tập trung thành từng bãi lâu ngày chưa được xử lý, trong quá trình vận chuyển còn nhiều vương vãi, gây mùi và làm mất cảnh quan các khu đô thị, khu dân cư Ngoài ra thói quen s nh hoạt và canh tác nông ngh ệp của ngườ dân h ện nay đã làm thay đổ đặc b ệt là g ảm tận thu và tá sử dụng Làm g a tăng lượng rác thả

ra mô trường Rác thả không được phân loạ , thành phần phức tạp, xả rác bừa

bã gây khó khăn cho v ệc thu gom, xử lý đặc biệt là ở khu vực nông thôn

Nếu chúng ta thực sự làm được tốt công tác quản lý và tái sử dụng hợp lý

Trang 14

thì rác thải sinh hoạt cũng chính là một trong những nguồn nguyên liệu đầu vào

rẻ, phong phú, mang lại hiệu quả kinh tế góp phần vào tiết kiệm được nguồn tài nguyên cũng như bảo vệ môi trường

Huyện Yên Phong nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Ninh, huyện có diện tích là 9676,34 ha, dân số năm 2016 là 162.592 người trên tổng số 47.475 hộ (Cục thống kê tỉnh Bắc Ninh, 2017) Rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Yên Phong hiện nay có thành phần đa dạng và khá phức tạp Tuy nhiên, tình hình quản lý rác thải tại địa bàn huyện còn nhiều hạn chế, chưa thực sự triệt để vẫn còn một lượng khá lớn chưa được thu gom gây ra ô nhiễm môi trường và làm mất mỹ quan

Từ những thực tế trên tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh” Đây là đề tài cần thiết vì qua đó sẽ đánh giá được hiện trạng về môi trường, có các giải pháp nhằm hạn chế sự gia tăng của rác thải sinh hoạt

1.2 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Nghiên cứu vấn đề rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh sẽ tìm ra được nguồn gốc phát sinh rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình Các mặt hạn chế của công tác quản lý rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình tại đây Phân tích một số thành phần của rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh có mối liên hệ đến vấn đề thu nhập của người dân

1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề tài này nhằm tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, khối lượng, tính chất và công tác quản lý rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đồng thời đánh giá được yếu tố kinh tế (thu nhập) có ảnh hưởng đến thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm làm giảm thiểu lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn nghiên cứu

1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu trên đối tượng rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình, thành phần, tính chất của rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình trên địa bàn của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh trong thời gian từ 03/2017 đến 03/2018 Ngoài ra đề tài còn nghiên cứu công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Phong

Trang 15

1.5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN Khi nghiên cứu đề tài sẽ đưa ra được một số đóng góp quan trọng trong việc giảm thiểu lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng lớn như hiện nay Cũng như có những đóng góp mới có ý nghĩa về mối tương quan giữa các thành phần chính có tác động đến môi trường của rác thải sinh hoạt với lượng thu nhập của người dân Từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm làm giảm thiểu lượng rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 TỔNG QUAN VỀ RÁC THẢI SINH HOẠT

Như chúng ta đã biết thì chất thải rắn (CTR) là những vật chất ở dạng rắn

do các hoạt động của con người và động vật tạo ra Tất cả các loại sản phẩm đó thường không được sử dụng hoặc là ít được sử dụng và hầu như là không có nhiều lợi ích đối với con người chúng ta; vì vậy nó là sản phẩm ngoài ý muốn của con người Chất thải rắn có thể ở dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm được tạo ra trong hầu hết tất cả các giai đoạn trong các hoạt động sản xuất, trong hoạt động tiêu dùng tiêu dùng của con người Chất thải rắn bao gồm nhiều loại vật chất lẫn lộn, các thành phần khác nhau, không đồng nhất được loại bỏ từ hoạt động kinh tế-xã hội của con người, trong đó hoạt động sản xuất là chủ yếu

Theo Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT 2014 thì chất thải là vật chất được thải

ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác Chúng ta có thể hiểu

rõ hơn chất thải chính là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của người khác tùy vào mục đích và nhu cầu của người sử dụng vì đầu thải ra của nguồn này nhưng cũng có thể là nguồn nguyên liệu đầu vào cho một công đoạn mới Tuy vậy thì đa phần chất thải còn được gọi là rác Trong cuộc sống thường ngày, rác thải được hình dung là tất cả những thứ vật chất như đồ ăn, đồ dùng, chất thải y tế, chất thải do hoạt động sản xuất mà con người không dùng nữa và bỏ đi

Theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định Số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 Về quản lý chất thải và phế liệu thì chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác và tại Khoản 3 Điều 3 của Nghị định này cũng có nêu: Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người

Tại QCVN 61-MT:2016/BTNMT đi kèm theo TT 03/2016/TT-BTNMT ngày 10 tháng 3 năm 2016 cũng nêu chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người

RTSH là các chất bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động, sản xuất của con người và động vật Rác phát sinh từ các hộ gia đình, khu công cộng,

Trang 17

khu thương mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó, rác sinh hoạt chiếm tỉ lệ cao nhất Số lượng, thành phần chất lượng rác thải tại từng quốc gia, khu vực là rất khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật Bất kỳ một hoạt động sống của con người, tại nhà, công sở, trên đường đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lượng rác đáng kể Thành phần chủ yếu của chúng là chất hữu cơ và rất dễ gây ô nhiễm trở lại cho môi trường sống nhất Cho nên, rác sinh hoạt có thể định nghĩa là những thành phần tàn tích hữu cơ phục vụ cho hoạt động sống của con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả lại môi trường sống

2.1.1 Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt

Hiện nay chúng ta đang phải chấp nhận một thực tế rác thải là một kết quả tất yếu được sinh ra từ các hoạt động kinh tế – xã hội và hoạt động sinh hoạt của con người Xã hội loài người ngày càng phát triển thì cùng với nó đó là khối lượng RTSH sinh ra càng lớn và trở thành một vấn đề đang được rất quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, là vấn đề nổi cộm trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đưa đất nước phát triển của đất nước

RTSH được phát sinh từ rất nhiều nguồn khác nhau, ở các vị trí khác nhau

và thành phần khối lượng cũng khác nhau

Từ các khu dân cư: Bao gồm các nhà dân, khu dân cư tập trung và các sản phẩm chủ yếu từ nguồn này thải ra sẽ là cao su, thức ăn dư thừa, nilon, giấy báo ngoài ra còn có thể có một số chất thải nguy hại nữa như pin, ác quy

Từ các hoạt động của khu thương mại: Các khu chợ tập trung, trung tâm thương mại, quầy hàng, quán ăn các sản phẩm chủ yếu cũng sẽ là nilon, cao su, bao bì, hàng hóa hư hỏng, thực phẩm hỏng hoặc bỏ đi

Từ các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, văn phòng các cơ quan hành chính rác thải chủ yếu cũng như các nguồn khu dân cư và hoạt động thương mại hàng hóa

Từ các hoạt động xây dựng: Làm đường, tu sửa xây dựng các công trình lớn chất thải phát thải ra từ các hoạt động này thì chủ yếu sẽ là bê tông, vật liệu xây dựng vương vãi

Từ các dịch vụ công cộng: Cắt tỉa cây cối, vệ sinh môi trường, các hoạt động của con người tại các khu vui chơi giải trí Các hoạt động này sẽ thải ra một

số loại chất thải như rác thải từ cỏ, các chất thải ra từ hoạt động trang trí, các sản

Trang 18

phẩm thải ra từ hoạt động của con người tại các khu vui chơi giải trí như nilon, giấy bọc, thức ăn thừa tuy vậy thì số lượng không lớn

Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm các chất thải ra từ quá trình sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chất thải chủ yếu sinh ra là bao

bì, các chất bỏ đi của các hoạt động sản xuất

Từ sản xuất nông nghiệp: Chủ yếu từ các hoạt động thu hoạch mùa vụ, các trang trại, các vườn cây Chất thải sinh ra thực phẩm dư thừa, sản phẩm bỏ sau thu hoạch như rơm rạ, vỏ thuốc trừ sâu, diệt cỏ, phân động vật, rác thải bỏ từ quá trình chế biến nông sản

Hình 2.1 Nguồn gốc phát sinh RTSH 2.1.2 Thành phần chất rác thải sinh hoạt

Thành phần của RTSH ngày càng đa dạng tùy nguồn gốc phát sinh, tùy theo khu vực vào điều kiện khí hậu, điều kiện kinh tế tính chất tiêu dùng và các yếu tố khác

Tỷ lệ thành phần các chất trong RTSH liên quan đến nguồn gốc phát sinh RTSH phát sinh từ các hộ gia đình, các khu kinh doanh và các vùng nông thôn có

tỷ lệ chất hữu cơ dễ phân huỷ cao (chiếm 65-70%); ở các khu vực đô thị chất thải

có thành phần các chất dễ phân huỷ thấp hơn (chiếm khoảng 50%) Sự thay đổi

về nhu cầu sử dụng các sản phẩm là nguyên nhân dẫn đến những thay đổi về hàm

thương mại

Các cơ quan, công sở

Hoạt động nông nghiệp Rác thải sinh

hoạt

Trang 19

lượng chất khó phân huỷ trong chất thải, như: nhựa, thuỷ tinh, kim loại (Bộ TN&MT, 2015)

Về cơ bản, thành phần của RTSH bao gồm chất vô cơ (các loại phế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, túi nilon, vải, đồ điện, đồ chơi ), chất hữu cơ (cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, xác súc vật, phân động vật ) và các chất khác Hiện nay, túi nilon đang nổi lên như vấn đề đáng lo ngại trong quản lý RTSH do thói quen sinh hoạt của người dân (Bộ TN&MT, 2015)

RTSH khu vực nông thôn có tỷ lệ khá cao chất hữu cơ, chủ yếu là từ thực phẩm thả , chất thả làm vườn và phần lớn đều là chất thả hữu cơ dễ phân hủy (tỷ

lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn) Về cơ bản, lượng phát sinh RTSH ở nông thôn phụ thuộc vào mật độ dân cư và nhu cầu tiêu dùng của người dân Nhìn chung, khu vực đồng bằng có lượng phát sinh RTSH cao hơn khu vực miền núi; dân cư khu vực có mức tiêu dùng cao thì lượng rác thải sinh hoạt cũng cao hơn (Bộ TN&MT, 2015)

Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở Hà Nội

Nguồn: Viện Quy hoạch xây dựng Hà Nội (2015)

2.1.3 Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến môi trường và con người

Ngày nay với việc xã hội ngày càng phát triển, lượng chất thải rắn sinh hoạt sinh ra ngày càng nhiều, tính chất của nó cũng do đó mà đa dạng, đã gây ra

Trang 20

ảnh hưởng lớn đối với môi trường sống và con người Việc quản lý RTSH không hợp lý, xử lý RTSH không hợp kỹ thuật vệ sinh là những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng

Đi đến đâu chúng ta cũng có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những bãi rác công cộng được tạo ra ngay bên lề đường không đúng nơi quy định, rác thải bốc mùi hôi thối mà không có giải pháp thu gom hay xử lý Thậm chí có nơi đã phải đặt biển báo là cấm đổ rác tuy nhiên rác vẫn được người dân đem ra để đổ không cần quan tâm đến sự có mặt của biển cấm Vì thế, các ảnh hưởng RTSH đang được quan tâm (Trần Thị Thanh Huyền, 2016)

2.1.3.1 Ảnh hưởng của RTSH đối với môi trường đất

Các CTRSH có thể được tích lũy dưới đất trong thời gian dài gây ra nguy cơ tiềm tàng đối với môi trường Chất thải xây dựng như gạch, ngói, thủy tinh, ống nhựa, dây cáp, bê-tông trong đất rất khó bị phân hủy Chất thải kim loại, đặc biệt là các kim loại nặng như chì, kẽm, đồng, Niken, Cadimi thường

có nhiều ở các khu khai thác mỏ, các khu công nghiệp Các kim loại này tích lũy trong đất và thâm nhập vào cơ thể theo chuỗi thức ăn và nước uống, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe Các chất thải có thể gây ô nhiễm đất ở mức

độ lớn là các chất tẩy rửa, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc nhuộm, màu

vẽ, công nghiệp sản xuất pin, thuộc da, công nghiệp sản xuất hóa chất (Bộ TN&MT, 2012)

Ngoài ra ảnh hưởng của RTSH đối với môi trường đất cũng chủ yếu là do các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Và một số nguyên nhân khác như:

Chất thải ở các bãi chôn lấp chưa được xử lý đúng cách

Lượng RTSH ngày càng quá tải so với mức độ đồng hóa của đất làm cho đất giảm chức năng tự làm sạch của đất

Lượng RTSH mang tính chất nguy hại như: pin, ắc quy, bóng đèn chưa xử

lý đúng cách cũng làm cho đất nhiễm các kim loại nặng gia tăng một cách nhanh chóng gây ảnh hưởng đến môi trường đất

Đối với RTSH khó phân hủy như cao su, nhựa, nilon, … nếu không được

xử lý đúng cách cũng làm ảnh hưởng tới sinh vật sống trong đất cũng như giảm

độ phì nhiêu của đất, ngoài ra các loại chất thải như vỏ hóa chất, vỏ thuốc trừ sâu còn làm chết các vi sinh vật có lợi cho đất sẽ làm đất sẽ khô cằn, bạc màu

Trang 21

Hình 2.2 Bãi rác tại thôn Trần Xá, xã Yên Trung,

huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Nguồn: Trần Sơn (2017)

2.1.3.2 Ảnh hưởng của RTSH đối với môi trường nước

RTSH không được thu gom, thải vào kênh rạch, sông, hồ, ao gây ô nhiễm môi trường nước, làm tắc nghẽn đường nước lưu thông, giảm diện tích tiếp xúc của nước với không khí dẫn tới giảm DO trong nước Chất thải rắn hữu cơ phân hủy trong nước gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng nguồn nước làm cho thủy sinh vật trong nguồn nước mặt bị suy thoái CTR phân huỷ và các chất ô nhiễm khác biến đổi màu của nước thành màu đen

Thông thường các bãi chôn lấp chất thải đúng kỹ thuật có hệ thống đường ống, kênh rạch thu gom nước thải và các bể chứa nước rác để xử lý trước khi thải

ra môi trường Tuy nhiên, phần lớn các bãi chôn lấp hiện nay đều không được xây dựng đúng kỹ thuật vệ sinh và đang trong tình trạng quá tải, nước rò rỉ từ bãi rác được thải trực tiếp ra ao, hồ gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng Sự xuất hiện của các bãi rác lộ thiên tự phát cũng là một nguồn gây ô nhiễm nguồn nước đáng kể

Tại các bãi chôn lấp RTSH, nước rỉ rác có chứa hàm lượng chất ô nhiễm cao (chất hữu cơ: do trong rác có phân súc vật, các thức ăn thừa ; chất thải độc hại: từ bao bì đựng phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, mỹ phẩm) Nếu không

Trang 22

được thu gom xử lý sẽ thâm nhập vào nguồn nước dưới đất gây ô nhiễm môi trường nước nghiêm trọng (Bộ TN&MT, 2012)

Hình 2.3 Ô nhiễm rác thải tại Sông Ngũ Huyện Khê tỉnh Bắc Ninh

Nguồn: Lê Anh Dũng (2016)

2.1.3.3 Ảnh hưởng của RTSH đối với môi trường không khí

Rác thải và đặc biệt là RTSH, có thành phần hữu cơ chiếm chủ yếu Dưới tác động của nhiệt độ, độ ẩm và các vi sinh vật, rác thải hữu cơ bị phân hủy và sản sinh ra các chất khí (CH4 - 63.8%, CO2 - 33.6%, và một số khí khác) Trong

đó, CH4 và CO2 chủ yếu phát sinh từ các bãi rác tập trung (chiếm 3 - 19%), đặc biệt tại các bãi rác lộ thiên và các khu chôn lấp Khối lượng khí phát sinh từ các bãi rác chịu ảnh hưởng đáng kể của nhiệt độ không khí và thay đổi theo mùa Lượng khí phát thải tăng khi nhiệt độ tăng, lượng khí phát thải trong mùa hè cao hơn mùa đông Đối với các bãi chôn lấp, ước tính 30% các chất khí phát sinh trong quá trình phân hủy rác có thể thoát lên trên mặt đất mà không cần một sự tác động nào (Lê Văn Khoa, 2010)

Khi vận chuyển và lưu giữ RTSH sẽ phát sinh mùi do quá trình phân hủy các chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trường không khí Các khí phát sinh từ quá trình phân hủy chất hữu cơ trong rác thải: Amoni có mùi khai, phân có mùi

Trang 23

hôi, Hydrosunfur mùi trứng thối, Sunfur hữu cơ mùi bắp cải thối rữa, Mecaptan hôi nồng, Amin mùi cá ươn, Diamin mùi thịt thối, Cl2 hôi nồng, Phenol mùi ốc đặc trưng (Lê Văn Khoa, 2010)

Bên cạnh hoạt động chôn lấp RTSH, việc xử lý RTSH bằng biện pháp tiêu hủy cũng góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường không khí Việc đốt rác sẽ làm phát sinh khói, tro bụi và các mùi khó chịu RTSH có thể bao gồm các hợp chất chứa Clo, Flo, lưu huỳnh và nitơ, khi đốt lên làm phát thải một lượng không nhỏ các chất khí độc hại hoặc có tác dụng ăn mòn Mặt khác, nếu nhiệt độ tại lò đốt rác không đủ cao và hệ thống thu hồi quản lý khí thải phát sinh không đảm bảo, khiến cho RTSH không được tiêu hủy hoàn toàn làm phát sinh các khí CO, oxit nitơ, dioxin và furan bay hơi là các chất rất độc hại đối với sức khỏe con người Một số kim loại nặng và hợp chất chứa kim loại (như thủy ngân, chì) cũng

có thể bay hơi, theo tro bụi phát tán vào môi trường Mặc dù, ô nhiễm tro bụi thường là lý do khiếu nại của cộng đồng vì dễ nhận biết bằng mắt thường, nhưng tác nhân gây ô nhiễm nguy hiểm hơn nhiều chính là các hợp chất (như kim loại nặng, dioxin và furan) bám trên bề mặt hạt bụi phát tán vào không khí (Bộ TN&MT, 2012)

Hình 2.4 Đốt rác gây ô nhiễm không khí tại xã Văn Môn, huyện Yên Phong,

tỉnh Bắc Ninh

Nguồn: Mai Đan và Tuyết Trinh (2016)

Trang 24

2.1.3.4 Ảnh hưởng của RTSH đối với con người

Một trong những dạng chất thải nguy hại xem là ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và môi trường là các chất hữu cơ bền hay RTSH Những hợp chất này vô cùng bền vững, tồn tại lâu trong môi trường, có khả năng tích lũy sinh học trong nông sản phẩm, thực phẩm, trong các nguồn nước mô mỡ của động vật gây

ra hàng loạt các bệnh nguy hiểm đối với con người, phổ biến nhất là ung thư Đặc biệt, các chất hữu cơ trên được tận dụng nhiều trong trong đời sống hàng ngày của con người ở các dạng dầu thải trong các thiết bị điện trong gia đình, các thiết bị ngành điện như máy biến thế, tụ điện, đèn huỳnh quang, dầu chịu nhiệt, dầu chế biến, chất làm mát trong truyền nhiệt…Theo đánh giá của các chuyên gia, các loại chất thải nguy hại ảnh hưởng đến sức khoẻ cộng đồng nghiêm trọng nhất là đối với khu dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm môi trường do chất thải rắn cũng đã đến mức báo động

Hiện kết quả phân tích mẫu đất, nước, không khí đều tìm thấy sự tồn tại của các hợp chất hữu cơ trên Cho đến nay, tác hại nghiêm trọng của chúng đã thể hiện rõ qua những hình ảnh các em bé bị dị dạng, số lượng những bệnh nhân bị bệnh tim mạch, rối loạn thần kinh, bệnh đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da… Do chất thải rắn gây ra và đặc biệt là những căn bệnh ung thư ngày càng gia tăng mà việc chuẩn đoán cũng như xác định phương pháp điều trị rất khó khăn Điều đáng lo ngại là hầu hết các chất thải rắn nguy hại đều rất khó phân hủy.Nếu nhiệt độ lò đốt không đạt từ 800 0C trở lên thì các chất này không phân hủy hết Ngoài ra, sau khi đốt, chất thải cần được làm lạnh nhanh, nếu không các chất lại tiếp tục liên kết với nhau tạo ra chất hữu cơ bền, thậm chí còn sinh ra khí dioxin cực độc Các đống rác thải hiện nay tại Việt Nam đang đối mặt nhiều nguy cơ lây lan bệnh truyền nhiễm, gây dịch nguy hiểm do môi trường đang bị ô nhiễm cả đất, nước và không khí RTSH đã ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe cộng đồng, nghiêm trọng nhất là đối với dân cư khu vực làng nghề, gần khu công nghiệp, bãi chôn lấp chất thải và vùng nông thôn ô nhiễm RTSH đã đến mức báo động Nhiều bệnh như đau mắt, bệnh đường hô hấp, bệnh ngoài da, tiêu chảy, dịch tả, thương hàn,…do loại RTSH gây ra Hậu quả của tình trạng RTSH đổ bừa bãi ở các gốc cây, đầu đường, góc hẻm, các dòng sông, lòng hồ hoặc RTSH lộ thiên

mà không được xử lý, đây sẽ là nơi nuôi dưỡng ruồi nhặng, chuột,… là nguyên nhân lây truyền mầm bệnh, gây mất mỹ quan môi trường xung quanh Rác thải

Trang 25

hữu cơ phân hủy tạo ra mùi và các khí độc hại như CH4, CO2, NH3,… gây ô nhiễm môi trường không khí Nước thải ra từ các bãi rác ngấm xuống đất, nước mặt và đặc biệt là nguồn nước ngầm gây ô nhiễm nghiêm trọng Các bãi chôn lấp rác còn là nơi phát sinh các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, thương hàn…Còn đối với loại hình công việc tiếp xúc trực tiếp với các loại chất thải rắn, bùn cặn (kim loại nặng, hữu cơ tổng hợp, thuốc bảo vệ thực vật, chứa vi sinh vật gây hại…) sẽ gây nguy hại cho da hoặc qua đường hô hấp gây các bệnh về đường hô hấp Một

số chất còn thấm qua mô mỡ đi vào cơ thể gây tổn thương, rối loạn chức năng, suy nhược cơ thể, gây ung thư

2.1.3.5 Ảnh hưởng của RTSH đối với mỹ quan

Chất thải rắn, đặc biệt là RTSH nếu không được thu gom, vận chuyển, xử lý

sẽ làm giảm mỹ quan đô thị Nguyên nhân của hiện tượng này là do ý thức của người dân chưa cao Tình trạng người dân vứt rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương rãnh hở vẫn còn phổ biến gây ô nhiễm nguồn nước và ngập úng khi mưa Vào các mùa lễ hội trong năm thì hiện tượng cảnh quan các khu vui chơi, giải trí các khu du lịch bị ô nhiễm trầm trọng do rác thải từ khách thăm quan chưa có ý thức cũng là một phần ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành du lịch nước ta

2.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ XỬ LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI

2.2.1 Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam

Lượng RTSH phát sinh trong giai đoạn 2011 - 2015 tiếp tục gia tăng và có

xu hướng tăng nhanh hơn so với giai đoạn 2006 - 2010 Theo số liệu thống kê được trong các năm từ 2007 đến 2010, tổng lượng RTSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc là 17.682 tấn/ngày (năm 2007); 26.224 tấn/ ngày (năm 2010), tăng trung bình 10% mỗi năm Đến năm 2014, khối lượng RTSH đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ ngày Chỉ tính riêng tại Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, khối lượng RTSH phát sinh là 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày (Bộ TN&MT, 2015) Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn từ 2010 - 2014 đạt trung bình 12% mỗi năm

Tại Hội nghị môi trường toàn quốc, Bộ TN&MT, tháng 9/2015 ở nước ta hiện nay, tốc độ phát sinh RTSH đang dao động từ 0,35 - 0,8kg/người/ngày Cùng với sự tăng trưởng kinh tế theo từng giai đoạn phát triển kéo theo mức sống

Trang 26

của người dân ngày càng cao cũng đồng nghĩa với việc lượng RTSH phát sinh từ những hoạt động của người dân ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần

và độc hại hơn về tính chất

Theo số liệu thống kê được trong các năm từ 2007 đến 2010, tổng lượng RTSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc là 17.682 tấn/ngày (năm 2007); 26.224 tấn/ ngày (năm 2010), tăng trung bình 10% mỗi năm Đến năm 2014, khối lượng RTSH đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ ngày Theo tính toán mức gia tăng của giai đoạn từ 2010 - 2014 đạt trung bình 12% mỗi năm và trung bình

1 người Việt Nam thải ra khoảng 200kg rác thải một năm

Ở các thành phố thị xã việc thu gom xử lý RTSH đã có Công ty Môi trường

đô thị đảm nhiệm Cứ tối đến xe chở rác của Công ty đi qua thì đem các túi RTSH ra bỏ lên xe và người dân phải nộp tiền thu gom ấy Tuy nhiên, ở nông thôn thì chưa mấy nơi có điều kiện làm được như vậy Tình hình chung hiện nay

là từng gia đình tự xử lý lấy tùy thuộc vào nhận thức và điều kiện của từng người Một số gia đình ở gần sông hồ hoặc có mương nước đi qua thì lợi dụng đêm tối đem vứt RTSH xuống, hậu quả thế nào đã có người khác chịu Nhiều gia đình thì gom RTSH vào các bao bì rồi chở đi đổ vào một nơi nào đó xa nhà Những địa điểm đổ rác của các xóm, làng, các cụm dân cư hiện nay là rất tùy tiện Đi dọc hai bờ một số dòng sông và các đường quốc lộ, các đường liên huyện… sẽ bắt gặp nhiều điểm đổ RTSH rất khó chịu

Thực tế đó đặt ra vấn đề cấp bách là cần có những giải pháp tích cực đối với môi trường nông thôn, nơi có đến hơn 70% số người sinh sống Điều đầu tiên

là cần tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức của người dân và đi kèm là những biện pháp giáo dục cảnh cáo, xử phạt Mặt khác cũng cần trang bị cho họ những thói quen phân loại RTSH Nên chăng ở mỗi ngã ba, ngã tư đường hoặc những chỗ quán xá, chợ búa nên đặt những thùng rác Có thể là hai loại thùng: một dành cho rác hữu cơ, thùng kia dành cho những bao bì, đồ nhựa… Đối với xác chết gia súc, gia cầm thì phải đào hố chôn sâu và rắc vôi khử trùng Vấn đề đặt ra trước mắt hiện nay là các địa phương nhất là các xã, thị trấn phải nhanh chóng quy định nơi đổ và thu gom RTSH cho từng điểm dân cư Nơi đổ rác có thể đào thành hố, xây tường thành bao quanh, có cửa ra vào đóng kín để tránh chó mèo làm vung vãi ra ngoài Hàng tuần, hàng tháng những lúc trời nắng, khô ráo nên cử người đốt rác nhất là bao bì để giảm bớt khối lượng… Nhưng để xây được những hố đổ rác như vậy cũng cần phải có kinh phí ban đầu

Trang 27

Lượng RTSH tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10% Tỷ lệ tăng cao tập trung ở các

đô thị đang có xu hướng mở rộng, phát triển mạnh cả về quy mô lẫn dân số và các khu công nghiệp, như các đô thị tỉnh Phú Thọ (19,9%), thành phố Phủ Lý (17,3%), Hưng Yên (12,3%), Rạch Giá (12,7%), Cao Lãnh (12,5%)… Các đô thị khu vực Tây Nguyên có tỷ lệ phát sinh RTSH tăng đồng đều hàng năm và với tỷ

lệ tăng ít hơn (5,0%)

Tổng lượng phát sinh RTSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó RTSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các

cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với RTSH đô thị

Kết quả điều tra tổng thể mới nhất cho thấy, lượng RTSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có

2 đô thị nhưng tổng lượng RTSH phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng RTSH phát sinh từ tất cả các đô thị

Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế – xã hội) thì các đô thị vùng Đông Nam bộ có lượng RTSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245 tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh RTSH các đô thị loại III trở lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng phát sinh RTSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%) Các đô thị khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh RTSH đô thị thấp nhất chỉ có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh RTSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm 3,68%) Đô thị có lượng RTSH phát sinh lớn nhất là TP.Hồ Chí Minh (5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng RTSH phát sinh ít nhất là Bắc Kạn – 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng 20 tấn/ngày; TP.Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP.Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã Hà Giang 37,1 tấn/ngày (Trần Chung, 2015)

Tỷ lệ phát sinh RTSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt

và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96kg/người/ngày); đô thị loại II và loại

Trang 28

III có tỷ lệ phát sinh RTSH đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 – 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát sinh RTSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65 kg/người/ngày

Tỷ lệ phát sinh RTSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như TP.Hạ Long 1,38kg/người/ngày; TP.Hội An 1,08kg/người/ngày; TP.Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP.Ninh Bình 1,30kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh RTSH tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày (Trần Chung, 2015) Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng lượng phát sinh RTSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới Tổng lượng phát sinh RTSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả các đô thị Việt Nam

là 6,4 triệu tấn/năm) Dự báo tổng đến năm 2020 khoảng gần 22 triệu tấn/năm

Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do RTSH gây ra (Trần Chung, 2015) Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Xuân, 2017: Cùng với sự tăng trưởng kinh tế theo từng giai đoạn phát triển thì mức sống của người dân ngày càng cao, đồng nghĩa với việc lượng rác thải phát sinh từ những hoạt động của người dân ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và độc hại hơn về tính chất Ở nước ta hiện nay, tốc độ phát sinh rác thải đang dao động từ 0,35 - 0,8kg/người/ngày

Năm 2015, Minh Cường đã chỉ ra rằng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt tại thành phố Hà Nội tăng trung bình 15% một năm, tổng lượng rác thải ra ngoài môi trường lên tới 5.000 tấn/ngày Và tại thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, mỗi năm cần tới 235 tỉ đồng để xử lý.

Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng RTSH phát sinh Tỷ lệ thu gom RTSH tại khu vực nông thôn còn thấp,

Trang 29

trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng RTSH phát sinh, tỷ lệ thu gom RTSH tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom RTSH tại các vùng sâu, vùng xa

Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo hoạch xử lý chất thải rắn của các địa phương Trong số 26 cơ sở

xử lý chất thải rắn có 03 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ, 11cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được mô hình xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường

Theo thống kê tính đến năm 2013 có khoảng 458 bãi chôn lấp RTSH có quy

mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và

337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường (Nguyễn Văn Lâm, 2015)

Một số khó khăn chủ yếu về việc quản lý RTSH kém hiệu quả:

Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác xử lý RTSH, nhất là đối với CTR thải độc hại là rất lớn Vốn đầu tư này lại cần được huy động từ các nguồn ngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế, nguồn giúp đỡ của các Chính phủ và tổ chức phi chính phủ Hiện nay, nhiều địa phương ở tỉnh ta đã có quy hoạch bãi chôn lấp rác, nhưng kinh phí đầu tư cho việc xây dựng bãi chôn lấp và xử lý rác thải theo yêu cầu bảo vệ môi trường lại thiếu nên không thực hiện được

Nhận thức về việc thu gom xử lý đối với cán bộ, nhân viên trực tiếp làm công tác này còn chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu huỷ RTSH Một số lãnh đạo cấp địa phương, doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm đến việc xử lý RTSH Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng chưa sâu rộng, từ đó đã gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành

Môi trường thực thi pháp luật chưa thuận lợi mặc dù có Luật Bảo vệ môi trường; Chính phủ và các Bộ ngành đã có nhiều văn bản ban hành liên quan đến

Trang 30

việc quản lý thu gom và xử lý RTSH ở khu vực thành thị, nông thôn, khu vực sản xuất công nghiệp, bệnh viện nhưng các văn bản này chưa thấm sâu vào đời sống

xã hội Nhiều địa phương, doanh nghiệp, lãnh đạo chưa quan tâm đầu tư kinh phí

và phương tiện để thực hiện công tác này

Các giải pháp xử lý RTSH chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn quản lý RTSH Hoạt động giám sát của các

cơ quan chức năng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở cấp địa phương còn lỏng lẻo, còn thiếu các biện pháp giáo dục nâng cao nhận thức và hệ thống chế tài hiệu quả để có thể khuyến khích các tổ chức, cá nhân, đơn vị tham gia vào lĩnh vực này

Năng lực cung cấp các dịch vụ quản lý rác thải nói chung và đặc biệt là rác thải độc hại ở các địa phương, doanh nghiệp không chỉ thiếu về số lượng mà chất lượng dịch vụ cũng còn chưa cao Bên cạnh đó, các địa phương còn khó tiếp cận với các cơ sở cung cấp dịch vụ để xử lý rác thải, nhất là đối với rác thải độc hại Hiện nay tại Việt Nam thì cũng đã có nhiều chính sách pháp luật quản lý RTSH cụ thể như sau:

Luật BVMT 2014 ban hành ngày 23/4/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015 Nghị định Số:19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 quy định chi tiết về một số điều của Luật BVMT 2014

Nghị định Số:38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 Về quản lý chất thải và phế liệu

Nghị định Số:155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

2.2.2 Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên thế giới

Ở Nhật Bản, vấn đề xử lý rác thải và đảm bảo an ninh rác được thực hiện rất hiệu quả nhờ thực hiện thành công hệ thống phân loại rác ngay từ đầu và áp dụng công nghệ xử lý, tái chế rác hiện đại Hệ thống phân loại rác của Nhật Bản tương đối phức tạp Mỗi thành phố, thị trấn và quận đều có một hệ thống hoàn toàn khác nhau Ví dụ, 23 khu phố ở Tokyo có hệ thống phân loại rác riêng, tất

cả rác có thể đốt cháy được yêu cầu đựng vào túi đỏ, rác không thể đốt cháy đựng trong túi màu xanh dương trong khi giấy, nhựa, chai lọ, nhựa mềm, báo, bìa, thủy tinh và pin đựng ở túi màu trắng

Trang 31

Nhật Bản xả tổng cộng 45.360.000 tấn rác mỗi năm, xếp thứ 8 trên thế giới Do không có nhiều đất để chôn rác như Mỹ và Trung Quốc, Nhật Bản buộc phải dựa vào giải pháp khác là đốt rác Nước này đã sử dụng đốt bằng tầng sôi, phương pháp hiệu quả để đốt những vật liệu khó cháy Ngoài ra, 20,8% tổng lượng rác thải hàng năm được Nhật Bản đưa vào tái chế, đặc biệt là các chai nhựa tổng hợp polyethylene terephthalate (PET) PET là vật liệu phổ biến để sản xuất chai đựng nước uống trong các máy bán hàng tự động và cửa hàng tạp hóa trên khắp đất nước Nhật Nhiều công ty Nhật Bản đang tăng cường sử dụng nhựa

từ chai PET cũ để sản xuất mới Chai lọ PET chưa trải qua quá trình lọc có thể được chuyển thành sợi may quần áo, túi, thảm và áo mưa (Phương Hoa, 2016)

Tại Đông Nam Á, Singapore đã thành công trong quản lý chất thải rắn để bảo vệ môi trường Chính phủ Singapore đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà nước Nhiều quốc gia cũng đang trong quá trình tìm kiếm hoặc triển khai mới mô hình quản lý chất thải rắn Trong khi đó, tại Bangkok, việc phân loại rác tại nguồn chỉ mới thực hiện được tại một số trường học và một số quận trung tâm để tách ra một số loại bao bì dễ tái chế, lượng rác còn lại vẫn đang phải chôn lấp, tuy nhiên được ép chặt để giảm thể tích và cuốn nilon rất kỹ xung quanh mỗi khối rác để giảm bớt ô nhiễm

Ở Ấn Độ hàng năm thải bỏ đi gần 6,4 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó 3,09 triệu tấn có thể tái chế được, 0,41 triệu tấn có thể thiêu hủy và 2,73 triệu tấn

sẽ phải đổ ra bãi chứa rác thải Hầu hết rác thải có các đặc tính phù hợp cho việc tận dụng chúng làm nguyên liệu nguồn, hoặc cho việc khôi phục năng lượng hoặc các nguyên liệu như kim loại hoặc sử dụng chúng trong ngành xây dựng, chế tạo các sản phẩm cấp thấp hoặc cho khôi phục lại chính sản phẩm đó, mà sau khi sử lý có thể được sử dụng như là một nguyên liệu nguồn Do vậy, một ý tưởng mới hình thành để sử lý rác thải nguy hại làm nguyên liệu nguồn thay vì là nguyên liệu khó thải bỏ (Hồng Nhung và Thu Giang, 2016)

Tại Mỹ, Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) quy định về tất cả các loại phế thải theo Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên năm 1976 (RCRA) Chất thải rắn có thể bao gồm cả rác thải và bùn từ các nhà máy xử lý nước thải và các loại phế thải khác từ các hoạt động công nghiệp RCRA bao gồm xử lý các loại chất thải rắn, chất thải độc hại, khuyến khích các các nhân, tổ chức xây dựng những kế hoạch toàn diện để quản lý chất thải Khu vực phía Tây có số lượng bãi

Trang 32

chôn lấp nhiều nhất cả nước Những bãi chôn lấp phải tuân thủ các quy định của Liên bang trong việc ngăn ngừa ô nhiễm cũng như cung cấp các hệ thống giám sát ô nhiễm nước ngầm và bãi chôn chất thải khí Các công ty quản lý phải đảm bảo kinh phí bảo vệ môi trường trong suốt toàn bộ vòng đời của một bãi chôn lấp rác thải Đối với chất thải rắn được tái chế hay biến thành phân bón để cải tạo đất

đã giúp giảm lượng khí thải carbon dioxide (Hồng Nhung và Thu Giang, 2016) 2.2.3 Một số phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt hoạt hiện nay

có hệ thốngmà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiện một cách tự phát

Rác thải điện tử là một trong những loại rác được tái chế khá nhiều ở Việt Nam Các máy tính, tivi, đầu máy hỏng thường được bán cho đội ngũ thu gom phế thải (đồng nát, ve chai) Các sản phẩm thải ra này thường được tách ra để thu gom linh kiện, hoặc lấy kim loại và vỏ máy đem bán lại cho các cơ sở tái chế Tuy nhiên, điều đáng nói là công nghệ tái chế tại các cơ sở này còn quá lạc hậu Sau khi các kim loại và linh kiện điện tử còn dùng được được bóc tách và đem bán hoặc sửa chữa, phần còn lại chủ yếu được đốt hoặc nghiền rồi pha thêm hóa chất để tạo ra sản phẩm mới, vốn là các sản phẩm đơn giản như chai lọ, túi nylon với số lượng còn hạn chế

Tái chế nhựa cũng là một ngành tiềm năng ở nước ta Hiện nay, Việt Nam

có hơn 2.200 doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nhựa, khoảng 80-90% nguồn nguyên liệu đều phải nhập khẩu trong khi tốc độ phát triển của ngành này là từ

15 đến 20% mỗi năm Tuy nhiên, hiện nay, việc tái chế nhựa ở qui mô công

Trang 33

nghiệpchưa được thực sự quan tâm phát triển Các cơ sở tái chế nhựa chủ yếu là

cơ sở qui mô hộ gia đình, tập trung ở các làng nghề với công nghệ thủ công, lạc hậu nên gây ô nhiêm môi trường nghiêm trọng như làng nghề Đông Mẫu, xã Yên Đồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Cả làng có hơn 40 cơ sở tái chế nhựa và hàng chục hộ thu mua phế thải nhựa cung cấp cho các cơ sở tái chế Mỗi tháng, làng tái chế khoảng 150-200 tấn nhựa

Ngoài ra, giấy cũng là vật liệu có thể tái chế nhưng ở Việt Nam, tỉ lệ giấy

đã sử dụng thu hồi được so với tổng lượng giấy tiêu dùng chỉ ở mức khoảng 25%, rất thấp so với các nước trong khu vực vì nhiều lý do: công nghệ, chi phí, cách hợp thức hóa trong chi phí sản xuất đối với việc mua giấy loại thu gom trong nước phức tạp, khiến công tác thu hồi giấy trong nước không có tiến triển Giấy đã qua sử dụng sau khi thu hồi chuyển về nhà máy có thể tái chế thành giấy khăn giấy làm bao bì, giấy tissue, giấy in báo Các cơ sở sản xuất quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng giấy loại thu gom trong nước để sản xuất các sản phẩm cấp thấp Ngược lại, các cơ sở quy mô trung bình và lớn chủ yếu sử dụng giấy đã dùng nhập khẩu từ nước ngoài để tái chế giấy phục vụ cho các sản phẩm cao cấp hơn

Từ năm 2000 đến nay, nhiều dây chuyền hiện đại, đồng bộ sản xuất bột từ giấy thu hồi đã được lắp đặt ở Việt Nam Năm 2009, Việt Nam đưa vào sản xuất một số dây chuyền sản xuất mới với tổng công suất 190.000 tấn/năm Bên cạnh

đó, những dây chuyền cũ được nâng cấp các khâu nghiền, sàng bột và tách xơ sợi nhằm đem lại hiệu suất bột cao hơn và chất lượng bột tốt hơn Công nghệ sử dụng giấy đã qua sử dụng ở Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực, góp phần kích thích sự phát triển của hoạt động thu gom giấy thải và phát triển ngành công nghiệp giấy trong nước (Văn Hữu Tập, 2016)

Phương pháp này có ưu điểm là nó có thể giúp tiết kiệm vật liệu cũng như giảm việc phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính Tái chế có nhiều hiệu quả, giảm việc sử dụng nguồn nguyên liệu tươi (nguyên liệu chưa qua chế biến), giảm tiêu tốn năng lượng, phát thải khí độc ra môi trường (thông qua đốt chất thải) và cuối cùng giúp giảm đáng kể việc ô nhiễm nước rỉ rác từ việc chôn lấp rác thải

Nhược điểm của phương pháp này là chất lượng đầu vào của sản phẩm tái chế còn chưa cao Sản phẩm tái chế có chất lượng không cao so với các sản phẩm được sản xuất bằng các nguyên liệu tinh ban đầu

Trang 34

2.2.3.2 Xử lý bằng phương pháp thiêu đốt

Thiêu đốt là phương pháp phổ biến hiện nay trên thế giới để xử lý chất thải rắn nói chung, đặc biệt là đối với chất thải rắn độc hại công nghiệp, chất thải nguy hại y tế nói riêng Xử lý khói thải sinh ra từ quá trình thiêu đốt là một vấn

đề cần đặc biệt quan tâm Phụ thuộc vào thành phần khí thải, các phương pháp

xử lý phù hợp có thể được áp dụng như phương pháp hoá học (kết tủa, trung hoà, ôxy hoá…), phương pháp hoá lý (hấp thụ, hấp phụ, điện ly), phương pháp cơ học (lọc, lắng)…

Thiêu đốt chất thải rắn là giai đoạn xử lý cuối cùng được áp dụng cho một

số loại chất thải nhất định không thể xử lý bằng các biện pháp khác Đây là giai đoạn ôxy hoá nhiệt độ cao với sự có mặt của ôxy trong không khí, trong đó có rác độc hại được chuyển hoá thành khí và các thành phần không cháy được Khí thải sinh ra trong quá trình thiêu đốt được làm sạch thoát ra ngoài môi trường không khí Tro xỉ được chôn lấp

Phương pháp thiêu đốt được sử dụng rộng rãi ở một số nước như Nhật Bản, Đức, Thuỵ Sĩ, Hà Lan, Đan Mạch… là những nước có số lượng đất cho các khu thải rác bị hạn chế

Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm bớt tới mức nhỏ nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng là chôn lấp tro, xỉ Mặt khác, năng lượng phát sinh trong quá trình thiêu đốt có thể tận dụng cho các

lò hơi, lò sưởi hoặc các nghành công nghiệp cần nhiệt và phát điện Mỗi lò đốt cần phải được trang bị một hệ thống xử lý khí thải, nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt có thể gây ra

Mặc dù phương pháp xử lý bằng thiêu đốt đòi hỏi chi phí xử lý cao nhưng vẫn thường áp dụng để xử lý rác thải độc hại như rác thải y tế và công nghiệp vì các phương pháp này xử lý tương đối triệt để chất gây ô nhiễm

Quá trình thiêu đốt rác thải thường được thực hiện trong các lò đốt rác chuyên dụng ở nhiệt độ cao, thường từ 850 đến 1.100oC Bản chất của quá trình là tiến hành phản ứng cháy, tức phản ứng ôxy hoá rác thải bằng nhiệt và ôxy của không khí Nhiệt độ phản ứng được duy trì bằng cách bổ sung năng lượng như năng lượng điện hay nhiệt toả ra khi đốt cháy nhiên liệu như gas, dầu diezen…

Trang 35

Ngoài ra xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có ý nghĩa quan trọng

là làm giảm thể tích tới mức nhỏ nhất cho khâu xử lý cuối cùng là đóng rắn hoặc tái sử dụng tro, xỉ (Văn Hữu Tập, 2016)

Phương pháp này có một số ưu nhược điểm sau đây:

Ưu điểm: Giảm thể tích khối chất thải nhanh chóng, tốn ít quỹ đất, khả năng tận dụng nhiệt cho lò hơi, lò sưởi hoặc các lò công nghiệp và phát điện, xử lý triệt để thành phần ô nhiễm, loại bỏ được nhiều chất độc hại Thu hồi năng lượng, xử lý được các chất thải nguy hiểm có thể đốt được, nguy cơ ô nhiễm nước ngầm ít hơn chôn lấp rác, xử lý nhanh và tốn diện tích chỉ bằng 1/6 so với phương pháp vi sinh

Nhược điểm: Phát sinh các khí thứ cấp độc hại, chi phí đầu tư ban đầu và bảo trì lớn, khi vận hành đòi hỏi rác có nhiệt trị cao, có thể gặp khó khăn khi có

sự thay đổi về thành phần chất thải chi phí xử lý cao và gây ô nhiễm không khí (Văn Hữu Tập, 2016)

2.2.3.3 Phương pháp chôn lấp

Trong các phương pháp xử lý và tiêu huỷ chất thải rắn trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, chôn lấp là phương pháp phổ biến và đơn giản nhất Phương pháp này đã được áp dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới

Về thực chất, chôn lấp là phương pháp lưu giữ chất thải trong một khu vực và có phủ đất lên trên

Phương pháp chôn lấp thường áp dụng cho đối tượng chất thải rắn là rác thải

đô thị không được sử dụng để tái chế, tro xỉ của các lò đốt, chất thải công nghiệp Phương pháp chôn lấp cũng thường áp dụng để chôn lấp chất thải nguy hại, chất thải phóng xạ ở các bãi chôn lấp có thiết kế đặc biệt cho rác thải nguy hại

Chôn lấp hợp vệ sinh là một phương pháp kiểm soát sự phân huỷ của các chất rắn khi chúng được chôn nén và phủ lấp bề mặt Chất thải rắn trong bãi chôn lấp sẽ bị tan rữa nhờ quá trình phân huỷ sinh học bên trong để tạo ra sản phẩm cuối cùng là các chất giàu dinh dưỡng như axit hữu cơ, nitơ, các hợp chất amon

và một số khí như CO2, CH4

Tại miền Bắc, bãi chôn lấp rác thải Nam Sơn (Sóc Sơn, Hà Nội) là bãi chôn lấp rác lớn nhất, chịu trách nhiệm xử lý rác cho toàn thành phố Hà Nội Mỗi ngày bãi chôn lấp rác Nam Sơn tiếp nhận khoảng 3.000 tấn rác và có thể tăng lên

Trang 36

4.000 tấn/ngày trong 2 năm tới Hiện tại, bãi Nam Sơn đã lấp đầy 6/9 ô chôn lấp (Văn Hữu Tập, 2016)

Bã chôn lấp là một d ện tích hoặc một khu đất được quy hoạch, lựa chọn,

th ết kế để thả bỏ chất thả rắn Bã chôn lấp bao gồm các ô chôn lấp chất thả , vùng đệm và các công trình phụ trợ khác nhau như trạm xử lý nước rác, khí thả , cung cấp đ ện, nước và phòng đ ều hành Phương pháp này chi phí rẻ nhất, bình quân ở các khu vực Đông Nam Á là 1-2 USD/tấn Phương pháp này thường phù hợp với các nước đang phát triển

Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách dùng xe chuyên dụng chở rác tới các bãi đã xây dựng Sau khi rác được đổ xuống, xe ủi san bằng, đầm nén trên bề mặt và đổ lên một lớp đất, hàng ngày phun thuốc diệt ruồi muỗi, rắc vôi bột,… Theo thời gian, sự phân hủy của vi sinh vật làm cho rác trở nên tơi xốp và thể tích của bãi rác giảm xuống Việc đổ rác được tiếp tục cho đến khi bãi rác đầy thì chuyển sang bãi rác mới

Đây là một hướng tiếp cận xả thải đang được áp dụng khá phổ ở nhiều nước, kể cả những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới Với cách này, rác thải được tập trung tại các điểm thu gom rác, sau đó đưa ra các khu vực ngoại thành xa đô thị để chôn lấp theo một quy trình kỹ thuật đảm bảo vệ sinh

Phương pháp này có ưu nhược điểm như sau:

Ưu điểm: Xử lý khối lượng rất lớn chất thải, chi phí đầu tư và chi phí xử lý nhỏ, đơn giản so với các công nghệ khác, chi phí đầu tư và vận hành thấp, có thể thu hồi khí CH4

Nhược điểm: Phương pháp này khi được ử dụng thì lại chiếm nhiều đất, khó kiểm soát nước rỉ rác, ô nhiễm không khí, mùi hôi khu vực chung quanh bãi chôn lấp (Nguyễn Hữu Dũng, 2011)

2.2.3.4 Phương pháp ủ sinh học

Là quá trình ủ sinh học áp dụng đối với chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước, sau là xử lý cho tới khi nó thành xốp và ẩm Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm soát để giữ cho vật liệu luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian

ủ Quá trình tự tạo ra nhiệt riêng nhờ quá trình ôxy hoá sinh hoá các chất hữu cơ Sản phẩm cuối cùng của quá trình phân huỷ là CO2, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững như lignin, xenlulo, sợi…

Trang 37

Đối với RTSH chứa nhiều rác hữu cơ có thể áp dụng công nghệ ủ sinh học theo đống Đối với qui mô lớn có thể áp dụng công nghệ ủ sinh học theo qui mô công nghiệp Nhiệt độ, độ ẩm và độ thông khí được kiểm soát chặt chẽ để quá trình ủ là tối ưu

Tại Việt Nam, Nhà máy chế biến phế thải Cầu Diễn thuộc Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO)

là một trong những nhà máy đi đầu Việt Nam trong lĩnh vực ủ sinh học rác thải hữu cơ để chế biến phân compost

Ngoài ra, tại phía Bắc còn có nhà máy chế biến phế thải Việt Trì, nay đổi tên và phát triển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn Nhà nước Một thành viên xử

lý và chế biến chất thải Phú Thọ cũng có kinh nghiệm lâu năm trong lĩnh vực ủ sinh học (Văn Hữu Tập, 2016)

Phương pháp này cũng có một số ưu nhược điểm như sau:

Ưu điểm: Giảm diện tích đất chôn lấp chất thải, tăng khả năng chống ô nhiễm môi trường Sử dụng lại được 50% các chất hữu cơ có trong thành phần chất thải để chế biễn làm phân bón Phân loại được các loại rác thải có thể tái sử dụng phục vụ cho công nghiệp Vận hành đơn giản

Nhược điểm: Việc phân loại vẫn phải thực hiện thủ công nên ảnh hưởng đến sức khỏe của người công nhân Mức độ tự động hóa của công nghệ chưa cao Chất lượng sản phẩm chưa cao, không đồng đều

2.3.4 Các công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay

Công nghệ chế biến phân vi sinh: Nước ta hiện có hơn 10 nhà máy chế biến rác thải hữu cơ thành phân bón vi sinh Các nhà máy này thường thực hiện ở các thành phố lớn nhưng với quy mô và công suất nhỏ Đó là nhà máy chế biến rác thải Cầu Diễn (Hà Nội) với công suất xử lý 50.000 tấn rác/năm (công nghệ Tây Ban Nha); Nhà máy xử lý rác thải Nam Định với công suất xử lý 250 tấn/ngày (công nghệ Pháp); công nghệ Dano - Đan Mạch tại Hoóc Môn, TP HCM công suất 240 tấn/ngày; Nhà máy xử lý rác thải Hải Phòng với công suất

200 tấn/ngày Ngoài ra, một số đô thị khác như Việt Trì, Vinh, Sơn Tây, Huế, Ninh Thuận cũng có nhà máy xử lý rác thành phân bón, nhựa tái sinh, vật liệu xây dựng hoàn toàn do Việt Nam tự nghiên cứu và chế tạo

Công nghệ chôn lấp: Hầu như các đô thị đều sử dụng phương pháp chôn lấp CTR là chủ yếu, tuy nhiên thì số bãi rác hợp vệ sinh khi chôn lấp còn thấp

Trang 38

Công nghệ thiêu đốt: Chủ yếu được xử lý đốt tại một số khu tập trung lớn như khu xử lý rác Nam Sơn (Hà Nội)

Tái chế, tái sử dụng: Ngoài chế biến rác hữu cơ thành phân bón, các thành phần khác (như nilon, nhựa, cao su ) cũng được chế biến thành hạt nhựa, ống cống và vật liệu xây dựng tại một số nhà máy Đa số các thành phần kim loại, nhựa, nilon, giấy, thuỷ tinh, cao su có trong rác thải (khoảng 20% CTR) được lực lượng “đồng nát” thu mua và đưa đi tái sử dụng/tái chế tại các làng nghề

Công nghệ Seraphin tại Đông Vinh (thành phố Vinh – Nghệ An) và tại Sơn Tây (Hà Nội) là dây chuyền công nghệ, thiết bị xử lý và tái chế rác thải khép kín

Công nghệ MBT – CD – 08 tại thị trấn Đồng Văn (huyện Duy Tiên – Hà Nam) mô hình xử lý CTR sinh hoạt thành nhiên liệu đốt dân dụng và công nghiệp

Công nghệ An Sinh (ASC) tại Thuỷ Phương (Huế) mô hình xử lý CTR sinh hoạt thành phân compost

Trang 39

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CÚU

Trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian từ tháng 3/2017 - tháng 3/2018

3.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Rác thải sinh hoạt từ hộ gia đình

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Hiện trạng RTSH tại huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Thu nhập của các hộ gia đình ảnh hưởng đến lượng RTSH và đặc điểm của RTSH trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Công tác quản lý RTSH trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý RTSH trên địa bàn huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Tập hợp các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, tình hình dân số,

số liệu về vận chuyển, thu gom, xử lý rác sinh hoạt tại UBND huyện Yên Phong, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Phong, các cán bộ môi trường xã, thị trấn, các nghiên cứu cá nhân, sách báo, tạp chí, website…

3.5.2 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp

3.5.2.1 Phương pháp chọn điểm điều tra

Do đặc điểm của huyện Yên Phong có các vùng thuần nông, khu vực đô thị nên luận văn chia ra làm 2 khu vực nhằm tiến hành điều tra đại diện cho huyện

Vùng nông thôn (khu vực 1): Tiến hành điều tra tại xã Đông Tiến, xã Đông Thọ, xã Hòa Tiến Các xã này do đều nằm cách trung tâm huyện là thị trấn Chờ khoảng cách tương đương nhau Đồng thời nằm ở 3 hướng khác nhau về vị

Trang 40

trí địa lý nên sẽ có điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đại diện cho các xã khu vực nông thôn trên địa bàn huyện

Vùng đô thị (khu vực 2): Tiến hành điều tra tại Thị trấn Chờ

3.5.2.2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn

Đề tài đã thực hiện điều tra tại khu vực nông thôn và khu vực thành thị với tổng số phiếu là 200 Trong đó vùng nông thôn: 100 phiếu, vùng thành thị: 100 phiếu Tiến hành điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập các thông tin về lượng rác cũng như tình hình quản lý rác thải sinh hoạt hàng ngày của các hộ gia đình

- Phương pháp phỏng vấn cán bộ thu gom tiến hành phỏng vấn 16 cán bộ thu gom của các khu vực được điều tra Mỗi thôn hỏi một cán bộ thu gom để thu thập thông tin về lượng rác cần xử lý và phương thức xử lý phần rác sau khi được thu gom

3.5.2.3 Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác

- Tiến hành điều tra phỏng vấn 200 hộ theo kế hoạch để phân tích các thành phần có trong RTSH Ngoài ra còn phân tích sự phụ thuộc của khối lượng RTSH phát sinh phụ thuộc vào thành phần nào là chủ yếu

- Chọn 3 nhóm hộ tại các khu vực phỏng vấn phân theo mức thu nhập được chia thành ba khoảng:

 Nhóm 1: Các hộ có thu nhập trung bình <2 triệu/người/tháng

 Nhóm 2: Các hộ có khoảng thu nhập trung bình từ 2 triệu/người/tháng đến 4,5 triệu/người/tháng

 Nhóm 3: Các hộ có khoảng thu nhập trung bình > 4,5 triệu/người/tháng Khi phỏng vấn các hộ thì RTSH sẽ được phân loại thành 4 nhóm chính rác như sau:

- Nhóm 1 : Nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế: Gồm các vật liệu có thể thu hồi để tái chế hoặc tái sử dụng như: Giấy, bìa các tông, sắt, thép, vỏ chai, nhựa…

- Nhóm 2 : Nhóm rác hữu cơ: Thực phẩm thừa, cành, lá cây,…

- Nhóm 3 : Nhóm rác nguy hại: Bóng đèn huỳnh quang, bình ắc quy, pin hỏng,…

- Nhóm 4 : Các loại rác khác không thuộc 3 nhóm rác trên

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w