Từ trước tới nay, khi dạy kiểu bài tập làm văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 9 ở trường trung học cơ sở THCS, giáo viên đã vận dụng nhiều phương pháp nhằm
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm.
Từ trước tới nay, khi dạy kiểu bài tập làm văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 9 ở trường trung học cơ sở (THCS), giáo viên
đã vận dụng nhiều phương pháp nhằm giúp học sinh nhận biết, nắm được kiểu bài, nắm được các bước nghị luận cơ bản để khi viết bài sát với thực tế Tuy nhiên, kết quả thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy, đôi khi học sinh vẫn nhầm lẫn giữa nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống với nghị luận về một vấn đề
tư tưởng đạo lý Đó là nguyên nhân dẫn đến chất lượng bài viết của học sinh chưa sát với yêu cầu kiểu bài, thậm chí có trường hợp hiểu chưa sâu sắc, hiểu sai vấn đề nghị luận, giải quyết vấn đề chưa triệt để, tính thuyết phục chưa cao
Trong sáng kiến này, tôi mạnh dạn đề cập đến vấn đề “Một số giải pháp nhằm giảng dạy có hiệu quả kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống trong chương trình ngữ văn 9” Sáng kiến nhằm đưa ra những giải pháp
cụ thể hơn, bám sát hơn, các bước dễ thực hiện, dễ áp dụng trong thực tiễn và có tính hiệu quả cao hơn khi giáo viên sử dụng giảng dạy kiểu bài nghị luận về một
sự việc hiện tượng đời sống Với sáng kiến kinh nghiệm này tôi xác định một số mục đích sau:
Thứ nhất: Rèn kỹ năng giúp học sinh nhận diện đúng kiểu bài nghị luận
về một sự việc hiện tượng đời sống Từ đó có thái độ yêu thích môn học, phát huy được tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức, bộc lộ khả năng tư duy của khi cần thể hiện quan điểm của mình trước một vấn đề xã hội
Thứ hai: Qua sáng kiến này, tôi mạnh dạn đưa ra những giải pháp của
mình trong giảng dạy kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống trên tinh thần đổi mới phương pháp để giảng dạy nhằm nâng cao năng lực làm bài nghị luận của học sinh bằng cách kết hợp các kỹ năng và kiến thức, giúp học sinh nắm phương pháp nhanh và dễ dàng, có thể phát huy hết năng lực tư duy khi nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống được mọi người quan tâm
Thứ ba: Nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên, thúc
đẩy hứng thú học tập môn Ngữ văn cho học sinh Hình thành cho các em nhận
Trang 2thức đầy đủ và sâu sắc nhất về ý nghĩa của các môn học trong nhà trường THCS, trong đó đặc biệt chú trọng đến việc vận dụng kiến thức khoa học mà môn Ngữ văn đem lại vào thực tế cuộc sống
Bản thân tôi, khi áp dụng những giải pháp được nêu trong sáng kiến này khi giảng dạy trên lớp đã đạt được những kết quả nhất định và giải quyết được các vấn đề sau:
Một là: Tìm ra những nguyên nhân cơ bản của hiện tượng học sinh chưa
hiểu, chưa biết cách làm bài văn nghị luận, đặc biệt là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống để hạn chế học sinh có thái độ ngại học, sợ học, giúp học sinh có ý thức học tập, luôn ngoan ngoãn, chịu khó, yêu thích môn học, yêu thích văn nghị luận
Hai là: Phân tích các nguyên nhân cơ bản, tìm ra các tác nhân liên đới để
giúp các em học tốt Từ đó giúp học sinh viết được bài văn nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống một cách hoàn chỉnh làm tiền đề tốt cho quá trình các
em học sinh sẽ nghiên cứu tiếp kiểu bài này ở trung học phổ thông (THPT)
Ba là: Nghiên cứu tìm ra biện pháp thích hợp, hiệu quả để giáo dục học
sinh và giúp học sinh có kết quả học tập tốt hơn, góp phần đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực, chủ động, lấy học sinh làm trung tâm, là tiền đề để phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi trong nhà trường
2 Đóng góp của Sáng kiến kinh nghiệm.
Qua các giờ dạy áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, tôi nhận thấy hiệu quả rất thiết thực, qua sự đánh giá khách quan, thể hiện bằng nhận thức, niềm hứng thú say mê của học sinh khi tham gia các tiết học kiểu bài nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống Chất lượng giờ dạy nghị luận nói chung và nghị luận
xã hội nói riêng đã được nâng cao rõ rệt ở các mặt sau:
Thứ nhất: Về thái độ, tư tưởng, đa số học sinh thể hiện say mê với các tiết
học bởi các em đều thấy được sự gần gũi của môn ngữ văn với cuộc sống, biết gắn kiến thức của môn ngữ văn với cuộc sống Học sinh không còn rụt rè, bỡ ngỡ mà đã mạnh dạn bày tỏ những quan điểm, nhận thức của mình về các vấn
đề, các hiện tượng xảy ra trong đời sống được nhiều người quan tâm
Trang 3Thứ hai: Về kiến thức, đa số học sinh đều biết nhận diện và nắm chắc kiểu
bài, biết vận dụng linh hoạt các thao tác nghị luận khi viết bài, biết liên hệ thực
tế và thể hiện quan điểm cá nhân theo hướng tích cực, tạo cho bài viết chân thực
và gần gũi với đời sống hơn Đặc biệt khi áp dụng vào giảng dạy nếu giáo viên biết căn cứ vào tình hình, đặc điểm, đối tượng học sinh, từng lớp cụ thể một cách linh hoạt, phù hợp sẽ kích thích và phát hiện được năng lực tư duy của học sinh năng khiếu Ở lớp khá, giỏi giáo viên có thể nâng cao hơn vận dụng những câu hỏi khó để đưa học sinh vào tình huống tự bộc lộ, còn ở lớp trung bình có thể sử dụng hạn chế hơn những câu hỏi trên
Mặt khác, giáo viên với sự dày công trong việc chuẩn bị, soạn bài chu đáo, tìm hiểu suy nghĩ, tham khảo nhiều sách báo, am hiểu thực tế xã hội để tạo được hệ thống câu hỏi hợp lý, xây dựng bài giảng lý thú sẽ giúp cho các em tìm hiểu bài một cách trực quan sinh động hơn Tạo không khí trong giờ giảng cởi
mở, thân thiện, tích cực tạo được sự thân mật, gần gũi đối với học sinh chắc chắn sẽ tạo nên những giờ dạy thành công
PHẦN II NỘI DUNG Chương 1 Cơ sở khoa học của Sáng kiến kinh nghiệm
1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Ngữ văn là một môn học có vị trí và vai trò rất qua trọng trong giáo dục phổ thông Bởi đây là môn học ngoài việc cung cấp cho học sinh những kiến thức văn học, kiến thức khoa học, kiến thức xã hội cơ bản môn Ngữ văn còn góp phần hình thành nhân cách, giáo dục phẩm chất đạo đức cho con người Trong những năm trở lại đây Giáo dục nước ta đã và đang nỗ lực tiến hành vận dụng
“đổi mới phương pháp giảng dạy” theo hướng phát huy tính tích cực chủ động
của học sinh trong hoạt động học tập để đào tạo ra những con người năng động, thích ứng nhanh với đời sống xã hội Hưởng ứng phát động của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đội ngũ giáo viên ở mọi cấp học, ngành học, mọi vùng miền trên đất nước đều ra sức học tập, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, áp dụng đổi mới nội dung phương pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại trà theo đúng tinh thần
Trang 4chỉ đạo Phấn đấu trong mỗi giờ lên lớp học sinh sẽ được hoạt động nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là các em được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chủ động chiếm lĩnh nội dung học tập.
Hiện nay, toàn ngành giáo dục đang thực hiện đổi mới “dạy học phải phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh”,… thì vai trò vận dụng
phương pháp của người giáo viên khi đứng lớp ngày càng quan trọng Muốn đạt được thành tựu là đào tạo những con người tài đức cho đất nước thì điều tiên quyết là giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp dạy học ho phù hợp đối với từng đối tượng học sinh, dạy học phải phù hợp với chuẩn kiến thức kĩ năng, phát huy năng lực thực hành của học sinh, hình thành thói quen tốt khi làm bài là phải làm cho hoàn chỉnh, gặp tình huống khó khăn trong đời sống xã hội là phải giải quyết cho có kết quả tốt, đào tạo các em có cái nhìn sâu sắc hơn
sự tiến bộ của xã hội,…chính vì nhận thức được tầm quan trọng ấy, ngoài việc hoàn thành trách nhiệm của người giáo viên, tôi rất xem trọng vấn đề đổi mới phương pháp dạy học sao cho có hiệu quả
2 Cơ sở thực tiễn của Sáng kiến kinh nghiệm
Môn Ngữ văn THCS gồm có 3 phân môn: văn bản - tiếng việt - tập làm văn Trong đó, phân môn tập làm văn là phân môn gần như khó nhất đối với học sinh vì thiên về rèn kỹ năng thực hành, ngày cả giáo viên cũng ngại khi phải dạy phân môn này Trong quan niệm của giáo viên dạy ngữ văn thường rất thích dạy phần văn bản hơn, phần tiếng Việt có khi khô khan, công thức và phân môn tập làm văn lại vô cùng rắc rối Học sinh cũng vậy, hầu hết các em đều yêu thích và đam mê các tiết học phần văn bản hơn tập làm văn Trong 6 kiểu bài tập làm văn được dạy ở THCS từ lớp 6 đến lớp 9: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính công vụ thì kiểu bài nghị luận là khó nhất, học sinh học cũng
sợ nhất, các em cũng khó biết cách vận dụng nhất
Đối với giáo viên giảng dạy ngữ văn lớp 9, trong 4 kiểu bài nghị luận được dạy ở học kì II là nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống; Nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí; Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, đều là các kiểu bài quan trọng thường nằm
Trang 5trong nội dung đề thi chuyển cấp cho học sinh khi thi vào THPT Trong đó khi dạy kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, giáo viên thường gặp một số khó khăn, nhất là các giáo viên trẻ mới giảng dạy, kinh nghiệm chưa nhiều và kiến thức xã hội chưa phong phú Giáo viên thường lúng túng khi hướng dẫn học sinh nhận diện kiểu bài, đề bài, khó khăn trong việc lựa chọn các thao tác nghị luận như lựa chọn và sắp xếp các dẫn chứng, kết hợp dẫn chứng và
lý lẽ dẫn tới bài viết thực hành của học sinh thiếu sâu sắc, chưa phong phú, đánh giá vấn đề chưa thỏa đáng đôi khi còn xa rời thực tế
Chương 2 Thực trạng việc dạy và học kiểu bài nghị luận về một sự việc
hiện tượng đời sống ở trường THCS Lâm Thao hiện nay
1 Thực trạng học tập môn Ngữ văn của học sinh.
Qua thời gian tìm hiểu đối tượng học sinh và trực tiếp giảng dạy trên lớp tôi nhận thấy kết quả học tập môn ngữ văn của học sinh trường THCS Lâm Thao vẫn còn một số hạn chế nhất định, chưa xứng tầm với truyền thống của nhà trường Sự chuyển biến chất lượng môn ngữ văn của học sinh còn chậm, mặc dù
đã có tiến bộ nhưng thiếu tính ổn định Bằng phương pháp quan sát, khảo sát điều tra tôi nhận thấy hiện nay học sinh thường hay xem nhẹ, ít chú ý đến những môn xã hội nói chung, môn ngữ văn nói riêng Một bộ phận các em không có động cơ, mục đích học tập, sẵn sàng chấp nhận mọi kết quả Cũng chính vì thế
mà chất lượng học văn chưa cao Học sinh ngại đọc sách, ngại ghi chép bài, lười học thuộc dẫn tới sợ học văn, rồi chán học văn mà xu hướng của các em cũng như nguyện vọng của một số phụ huynh chỉ chú tâm đến các môn học như toán, tiếng anh, tin học…Bên cạnh đó còn một bộ phận học sinh chưa có ý thức tự giác trong học tập, mải chơi, ham mê các trò chơi điện tử làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của các em
Các em học sinh phần lớn phụ thuộc vào các sách hướng dẫn, để học tốt, những bài văn hay….vẫn còn thói quen thụ động, ghi nhớ máy móc những gì giáo viên nói, chưa có thói quen chủ động tìm hiểu khám phá bài học Học sinh chưa chủ động vận dụng kiến thức kỹ năng của văn học vào thực tế cuộc sống,
Trang 6chưa biết liên hệ giữa thực tế cuộc sống với văn học Từ đó dẫn đến kĩ năng sống của học sinh còn nhiều hạn chế, các em hầu như không quan tâm hoặc thờ
ơ với những vấn đề nóng hổi bức thiết của đời sống xã hội trong và ngoài nước Điều này đòi hỏi người giáo viên đặc biệt là giáo viên ngữ văn phải tạo được giờ học thu hút học sinh, làm cho học sinh thấy được những giá trị tốt đẹp
và những kiến thức xã hội bổ ích mà các em sẽ có được sau mỗi bài học Để làm được như thế đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình, có tâm huyết với công việc, tự tìm ra cho mình một phương pháp hiệu quả nhất
Ở chương trình ngữ văn lớp 9, kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống thường đề cập đến các vấn đề quen thuộc, gần gũi đòi hỏi người viết trình bày quan điểm, tư tưởng khi giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh xung quanh Chính vì vậy, đề bài thường có phạm vi rộng khiến học sinh có phần lúng túng khi cần triển khai các phương thức lập luận Đề bài thường yêu cầu nêu quan điểm về các sự việc, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống nên đòi hỏi người viết phải có hiểu biết, có kiến thức xã hội cơ bản nhất để có thể lý giải và nhận xét một cách đầy đủ, chính xác, bài viết ít có yếu tố nghệ thuật nên học sinh dễ rơi vào tình trạng viết khô khan, rời rạc, ít hấp dẫn Từ đó nảy sinh tâm lý ngại học, sợ học khi gặp kiểu bài nghị luận Mặt khác, muốn làm tốt bài văn nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống đòi hỏi học sinh cần nhiều kiến thức thực
tế, chính xác, khoa học vế các lình vực Thực tế giảng dạy cho thấy, học sinh lớp
9 nhiều em chưa đáp ừng được yên cầu này vì phạm vi tiếp xúc xã hội chưa nhiều
Vậy, làm thế nào để giảng dạy kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống có hiệu quả nhất ? Đây là vấn đề nhiều giáo viên dạy lớp 9 luôn băn khoăn
2 Thực trạng giảng dạy ngữ văn và phân môn tập làm văn của giáo viên.
Khi giảng dạy hướng dẫn cho học sinh kiểu bài nghị luận nói chung và nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống nói riêng đều đòi hỏi giáo viên phải huy động nhiều kiến thức xã hội Đây là kiểu bài khá quen thuộc và gần gũi với cuộc sống nhưng phạm vi kiến thức rộng, dễ động chạm đến những vấn đề
Trang 7có thời sự có tính nhạy cảm nên đôi khi gây khó khăn, lúng túng cho giáo viên, nhất là những giáo viên trẻ kinh nghiệm giảng dạy và vốn hiểu biết chưa nhiều
Một số giáo viên cho rằng “chất văn” trong văn bản nghị luận xã hội không
nhiều, nội dung bài giảng khô khan, thiếu tính hấp dẫn, không gây hứng thú ở người học Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy chương trình ngữ văn lớp 9, tôi nhận thấy mình và một số đồng nghiệp trẻ trong trường vẫn còn bộc lộ một số hạn chế cả về phương pháp và kiến thức, nhất là phương pháp dạy kiểu bài nghị luận xã hội Cụ thể là:
Về kiến thức, đôi lúc giáo viên còn xác định chưa đầy đủ trọng tâm bài dạy, dễ dẫn tới lệch trọng tâm, làm mất đi tính thời sự của kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Từ đó giáo viên thường chỉ chú ý khai thác ngữ liệu hoặc định hướng cho học sinh tiếp cận đề bài một cách máy móc mà chưa chú trọng đến khâu huy động những tri thức xã hội liên quan cần thiết để giải quyết triệt để vấn đề Vốn kiến thức xã hội, kiến thức khoa học của giáo viên chưa sâu còn nhiều hạn chế trong việc giảng giải cho học sinh nhận ra vấn
đề Đôi khi giáo viên nắm bắt các kiến thức có liên quan chưa chắc nên giảng giải còn mờ nhạt, giáo viên ít chú ý tới liên hệ thực tế, chưa phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh
Về phương pháp: giáo viên còn lúng túng trong việc vận dụng các phương pháp để truyền tải nội dung bài dạy tới học sinh Vận dụng các phương pháp dạy học còn chưa thực sự hiệu quả Chủ yếu giáo viên còn nặng về việc hướng dẫn cho học sinh khai thác đề bài theo cách hàn lâm kinh viện mà ít chú ý đến phương pháp gắn với thực tiễn, chưa đặt ra nhiều tình huống có vấn đề để giúp học sinh thấy được tính gần gũi của các đề bài nghị luận đã đề cập đến
Về phương tiện dạy học do tâm lí ngại sưu tầm, ngại tìm hiểu, tích lũy tri thức cộng với vốn kiểu biết về kiến thức xã hội chưa phong phú nên việc chuẩn
bị bài giảng khi dạy nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống của giáo viên chưa thực sự chu đáo Đôi khi giáo viên mới chủ yếu chỉ dừng lại ở việc dùng những ngữ liệu có sẵn có sẵn trong sách tham khảo ở thư viện nhà trường để phục vụ cho nội dung bài dạy điều này khiến nội dung bài giảng còn bị bó hẹp
Trang 8phạm vi kiến thức hoặc chưa sát với thực tiễn Có khi giáo viên cũng truy cập mạng Internet để tìm kiếm tư liệu liên quan, tranh ảnh minh họa, những đoạn video nhưng khi soạn trình chiếu lại gặp khó khăn vì soạn giảng trình chiếu thường mất nhiều thời gian và chưa thực sự thành thạo máy vi tính Dẫn đến giờ dạy còn đơn điệu, chuẩn bị của giáo viên còn chưa thực sự mang lại hiệu quả giờ dạy như mong muốn
3 Nguyên nhân của thực trạng dạy và học Ngữ văn.
*Về phía học sinh: Học sinh còn thụ động trong việc tiếp thu kiến thức mà giáo
viên cung cấp, một số em chưa có ý thức tìm hiểu chuẩn bị bài ở nhà, chưa chủ động sưu tầm, tích lũy tài liệu có liên quan tới các vấn đề nghị luận xã hội thường gặp Kĩ năng đọc, viết của học sinh còn kém nên các em thường ngại đọc, ngại ghi chép ngại tìm hiểu dẫn tới kiến thức chủ yếu mang tính sách vở, ít kiến thức thực tế Bên cạnh đó, vẫn còn tư tưởng học tủ, học vẹt, học chỉ để kiểm tra Chưa chú trọng đến việc ôn luyện hàng ngày nên thường học trước quên sau, nhầm lẫn kiến thức cơ bản Cách học, phương pháp học tập của một
bộ phận học sinh còn nhiều hạn chế, học máy móc, rập khuôn nên hiệu quả học tập chưa cao Còn có tư tưởng xem nhẹ môn văn của một bộ phận học sinh chỉ chú trọng học các môn tự nhiên xem nhẹ các môn xã hội, nên ít hứng thú với môn học Tài liệu sách báo cung cấp cho học sinh đọc trên thư viên của nhà trường chưa phong phú, chưa được cập nhật thường xuyên đặc biệt là tư liệu kiến thức xã hội nên ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng giờ học
*Về phía giáo viên: Kiểu bài nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống có
phạm vi kiến thức trải rộng trên nhiều lĩnh vực, nội dung khai thác kiến thức thường khô khan nên dẫn tới tâm lí giáo viên còn ngại tìm hiểu chưa thực sự chú trọng, cùng với đó là vốn kinh nghiệm xã hội ít, dẫn tới lúng túng về phương pháp, giảm hiệu quả giờ lên lớp Một số giáo viên tiếp cận công nghệ thông tin chậm chưa có kĩ năng soạn bài và giảng bài bằng giáo án điện tử nên việc mở rộng kiến thức cho các em bằng âm thanh, hình ảnh còn hạn chế, chưa có sự liên hệ, tích hợp khi giảng dạy về kiểu bài này
Trang 94 Kết quả khảo sát: Khảo sát chất lượng phần văn nghị luận về một sự việc
hiện tượng đời sống đối với học sinh lớp 9B năm học 2012-2013 do tôi trực tiếp giảng dạy
số
Điểm 0-2,5
Điểm 3-4,5
Điểm 5-6,5
Điểm 7-8,5
Điểm 9-10
Điểm từ 5 trở lên
Ghi chú
9B 33 1 3,1 12 36,4 18 54,5 2 6,1 0 0 20 60,1
Chương 3 Những giải pháp nhằm giảng dạy có hiệu quả kiểu bài nghị luận
về một sự việc, hiện tượng đời sống ở trường THCS
Trước thực trạng và những hạn chế còn tồn tại khi giảng dạy kiểu bài nghị luận nêu trên, để có giải pháp thực hiện tốt vấn đề dạy kiểu bài nghị luận về một
sự việc, hiện tượng đời sống có hiệu quả như mong muốn, tôi đã áp dụng một số giải pháp cụ thể như sau:
1 Hướng dẫn học sinh kỹ năng nhận diện đúng kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống so với kiểu bài nghị luận khác:
Phân phối chương trình của ngữ văn THCS lớp 9 học kì II các em học sinh được tiếp xúc ngay với kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Kiểu bài này chương trình phân bố dạy trong 4 tiết: 1 tiết tìm hiểu về kiểu bài Nghị luận sự việc, hiện tượng đời sống, 2 tiết về cách làm kiểu bài Nghị luận sự việc, hiện tượng đời sống, 1 tiết vận dụng vào tiết học chương trình địa phương Sau 4 tiết thực học và vận dụng, học sinh đi ngay vào viết bài viết số 5: kiểu bài Nghị luận sự việc, hiện tượng đời sống Thực tế cho thấy, chỉ trong 4 tiết học ngắn ngủi rồi yêu cầu học sinh vận dụng sao cho hoàn chỉnh kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống cũng là một khó khăn đối với các
em có nhận thức chậm, tư duy còn hạn chế Một số em luôn tỏ ra lo lắng, lúng túng khi viết bài Nắm bắt được tình hình đó nên trong những giờ thực dạy ngữ văn 9, bản thân tôi luôn đặt yêu cầu đầu tiên là làm sao phải giúp học sinh nhận diện đúng kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống tạo cho các em khí thế tự tin khi đi cần nêu quan điểm của mình về một vấn đề nghị luận về sự việc, hiện tượng đời sống yêu cầu Thực tế, văn nghị luận các em đã được làm
Trang 10quen từ năm học lớp 7 đến lớp 9 các em được học nâng cao hơn vấn đề nghị luận Do vậy, tôi giúp học sinh nhận diện được kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống theo các bước như sau:
- Bước 1: Định hướng về kiến thức để học sinh hiểu rõ “nghị luận” là gì? Đối chiếu phương thức nghị luận với các phương thức biểu đạt khác mà học sinh đã học như tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh để học sinh nhận thức rõ
- Bước 2: Nhắc lại một số kiến thức nghị luận đã học ở lớp 7 như: luận điểm, luận cứ, lập luận (lập luận phân tích, lập luận chứng minh, lập luận giải thích ) giúp học sinh ghi nhớ kiến thức cũ
- Bước 3: Cung cấp các đơn vị kiến thức mới trong các tiết học về kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống Giáo viên cung cấp đúng, đủ trọng tâm kiến thức, giúp học sinh hiểu được kiểu bài các em đang nghị luận là nghị luận về đối tượng nào? Học sinh dễ dàng nhận diện là trình bày quan điểm, tư tưởng về một sự việc, hiện tượng đời sống đã và đang xảy ra đáng khen, đáng chê xung quanh các em
- Bước 4: So sánh đối chiếu để nhận diện kiểu đề Giáo viên sẽ cung cấp cho học sinh một trong hai kiểu bài của nghị luận xã hội: với một số đề văn để các em phân biệt và xác định đúng kiểu bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống
+ Đề 1: Hiện tượng vứt rác bừa bãi làm ô nhiểm môi trường Em suy nghĩ gì về hiện tượng trên
+ Đề 2: Hiện nay, một số học sinh còn học tập qua loa, đối phó Em hãy viết bài văn nêu lên suy nghĩ của mình về hiện tượng trên
+ Đề 3: Tích cực phòng bệnh tay – chân – miệng là nhiệm vụ của toàn dân Em hãy nêu lên suy nghĩ của mình về phong trào trên
+ Đề 4: Nhân dân ta có câu: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn” Em suy nghĩ gì về câu nói ấy
+ Đề 5: Đạo lí uống nước nhớ nguồn
Với 5 đề văn trên, giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh nhận diện từng đối tượng cần nghị luận ở từng đề văn: