Để nâng cao chất lượng dạy và học, các nhà trường đã và đang đưa ra nhiều biện pháp trong đó có biện pháp lựa chọn và phân loại học sinh ngay từ đầu vào lớp 6 để biên chế các lớp mũi nhọ
Trang 1PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BÌNH XUYÊN
TRƯỜNG THCS GIA KHÁNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ CHUYÊN ĐỀ CHUYÊN MÔN
Tên chuyên đề: Một số biện pháp nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn Môn: Ngữ văn
Tổ: KHOA HỌC XÃ HỘI
Mã: 29
Người thực hiện: Doãn Thị Thanh Hương
Điện thoại: 0168 800 8893
Email: doanthanhhuong190579@gmail.com
download by : skknchat@gmail.com
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
I, LÍ DO CHON ĐỀ TÀI.
1, Cơ sở lí luận :
Từ xưa đến nay, văn chương nghệ thuật là một trong những hoạt động tinh thần hết sức lí thú và bổ ích trong cuộc sống con người Bằng những hình tượng và ngôn ngữ phong phú của mình, văn chương cung cấp cho người đọc những kiến thức về cuộc sống và cả những điều bí ẩn trong tâm hồn con người, khơi gợi nên một thế giới kì ảo, huyền diệu và lung linh sắc màu nhân văn qua mỗi sự vật, hiện tượng trong tác phẩm Từ đó nó tác động đến tâm tư, tình cảm và góp phần quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách cho con người Văn chương giúp con người cảm nhận, ý thức được cái đẹp và sự hài hòa trong cuộc sống, tiếp cận và tự nâng mình lên với những tư tưởng tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, yêu cái tốt, căm ghét cái ác, cái xấu Văn chương còn bồi dưỡng về ngôn ngữ- thứ ngôn ngữ phong phú sống động và giàu sức biểu cảm
Có lẽ vì thế không ai có thể phủ nhận được vai trò của văn chương trong việc bồi đắp tư tưởng tình cảm con người Trong nhà trường THCS, môn Ngữ văn có một vị trí đặc biệt quan trọng Bởi ngoài việc cung cấp kiến thức như các môn học khác, môn Ngữ văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh: biết yêu thương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè; có lòng yêu nước; biết hướng tới những tư tưởng cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu; bước đầu các em có năng lực cảm thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn cao cả
Bên cạnh đó, ngôn ngữ là công cụ của tư duy, vì thế môn Ngữ văn có mối quan
hệ chặt chẽ với các môn học khác: học tốt Ngữ văn sẽ góp phần học tốt các môn khác, và ngược lại học tốt các môn khác cũng góp phần học tốt môn Ngữ văn Chính vì vậy, việc dạy- học môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung và trong bậc THCS nói riêng có một vai trò vô cùng quan trọng
2, Cơ sở thực tiễn:
Trước đà phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, những thập kỉ gần đây nhiều người nảy sinh tâm lí nghi ngờ vai trò của môn Ngữ văn Vì vậy một bộ phận không nhỏ phụ huynh và học sinh có xu hướng xem nhẹ môn học này mà chỉ say
mê những môn mang xu hướng thời cuộc như: Tiếng Anh, Toán , Tin…Cũng chính
vì thế mà chất lượng môn Ngữ văn có chiều hướng giảm sút không tương xứng với yêu cầu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, sự phát triển đi lên của xã hội
Thực tế cho thấy rằng, KHKT càng phát triển nhu cầu đời sống tinh thần càng phong phú, mạnh mẽ, đa dạng Còn cuộc sống tinh thần của con người còn có nhu cầu thẩm mĩ, tình cảm thì văn học nghệ thuật mãi mãi bất tử Thái độ hoài nghi vai trò của văn học hay thái độ coi nhẹ môn Ngữ văn trong nhà trường đều phản ánh nhận thức không đúng đắn về bản chất của văn học
Trang 3Để đưa môn Ngữ văn trở lại vị trí vốn có, để các em hiểu được cái hay, cái đẹp
mà mỗi tác phẩm văn chương đem lại, để các giờ học văn trở nên hấp dẫn và thu hút học sinh, để học sinh nắm được được kiến thức và cách làm văn cơ bản thực sự
là nột vấn đề không dễ
Là một giáo viên Ngữ văn, bản thân tôi rất trăn trở, tìm kiếm những giải pháp mong muốn nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn của nhà trường nói riêng và của toàn huyện nói chung Bằng những kinh nghiệm giảng dạy, tôi chọn chuyên đề:
Một số biện pháp nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn.
II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nâng cao chất lượng học sinh đại trà môn Ngữ văn của trường THCS Gia Khánh nói riêng và mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn của huyện Bình Xuyên nói chung
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu.
- Học sinh đại trà Trường THCS Gia Khánh
- Nghiên cứu một số phương pháp dạy học tích cực
2 Phạm vi nghiên cứu.
- Chất lượng học sinh đại trà môn Ngữ văn trường THCS Gia Khánh
- Thời gian nghiên cứu: Từ đầu năm học 2018- 2019
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Cơ sở lí luận
- Thực trạng của chất lượng đại trà môn Ngữ văn hiện nay
- Nguyên nhân
- Các giải pháp nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn
V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp khảo sát thực tiễn
- Trao đổi với giáo viên, học sinh
- Thông qua dự giờ thăm lớp, qua thực tế dạy học
B PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÍ LUẬN KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chất lượng dạy và học là mối quan tâm hàng đầu của tất cả các nhà trường nói chung và của mỗi thầy cô giáo nói riêng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra nhiều biện pháp như đổi mới sách giáo khoa, đổi mới chương trình, đổi mới phương pháp
3
download by : skknchat@gmail.com
Trang 4và hình thức kiểm tra, đánh giá, phù hợp với đặc trưng từng bộ môn và đã đạt được thành tựu đáng kể Tuy nhiên việc vận dụng vào thực tế để phù hợp với từng tiết dạy, từng đối tượng học sinh lại do năng lực và tâm huyết của người thầy Để nâng cao chất lượng dạy và học, các nhà trường đã và đang đưa ra nhiều biện pháp trong
đó có biện pháp lựa chọn và phân loại học sinh ngay từ đầu vào (lớp 6) để biên chế các lớp mũi nhọn và các lớp đại trà Đó là cách làm đúng để đầu tư vào chất lượng mũi nhọn của nhà trường, để giáo viên có phương pháp dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh góp phần nâng cao chất lượng nói chung Tuy nhiên điều đó cũng
có những hạn chế của nó như giáo viên ít nhiều không đầu tư chuyên môn vào các lớp đại trà, học sinh các lớp đại trà ít có động lực và môi trường để phấn đấu trong học tập Hơn nữa đặc điểm tâm lí học sinh THCS nói chung đang có những biến chuyển mạnh mẽ, khi các em không xác định được động cơ học tập đúng đắn, thì
dễ dẫn đến việc sao nhãng học tập Điều đó càng dễ xảy ra với các em học sinh lớp đại trà khi năng lực nhận thức còn hạn chế, các em dễ bị cuốn hút vào các thú vui khác hơn là học tập
Ở chuyên đề này, tôi hướng tới đối tượng là học sinh các lớp đại trà Học sinh đại trà là đối tượng học sinh có học lực trung bình và trung bình yếu Đây là đối tượng học sinh chiếm phần lớn trong nhiều nhà trường, chất lượng thường không ổn định Nếu không được quan tâm, bồi dưỡng kịp thời thì rất có thể một bộ phận học sinh sẽ trở thành yếu kém Mà thực tế cho thấy học sinh các lớp đại trà thường ít có động lực phấn đấu trong học tập, ít cố gắng, ngại khó, thường nản chí trước các môn học đòi hỏi phải có tư duy cao, nhất là môn học đòi hỏi có tư duy tưởng tượng như môn Ngữ văn
II THỰC TRẠNG CỦA CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ MÔN NGỮ VĂN HIỆN NAY
Hiện nay, với cách suy nghĩ thực dụng và cách nhìn phiến diện của nhiều phụ huynh và học sinh nên môn Ngữ văn đang bị mất dần vị thế của nó Học sinh ít mặn mà với bộ môn Văn và chỉ coi môn Văn là môn học bắt buộc để thi vào lớp
10 Điều đó khiến nhiều em học sinh không thích học và không đầu tư nhiều thời gian, tâm sức cho môn học Chính bởi vậy, chất lượng môn Văn nói chung còn thấp hơn so với các môn học khác như Toán, Tiếng Anh, Vật lí…
Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy khi chấm bài học sinh các lớp đại trà, các em còn mắc nhiều lỗi như: chính tả, dấu câu, dùng từ, đặt câu… Đoạn văn thì lỗi ngữ pháp, lỗi lô-gic Nhiều câu văn đọc lên không biết học sinh viết gì, rất ít học sinh biết rung động trước những tác phẩm văn chương hay; khi làm bài học sinh còn suy luận chủ quan, dung tục hóa văn chương Nhiều học sinh còn sai về kiến thức cơ bản, sai tên tác giả, tác phẩm, hoặc “râu ông nọ cắm cằm bà kia” Cá biệt còn có học sinh chỉ làm hết phần trắc nghiệm còn phần tự luận bỏ trống
Thực tế đó được phản ánh bằng những con số biết nói khi học sinh thi vào
THPT, cụ thể là tại trường THCS Gia Khánh như sau:
Trang 5Tổng số
Chất lượng theo làn điểm môn Ngữ văn
STT điều 0 2-> 4.75 >=5 6.5-> 7.5 8-> 10 Điểm
Học sinh
1 2018 156 2 1.2 68 43.5 64 41.3 18 11.5 4 2.56 4.28
2 2019 143 0 0 66 46.5 56 39.4 12 8.5 1 0.7 4.11
Từ thực trạng trên, trải qua thực tế giảng dạy và qua quá trình nghiên cứu tôi nhận thấy nhưng nguyên nhân chủ yếu sau:
III NGUYÊN NHÂN
1 Về phía giáo viên:
- Giáo viên đa số đã có ý thức đầu tư, đổi mới phương pháp dạy - học phat huy tinh tich cưc chu đông của học sinh nhưng chưa thực sự phát huy được năng lực tư duy, sáng tạo của học sinh Giáo viên còn nặng thói quen dạy học đọc- chép Như vậy dẫn đến học sinh sẽ không tích cực, thụ động không phát huy được khả năng sáng tạo
- Một số giáo viên chú trọng nhiều đến việc hình thành, cung cấp kiến thức mà chưa chú trọng đúng mức tới việc rèn luyện kĩ năng làm văn cho học sinh (vốn là đặc trưng của bộ môn) Một số tiết còn nặng kể cả chuẩn kiến thức, kĩ năng; một số bài còn khó cho đối tượng tiếp nhận là học sinh THCS
- Việc thực hiện việc đổi mới phương pháp của một số giáo viên đôi khi còn mang tính hình thức, đối phó
- Người giáo viên Ngữ văn phải cáng đáng một công việc lớn về chuyên môn (riêng môn Ngữ văn có 3 phân môn: Văn- Tập làm văn- Tiếng việt) Ngoài ra, giáo viên phải dành thời gian cho việc chấm chữa bài, làm hồ sơ sổ sách theo quy định, các chuyên đề, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh yếu kém… Từ đó dẫn đến việc quan tâm đến tất cả các đối tượng học sinh chưa được sát sao, đặc biệt là với những học sinh lười học có thể nảy sinh tâm lí buông xuôi, bỏ qua và chấp nhận
- Đánh giá học sinh đôi khi còn chạy theo chỉ tiêu, còn mang tính động viên, khích lệ nên tạo tính chủ quan cho học sinh
- Bên cạnh đó, chương trình môn Ngữ văn còn nặng về kiến thức lí thuyết, nhiều kiến thức không phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh THCS
2 Về phía học sinh.
- Các em chưa xác định đúng đắn mục đích học tập
- Học sinh các lớp đại trà, về mặt nhận thức không nhanh, ít sáng tạo, thiếu sự nhạy cảm cộng với ý thức học tập và vươn lên của đối tượng này là chưa cao Vì thế học sinh thường thụ động trong học tập, quen nghe, quen chép Ghi nhớ và tái hiện một cách máy móc rập khuân những gì giáo viên đã giảng Đa số học sinh chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học, lười suy nghĩ, diễn đạt
Trang 6download by : skknchat@gmail.com
Trang 7bằng ý vay mượn, lẽ ra các em phải làm chủ tri thức thì lại trở thành nô lệ của sách vở
- Học sinh lười học, lười làm bài ở nhà, không soạn bài, có soạn thì chỉ là đối phó chép ở sách “Để học tốt”, vở ghi chép thì không khoa học, vừa ghi vừa bỏ, giờ học không chú ý nghe giảng, thích cười đùa, nói chuyện…
- Các em còn mải chơi, thường bị cuốn hút vào các trò chơi điện tử, đĩa hát, Internet…
- Nhiều gia đình chưa quan tâm, bố mẹ đi làm ăn xa không có thời gian quản lí, đôn đốc con cái học tập ở nhà, phó mặc cho nhà trường là chủ yếu
Từ thực trạng và những nguyên nhân trên, việc nâng cao chất lượng đại trà môn Ngữ văn là vô cùng cần thiết, bởi không chỉ là chất lượng của bộ môn mà còn ảnh hưởng đến chất lượng chung của nhà trường và chất lượng giáo dục của toàn huyện Vì thế, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau
IV MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẠI TRÀ MÔN NGỮ VĂN
1 Tuyên truyền trong cộng đồng, phụ huynh và học sinh hiểu được vai trò của môn Ngữ văn trong cuộc sống hiện nay.
Bộ môn Ngữ văn có vai trò quan trọng hàng đầu trong chương trình đào tạo từ xưa đến nay Đặc biệt trong bối cảnh đất nước và thế giới đã thay đổi, con người chúng ta đang đứng trước những thách thức lớn của công cuộc hội nhập và cạnh tranh toàn cầu Vì vậy môn học Ngữ văn trong nhà trường THCS tập trung vào ba mục tiêu chính sau:
- Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính hệ thống về ngôn ngữ và văn học- trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam- phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếp nhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt là phương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống
- Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại
Từ những mục tiêu trên ta nhận thấy học tập môn Ngữ văn trong thời đại mới không phải là học “biết để chơi” mà là “biết để làm” Môn Ngữ văn không chỉ là môn bồi dưỡng tâm hồn mà còn là môn công cụ để học sinh có thể vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học ứng dụng vào trong cuộc sống và công việc Quá trình dạy Ngữ văn phải hướng tới lợi ích của người học Chỉ khi nào người học hứng thú
6
download by : skknchat@gmail.com
Trang 8và thấy được lợi ích thiết thực của môn học thì mục tiêu dạy học Ngữ văn mới đạt hiệu quả như mong muốn
Như vậy , người giáo viên phải có vai trò tuyên truyền để cộng đồng, phụ huynh
và học sinh hiểu được tầm quan trọng đó của môn Ngữ văn Có thể tuyên truyền qua học sinh, qua các buổi họp phụ huynh học sinh, hoặc qua các tổ chức chính quyền, đoàn thể ở địa phương Thực tế, theo tôi nghĩ đây là việc làm vô cùng cần thiết để nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói chung Bởi khi người ta hiểu, người
ta tin thì có lẽ mới thay đổi được nhận thức có phần lệch lạc về môn Văn như hiện nay
2 Giáo viên cần nâng cao tinh thần trách nhiệm, quan tâm và gần gũi với học sinh, tạo mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò.
Chức năng của thầy cô giáo không chỉ dừng lại ở truyền thụ kến thức, kĩ năng
mà quan trọng hơn cả là chức năng trồng người Bằng tình yêu thương, bằng tinh thần trách nhiệm, thầy cô giúp các em thấy được “mỗi ngày đến trường là một ngày vui” Niềm vui của tình thầy trò, niềm vui của tình cảm bạn bè và niềm vui khi các
em được đến với thế giới của chân trời tri thức Người giáo viên cần quan tâm gần gũi với các em hơn, biết lắng nghe và chia sẻ những tâm tư tình cảm của các em để hiểu và khơi dậy năng lực học tập của các em, từ đó có biện pháp giáo dục phù hợp
Với học sinh ở các lớp đại trà thì việc giữ mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò càng quan trọng Một số giáo viên khi bước vào lớp có nhiều học sinh yếu kém hoặc học sinh cá biệt trong lòng đã cảm thấy không vui, gọi học sinh lên kiểm tra bài cũ, em thì không thuộc, em thì lắp bắp, lập tức mắng cho một hồi 10- 15 phút đôi khi còn nhiều hơn rồi bắt đầu dạy Gương mặt ấy không ai bảo cũng trở nên
“hình sự”, những điều muốn nói, những dự tính đều tan theo mây khói… Đó là điều tối kị trong giảng Văn Giờ học căng thẳng quá sẽ làm cho học sinh không tập trung, khó tiếp thu được bài giảng, dẫn đến không hiểu bài, giờ học trở nên nặng
nề Để giảm áp lực, giáo viên nên nhẹ nhàng bỏ qua những việc mà mình hình như
đã lường trước được Giận mà cười, nói thật như nói đùa, cố gắng tạo trên môi các
em nụ cười hồn nhiên, cởi mở Sự thân thiện giữa thầy và trò được nâng cao khi học sinh luôn nhìn thấy dáng đi khoan thai và nụ cười luôn nở trên môi thầy cùng những câu chuyện kể xen lời giảng, những câu pha trò ý nhị Làm vậy, các em sẽ
dễ nhập tâm vào nhân vật, tác phẩm hơn
3 Phát huy tối đa tính ưu việt của phương pháp dạy học mới.
Mỗi GV giảng dạy văn học ở trường THCS cần thấy rõ hiệu năng của phương pháp mới Nếu phương pháp dạy học truyền thống chỉ chú ý đến hoạt động cơ bản là thầy giảng - trò ghi thì phương pháp dạy học tích cực chú ý vào hoạt động lĩnh hội tri thức, bắt đầu từ những hoạt động bên trong của con người Vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩm văn chương trong trường PT mới có khả năng khơi dậy và phát huy những tiềm lực, tiềm tàng vẫn còn ngủ quên
Trang 9trong mỗi HS Phương pháp dạy học tích cực gõ mạnh vào trí thông minh, sở
trường ở người học để phát huy tính tự giác Phương pháp này thể hiện sự vận động và có định hướng cần thiết của hoạt động trí tuệ trong việc hình thành kiến thức Quá trình này cuốn HS vào công việc nhận thức tích cực, kích thích sự ham hiểu biết của trí tuệ, có khả năng khơi dậy nội lực bên trong Từ đó các em có cơ hội phát huy hết mức trí lực của mình Như vậy phương pháp dạy học tích cực khác phương pháp dạy học truyền thống không phải ở chỗ làm cho việc học tập trở nên khó khăn hơn với HS, mà ở chỗ trong quá trình học tập các em phải thực sự làm việc Các em sẽ vượt qua được những khó khăn nhận thức, hoàn thành được những bài tập sáng tạo và rèn luyện được ý chí nhận thức của mình
Phương pháp này sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy và trò theo hướng tích cực Người HS ở đây trở thành chủ thể tích cực trong quá trình tiếp nhận và đồng sáng tạo Mà thầy giáo chính là người định hướng, dẫn dắt trong quá trình phát triển tư duy và hoạt động học tập của các em
Từ việc hiểu tính ưu việt đó của phương pháp dạy học tích cực giáo viên có thể vận dụng linh hoạt các phương pháp, hoạt động, kĩ thuật dạy học phù hợp với đặc trưng môn Ngữ văn, và sử dụng tích cực ở các tiết lên lớp Ví dụ có thể vận dụng các phương pháp, kĩ thuật tích cực sau:
3.1 Phương pháp dạy học nêu vấn đề:
3.2 Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp đối tượng học sinh, tình huống, hoạt
động học
3.3 Sử dụng phương pháp giảng bình phù hợp: Tùy từng tình huống, đơn vị
kiến thức để giáo viên bình hoặc gợi mở cho học sinh bình
3.4 Vận dụng các kĩ thuật dạy học tích cực:
VD: Trình bày một phút: cho học sinh có cơ hội tổng kết lại những gì đã học, trình bày ngắn gọn cô đọng giữa lớp Qua đó các em có cơ hội tổng kết kiến thức và có thể đặt những câu hỏi cần được trả lời về bài học (Có thể thực hiện cuối hoặc giữa tiết học.)
3.5 Tổ chức dạy học tiết tự chọn – chủ đề bám sát có hiệu quả bằng cách: Củng
cố kiến thức cơ bản bằng phương pháp tổ chức cho học sinh trao đổi thảo luận Tăng cường rèn luyện kĩ năng thực hành cho học sinh
3.6 Xây dựng đề kiểm tra theo hướng hạn chế yêu cầu ghi nhớ máy móc, kiểm tra đánh giá bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi học sinh vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng và biểu đạt chính kiến của bản thân
4 Dạy học phù hợp với đối tượng học sinh.
Văn học là môn học khó chiếm lĩnh Các em có thể thích môn Văn nhưng không phải em nào cũng có khả năng tiếp thu dễ dàng Đặc biệt với học sinh các lớp đại trà lực học chủ yếu là trung bình, nên giáo viên không cần quá chú tâm tới việc mở rộng và nâng cao kiến thức mà đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức
cơ bản, hiểu thấu đáo bản chất của vấn đề
8
download by : skknchat@gmail.com
Trang 10Để thực hiện được yêu cầu này đòi hỏi người giáo viên phải rất chú ý đến việc xây dựng phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh đại trà Phương pháp cần hợp lý, gây được hứng thú học cho học sinh, từ đó hướng học sinh vào các vấn
đề cơ bản, thiết yếu
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh đại trà tìm hiểu văn bản “Đồng chí” của Chính Hữu” (chương trình Ngữ văn lớp 9 tập 1), giáo viên cần hướng học sinh nắm được những nội dung kiến thức cơ bản
- Về nội dung (nhớ nội dung và dẫn chứng liên quan):
+ Cơ sở hình thành tình đồng chí
- Bắt nguồn từ sự tương đồng về cảnh ngộ “Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày nên sỏi đá”
- Cùng chung lí tưởng, cùng chung nhiệm vụ “ Súng bên súng, đầu sất
bên đầu”
- Cùng chia sẻ với nhau mọi khó khăn, thiếu thốn “Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”
- Ý nhĩa từ “Đồng chí”
+ Những biểu hiện cảm động về tình đồng chí
- Là sự cảm thông sâu sắc tâm tư, nỗi niềm của nhau “ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”
- Là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính
“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
… Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
+ Chất thơ trong cuộc sống chiến đấu gian khổ của người lính “Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo”
=> Ý nghĩa nội dung của tác phẩm: Tình đồng chí của người lính dựa trên cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện thật tự nhiên, bình dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần của người lính cách mạng
- Về nghệ thuật: Học sinh phải nắm được thể thơ tự do, ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, chân thực giàu sức biểu cảm