TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Hoàng Trung Nghĩa Tên luận văn: “Đánh giá hiệu quả phối hợp giữa các bên liên quan trong quản lý rác thải sinh hoạt tại khu vực dân cư xung quanh Khu Côn
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
- Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Luật bảo vệ Môi trường, 2014)
- Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn goi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Nghị định 38/NĐ-CP ngày 24/04/2015, Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu)
- Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người (Nghị định 38/NĐ-CP ngày 24/04/2015, Nghị định về quản lý chất thải và phế liệu)
- Quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải (Luật bảo vệ Môi trường, 2014)
- Quy định pháp luật về các bên liên quan:
Các bên liên quan trong quan hệ pháp luật được luật chuyên ngành điều chỉnh, thể hiện tại điều khoản “đối tượng áp dụng” liệt kê các loại chủ thể chủ yếu Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) số 55/2014/QH13 (Luật BVMT 2014) cũng quy định tại Điều 2 các loại chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh là “cơ quan, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân”, tương tự như Luật BVMT 2005 Trong khi Luật BVMT 1993 chỉ xác định “Nhà nước, tổ chức và cá nhân” Nghị định 38/NĐ- CP/2015 đã quy định rõ vai trò chức năng nhiệm vụ của các bên liên quan bao gồm chủ nguồn thải (điều 16), trách nhiệm của chủ thu gom (điều 17, điều 18) và trách nhiệm của quản lý nhà nước (UBND các cấp, cơ quan quản lý thuộc Bộ TNMT) tại điều 24, 28 trong việc giám sát, lập kế hoạch, truyền thông, hỗ trợ thúc đẩy công tác quản lý RTSH tại địa phương
Các bên liên quan trong quan hệ pháp luật cũng được xác định tại các điều khoản nội dung cụ thể với địa vị pháp lý khác nhau trong các quan hệ về quyền, nghĩa vụ, hoặc với khách thể mà luật bảo vệ Xét theo tiêu chí này, các bên liên quan trong Luật BVMT 2014 còn có: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ TN&MT, Bộ trưởng Bộ TN&MT và 9 Bộ khác được đề cập như cơ quan quản lý nhà nước (CQQLNN) về ngành và lĩnh vực (Kế hoạch Đầu tư, Công thương,
Xây dựng, Quốc phòng, Công an…) cùng với Chủ tịch UBND từ cấp tỉnh đến xã có vai trò và thẩm quyền quản lý nhà nước về BVMT được xác lập Thẩm quyền được xác lập của các CQQLNN không chỉ gồm chủ trì giải quyết hoặc thực hiện một hoạt động, công việc, nhiệm vụ cụ thể được Luật BVMT 2014 quy định, mà còn ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) điều chỉnh và xử lý những vấn đề được đề cập tại luật chuyên ngành này
Luật BVMT 2014 cũng đề cập thêm một loại chủ thể mà chưa được đề cập trong Luật BVMT 1993, hay chỉ được đề cập một cách thụ động, như là đại diện cho khách thể được luật bảo vệ trong Luật BVMT 2005, đó là cộng đồng Chủ thể này được giải thích tại Điều 3.10, Nghị định số 19/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật BVMT là “cộng đồng người sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư” Đây là đối tượng chịu tác động trực tiếp bởi dự án và chủ dự án phải tổ chức tham vấn khi lập Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) (Điều 21.2 Luật BVMT
2014) Không chỉ là chủ thể được khuyến khích hoặc được bảo vệ các lợi ích, Luật BVMT 2014 còn quy định chi tiết tại Điều 46, quyền và trách nhiệm của cộng đồng trong ứng phó với biến đổi khí hậu; Điều 83 về tổ chức tự quản BVMT Đặc biệt, Điều 146 quy định về quyền và nghĩa vụ của cộng đồng dân cư còn quy định đại diện cộng đồng dân cư có quyền yêu cầu chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ (SXKDDV) cung cấp thông tin về BVMT qua đối thoại trực tiếp hoặc bằng văn bản; yêu cầu CQQLNN có liên quan cung cấp kết quả thanh kiểm tra, xử lý cơ sở; tham gia đánh giá kết quả BVMT của cơ sở SXKDDV; và buộc chủ cơ sở SXKDDV phải thực hiện các yêu cầu của đại diện cộng đồng dân cư theo quy định tại Điều này (Nguyễn Sơn, 2015)
+ Qua khái niệm về các bên liên quan có thể nhận thấy các bên liên quan trong công tác quản lý môi trường nói chung và công tác quản lý RTSH bao gồm
03 thành phần chính bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước; các tổ chức đoàn thể, tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào quá trình quản lý RTSH và cộng đồng dân cư vừa phát sinh RTSH vừa tham gia vào quá trình quản lý RTSH.
KINH NGHIỆM QUẢN LÝ RTSH TRÊN THẾ GIỚI
Quản lý rác thải là một hoạt động mang tính hệ thống, trong đó, mỗi quá trình hoạt động là một tiểu hệ thống, bao gồm: phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế và tái sử dụng rác Các tiểu hệ thống này có mối liên hệ tương tác, ảnh hưởng lẫn nhau trong việc thực hiện mục tiêu chung đảm bảo cho cả hệ thống quản lý rác thải hoạt động một cách bền vững Hoạt động quản lý rác thải tại các quốc gia đang phát triển gặp nhiều khó khăn hơn so với các quốc gia phát triển, do những yếu tố về thể chế, xây dựng và thực hiện chính sách, sự tham gia của người dân, mối quan hệ giữa các bên liên quan trong việc thực hiện quản lý rác thải; và những vấn đề về trang thiết bị công nghệ lạc hậu hay vấn đề thiếu tài chính ngân sách để triển khai các hoạt động quản lý rác thải hiệu quả (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2014) Đối mặt với cảnh báo về cuộc khủng hoảng rác thải toàn cầu đang ngày càng nghiêm trọng Rác có thể gây ra những gánh nặng khổng lồ về môi trường cũng như tài chính cho Chính phủ các nước Các quốc gia lớn trên thế giới đã có những biện pháp quản lý và xử lý rác thải phù hợp với điều kiện riêng
Mỹ: Hàng năm, rác thải sinh hoạt của các thành phố ở Mỹ lên tới 210 triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg rác/ngày Hầu như thành phần các loại rác thải trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là thành phần chất thải vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần các loại rác sinh hoạt thì thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy rác thải sinh hoạt các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%)
Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA) quy định về tất cả các loại phế thải theo Đạo luật Bảo tồn và Phục hồi Tài nguyên năm 1976 (RCRA) Chất thải rắn có thể bao gồm cả rác thải và bùn từ các nhà máy xử lý nước thải và các loại phế thải khác từ các hoạt động công nghiệp RCRA bao gồm xử lý các loại chất thải rắn, chất thải độc hại, khuyến khích các cá nhân, tổ chức xây dựng những kế hoạch toàn diện để quản lý chất thải Khu vực phía Tây có số lượng bãi chôn lấp nhiều nhất cả nước Những bãi chôn lấp phải tuân thủ các quy định của Liên bang trong việc ngăn ngừa ô nhiễm cũng như cung cấp các hệ thống giám sát ô nhiễm nước ngầm và bãi chôn chất thải khí Các công ty quản lý phải đảm bảo kinh phí bảo vệ môi trường trong suốt toàn bộ vòng đời của một bãi chôn lấp rác thải Đối với chất thải rắn được tái chế hay biến thành phân bón để cải tạo đất đã giúp giảm lượng khí thải carbon dioxide
Tại California, nhà quản lý cung cấp đến từng hộ gia đình nhiều thùng rác khác nhau Kế tiếp rác sẽ được thu gom, vận chuyển, xử lý hoặc tái chế, rác được thu gom 3 lần/tuần với chi phí phải trả là 16,39 USD/tháng Nếu có những phát sinh khác nhau như: Khối lượng rác tăng hay các xe chở rác phải phục vụ tận sâu trong các tòa nhà lớn, giá phải trả sẽ tăng thêm 4,92 USD/tháng Phí thu gom rác được tính dựa trên khối lượng rác, kích thước rác, theo cách này có thể hạn chế được đáng kể lượng rác phát sinh Tất cả chất thải rắn được chuyển đến bãi rác với giá 32,38 USD/tấn Để giảm giá thành thu gom rác, thành phố cho phép nhiều đơn vị cùng đấu thầu việc thu gom và chuyên chở rác (Hồng Nhung và Thu Giang, 2016)
Singapore: Đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới Để có được kết quả như vậy, Singapore đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý đồng thời xây dựng một hệ thống luật pháp nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn Chính phủ Singapore đang yêu cầu tăng tỷ lệ tái chế thông qua phân loại rác tại nguồn từ các hộ gia đình, các chợ, các cơ sở kinh doanh để giảm chi ngân sách cho Nhà nước Rác thải ở Singapore được thu gom và phân loại bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được, được đưa về các nhà máy tái chế còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy Ở Singapore có 2 thành phần chính tham gia vào thu gom và xử lý các rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại Tất cả các công ty này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát kiểm tra trực tiếp của Sở Khoa học công nghệ và môi trường Ngoài ra, các hộ dân và các công ty của Singapore được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân vào các công ty Chẳng hạn, đối với các hộ dân thu gom rác thải trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Singapore/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả phí
7 đôla Singapore/tháng (Hồng Nhung và Thu Giang, 2016) Ở Đan Mạch, các chính quyền địa phương chịu trách nhiệm thu gom và xử lý chất thải Luật của Đan Mạch cấm đốt những chất thải có thể tái chế được Các địa phương có thể đổ chất thải có thể tái chế được ở những trung tâm tái chế, mà không phải trả lệ phí Tuy nhiên, họ sẽ bị phạt nặng nếu đưa chất thải có thể tái chế được vào lò đốt Tại nhà máy Vestforbraending ở Copenhagen, nhà máy xử lý chất thải kiểu mới lớn nhất của Đan Mạch, xe tải chở chất thải phải dừng lại ở trạm cân xe trước khi vào nhà máy đổ rác Rác được kiểm tra ngẫu nhiên để phát hiện chất thải có thể tái chế được và những người vi phạm bị phạt rất nặng Morten Slotved, thị trưởng thành phố Horsholm, địa phương có thu nhập tính theo đầu người cao nhất Đan Mạch, cho biết nhà máy này đã giúp làm giảm chi phí sưởi ấm và nâng cao giá trị các ngôi nhà của người dân địa phương
Hình 2.1 Phân loại rác ở Đan Mạch Ở thành phố Horsholm (Đan Mạch), chỉ có 4% rác thải được đưa tới bãi rác và 1%, gồm hoá chất, sơn và chất thải điện tử, được chuyển tới bãi chôn rác đặc biệt 61% chất thải của thành phố được tái chế và 34% được đốt trong nhà máy biến chất thải thành năng lượng Những nhà máy này đã sử dụng nhiều thiết bị sàng lọc mới, để loại ra những chất có thể gây ô nhiễm trước khi đưa rác vào lò đốt Mức ô nhiễm trong khói của các nhà máy này thấp hơn tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt của châu Âu từ 10 đến 20% Những chất thải có thể gây ô nhiễm được xử lý theo phương pháp riêng, chứ không phải đem chôn (Hồng Nhung và Thu Giang, 2016)
Penang (tên gọi khác là George Town) là thành phố của bang Penang
(Malaixia), có diện tích 1.024 km² với dân số 1,6 triệu người Trước đây, Penang là một thương cảng quốc tế sầm uất ở eo biển Malacca và đến nay, đã phát triển thành TP có nền kinh tế đứng thứ 3 tại Malaixia Nền kinh tế của Penang chủ yếu dựa vào nông nghiệp, du lịch và sản xuất, chế tạo công nghiệp
Cùng với tốc độ đô thị hóa và sự phát triển kinh tế nhanh, lượng rác thải của TP ngày càng gia tăng đã tạo sức ép cho chính quyền trong việc giải quyết bài toán xử lý rác thải khi diện tích đất chôn lấp không còn Theo thống kê (trích nguồn) năm 2012, mỗi ngày, đảo Penang phát sinh 790 tấn chất thải, trong đó chất thải hữu cơ chiếm từ 40 - 60% tổng số chất thải (chủ yếu là thực phẩm và chất thải từ khu vườn gia đình), còn lại là các loại chất thải khác như giấy, nhựa, kim loại… Mỗi ngày, Penang có 300 xe tải thu gom rác chuyển đến trạm trung chuyển Batu Maung ở phía Nam và xếp lên một chiếc xà lan lớn (có 3 chuyến xà lan/ngày), sau đó, xà lan chở các thùng chứa rác đến bãi chôn lấp Pulau Burong (tỉnh Seberang Perai) để xử lý Ước tính, để xử lý mỗi tấn rác từ Penang đến Pulau Burong, chính quyền địa phương phải chi khoảng 130 Ringgit (tương đương 41 USD)
Tháng 4/2007 đã xảy ra sự cố môi trường khi chiếc xà lan chở rác từ Penang đến Pulau Burong bị chìm ở biển Malacca, làm cho hàng tấn rác thải nổi trên mặt biển, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và tác động tiêu cực đến hệ sinh thái biển Sau khi vụ việc xảy ra, người dân Pulau Burong đã biểu tình để phản đối việc vận chuyển rác thải từ đảo Penang đến và điều này buộc Chính phủ Malaixia phải tìm giải pháp giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt của Penang Để giải quyết vấn đề rác thải sinh hoạt tại Penang cũng như các địa phương khác, Chính phủ Malaixia đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để tăng cường công tác quản lý chất thải rắn (CTR), đặc biệt là thực hiện chiến lược kiểm soát, quản lý chất thải theo hướng áp dụng 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế), biến chất thải thành tài nguyên Với sự chỉ đạo của Chính phủ Malaixia cùng sự hỗ trợ, hướng dẫn của các chuyên gia thuộc Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), chính quyền Penang đã thực hiện công tác quản lý tổng hợp CTR thông qua các hoạt động thúc đẩy tái chế, giảm thiểu chất thải chôn lấp, hướng đến nền kinh tế tuần hoàn và bền vững Bên cạnh việc tổ chức nhiều chiến dịch truyền thông, nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại của rác thải đối với môi trường, kinh tế - xã hội, Penang đã thiết lập bộ máy quản lý chất thải, gồm 2 cơ quan chịu trách nhiệm: Hội đồng TP Penang (MPPP) và Hội đồng TP Perai Seberang (MPSP) Ngoài ra, Penang cũng xây dựng chính sách quản lý chất thải hữu cơ nhằm thúc đẩy việc phân loại, xử lý chất thải hữu cơ tại nguồn, giảm chi phí vận chuyển, xử lý rác
Theo đó, việc phân loại rác tại nguồn được triển khai tại các hộ gia đình, chợ, khách sạn, bệnh viện và trường học, nhà hàng dưới sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền TP Bên cạnh đó, Penang tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân, các nhà quản lý, công nhân viên về lợi ích của việc phân loại chất thải và yêu cầu họ đưa ra cam kết về phân loại rác tại nguồn Nếu chất thải không được phân loại, đơn vị thu gom sẽ không tiếp nhận Đối với các đơn vị thu gom tư nhân, Penang tổ chức đấu thầu và ưu tiên những đơn vị có khả năng xử lý chất thải hữu cơ tại chỗ; đồng thời, áp dụng phương thức thu gom riêng đối với từng chủ nguồn thải (triển khai hệ thống thu gom chất thải chân không cho trung tâm thương mại, chợ…) Chính quyền địa phương cũng tiến hành nâng cấp hệ thống xử lý chất thải cho khu nhà hàng, khách sạn, nơi bán thực phẩm bằng cách lắp đặt các máy chế biến thực phẩm để không còn thức ăn thừa, biến rác thải hữu cơ thành phân compost; hay chất thải thực phẩm được sản xuất thành khí sinh học phục vụ đun, nấu thức ăn cho các trang trại, khu dân cư nhỏ, ký túc xá… Dầu ăn được tận dụng và chế biến thành nhiên liệu cho lò hơi, hay làm xà phòng, dầu diesel sinh học
Theo quy định của Penang, các loại rác thải có thể tái chế như giấy loại, chai lọ thủy tinh, vỏ đồ hộp được thu gom vào các thùng chứa riêng Người dân đem đến thùng rác trong khu dân cư, hoặc có thể gọi điện để bộ phận chuyên trách mang đi nhưng phải thanh toán phí thông qua việc mua tem dán vào các túi rác này theo trọng lượng
Nhằm thực hiện hiệu quả công tác quản lý chất thải theo 3R, chính quyền Penang đã đưa ra các chính sách khuyến khích, khen thưởng đối với sáng kiến thân thiện môi trường, cũng như kỷ luật, xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm trong phân loại, thu gom và tái chế rác thải sinh hoạt của người dân
Cụ thể, nếu thực hiện hiệu quả việc tái chế, nhà quản lý, cán bộ, nhân viên sẽ được thăng chức Đối với các hộ gia đình, cơ sở tiểu thương, khi tiến hành hoạt động tái chế chất thải sẽ được hỗ trợ kinh phí, nhưng nếu không thực hiện đúng quy trình thu gom, để phát sinh chất thải quá mức, họ sẽ phải trả phí (lượng chất thải phát sinh càng nhiều thì số tiền phí càng lớn)
Có thể nói, việc thực hiện quản lý CTR phù hợp với phương pháp 3R đã giúp Penang giảm được lượng rác thải phát sinh, góp phần hình thành một TP không chất thải và phát triển bền vững (P Linh, 2016).
HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ RTSH TẠI VIỆT NAM
Theo báo cáo môi trường quốc gia (2011), khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, chiếm khoảng 60-70% tổng lượng chất thải rắn đô thị và tại một số đô thị tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chiếm đến 90% tổng lượng chất thải rắn đô thị Chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh với khối lượng lớn tại hai đô thị đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người ở mức độ cao từ 0,9-1,38 kg/người/ngày ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị phát triển về du lịch như: thành phố Hạ Long, thành phố Đà Lạt, thành phố Hội An,…Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người thấp nhất tại thành phố Đồng Hới, thành phố Kon Tum, thị xã Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đăk Nông, thành phố Cao Bằng từ 0,31-0,38 kg/người/ngày
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Chỉ tính riêng tại thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là: 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
2.3.2 Hiện trạng thu gom, vận chuyển
Theo Kỷ yếu Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ IV năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi Trường, RTSH ở các đô thị Việt nam hiện nay chủ yếu do các công ty Môi trường đô thị do Nhà nước thành lập đảm nhiệm Các đô thị đều có từ
1 đến một vài các công ty, tùy thuộc vào quy mô và dân số đô thị Một số đô thị có công ty tư nhân tham gia và xu hướng này đang lan rộng tới nhiều đô thị khác Ở địa bàn nông thôn (huyện, xã, thôn), một số nơi có tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải rắn, hoạt động dưới hình thức môi trường xã hoặc tổ, đội vệ sinh môi trường Kinh phí cho hoạt động của các tổ chức thu gom và vận chuyển chất thải ở đô thị và nông thôn dựa vào ngân sách của chính quyền địa phương và đóng góp của dân (mức đóng góp do chính quyền địa phương quyết định, thường khoảng 2.500 - 3.000 VND/người/tháng ở các đô thị lớn; và khoảng 8.00 - 1.500 VND/người/tháng ở đô thị nhỏ và địa bàn nông thôn) Công tác phân loại RTSH tại nguồn ở Việt nam hiện chưa thực hiện rộng rãi Phân loại RTSH tại nguồn đang được tiến hành thử nghiệm ở một số đô thị lớn và sẽ được mở rộng trong tương lai để giảm áp lực cho việc xử lý chất thải (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa
Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt do Công ty môi trường đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện Bên cạnh đó, trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị Nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị hiện nay do Nhà nước bù đắp một phần từ nguồn thu phí vệ sinh trên địa bàn Mức thu phí vệ sinh hiện nay từ 4000-6000 đồng/người/tháng hoặc từ 10.000-30.000 đồng/hộ/tháng tùy theo mỗi địa phương Mức thu tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ từ 120.000-200.000 đồng/cơ sở/tháng tùy theo quy mô, địa phương (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phần lớn là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom thỏa thuận với người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương Mức thu và cách thu tùy thuộc vào từng địa phương, từ 10.000-20.000 đồng/hộ/tháng và do thành viên hợp tác xã, tổ đội thu gom trực tiếp đi thu Hiện có khoảng 40% số thôn, xã hình thành các tổ, đội thu gom chất thải rắn sinh hoạt tự quản, công cụ phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển hầu hết do tổ đội tự trang bị Tuy nhiên, trên thực tế tại khu vực nông thôn không thuận tiện về giao thông, dân cư không tập trung còn tồn tại hiện tượng người dân vứt bừa bãi chất thải ra sông suối hoặc đổ thải tại khu vực đất trống mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2011, Nguyễn Việt Anh, 2011)
Cũng theo Kỷ yếu Hội nghị môi trường toàn quốc lần thứ IV năm 2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, nhìn chung, chất thải rắn sinh hoạt được xử lý chủ yếu bằng hình thức chôn lấp, sản xuất phân hữu cơ và đốt (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu tư xây dựng theo hoạch xử lý chất thải rắn của các địa phương Trong số 26 cơ sở xử lý chất thải rắn có 03 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ, 11cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được mô hình xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Theo thống kê tính đến năm 2013 có khoảng 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có quy mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường ,2015)
Một số cơ sở xử lý bằng hình thức chôn lấp hợp vệ sinh hiện đang hoạt động như: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước thuộc Công ty TNHH xử lý chất thải rắn Việt Nam; Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc Củ Chi thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh; Khu xử lý chất thải Nam Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hà Nội,…Trên thực tế, tại nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp, quá trình kiểm soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, hiện vẫn đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội Bên cạnh đó, chưa có cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Hiện nay, các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ sử dụng công nghệ ủ hiếu khí, một số cơ sở xử lý đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Nam Bình Dương thuộc Công ty TNHH MTV cấp thoát nước và môi trường Bình Dương; Nhà máy xử lý và chế biến chất thải Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh thuộc Công ty TNHH MTV quản lý công trình đô thị Hà Tĩnh; Nhà máy xử lý rác Tràng Cát, thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Hải Phòng; Nhà máy xử lý chất thải rắn Nam Thành, Ninh Thuận thuộc Công ty TNHH xây dựng thương mại và sản xuất Nam Thành;…Hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ của các cơ sở xử lý được thiết kế chế tạo trong nước hoặc cải tiến từ công nghệ nước ngoài Một số công nghệ mới được nghiên cứu và áp dụng trong nước đáp ứng được tiêu chí hạn chế chôn lấp nhưng việc hoàn thiện công nghệ và triển khai nhân rộng còn gặp nhiều khó khăn do vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế; tính đồng bộ, hiện đại, mức độ tự động hóa của hệ thống thiết bị trong dây chuyền công nghệ chưa cao; các công nghệ xử lý chất thải rắn chưa được sản xuất ở quy mô công nghiệp Một số địa phương sử dụng nguồn vốn ODA để nhập khẩu từ nước ngoài các công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ nhưng công nghệ xử lý chưa đạt được hiệu quả như mong muốn: dây chuyền xử lý chất thải rắn sinh hoạt chưa phù hợp với điều kiện Việt Nam, tỉ lệ chất thải rắn được đem chôn lấp hoặc đốt sau xử lý rất lớn từ 35-80%, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao,…Ngoài ra, sản phẩm phân hữu cơ sản xuất ra hiện nay khó tiêu thụ, chỉ phù hợp với một số loại cây công nghiệp (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt ở tuyến huyện, xã Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã tự đầu tư lò đốt công suất nhỏ để xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn Theo báo cáo của các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Một số cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt sử dụng công nghệ đốt công suất lớn, hiện đang hoạt động: Nhà máy xử lý chất thải Sơn Tây thuộc Công ty cổ phần dịch vụ môi trường Thăng Long; Xí nghiệp xử lý chất thải rắn và sản xuất phân bón tại cụm công nghiệp Phong Phú thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị Thái Bình;… (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
Việc đầu tư lò đốt công suất nhỏ là giải pháp tình thế, góp phần giải quyết nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu vực nông thôn Tuy nhiên, một số lò đốt công suất nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; không có thiết kế, hồ sơ giấy tờ liên quan tới lò đốt Nhiều lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên địa bàn dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2015)
CÁC MÔ HÌNH QUẢN LÝ RTSH CÓ SỰ THAM GIA CỦA NHIỀU BÊN ĐÃ ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
2.3.1 Mô hình cộng đồng tiêu biểu trong công tác XHH BVMT về thu gom, vận chuyển , xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Cổ Nhuế - Hà Nội
Xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm được TP Hà Nội chọn để thí điểm thực hiện XHH BVMT Đây là xã sản xuất nông nghiệp, có tốc độ đô thị hóa nhanh nên gây nhiều tác động xấu đến môi trường Tình trạng thoát nước là vấn đề lớn của xã, nhiều nơi nước thải tràn ra đường do cống bị tắc Mùa mưa thì hầu như các thôn đều bị ngập, mức nước ngập lên đến 40 cm, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Bên cạnh đó, lượng rác thải của xã trung bình khoảng 5 tấn/ngày (trong đó khoảng 1 tấn là do các cơ sở sản xuất thải ra) Thành phần chủ yếu là rác hữu cơ chiếm 70 - 80% Trong đó, khoảng 70% số rác được Xí nghiệp Môi trường Đô thị Từ Liêm vận chuyển đến bãi chôn lấp của thành phố, số còn lại tồn đọng trôi nổi khắp nơi Để khắc phục tình trạng trên, hàng năm xã đã dành 15% nguồn thu để chi cho công tác môi trường Đồng thời, vận động nhân dân trong xã thực hiện BVMT Cụ thể như:
Công tác thu gom và phân loại rác: Do lượng rác thải sinh hoạt trên địa bàn không lớn, nên Chính quyền xã vận động nhân dân phân loại rác tại từng hộ gia đình Mỗi hộ đều có thùng đựng để phân loại, tách riêng rác hữu cơ với các loại rác khác để tái sử dụng hoặc tái chế Việc làm này giảm được khối lượng thu gom và có biện pháp xử lý dễ dàng, tránh được ô nhiễm Mỗi hộ đều có thùng đựng để phân loại, tách riêng rác hữu cơ với các loại rác khác để tái sử dụng hoặc tái chế
Công việc thu gom và vận chuyển rác đến địa điểm tập trung được giao cho một đơn vị dịch vụ thu gom rác do người dân lựa chọn, thông qua đấu thầu do Ban Môi trường của xã đứng ra tổ chức
Rác được thu gom theo từng tổ dân cư, mỗi tổ cử ra đại diện để tham gia thu phí và nộp cho Ban Môi trường xã hoặc đóng trực tiếp cho chủ thầu, đồng thời là người giám sát việc thu gom rác Sau khi rác được thu gom, Ban Môi trường xã ký hợp đồng vận chuyển và xử lý rác với Xí nghiệp Môi trường Đô thị
Công tác xử lý rác hữu cơ tại hộ gia đình: Các cán bộ kỹ thuật phổ biến công nghệ đơn giản cho từng hộ dân trong việc xử lý rác hữu cơ tại nguồn Mỗi hộ được trang bị một thùng để chứa các loại rác hữu cơ sau khi đã chọn để riêng Rác hữu cơ được xử lý bằng chế phẩm vi sinh (EM), làm mất mùi hôi và tạo thành phân hữu cơ giàu chất dinh dưỡng phục vụ cho trồng trọt (nhất là cho rau sạch và trồng hoa, cây cảnh)
Việc phân loại và xử lý rác tại nguồn sẽ giảm được chu kỳ thu gom (7 - 10 ngày mới phải thu gom một lần), giảm chi phí và tăng hiệu quả của việc vận chuyển Sau một thời gian, lượng rác phân hủy có thể khai thác mùn làm phân bón Đối với rác vô cơ có thể tái sử dụng hoặc tái chế thành đồ dùng cho sản xuất đời sống
Ngoài ra, xã đã phát động phong trào hạn chế dùng bao, túi ni lông, dùng làn, túi lưới, túi cói hoặc bao bì bằng giấy khi đi mua hàng Đồng thời, khuyến khích sản xuất và sử dụng các loại bao bì gói bằng vật liệu khác dễ tiêu hủy và không độc hại Tổ chức các đợt hoạt động làm sạch đường phố, ven bờ sông, khơi thông cống rãnh trên địa bàn xã; Tổ chức sắp xếp hợp lý việc buôn bán ở chợ Cổ Nhuế; Thu dọn vệ sinh môi trường ở chợ và các nơi công cộng của xã Thông qua các hoạt động trên có thể rút ra bài học kinh nghiệm, cụ thể: Công tác tuyên truyền giáo dục nâng cao hiểu biết của người dân về chính sách luật pháp và các biện pháp BVMT là nền tảng cho sự thành công của việc thực hiện XHH BVMT
Thực hiện XHH phải gắn bó với chính quyền cơ sở và có sự phối hợp với cơ quan chức năng của Nhà nước về nguồn lực, kỹ thuật và văn bản pháp luật có liên quan Đồng thời, cần phải tổ chức làm thí điểm XHH ở một vài điểm dân cư nhằm rút kinh nghiệm để bổ sung chỉnh lý mô hình rồi mới có kế hoạch mở ra trên diện rộng (Châu Loan, 2013)
2.3.2 Mô hình xây dựng hương ước BVMT của làng Chiết Bi - xã Thủy Tân
- huyện Hương Thủy - tỉnh Thừa Thiên Huế
Làng Chiết Bi là một vùng trũng, thấp, nên hàng năm vào mùa mưa bão thường bị ngập lụt Bên cạnh đó, một số hộ gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, xây dựng chuồng trại không đảm bảo, làm một số ao, hồ trong làng bị ô nhiễm, gây nên dịch bệnh làm ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống sinh hoạt hàng ngày của nhân dân
Trước thực trạng trên, Đội thanh niên Tình nguyện xanh của xã Chiết Bi đã thành lập Ban điều hành xây dựng và thực hiện hương ước BVMT Đến nay, sau 3 năm thực hiện, hương ước BVMT làng Chiết Bi đã đạt được hiệu quả nhiều mặt về công tác BVMT Môi trường trong làng đã được cải thiện Ý thức, trách nhiệm của bà con được nâng cao, đã ngăn ngừa được tình trạng ô nhiễm, suy thoái và cạn kiệt các nguồn tài nguyên và môi trường
Tuy nhiên, để hương ước BVMT phát huy hiệu quả lâu dài, Đội thanh niên kiến nghị: Cần đầu tư về cơ sở vật chất như hố rác công cộng, các dụng cụ vệ sinh môi trường ; Hỗ trợ các hộ gia đình xây dựng hố xí hợp vệ sinh, giếng nước ; Cần có sự chỉ đạo đồng bộ của các cấp ủy, chính quyền và sự phối hợp, thống nhất, chặt chẽ của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp trong cộng đồng địa phương về BVMT (Châu Loan, 2013)
2.3.3 Xã Nậm Loỏng xây dựng hương ước BVMT
Xã Nậm Loỏng, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu là một xã có trình độ dân trí thấp, đời sống còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất độc canh chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, trình độ canh tác còn lạc hậu, bên cạnh đó nạn chăn thả gia súc gia cầm còn bừa bãi… làm mất vệ sinh ở các khu dân cư, ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt và môi trường; đặc biệt là do chặt phá rừng, đốt nương làm giảm độ che phủ của rừng, tăng sự xói mòn và thoái hóa đất canh tác, suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên Để khắc phục tình trạng trên, chính quyền xã Nậm Loỏng lập Dự án “Xây dựng hương ước BVMT có sự tham gia của cộng đồng” Hương ước quy định: Không thả rông gia súc, không chặt phá rừng bừa bãi; Tiến hành trồng cây xanh, không đốt rừng làm rẫy; Từng bước áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất như đưa giống mới, nuôi trồng các loại cây con có hiệu quả chất lượng cao, quy hoạch giao đất giao rừng, trồng mới, bảo vệ khoanh nuôi rừng hiện có, tăng độ phủ xanh đất trống đồi núi trọc, giảm độ xói mòn đất
Sau khi thực hiện Dự án cho thấy, hương ước BVMT được cộng đồng ủng hộ vì đem lại lợi ích cho nhân dân Tạo ra các quy tắc ứng xử trong đời sống của từng cá nhân, gia đình, thôn bản và toàn xã nhằm xây dựng bản văn hóa, xanh, sạch, giữ gìn bản sắc văn hoá, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ sức khoẻ; Đồng thời, nâng cao ý thức trách nhiệm của cộng động về BVMT
Tuy nhiên, cũng có một số khó khăn trong quá trình xây dựng và tổ chức thực hiện, do địa hình phức tạp nên quá trình khảo sát mất nhiều thời gian; Trong xã hầu hết là đồng bào dân tộc ít người, trình độ văn hóa thấp, nhận thức còn hạn chế, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu nên việc tuyên truyền, vận động gặp nhiều khó khăn; Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ từ thôn bản, xã còn hạn chế (Châu Loan, 2013)
2.4 VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TỪNG BÊN LIÊN QUAN
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Sự phối hợp giữa các bên liên quan trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các địa bàn xung quanh KCN Yên Phong.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại khu vực nghiên cứu 3.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu
3.2.3 Các bên có liên quan và nhiệm vụ, chức năng cụ thể của các bên liên quan tại các giai đoạn của quá trình quản lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu 3.2.4 Đánh giá tính hiệu quả của công tác quản lý tại khu vực nghiên cứu 3.2.5 Đề xuất một số giải pháp có sự tham gia của các bên liên quan phù hợp với khu vực nghiên cứu
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp
- Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Yên Phong
- Thu thập số liệu về công tác quản lý, hồ sơ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu
- Thu thập tài liệu trong các giáo trình, luận văn, luận án, đề tài khoa học, báo trí, internet
- Kế thừa báo cáo của UBND xã Yên Trung và xã Đông Tiến (2018) về tình hình phát sinh RTSH và công tác quản lý trên địa bàn
3.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa
- Điều tra khảo sát thực địa tại khu vực nghiên cứu về nguồn xả thải, tình hình phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt: Đi khảo sát mỗi thôn 1 lần và đi cùng cán bộ thôn
+ Trực tiếp khảo sát, tiếp cận quy trình thu gom, xử lý
+ Thống kê trực tiếp các dụng cụ, thiết bị máy móc phục vụ cho công tác thu gom, xử lý
3.3.3 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Lập phiếu điều tra, tiến hành điều tra phỏng vấn: Phương pháp này giúp thu thập, cập nhật thêm những thông tin chưa có tài liệu thống kê, hoặc muốn lấy ý kiến từ cộng đồng hoặc các đối tượng có liên quan Qua đó đánh giá thực trạng công tác quản lý chất sinh hoạt, hiểu biết về rác thải sinh hoạt nói riêng, ý thức bảo vệ vệ sinh môi trường và công tác bảo vệ môi trường nói chung Nội dung phiếu điều tra được trình bày trong phần phụ lục 1
Phiếu điều tra khảo sát được thành lập nhằm bổ sung thông tin và nắm bắt chính xác hơn cho nghiên cứu này về công tác quản lý môi trường tại khu vực nghiên cứu Hơn nữa, mục tiêu của phiếu khảo sát là mong muốn hiểu được sự hiểu biết và ý thức của những người tham gia công tác bảo vệ môi trường tại khu vực nghiên cứu:
- Phỏng vấn lãnh đạo của 04 thôn có dân số cao nhất Ấp Đồn, Chính Trung, Trần Xá, Ô Cách, mỗi thôn 01 phiếu (công tác BVMT trong thôn, đóng góp của các hộ dân vào công tác xã hội hóa môi trường của nhà nước)
- 02 phiếu phỏng vấn Cán bộ môi trường, hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên của 02 xã: xã Yên Trung và xã Đông Tiến (các chính sách, hoạt động tuyên truyền của xã về công tác BVMT)
- 03 phiếu phỏng vấn tổ đội vệ sinh môi trường của 03 thôn: Ô Cách, Chính Trung, Ấp Đồn (thôn Trần Xá không có tổ đội vệ sinh)
- 01 phiếu phỏng vấn cán bộ phòng TNMT huyện Yên Phong (công tác quản lý RTSH trên địa bàn huyện nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng)
Bảng 3.1 Thống kê phiếu điều tra tại 4 thôn xung quanh khu công nghiệp
STT Thôn Xã Số lượng phiếu
- Phiếu phỏng vấn các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu (lượng rác phát sinh, thành phần chủ yếu, mức phí đóng góp cho công tác BVMT tại địa phương, mức độ hiệu quả của các Hoạt động môi trường đã từng diễn ra tại địa phương, ): điều tra ngẫu nhiên mỗi thôn 100 hộ gia đình Tuy nhiên, trong quá trình thu hồi, tổng hợp phiếu điều tra đã bị thất thoát mất 02 phiếu nên tổng số phiếu điều tra chỉ còn 398 phiếu (Bảng 3.1):
Kết quả điều tra được tổng hợp thành bộ cơ sở dữ liệu được trình bày ở phần phụ lục
Tham khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, cán bộ lãnh đạo khu vực nghiên cứu, các bên liên quan, được áp dụng trong đề xuất cũng như lựa chọn giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu xung quanh khu vực KCN Yên Phong, huyện Yên Phong
3.3.5 Phương pháp thảo luận nhóm Đại diện 04 thôn nghiên cứu đã tham gia thảo luận bàn về nguyên nhân quá tải rác thải sinh hoạt và mức độ tham gia của các bên liên quan trong quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xung quanh khu công nghiệp Sơ đồ nguyên nhân và mức độ tham gia được người dân phác thảo ngay trong cuộc họp tại nhà văn hóa
Sơ đồ VENN và SWOT được xây dựng thông qua thảo luận với người dân
3.3.6 Phương pháp đánh giá hiệu quả sự tham gia của các bên liên quan đến công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt Đánh giá quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của các bên liên quan (chủ phát thải, chủ thu gom, UBND các cấp và cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương, công đồng và các tổ chức dân sự xã hội) theo hướng dẫn trong nghị định 38/2015/NĐ-CP nhằm phát hiện các chức năng nhiệm vụ còn chồng chéo, khó thực hiện tổ chức thảo luận nhóm với đại diện các bên liên quan để cùng tìm ra giải pháp Đánh giá ý thức của người dân và các chủ thể tham gia công tác quản lý RTSH thông qua phương pháp phỏng vấn và thống kê ý kiến quan điểm của người dân
Sử dụng sơ đồ VENN và ma trận SWOT nhằm xác định các ưu điểm, hạn chế, cơ hội và thách thức trong quản lý RTSH Đánh giá năng lực của các bên tham gia quản lý RTSH trong nhận diện vấn đề, lập kế hoạch, triển khai công tác thu gom, truyền thông giáo dục ý thức cộng đồng thông qua phỏng vấn những đối tượng liên quan
3.3.7 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Từ các số liệu thu thập được thống kê, tổng hợp các số liệu về lượng rác phát sinh, thống kê các quan điểm đánh giá của người dân, sự tham gia của cộng đồng trong công tác quản lý RTSH
- Xây dựng sơ đồ chức năng nhiệm vụ của các bên liên quan trong công tác quản lý RTSH tại khu vực.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Yên Phong là huyện nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Bắc Ninh trong vùng đồng bằng Châu thổ sông Hồng Diện tích tự nhiên của huyện sau khi có điều chỉnh địa giới hành chính theo Nghị định 60/2007/NĐ-CP là 9.686,15 ha, với 14 đơn vị hành chính gồm 01 thị trấn (thị trấn Chờ) và 13 xã (Yên Trung, Long Châu, Văn Môn, Dũng Liệt, Thụy Hòa, Hòa Tiến, Đông Thọ, Đông Tiến, Trung Nghĩa, Yên Phụ, Tam Giang, Tam Đa và Đông Phong) Tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 21 o 08’45” đến 21 o 14’30” độ Vĩ Bắc, từ 105 o 04’30” đến 106 o 04’15” độ Kinh Đông, giáp ranh với các địa phương sau:
- Phía Bắc giáp huyện Hiệp Hòa và Việt Yên – Bắc Giang
- Phía Nam giáp huyện Từ Sơn, Tiên Du
- Phía Đông giáp thành phố Bắc Ninh
- Phía Tây giáp huyện Đông Anh và Sóc Sơn – Hà Nội
Khu vực thực hiện đề tài nằm phía Bắc và Tây Bắc tiếp giáp với KCN Yên Phong, có nhiều thuận lợi về giao thông và phát triển kinh tế nhờ vào KCN, cụ thể:
-Về đường bộ: KCN nằm trên giao điểm giữa 2 tuyến giao thông: Hành lang Bắc - Nam là các Quốc lộ 1A và Quốc lộ 1B nối Hà Nội với Lạng Sơn; hành lang Đông - Tây là Quốc lộ 18 (mới) có mặt cắt gấp đôi Quốc lộ 18 A (cũ) nối Sân bay Quốc tế Nội Bài với Cảng biển nước sâu Cái Lân, Quốc lộ 38 nối Bắc Ninh – Hải Dương – Hải Phòng
-Cảng biển: cách Cảng Hải Phòng 110 km, Cảng biển nước sâu Cái Lân - Quảng Ninh 120 km
-Sân bay: Cách sân bay quốc tế Nội Bài 22 km (20 phút đi bằng Ôtô)
-Đường sắt: Tuyến đường sắt liên vận quốc tế Hà Nội - Lạng Sơn, với khổ đường sắt 1,435m, nằm gần đường sắt cao tốc Yên Viên (Hà Nội) - Lim (Bắc Ninh) - Hạ Long (Quảng Ninh)
- Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, cho nên địa hình toàn huyện Yên Phong tương đối bằng phẳng Địa hình của huyện được bao bọc và chia cắt bởi 3 con sông: sông Cầu bao phía Bắc huyện, sông Cà Lồ bao phía Tây huyện, sông Ngũ Huyện Khê bao phía Nam, tương đối bằng phẳng, có độ dốc nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam Độ cao trung bình trong toàn huyện so với mặt nước biển là 4,5m Cánh đồng cao nhất thuộc xã Yên Phụ so với mặt nước biển cao 7m Cánh đồng thấp nhất thuộc thôn Đại Chu xã Long Châu cao 2,5 m so với mặt nước biển
-Nhìn chung địa bàn của huyện thuận lợi cho phát triển mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng mạng lưới khu dân cư, xây dựng khu công nghiệp và kiến thiết đồng ruộng tạo ra những vùng chuyên canh lúa, màu và cây công nghiệp ngắn ngày
-Tuy nhiên địa hình bậc thang, cao thấp xen kẽ đã gây ra không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân
- Nhiều công trình nghiên cứu đã kết luận ở vùng đồng bằng Sông Hồng số liệu giữa các trạm không sai khác nhau lớn về số lượng và chế độ nhiệt Theo hai tiêu chí này khí hậu ở Yên Phong nói riêng và toàn đồng bằng sông Hồng nói chung có thể chia thành hai mùa rõ rệt Huyện Yên Phong thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh bắt đầu từ tháng 11-3, mùa hè từ tháng 4-10 Đặc trưng thời tiết là nóng ẩm, mưa nhiều
- Nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23 - 270C
- Độ ẩm không khí vào các tháng mùa mưa có thể đạt 80~90% Các tháng mùa khô độ ẩm chỉ từ 70~80%
- Số giờ nắng trung bình khoảng từ 1400 đến 1700 giờ
- Khả năng bốc hơi tương đối cao, trung bình nhiều năm từ 950 đến 990 mm/năm
- Hướng gió thịnh hành trong huyện mùa hè là gió Nam và Đông Nam, vào mùa Đông hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc Tốc độ gió trung bình vào khoảng 1,5-2,5 m/s
+ Mùa mưa của huyện thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng
10 Mùa khô bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 9 năm sau Lượng mưa trong 6 tháng mùa mưa chiếm khoảng 83~86% tổng lượng mưa năm còn lại 6 tháng mùa khô lượng mưa chỉ từ 14~17% tổng lượng mưa năm
+ Hai tháng mưa nhiều nhất là tháng 7 và tháng 8, tổng lượng mưa hai tháng này chiếm từ 35~38% tổng lượng mưa năm, lượng mưa tháng của các tháng này đều từ 200-300mm/tháng, số ngày mưa lên tới 15 – 20 ngày trong đó có tới 9-10 ngày có mưa dông với tổng lượng mưa đáng kể, thường gây úng Hai tháng ít mưa nhất đó là tháng 12 và tháng 1, tổng lượng mưa hai tháng này chỉ chiếm 1,5-2,5% tổng lượng mưa năm, thậm chí có nhiều tháng không mưa gây ra tình trạng hạn hán nghiêm trọng
+ Lượng mưa năm trong huyện biến động không lớn, hệ số biến động mưa năm chỉ từ 0,19-0,24 Lượng mưa trung bình nhiều năm cũng tương đối đồng nhất với lượng mưa hàng năm, chỉ dao động quanh mức 1400mm/năm
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2017, trong bối cảnh các tác động tích cực từ tái cơ cấu nền kinh tế, cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh được Chính phủ quyết liệt chỉ đạo đã đem lại sự ổn định về kinh tế-xã hội trong năm 2017; tuy nhiên các yếu tố bất thường như thời tiết bất ổn, dịch bệnh diễn biến phức tạp, đã ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống nhân dân Năm 2017 là năm kỷ niệm nhiều ngày lễ lớn của tỉnh cũng như của huyện Yên Phong Trước tình hình đó, để đảm bảo thực hiện hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch năm 2017 được UBND tỉnh Bắc Ninh giao và Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ huyện, HĐND huyện đã đề ra; UBND huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương kịp thời đề ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn, cùng sự phối hợp chặt chẽ của UB.MTTQ, các đoàn thể từ huyện đến cơ sở và sự đồng tình, hưởng ứng của nhân dân trong huyện, nên kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH trên địa bàn huyện đã đạt được nhiều kết quả khả quan:
- Tổng diện tích gieo trồng 10.046,5 ha, diện tích lúa là 9.128,6 ha (trong đó, 72,4 % diện tích là lúa năng suất cao và lúa chất lượng cao); năng suất bình quân 60,2 tạ/ha Diện tích cây màu là 917,9 ha
- Tổng sản lượng thóc đạt 54.926,5 tấn, giảm 7,5 % so với năm 2016
- Giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác ước đạt 99,7 triệu đồng (giá hiện hành)
- Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện năm 2017 ước đạt 14.366,553 tỷ đồng (giá hiện hành); tăng 7,5 % so với năm 2016:
+ Trong đó: Tổng sản phẩm GRDP địa phương ước đạt 4.034,183 tỷ đồng (giá hiện hành); tăng 8,5 % so với năm 2016 Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông nghiệp 684,994 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 17 %; tăng 0,5 % so với năm 2016); khu vực CN-XD 1.746,85 tỷ đồng (chiếm 43,3 %; tăng 6,4 % so với năm 2016); khu vực dịch vụ 1.602,339 tỷ đồng (chiếm 39,7 %; tăng 14,8 % so với năm 2016)
- Thu ngân sách địa phương ước đạt 764.595 triệu đồng, đạt 142 % DT năm
- Thu nhập bình quân ước đạt 50,6 triệu đồng/người/năm (giá hiện hành); tăng 2,25 triệu đồng (4,6 %) so với năm 2016
- Số hộ nghèo là 877 hộ (tỷ lệ 2,29 %); số hộ cận nghèo là 947 hộ (tỷ lệ 2,47 %) theo tiêu chí mới giai đoạn 2016-2020
- Tiến hành kiểm tra công tác hành nghề y dược trên địa bàn huyện: toàn huyện có 242 cơ sở (trong đó, có phép là 165; không phép là 77) Công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm được đảm bảo, duy trì tốt; trong năm, xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại Công ty Samsung Display làm 201 công nhân bị ngộ độc, không có tử vong Triển khai Kế hoạch ATTP giai đoạn 2016 - 2020 và kế hoạch đảm bảo ATTP huyện năm 2017; từ đầu năm đến nay, kiểm tra được 594 lượt/735 cơ sở Công tác khám chữa bệnh được Khu vực nghiên cứu đa khoa; trạm y tế các xã, thị trấn duy trì thường xuyên, sẵn sàng trực cấp cứu phục vụ nhân dân trong mọi thời điểm; tại Khu vực nghiên cứu đa khoa huyện tổ chức khám bệnh cho 153.887 lượt người, điều trị nội trú cho 14.108 lượt người (không có tai biến chuyên môn) Kết quả công tác khám, lập hồ sơ chăm sóc sức khỏe toàn dân tại các trạm y tế: có 14/14 xã, thị trấn khám được trên 80%, đạt yêu cầu do Sở Y tế đã đề ra Tập trung phòng, chống dịch sốt xuất huyết trên địa bàn huyện; đã xử lý
06 ổ dịch tại các xã Yên Trung, Hòa Tiến, Thụy Hòa, Đông Phong, Đông Tiến và Long Châu; không có bệnh nhân tử vong
PHÂN TÍCH VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN LIÊN
tỷ lệ hộ gia đình công nhân chiếm từ 27-43%, chủ yếu là người ngoài huyện làm cho khu công nghiệp Yên Phong, hộ dịch vụ ăn uống nhà hàng cũng tăng theo hoạt động của KCN Yên Phong Trong khi đó số hộ thuần nông chỉ còn 1-10% số hộ Do vậy áp lực rác thải sinh hoạt gia tăng từ tăng dân số cơ học là hiện hữu và thống nhất với báo cáo của UBND xã Yên Trung (2018) và Đông Tiến (2018) trình Phòng TNMT huyện Yên Phong
4.2 PHÂN TÍCH VAI TRÒ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN
4.2.1 Thành phần tham gia vào quản lý RTSH tại khu vực nghiên cứu
Phân tích thành phần tham gia vào quản lý RTSH tại khu vực nghiên cứu là rất quan trọng Một phân tích thành phần tham gia rõ ràng sẽ lồng ghép được trách nhiệm của các bên liên quan một cách thích hợp và từ đó lợi ích của sự tham gia sẽ được nhân rộng
Qua kết quả điều tra, phỏng vấn cán bộ môi trường của 02 xã Yên Trung và Đông Tiến cùng với cán bộ môi trường của phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Yên Phong, nhận thấy thành phần tham gia vào quản lý RTSH tại khu vực nghiên cứu bao gồm CQQLNN (UBND các cấp từ tỉnh đến xã), nhóm tự quản cơ sở (ban lãnh đạo thôn), tổ chức đoàn thể xã hội, tổ vệ sinh môi trường của các thôn, các công ty dịch vụ môi trường, cộng đồng dân cư Bảng 4.2 trình bày chức năng nhiệm vụ của các bên tham gia quản lý thu gom RTSH và mức độ quan trọng theo đánh giá của người dân
Bảng 4.2 Chức năng nhiệm vụ và tầm quan trọng của các bên tham gia trong quản lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu
STT Đối tượng tham gia quản lý RTSH Chức năng nhiệm vụ
Mức độ quan trọng theo đánh giá của người dân
I UBND và cơ quan quản lý
1 Cơ quan quản lý nhà nước môi trường cấp tỉnh
Lập kế hoạch, đưa ra chủ trương chính sách
Thẩm định, đánh giá, đông đốc, giám sát, ký hợp đồng, nghiệm thu
3 UBND xã Đôn đốc, giám sát, hỗ trợ Quan trọng
II Chủ thể phát sinh RTSH
4 Cộng đồng dân cư Hưởng ứng tham gia phong trào, tuân thủ các quy định về quản lý RTSH và Vệ sinh môi trường
5 Công ty dịch vụ môi trường
Lập đề án, dự trù kinh phí, triển khai thu gom rác từ điểm tập kết đến bãi chôn lấp
6 Tổ vệ sinh môi trường Trực tiếp thu gom RTSH từ hộ gia đình đến bãi trung chuyển
IV Các tổ chức dân sự xã hội
7 Tổ chức đoàn thể xã hội Hỗ trợ, phát động các phong trào vệ sinh môi trường Ít quan trọng
8 Nhóm tự quản cơ sở Đôn đốc, giám sát hỗ trợ trực tiếp trên địa bàn
Nguồn: Kết quả thảo luận nhóm (2018)
Theo đánh giá của người dân (bảng 4.3), những người trực tiếp thu gom, quản lý RTSH trên địa bàn chiếm vai trò quan trọng bao gồm cộng đồng dân cư, tổ vệ sinh môi trường nông thôn, nhóm tự quản cơ sở và UBND xã Các cơ quan quản lý nhà nước và công ty dịch vụ môi trường ở mức trung bình vì họ không được chứng kiến tham gia trực tiếp thu gom RTSH tại cộng đồng Tổ chức đoàn thể tại 4 thôn nghiên cứu có rất ít hoạt động thúc đẩy phong trào vệ sinh môi trường và thu gom RTSH
Tuy nhiên, các tồn tại trong quản lý rác thải không chỉ liên quan đến điểm đến cuối cùng là tình trạng nhà máy xử lý rác, vấn đề xử lý, tình trạng bãi rác, công nghệ đốt rác mà còn liên quan đến trang thiết bị thu gom, liên quan đến phân loại rác thải, đến ý thức của người dân về phân loại rác thải, đến giáo dục bảo vệ môi trường, nói không với túi nylon, các phong trào quần chúng trên đối tượng quản lý là RTSH, và hành vi của con người Vì vậy đã đến lúc quản lý rác thải sinh hoạt cần phải được nhìn nhận và mô phỏng theo một mô hình quản lý có sự chia sẻ trách nhiệm giữa nhà nước và cộng đồng Hay nói cách khác là sự chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi giữa các bên cần được ghi nhận và các đơn vị, cá nhân liên quan cần thực hiện tốt chức năng và nhiệm vụ được giao (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2011; Nguyễn Ích Tân, 2011; Đinh Hồng Duyên và cs., 2018)
4.2.2 Vai trò, trách nhiệm của từng bên trong quản lý RTSH theo từng giai đoạn và tính hiệu quả trong thực tế tại khu vực nghiên cứu khi có sự phối hợp giữa các bên
4.2.2.1 Chu trình phát sinh và xử lý RTSH tại khu vực nghiên cứu
Hình 4.2 Chu trình phát sinh và xử lý RTSH tại khu vực nghiên cứu
Rác tái chế, tái sử dụng Phần rác còn lại
Khu xử lý rác thải
Bãi tập kết Thu gom, tập kết
Giai đoạn 3 Bán phế liệu
Hình 4.2 trình bày chu trình phát sinh và xử lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu Chu trình được chia ra làm 3 giai đoạn và mỗi giai đoạn có cá tác nhân trực tiếp và dán tiếp tham gia thống nhất với chức năng nhiệm vụ của từng thành viên trong bảng 4.3 Chu trình của địa phương phù hợp với quy trình quản lý RTSH tại nhiều địa phương khác tại Việt Nam được tổng kết trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2011)
4.2.2.2 Vai trò quản lý RTSH của các bên khi tham gia vào giai đoạn 1 của quá trình phát sinh và xử lý RTSH
Giai đoạn 1 của chu trình là quá trình phát sinh RTSH tại khu vực nghiên cứu Lượng RTSH phát sinh tại khu vực nghiên cứu qua các tài liệu thu thập được từ phòng TN&MT huyện Yên Phong lên tới khoảng 34,02 tấn/ngày/4 thôn sấp sỉ với lượng rác phát sinh tại khu vực trung tâm huyện là thị trấn Chờ khoảng
36 tấn/ngày/7 thôn Qua quá trình điều tra nhận thấy, thực tế lượng RTSH phát sinh tại khu vực nghiên cứu còn lớn hơn nhiều so với con số 34,02 tấn/ngày, vì lương RTSH phát sinh này được tổng hợp theo số lượng xe rác của tổ vệ sinh môi trường thôn chở đến bãi tập kết, còn những đối tượng không đóng tiền vệ sinh môi trường, người dân khu vực khác đến đổ rác cũng rất nhiều nhưng không thể thống kê, tổng hợp được các đối tượng này Nguyên nhân của vấn đề RTSH phát sinh quá lớn này được cán bộ môi trường của 02 xã giải thích là do lượng dân số tại khu vực này quá lớn dẫn đến lượng RTSH phát sinh nhiều hơn các khu vực khác Là khu dân cư cạnh một KCN lớn không tránh khỏi việc có một lượng lớn công nhân tìm đến thuê trọ, làm cho dân số trong khu vực tăng lên một lượng đáng kể Hơn nữa, khi lượng dân số tăng lên đã thu hút rất nhiều các loại hình kinh doanh dịch vụ như nhà hàng, quán cơm, ca hát, , những cơ sở này phát sinh một lượng lớn RTSH trong quá trình kinh doanh của mình Những cơ sơ này không chỉ được người dân, công nhân sinh sống trong các thôn tại khu vực nghiên cứu sử dụng dịch vụ mà còn thu hút thêm lượng lớn công nhân, nhân viên tập trung trong các ký túc xá của các công ty trong KCN, dẫn đến RTSH phát sinh tại khu vực nghiên cứu hàng ngày đang là một vấn đề khó kiểm soát
Trong giai đoạn này vai trò quan trọng nhất phụ thuộc vào ý thức tham gia của cộng đồng dân cư trong công tác quản lý chung về môi trường của địa phương mình Phân công trách nhiệm của từng bên liên quan trong giai đoạn này cụ thể như sau:
* Trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước:
Ban hành các chính sách, quy định, hướng dẫn thực hiện văn bản pháp luật trong lĩnh vực quản lý chất thải rắn và công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý RTSH đến cộng đồng dân cư
- Sở Xây dựng chº̣u trách nhiê ̣m xây dựng các quy đº̣nh, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý RTSH
- Sở Tài nguyên và Môi trường chº̣u trách nhiê ̣m xây dựng các quy đº̣nh, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về công tác bảo vệ môi trường trong hoạt đô ̣ng quản lý RTSH
- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trı̀, phối hợp với Sở Xây dựng xây dựng các văn bản hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý RTSH trên đº̣a bàn xã
- Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã căn cứ các văn bản, hướng dẫn của các sở ban ngành giao nhiệm vụ cho các đoàn thể xã hội, các tổ tự quản cơ sở tiến hành tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý RTSH Trên thực tế, các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong công tác bảo vệ môi trường của các cơ quan nhà nước rất ít khi được tổ chức, chỉ dừng lại ở mức tuyên truyền bằng phát thanh hay truyền hình chứ không có những hướng dẫn trực tiếp, cụ thể ví dụ như về cách phân loại rác thải, vai trò của việc tái sử dụng rác thải đối với môi trường, Vì vậy, ý thức trong việc phân loại rác ngay tại hộ gia đình rất ít được thực hiện Việc cộng đồng dân cư tham gia vào giai đoạn 1 có ý nghĩa rất lớn và có vai trò rất quan trọng khi nó có thể giúp làm giảm một phần không nhỏ lượng rác thải phải xử lý qua việc phân loại, tái sử dụng rác thải nhưng mức độ tham gia của cộng đồng vào giai đoạn này thì lại rất ít Lý do ở đây được các hộ dân đưa ra phổ biến nhất là việc phân loại RTSH không có ý nghĩa khi tất cả rác thải đều được đổ tập trung tại một chỗ là bãi tập kết RTSH của thôn và việc tái sử dụng cũng rất ít, chỉ có các chai nhựa thì đôi khi được các hộ gia đình tái sử dụng còn các vật liệu khác như tái sử dụng túi nilon hay tái sử dụng thực phẩm thừa cho chăn nuôi thì hầu hết là không có, nhiều người còn đùa rằng “dân quanh đây người ta nuôi người hết rồi, mấy ai nuôi lợn nữa cho mệt”