1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(LUẬN văn THẠC sĩ) đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện đầm hà, tỉnh quảng ninh

124 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 13,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

  • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

  • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

    • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

    • 1.3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

    • 1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

      • 1.4.1. Những đóng góp mới

      • 1.4.2. Ý nghĩa khoa học

      • 1.4.3. Ý nghĩa thực tiễn

  • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

    • 2.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNGNGHİỆP

      • 2.1.1. Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp

        • 2.1.1.1. Khái quát đất nông nghiệp

        • 2.1.1.2. Vai trò đất nông nghiệp

      • 2.1.2. Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp

    • 2.2. QUAN ĐİỂM SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG

    • 2.3. ĐÁNH GİÁ HİỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHİỆP

      • 2.3.1. Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

        • 2.3.1.1. Khái niệm về hiệu quả

        • 2.3.1.2. Hiệu quả kinh tế

        • 2.3.1.2. Hiệu quả xã hội

        • 2.3.1.3. Hiệu quả môi trường

      • 2.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

        • 2.3.2.1. Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên

        • 2.3.2.2. Nhóm các yếu tố về kinh tế - xã hội

    • 2.4. NHỮNG NGHİÊN CỨU VỀ HİỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNGNGHİỆP TRÊN THẾ GİỚİ VÀ Ở VİỆT NAM

      • 2.4.1. Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

      • 2.4.2. Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam

      • 2.4.3. Khái quát vùng đất ven biển tỉnh Quảng Ninh

  • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • 3.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

      • 3.1.1. Điều tra, đánh giá đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đầm Hàgiai đoạn 2015-2017

      • 3.1.2. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Đầm Hà giai đoạn2015 - 2017

      • 3.1.3. Đánh giá hiệu quả các loại sử dụng đất nông nghiệp huyện Đầm Hà

      • 3.1.4 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trênđịa bàn huyện Đầm Hà

    • 3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.2.1. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp

      • 3.2.2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp

      • 3.2.3. Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất

        • 3.2.3.1. Các chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế

        • 3.2.3.2. Các chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả xã hội

        • 3.2.3.3. Các chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả về môi trường

        • 3.2.3.4. Đánh giá tổng hợp hiệu quả sử dụng đất của một LUT

      • 3.2.4. Phương pháp tính toán, tổng hợp và phân tích số liệu

      • 3.2.5. Phương pháp minh họa

  • PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

    • 4.1. ĐİỀU KİỆN TỰ NHİÊN, KİNH TẾ - XÃ HỘİ CỦA HUYỆN ĐẦM HÀ,TỈNH QUẢNG NİNH

      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên

        • 4.1.1.1. Vị trí địa lý

        • 4.1.1.2. Địa hình

        • 4.1.1.3. Khí hậu

        • 4.1.1.4. Thủy văn

        • 4.1.1.5. Tài nguyên đất

      • 4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội

        • 4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

        • 4.1.2.2. Dân số và lao động

        • 4.1.2.3. Thực trạng phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật

      • 4.1.3. Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở huyện Đầm Hà

        • 4.1.3.1. Các lợi thế

        • 4.1.3.2. Những hạn chế

    • 4.2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP HUYỆNĐẦM HÀ GIAI ĐOẠN 2015 - 2017

      • 4.2.1. Hiện trạng sử dụng, biến động đất nông nghiệp của huyện Đầm Hàgiai đoạn 2015 - 2017

        • 4.2.1.1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp

        • 4.2.1.2. Biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2015 - 2017 của huyện Đầm Hà

      • 4.2.2. Xác định các loại sử dụng đất chủ yếu trên địa bàn huyện Đầm Hà

    • 4.3. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC LOẠI SỬ DỤNG ĐẤT NÔNGNGHIỆP HUYỆN ĐẦM HÀ

      • 4.3.1. Hiệu quả kinh tế

      • 4.3.2. Hiệu quả xã hội

      • 4.3.3. Hiệu quả môi trường

        • 4.3.3.1. Mức độ sử dụng phân bón/thức ăn chăn nuôi

        • 4.3.3.2. Mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật/thuốc khử trùng, kháng sinh

        • 4.3.3.4. Đánh giá tổng hợp hiệu quả môi trường của các LUT trên địa bàn huyệnĐầm Hà

      • 4.3.4. Tổng hợp hiểu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Đầm Hà

    • 4.4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤTNÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐẦM HÀ

      • 4.4.1. Lựa chọn các loại sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả

      • 4.4.2. Đề xuất kiểu sử dụng đất nông nghiệp theo các tiểu vùng

      • 4.4.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bànhuyện Đầm Hà

        • 4.4.3.1. Giải pháp về kỹ thuật canh tác

        • 4.4.3.2. Giải pháp về khuyến nông

        • 4.4.3.3. Giải pháp về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp

        • 4.4.3.4. Giải pháp về khoa học, kỹ thuật

        • 4.4.3.5. Giải pháp về môi trường

  • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

    • 5.1. KẾT LUẬN

    • 5.2. KIẾN NGHỊ

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • I. Tài liệu Tiếng Việt

    • II. Tài liệu Tiếng Anh

  • PHỤ LỤC

Nội dung

Huyện Đầm Hà nằm trong vùng bán sơn địa ven biển có vùng đồi núi rộng, vùng đất đồng bằng tương đối lớn với gần 80% dân số sống bằng nông nghiệp nên nguồn lao động dồi dào rất thích hợp

Tổng quan tàı lıệu

Một số vấn đề lý luận cơ bản về sử dụng đất nông nghiệp

2.1.1 Đất nông nghiệp và vai trò của đất nông nghiệp

2.1.1.1 Khái quát đất nông nghiệp Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người Nói về tầm quan trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” (Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, 2012)

Dựa trên mục đích sử dụng, Luật đất đai 2013 phân loại đất thành ba nhóm chính: đất nông nghiệp (gồm 8 loại đất), đất phi nông nghiệp (gồm 10 loại đất) và đất chưa sử dụng (gồm các loại chưa xác định mục đích sử dụng) Đất là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là đối tượng lao động độc đáo, đồng thời cũng là môi trường sản xuất ra lương thực thực phẩm với chi phí thấp nhất, là một nhân tố quan trọng của môi trường và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay hủy diệt các yếu tố khác của môi trường, nên chiến lược sử dụng đất hợp lý phải là một phần của chiến lược nông nghiệp sinh thái và lâu bền của tất cả các nước trên thế giới cũng như của Việt Nam hiện nay.

Đất có giá trị chủ yếu khi được sử dụng bởi con người, và giá trị này phụ thuộc vào mức độ đầu tư trí tuệ cùng các yếu tố đầu vào khác cho quá trình sản xuất Hiệu quả của các đầu tư này phụ thuộc rất lớn vào lợi thế hiện có của quỹ đất và vào các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể tại từng khu vực.

2.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia đóng vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của loài người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho quá trình sản xuất nhưng vai trò của đất với các ngành có tầm quan trọng khác nhau Đối với nông nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động, là công cụ lao động hay phương tiện lao động Như vậy, đất trở thành công cụ sản xuất, năng suất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất

Trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế, đồng thời vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất Đất đai là nơi con người tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm, đồng thời là một tài nguyên tự nhiên có sức sản xuất ngày càng tăng lên khi được sử dụng hợp lý Việc sử dụng đất đai cần dựa trên quan điểm bồi dưỡng, bảo vệ và làm giàu thông qua hoạt động của con người Vì vậy, quản lý toàn diện đất đai là cơ sở để nâng cao năng suất và bảo đảm phát triển nông - lâm nghiệp bền vững.

Đất đai đóng vai trò rất quan trọng và tích cực trong quá trình sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế Thông qua quá trình phát triển xã hội loài người, mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần và các thành tựu về vật chất, văn hóa, khoa học đều được xây dựng trên nền tảng đất và cách sử dụng đất Vì vậy, sử dụng đất hợp lý và hiệu quả là điều kiện quan trọng để nền kinh tế phát triển nhanh chóng và bền vững.

2.1.2 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người được lấy từ đất ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta với mục tiêu nâng cao hiệu quả KT - XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển KT - XH, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai (Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung, 1998) Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc

Đảm bảo sử dụng đất nông nghiệp ở mức độ đầy đủ và hợp lý và áp dụng các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể để mang lại hiệu quả kinh tế cao Đất nông nghiệp phải được đưa vào sản xuất với bố trí cây trồng và vật nuôi phù hợp đặc điểm từng loại đất nhằm nâng cao năng suất và đồng thời giữ gìn, bảo vệ và nâng cao độ phì của đất Việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất dựa trên các chỉ tiêu như năng suất cây trồng, chi phí đầu tư, hệ số sử dụng đất, giá cả sản phẩm và tỷ lệ che phủ đất; kết quả tốt là đất được sử dụng đầy đủ và hợp lý Để nâng cao hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp kỹ thuật và chính sách phù hợp với điều kiện địa phương.

Việc sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý là nền tảng để tối ưu hóa khai thác các nguồn tài nguyên khác, từ đó thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao đời sống nông dân Quản lý đất đai hiệu quả giúp giảm lãng phí, tăng năng suất và đảm bảo cân đối giữa sản xuất và bảo vệ môi trường, đồng thời mở ra cơ hội cải thiện thu nhập và chất lượng cuộc sống cho người dân làm nông.

KT - XH trên cơ sở đảm bảo về lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và nông lâm sản cho xuất khẩu Đất nông nghiệp phải được quản lí và sử dụng một cách bền vững Sự bền vững ở đây là sự bền vững cả về chất lượng và số lượng, có nghĩa đất đai phải được bảo tồn không chỉ đáp ứng nhu cầu của hiện tại mà còn cho tương lai Sự bền vững của đất đai gắn liền với điều kiện sinh thái, môi trường Vì vậy, các phương thức sử dụng đất nông - lâm nghiệp phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường đất, đáp ứng được lợi ích trước mắt và lâu dài

Như vậy, để sử dụng đất có hiệu quả cao nhất thì việc tuân thủ những nguyên tắc trên là việc làm cần thiết và hết sức quan trọng đối với mỗi quốc gia

2.2 QUAN ĐİỂM SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG

Ngay từ khi con người sử dụng đất đai cho mục đích sinh tồn, đất đai đã trở thành cơ sở thiết yếu cho sự sống và là nền tảng cho tương lai phát triển của loài người Việc quản lý và khai thác đất đai một cách bền vững giúp đảm bảo nguồn lương thực, nước sạch và môi trường sống, đồng thời mở ra cơ hội phát triển kinh tế—xã hội cho các thế hệ sau Vì vậy, đất đai không chỉ là tài nguyên tự nhiên mà còn là nền móng cho sự sống và sự thịnh vượng của nhân loại.

Trước đây, khi dân số còn thấp, việc khai thác đất đai diễn ra dễ dàng và ít ảnh hưởng tới tài nguyên đất Hiện nay, mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, khiến an ninh lương thực cho sự gia tăng dân số trở thành một áp lực lớn lên đất đai Diện tích đất phù hợp cho sản xuất nông nghiệp ngày càng cạn kiệt, buộc con người mở rộng sang những vùng đất không thích hợp và gây thoái hóa đất ở mức độ nghiêm trọng.

Con người đã làm giảm đáng kể độ phì nhiêu của đất, gây thoái hóa đất và khiến việc phục hồi trở nên khó khăn hoặc đòi chi phí rất lớn Đất có năm chức năng chính: duy trì vòng tuần hoàn sinh hóa và địa hóa học, phân phối nước, tích trữ và phân phối vật chất, mang tính đệm và phân phối năng lượng—những trợ giúp thiết yếu cho hệ sinh thái Mục đích của sản xuất là tạo lợi nhuận, vì vậy các tác động của con người lên đất đai và môi trường tự nhiên bị chi phối ngày càng nhiều; các giải pháp quản lý và sử dụng đất không phù hợp chính là nguyên nhân gây mất cân bằng đất đai và dẫn tới thoái hóa.

Việc sử dụng đất một cách bền vững là mục tiêu hàng đầu cho sự tồn tại và phát triển bền vững của loài người trong tương lai Vì vậy, việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thích hợp và bền vững đã nhận được sự quan tâm đặc biệt từ nhiều nhà nghiên cứu đất đai và các tổ chức quốc tế, đồng thời liên tục được hoàn thiện nhờ những tiến bộ của khoa học (Đường Hồng Dật, 1994).

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Giữ độ phì nhiêu của đất lâu bền là mục tiêu thiết yếu trong nông nghiệp Độ phì nhiêu đất là tổng hòa của các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học, tạo nên môi trường sống thuận lợi nhất cho cây trồng tồn tại và phát triển Từ những quan điểm này, quan điểm phát triển bền vững là lựa chọn phù hợp nhất với sự phát triển của xã hội ngày nay.

2.3 ĐÁNH GİÁ HİỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHİỆP

2.3.1 Khái quát về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

2.3.1.1 Khái niệm về hiệu quả

Hiệu quả là kết quả mong đợi mà con người hướng tới; nội dung của hiệu quả khác nhau tùy từng lĩnh vực Trong sản xuất, hiệu quả được hiểu là hiệu suất, là năng suất Trong kinh doanh, hiệu quả là lợi nhuận; trong lao động, hiệu quả là năng suất lao động, được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian Trong xã hội, hiệu quả xã hội có tác dụng tích cực đối với một lĩnh vực xã hội nào đó (Phạm Chí Thành, 1996).

* Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Hiệu quả sử dụng đất là chỉ tiêu chất lượng dùng để đánh giá kết quả khai thác đất đai trong hoạt động kinh tế, thể hiện qua sản phẩm và giá trị (lợi nhuận) thu được bằng tiền; đồng thời về mặt xã hội, nó phản ánh hiệu quả của lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất.

Riêng đối với nông nghiệp, ngoài đánh giá hiệu quả kinh tế dựa trên giá trị sản lượng và hiệu quả sử dụng sức lao động, cần coi trọng hiệu quả ở mức hiện vật – tức là sản lượng nông sản thu được – nhất là với các loại nông sản cơ bản mang tính chiến lược như lương thực, sản phẩm xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Việc đảm bảo sự ổn định về sản lượng hiện vật sẽ đóng vai trò then chốt trong duy trì sự ổn định kinh tế và xã hội của đất nước.

Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của một hệ thống các biện pháp tổ chức sản xuất, khoa học - kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên; trong những hoàn cảnh thực tế nhất định, cần gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc gia, cũng như gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế Bên cạnh các biện pháp kỹ thuật thâm canh truyền thống, cần coi trọng việc áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật mới, tiến hành mạnh mẽ bố trí lại cơ cấu kinh tế theo hướng khắc phục tính tự cấp tự túc về lương thực và biến đổi mạnh nông nghiệp thành một ngành kinh tế hàng hóa; chỉ dựa trên điều kiện đó mới có thể tận dụng tối đa các tiềm năng phong phú sẵn có về đất đai và lao động của Việt Nam.

Theo Đường Hồng Dật (1994), sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội sâu sắc, vì vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần xem xét tác động của quá trình sản xuất tới các vấn đề xã hội như giải quyết việc làm, tăng thu nhập và nâng cao trình độ dân trí ở nông thôn, tức là đánh giá hiệu quả xã hội của đất nông nghiệp Ông cho rằng phát triển nông nghiệp chỉ có thể bền vững khi con người biết cách làm cho môi trường phát triển, do đó việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm đến các ảnh hưởng tới môi trường xung quanh (Ngô Thế Dân, 2001).

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở mặt kinh tế mà còn cần xem xét hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Ba yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và tương hỗ, hình thành một hệ thống thống nhất không thể tách rời Vì vậy, quá trình đánh giá phải cân nhắc đồng thời các tác động kinh tế, xã hội và môi trường để đảm bảo sự bền vững của nguồn lực đất đai.

Theo Các Mác, quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau Theo các nhà kinh tế Samuelson và Nordhaus, quy luật này được phân tích dưới ánh sáng kinh tế học hiện đại, cho thấy mối liên hệ giữa tiết kiệm thời gian, tối ưu hóa phân bổ lao động và hiệu quả sản xuất giữa các ngành Nhờ đó, sự tiết kiệm thời gian và phân bổ nguồn lực quyết định năng suất, tăng trưởng và chuỗi giá trị của nền kinh tế.

Hiệu quả là không lãng phí Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer, Simmerman), hiệu quả kinh tế được định nghĩa là thước đo so sánh mức độ tiết kiệm chi phí cho mỗi đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng lợi ích cho xã hội (Đỗ Thị Tám, 2001).

Hiệu quả kinh tế phải đạt được ba vấn đề sau:

Quy luật tiết kiệm thời gian chi phối mọi hoạt động của con người; đây là động lực thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, là điều kiện quyết định cho sự tiến bộ của nền văn minh xã hội và từ đó nâng cao đời sống con người qua mọi thời đại.

Hiệu quả kinh tế phải được xem xét theo quan điểm hệ thống, bởi hệ thống là tập hợp các phần tử có quan hệ với nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận động Khi nhiều phần tử kết hợp thành hệ thống, sẽ xuất hiện các tính chất mới (tính chất emergent) mà từng phần tử riêng lẻ không có, làm gia tăng hiệu quả tổng thể so với tổng hiệu quả của các phần tử riêng lẻ Việc khai thác tối ưu các điều kiện sẵn có và điều chỉnh mối quan hệ giữa các bộ phận của hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài là cách để đạt được khối lượng sản phẩm tối đa Đó là mục tiêu của mỗi vùng kinh tế và của từng chủ thể sản xuất trong xã hội.

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh chất lượng của các hoạt động kinh tế, được thể hiện qua quá trình tăng cường nguồn lực sẵn có để phục vụ lợi ích của con người.

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, chi phí bỏ ra là giá trị của nguồn lực đầu vào Mối quan hệ này cần được xem xét dưới hai phương diện: so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối, đồng thời nhận thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng để đánh giá hiệu quả sản xuất (Bùi Đình Thành, 2010).

Từ vấn đề trên, có thể tóm tắt bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là với một diện tích đất nhất định, sản xuất ra khối lượng của cải vật chất lớn nhất với chi phí vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội (Đỗ Thị Tám, 2001) Vì lý do này, trong quá trình đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, cần chỉ ra các loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao để tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp.

Hệ thống chỉ tiêu trong tính toán hiệu quả kinh tế được thiết kế nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả của các loại hình sử dụng đất Để thực hiện mục tiêu này, đề tài sử dụng một tập hợp các chỉ tiêu được lựa chọn kỹ lưỡng, phản ánh đúng lợi ích và chi phí liên quan đến từng hình thức sử dụng đất, từ đó cho phép so sánh, tối ưu hóa và hỗ trợ quyết định đầu tư cho từng phương án sử dụng đất.

Những nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam

Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội tạo thành các tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Mỗi yếu tố có vị trí riêng và tác động khác nhau lên hiệu quả sử dụng đất Do đó, cần dựa vào các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội trong lĩnh vực sử dụng đất đai để nhận diện những nhân tố thuận lợi và khó khăn, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tối ưu hóa sử dụng đất và đạt hiệu quả cao.

2.4 NHỮNG NGHİÊN CỨU VỀ HİỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHİỆP TRÊN THẾ GİỚİ VÀ Ở VİỆT NAM

2.4.1 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới

Năm 2015, toàn bộ quỹ đất nông nghiệp trên thế giới là khoảng 4,863 triệu ha, chiếm 37,26% tổng diện tích đất tự nhiên và phân bố không đồng đều ở các châu lục; năm 2016, tổng diện tích đất trồng trọt là khoảng 718 triệu ha, chiếm khoảng 14,76% diện tích đất nông nghiệp (The World Bank, 2017) Khoảng hai phần ba diện tích đất nông nghiệp trên thế giới đã bị suy thoái nghiêm trọng trong 50 năm qua do xói mòn, rửa trôi, sa mạc hóa, chua hóa, mặn hóa, ô nhiễm môi trường và khủng hoảng hệ sinh thái đất; khoảng 40% đất nông nghiệp đã bị suy thoái mạnh hoặc rất mạnh, 10% bị sa mạc hóa do biến động khí hậu bất lợi và khai thác sử dụng không hợp lý Sa mạc Sahara mỗi năm mở rộng thêm khoảng 100.000 ha đất nông nghiệp và đồng cỏ Thoái hóa môi trường đất có nguy cơ làm giảm 10-20% sản lượng lương thực thế giới trong 25 năm tới (Trung tâm thông tin tư liệu Khoa học và Công nghệ quốc gia, 2002).

Vào thế kỷ 21, an ninh lương thực đối mặt với nhiều thách thức từ dân số tăng nhanh, áp lực lên đất đai và môi trường sinh thái Nhu cầu của con người ngày càng lớn đặt lên đất nông nghiệp gánh nặng và đẩy khu vực này vào tình trạng thoái hóa, biến chất Thoái hóa đất nông nghiệp tác động trực tiếp đến năng suất và chất lượng nông sản, làm giảm khả năng đảm bảo nguồn lương thực cho người dân Khi đất nông nghiệp bị xuống cấp, cuộc sống của cộng đồng bị đe dọa và sự ổn định của chuỗi cung ứng lương thực trở nên mong manh.

Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp trong khi dân số tăng nhanh khiến nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp tăng mạnh; vì vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là vấn đề được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Ở các nước Đông Nam Á, các phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được nghiên cứu và áp dụng gồm: phương pháp chuyên khảo, phương pháp mô phỏng, phương pháp phân tích kinh tế, và phương pháp phân tích chuyên gia Nhờ những phương pháp này, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống trên mỗi loại đất, từ đó có thể sắp xếp lại cơ cấu cây trồng phù hợp, khai thác tối đa lợi thế so sánh của từng vùng, thâm canh tăng vụ, nâng hệ số sử dụng đất và khắc phục dần các vấn đề môi trường để phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Mỗi năm, các viện nghiên cứu nông nghiệp trên thế giới công bố nhiều giống cây trồng mới có năng suất và chất lượng cao, được cải tiến khả năng chống chịu sâu bệnh và chịu đựng khí hậu khắc nghiệt, đồng thời đề xuất các công thức luân canh mới nhằm tối ưu hóa sử dụng đất và hình thành các hình thức canh tác ngày càng hiệu quả hơn Viện Lúa Quốc tế (IRRI) đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong lĩnh vực giống lúa và hệ thống cây trồng trên đất canh tác Tạp chí Farming Japan của Nhật Bản, xuất bản hàng tháng, giới thiệu các công trình tại các nước về các hình thức sử dụng đất đai, đặc biệt là ở Nhật Bản.

Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng quá trình phát triển hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng diễn ra từ sự hình thành đồng ruộng với đất cao trước, sau đó đến đất thấp, tức là hệ thống cây trồng phát triển trên đất cao trước rồi mới đến đất thấp, tạo nên sinh thái đồng ruộng (Phan Sỹ Mẫn, Nguyễn Việt Anh, 2001) Nhà khoa học Otak Tanakad nhấn mạnh các vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội Các nhà khoa học Nhật Bản đã đề xuất hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác, bao gồm sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi, cùng với các yếu tố như cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra và tính chất hàng hóa của sản phẩm (Vũ Khắc Hòa, 1996).

Trung Quốc cho thấy việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện Chính phủ Trung Quốc đã ban hành các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nông thôn và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách quốc gia đã có nhiều quy chế mới, ngoài hợp đồng cho tư nhân thuê đất dài hạn, cấm trồng những cây không thích hợp trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn Ở Ấn Độ, việc đánh giá đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất được áp dụng các phương pháp tham biến biểu thị mối quan hệ giữa các yếu tố dưới dạng phương trình toán học kết quả phân hạng được thể hiện dưới dạng %, chia làm 6 nhóm.

- Nhóm thượng hảo hạng: Có thể trồng bất kỳ loại cây nào cũng cho năng suất cao

- Nhóm tốt: Trồng được bất kỳ loại cây nào nhưng cho năng suất thấp hơn nhóm thượng hạng

- Bốn nhóm còn lại là nhóm trung bình, nhóm nghèo, nhóm rất nghèo và nhóm không thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp

Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn kết phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Các nước châu Á đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thủy lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón và các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp, đồng thời phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản và gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường, tiến hành xây dựng nền sinh thái bền vững Ở Hoa Kỳ, từ những năm đầu thế kỷ XX, phân hạng đất đai nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sử dụng đất hợp lý đã được chú ý và hiện nay ở Hoa Kỳ đang áp dụng rộng rãi hai phương pháp.

Phương pháp tổng hợp lấy năng suất cây trồng nhiều năm làm tiêu chuẩn chính để đánh giá đất đai Trong đánh giá đất đai, người ta đi sâu phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng nhằm xác định mức độ phù hợp và tiềm năng sản xuất của từng vùng.

Phương pháp yếu tố là cách đánh giá đất dựa trên thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh và lấy mức lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% làm mốc tham chiếu với các khu đất khác Ở các nước Châu Âu, việc đánh giá đất phổ biến theo hai chiều hướng chính: một là xem xét tiềm năng lợi nhuận và biến động thị trường để xác định thặng dư giá trị, hai là cân nhắc các yếu tố môi trường, quy hoạch, khả năng sử dụng đất và tính bền vững trong dài hạn Hệ thống thang đo chuẩn hóa này giúp so sánh giữa các vị trí đất khác nhau và hỗ trợ nhà đầu tư, nhà quy hoạch đưa ra quyết định một cách hiệu quả.

- Nghiên cứu các yếu tố tự nhiên để xác đinh tiềm năng của đất (phân hạng định tính)

- Nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội nhằm xác định sức sản xuất thực tế của đất đai (phân hạng định lượng)

Các phương pháp thường áp dụng bằng phương pháp so sánh tính điểm hoặc tính phần trăm

Vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng đất ở các nước trên thế giới đã được nghiên cứu từ rất lâu bằng các phương pháp đánh giá đất Tuy có sự khác nhau về phương pháp, sắp xếp hệ thống đánh giá và quan điểm đánh giá, song chúng cũng có những quan điểm đồng nhất Đó là, luôn gắn liền với các mục đích sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, nâng cao chất lượng sản phẩm và đề ra các phương pháp bảo vệ đất đai, cũng như bảo vệ môi trường nhằm đạt được hiệu quả sử dụng đất đai bền vững

2.4.2 Tình hình nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp Năm 2015, Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33.123,1 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp là 27.302,2 nghìn ha, đất sản xuất nông nghiệp là 11.530,2 nghìn ha Dân số là 92.695,1 nghìn người, mật độ dân số là 280,0 người/km 2 (năm 2016) Đầu tư và hiệu quả khai thác tài nguyên đất nông nghiệp ở Việt Nam nói chung chưa cao, thể hiện ở tỷ lệ đất thủy lợi hóa, hệ số sử dụng đất thấp, chỉ đạt 1,6 vụ/năm; năng suất cây trồng thấp, chỉ có năng suất lúa, cà phê, ngô đã đạt và vượt mức trung bình thế giới Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người một tháng theo giá hiện hành năm 2016 của vùng nông thôn chỉ đạt khoảng 2,4 triệu/người/tháng tức là khoảng gần 28,8 triệu đồng/người/năm Đã có nhiều nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp được thực hiện, nhiều công trình đã được công bố, trong đó có một số nghuên cứu điển hình sau:

- Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2005) đã thực hiện dự án nghiên cứu “Quy hoạch sử dụng hiệu quả

38 vạn ha đất nương rẫy vùng TDMNPB” Nghiên cứu khẳng định, canh tác nương rẫy là một giai đoạn phát triển nông nghiệp mà mọi miền trên trái đất đều trải qua và hiện vẫn đang tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở nước ta, canh tác nương rẫy là phương thức sản xuất truyền thống lâu đời của cộng đồng các dân tộc vùng cao, mang nặng tính tự cung tự cấp Cả một thời gian dài, canh tác nương rẫy đã đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm của các cư dân vùng đồi núi Tình hình này vẫn sẽ còn tồn tại trong tương lai xa Tuy nhiên, canh tác nương rẫy là hệ lụy của việc phá rừng, đốt nương làm rẫy Đa số đất nương rẫy có độ dốc cao; canh tác trên đất nương rẫy chủ yếu theo phương thức truyền thống, khai thác tự nhiên, thiếu các biện pháp chống xói mòn rửa trôi nên phá vỡ nghiêm trọng môi trường sinh thái, đất thoái hóa, năng suất cây trồng thấp Do sản xuất quảng canh nên sau một chu kỳ nhất định, người dân buộc phải bỏ nương rẫy cũ và khai phá vùng đất khác, lại đốt nương làm rẫy Hầu hết các diện tích đất trống đồi núi trọc hiện nay là hệ quả của canh tác nương rẫy Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, năm 2005, cả nước có khoảng 1 triệu ha đất nương rẫy thì riêng vùng TDMNPB đã có 45,2 vạn ha, chiếm trên 45% đất nương rẫy của cả nước Tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp của vùng là 30,6%, trong đất cây hàng năm 39,7%, cao hơn nhiều so với các vùng khác Đặc biệt 3 tỉnh Tây Bắc, tỷ trọng đất nương rẫy trong đất nông nghiệp rất cao như tỉnh Điện Biên 55,2%, Sơn La 68,8%, Lai Châu 48% Nhiều huyện tỷ trọng này trên 60 - 70% và sản xuất nông nghiệp ở đây gần như đồng nghĩa với canh tác nương rẫy Như vậy, nương rẫy vẫn giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp trong vùng Việc sử dụng hiệu quả đất nương rẫy sẽ mang lại lợi ích thiết thực, nhất là hiện nay, trong vùng có nhiều dự án di dân tái định cư lớn, trong khi việc mở rộng diện tích đất nông nghiệp trong vùng rất khó khăn Hiện nay, sản xuất đất nương rẫy đứng trước những tác động tích cực như: chuyển đổi mạnh mẽ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất hàng hóa gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ; các dự án tái định cư các công trình thủy điện trong vùng, các phương án quy hoạch ngành hàng hóa (như quy hoạch chè, quy hoạch cây ăn quả, quy hoạch ngô, đậu tương ), các phương án rà soát quy hoạch nông nghiệp các tỉnh đã tác động tích cực đến việc chuyển đổi đất nương rẫy; nhiều chương trình, quyết định của chính phủ (đặc biệt là các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng TDMNPB theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; góp phần hình thành cá vùng chuyên canh hàng hóa tập trung)

Năm 2006, Đoàn Công Quỳ đã áp dụng một hệ thống chỉ tiêu gồm giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, giá trị sản xuất trên lao động và giá trị gia tăng trên lao động để đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng đất canh tác ở các xã vùng đồng bằng thuộc huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

Nguyễn Văn Hoàn (2007) đã sử dụng các chỉ tiêu tổng giá trị sản phẩm và thu nhập thuần để đánh giá hiệu quả sử dụng đất và định hướng chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với đất đai vùng núi tỉnh Bắc Giang Kết quả cho thấy tại vùng núi Bắc Giang, trên đất bằng thấp nơi thoát nước kém và hay có nguy cơ ngập úng vào mùa mưa chỉ sản xuất được 1 vụ lúa nên có thể áp dụng mô hình canh tác mới là lúa - cá, hoặc chuyển hoàn toàn sang nuôi cá; ở những vùng đất bằng tưới tiêu chủ động, chế độ canh tác ba hay bốn vụ đã mang lại thu nhập cao từ mô hình trồng lúa kết hợp với cây trồng cạn thông qua các công thức luân canh cải tiến Trên chân đất bằng cao nơi tưới tiêu không chủ động, loại hình trồng lúa kết hợp với cây trồng cạn vẫn được áp dụng, nhưng công thức luân canh mới hiệu quả nhất là lúa xuân - đậu tương hè - khoai tây Trên địa hình đồi thấp có thể chuyển đổi từ trồng thuần cây sắn sang trồng xen cây lạc trong nương sắn để không ảnh hưởng đến đất và thu nhập cũng cao hơn Trên địa hình đồi cao có thể chuyển một số diện tích trồng các cây lâm nghiệp như địa phương thường làm sang trồng cây vải và xem xét trồng dứa trong vườn vải ở giai đoạn đầu khi cây vải chưa khép tán để nâng cao hiệu quả kinh tế.

Nộı dung và phương pháp nghıên cứu

Ngày đăng: 05/04/2022, 20:20

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w