1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bai tap chau tuan phân tích bài ngắm trăng và đi đường để làm nổ bật chất thi sĩ và chất chiến sĩ

3 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 214,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Ở Bác sáng ngời những phẩm chất cao quý, là sự kết hợp hài hòa chất chiến sĩ và chất thi sĩ trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là giữa chốn lao tù - Giới thiệu hai bài thơ: Ngắm trăng, đi đ

Trang 1

Phân tích bài ngắm trăng và đi đường để làm nổi bật chất thi sĩ và chất chiến sĩ

a Mở bài

- Giới thiệu về chủ tịch HCM, vị cha kính yêu của dân tộc, người chiến sĩ cách mạng lỗi lạc

- Ở Bác sáng ngời những phẩm chất cao quý, là sự kết hợp hài hòa chất chiến sĩ và chất thi sĩ trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là giữa chốn lao tù

- Giới thiệu hai bài thơ: Ngắm trăng, đi đường trong tập NKTT

b) Thân bài

- Cả hai bài thơ đều rút trong “Nhật ký trong tù”; tập nhật ký bằng thơ được viết trong một hoàn cảnh đoạ đầy đau khổ, từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi Bác Hồ bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ

- Bài thơ ghi lại một cảnh ngắm trăng trong nhà tù của Bác Thi đề của bài thơ là “Vọng nguyệt” - “Ngắm trăng” Người xưa ngắm trăng trên những lầu vọng nguyệt, những vườn hoa với bạn hiền, túi thơ, chén rượu Nhưng nay, Bác ngắm trăng trong hoàn cảnh thật đặc biệt:

“Trong tù không rượu cũng không hoa”

Câu thơ hé mở bao điều bất ngờ Người ngắm trăng là một người tù không có tự do

“trong tù” Trong hoàn cảnh ấy, con người thường chỉ quay quắt với cái đói, cái đau và

sự hận thù Nhưng Hồ Chí Minh với tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết, Người lại hướng đến ánh trăng trong sáng, dịu hiền Chẳng những vậy, chốn ngục tù tăm tối ấy

“không rượu cũng không hoa” Từ “diệc” trong nguyên văn chữ Hán (nghĩa là “cũng”) nhấn mạnh những thiếu thốn, khó khăn trong điều kiện “ngắm trăng”của Bác

Không tự do, không rượu, không hoa nhưng “Đối thử lương tiêu nại nhược hà?” - Đối diện với ánh trăng sáng ta biết làm sao đây? Nguyên văn chữ Hán là một câu hỏi đầy bối rối, đầy băn khoăn của tâm hồn thi nhân trước vẻ đẹp trong sáng, tròn đầy của ánh trăng Không có những điều kiện vật chất tối thiểu, không có cả tự do nhưng ở Hồ Chí Minh đã có một cuộc “vượt ngục tinh thần” vô cùng độc đáo như Bác đã từng tâm sự:

“Thân thể ở trong lao Tinh thần ở ngoài lao”

Thể xác bị giam cầm nhưng tâm hồn Bác vẫn bay bổng với thiên nhiên Điều đó được lí giải bởi tình yêu của Bác đối với thiên nhiên và còn bởi một tinh thần “thép” không bị khuất phục bởi cái xấu, cái ác Trăng trong sáng, lòng người cũng trong sáng nên giữa trăng và người đã có sự giao hòa tuyệt vời:

“Nhân hướng song tiền khán minh nguyệt Nguyệt tòng song khích khán thi gia”

Bản dịch thơ:

"Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ Trăng nhòm khe của ngắm nhà thơ”

Trong bản nguyên tác chữ Hán, nhà thơ sử dụng phép đối giữa hai câu thơ “nhân” -

“nguyệt”, “hướng” - “tòng”, “song tiền” - “song khích”, “minh nguyệt” - “thi gia”

Trang 2

Điều đó thể hiện sự đồng điệu, giao hòa giữa người và trăng để trăng và người giống như đôi bạn tri âm tri kỉ “Nhân” đã chẳng quản ngại cảnh lao tù mà “hướng song tiền khán minh nguyệt” Trong tiêng Hán, “khán” có nghĩa là xem, là thưởng thức Đáp lại tấm lòng của người tù - thi nhân, vầng trăng cũng “tòng song khích khán thi gia” Trong tiếng Hán, “tòng” là theo; trăng theo song cửa mà vào nhà lao “khán” thi gia Đó

là một cảm nhận vô cùng độc đáo Vầng trăng là biểu tượng cho vẻ đẹp vĩnh hằng của

vũ trụ, là niềm khát vọng muôn đời của các thi nhân Vậy mà nay, trăng lên mình qua song cửa hẹp, đặt chân vào chốn lao tù ẩm ướt hôi hám để chiêm ngưỡng nhà thơ hay chính là tâm hồn nhà thơ vậy Điều đó đã khẳng định vẻ đẹp trong con người Hồ Chí Minh

Với bài thơ “Đi đường”, người đọc có thể cảm nhận hình ảnh Bác vừa có thần thái ung dung, bình tĩnh của một bậc tiên phong đạo cốt vừa có nét kiên cường rắn rỏi, đầy lạc quan của một người chiến sĩ cách mạng

Bài thơ ra đời trong những năm tháng Bác Hồ bị bắt giam trong nhà lao Tưởng Giới Thạch Bác bị chúng giải đi hết nhà lao này đến nhà lao khác Đường chuyển lao không những dài dặc mà còn vô cùng gian lao, phải trải qua núi non trùng diệp và những vực thẳm hun hút hiểm sâu Nhưng dẫu vậy, từ trong khổ đau vẫn bừng lên ý chí “thép” mang đậm phong cách Hồ Chí Minh Bài thơ “Đi đường” - “Tẩu lộ” đã thể hiện rõ điều

đó

“Đi đường mới biết gian lao”

Câu thơ là một nhận định nhưng đồng thời cũng là một chân lí: Có đi đường mới biết những sự vất vả, khó khăn của việc đi đường Vậy những điều “nan”, “gian lao” ấy là gì?

“Núi cao rồi lại núi cao trập trùng"

Đường chuyển lao là những con đường đi qua các vùng núi hiểm trở của tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc Tầng tầng lớp lớp những ngọn núi tiếp nối nhau chạy mãi đến chân trời Hết ngọn núi này lại đến ngọn núi khác vậy nên mới có hình ảnh “Núi cao rồi lại núi cao trập trùng” Trong nguyên văn chữ Hán là “Trùng san chi ngoại hựu trùng san”

“Trùng san” có nghĩa là trùng trùng lớp lớp núi cao; “hựu” là “lại", câu thơ mang ý nghía: trùng trùng núi cao bên ngoài lại có núi cao trùng trùng Một câu thơ mà có tớỉ hai chữ “trùng san", huống chi lại có chữ “hựu”, bởi vậy, câu thơ nguyên gốc gợi nên hình ảnh những đỉnh núi nhọn hoắt cao vút trời xanh trập trùng chạy mãi đến chân trời Con đường ấy, mới chỉ nhìn thôi đã thấy đáng sợ Nếu tù nhân là một người tù bình thường, ắt hẳn họ đã bị nỗi sợ hãi làm cho yếu mềm, nhụt chí Nhưng người tù ấy lại là một người cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh Và bởi vậy, hai câu thơ cuối bài đã thực sự thăng hoa:

“Trùng san đăng đáo cao phong hậu Vạn lí dư đồ cố miện gian”

Hai câu thơ được dịch khá sát là:

“Núi cao lên đến tận cùng Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non”

Sau những vẩt vả, nhọc nhằn của con đường leo núi, khi đã lên đến tận đỉnh người tù cách mạng được chứng kiến một hình ảnh vô cùng hùng vi “muôn trùng nước non” Theo tâm lí thông thường, trên con đường gian lao trập trùng đồi núi, khi lên đến đỉnh, con người dễ lo lắng, mệt mỏi khi nghĩ đến con đường xuống núi dốc thẳm cheo leo và những quả núi ngút ngàn khác Nhưng Hồ Chí Minh thì ngược lại Điều Người

Trang 3

cảm nhận là niềm tự hào, sung sướng khi được đứng từ trên đỉnh cao chiêm ngưỡng sự hùng vĩ bao la của nước non, vũ trụ Hình ảnh “thu vào tầm mắt muôn trùng nước non” thật hào sảng Nó gợi đến hình ảnh bé nhỏ của con người đang đối diện trước cái mênh mông, trập trùng của giang san Con người ấy không choáng ngợp trước sự kì vĩ của đất trời mà rất vui sướng, bồi hồi như lần đầu tiên được tận mắt nhìn thấy gương mặt của nước non Chính cảm quan ấy đã nâng vị thế con người sánh ngang tầm non nước Đứng trước một sự thật khách quan, mỗi con người có một cảm nhận khác nhau Cảm nhận ấy phụ thuộc vào thế giới quan và bản lĩnh của con người, ở Hồ Chí Minh Người

đã có những cảm nhận lạc quan, tươi sáng về cuộc đời Người không bị cái nhọc nhằn của thể xác lấn át đi ước mơ, khát vọng và lí tưởng mà ngược lại, đã vượt qua gian lao

để khẳng định ý chí bền bỉ, sắt đá và niềm lạc quan, tin tưởng vào cách mạng của bản thân mình Đó là tinh thần thép là vẻ đẹp tâm hồn Bác

c) Kết bài

- Hai bài thơ thể hiện phong thái ung dung, coi thường hiểm nguy gian khổ của Bác Dù trong bất kì hoàn cảnh nào, Người cũng hướng đến thiên nhiên bộc lộ tấm lòng ưu ái rộng mở với thiên nhiên đồng thời Bác là hiện thân của một bức chân dung tinh thần tự họa luôn lạc quan, yêu đời, bình tĩnh kiên cường Đó là một trong những biểu hiện quan trọng của tinh thần thép Hồ Chí Minh

Các câu sau có ý nghĩa phủ định không ? Phủ định miêu tả hay bác bỏ

Hãy diễn đạt lại bằng các câu phủ định tương ứng

a Ai mà lại bán vườn đi để lấy vợ

b Vả lại bán vườn đi thì cưới vợ về ở đâu

- Các câu trên có ý nghĩa phủ định Là phủ định bác bỏ

- Diễn đạt lại bằng câu phủ định

a) Không ai bán vườn đi để lấy vợ

b) Bán vườn đi thì cưới vợ về sẽ không có chỗ ở

Ngày đăng: 05/04/2022, 19:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w