Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ số 15 khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai. Gồm 4 phần: tóm tắt nội dung vụ án, kế hoạch hỏi, bản luận cứ bảo vệ nguyên đơn, câu hỏi nhận xét phần diễn án. Người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim; người bị kiện là UBND thành phố A
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN:
KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH
HỒ SƠ LS.HC: 15 KHỞI KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC ĐẤT ĐAI
HỌ TÊN : LÊ THỊ THƯ NGÀY SINH :
SỐ BÁO DANH :
DIỄN ÁN LẦN : 01 NGÀY DIỄN ÁN : 13/07/2021 VAI DIỄN :
Trang 2MỤC LỤC
I Tóm tắt nội dung vụ án 3
II Kế hoạch hỏi 4
III Luận cứ bảo vệ nguyên đơn 6
IV Câu hỏi phần nhận xét diễn án 9
Trang 3I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
- Ngày 05/4/2018, TAND tỉnh H ban hành Bản án phúc thẩm số 04/2018/HC-PT, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quang Hải, bà Đặng Thị Kim (ông Hải bà Kim), buộc Chi nhánh VP ĐKĐĐ thành phố A tiếp nhận lại hồ
sơ cấp GCN QSDĐ của gia đình ông Hải và giải quyết các thủ tục theo quy định pháp luật;
- Ngày 20/4/2018, ông Hải bà Kim nộp lại bộ hồ sơ đề nghị cấp GCN QSDĐ tại bộ phận tiếp nhận và giao trả hồ sơ thuộc UBND thành phố A, ngày nhận kết quả là ngày 06/6/2018;
- Đến ngày 06/6/2018, ông Hải bà Kim không nhận được kết quả giải quyết hồ sơ nên đã làm đơn đề nghị Chi nhánh VP ĐKĐĐ cho biết nguyên nhân;
- Ngày 14/8/2018, Chi nhánh VP ĐKĐĐ thành phố A ban hành Văn bản số 4171/CNVPĐK-ĐKCG trả lời đơn đề nghị trên với nội dung chưa có văn bản chỉ đạo, đã chuyển hồ sơ đến Phòng TNMT và UBND thành phố A để xin ý kiến giải quyết nhưng đến nay chưa nhận được phản hồi nên chưa có căn cứ giải quyết;
- Ngày 24/8/2018, ông Hải có đơn khiếu nại về hành vi chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ;
- Ngày 30/01/2019, UBND thành phố A ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A của ông Hải bà Kim;
- Ngày 18/3/2019, UBND thành phố A ban hành Văn bản số
1126/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề
nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do lấn chiếm “Biển”;
- Ngày 04/4/2019, ông Nguyễn Quang Hải, bà Đặng Thị Kim khởi kiện Văn bản số 504 và Văn bản số 1126 nêu trên của UBND thành phố A đến TAND tỉnh H Yêu cầu Tòa án hủy 02 văn bản này và buộc UBND thành phố A tiếp nhận lại và giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa 164 nêu trên cho ông Hải bà Kim;
- Ngày 18/4/2019, TAND tỉnh H ban hành Thông báo số 47/2019/TLST-HC về việc thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm;
- Ngày 21/10/2019, TAND tỉnh H ban hành Quyết định số 13X/2019/QĐXXST-HC đưa vụ án ra xét xử
Trang 4II KẾ HOẠCH HỎI
Đương sự Câu hỏi
Người đại diện theo
ủy quyền của người
khởi kiện – ông
Trần Quốc Chinh
Ông Bùi Xuân Mĩ xây kè đổ đất để làm sân phơi cá vào năm bao nhiêu? Và xây dãy phòng trọ năm bao nhiêu?
Ông Mĩ xây dãy phòng trọ trên 54.7 m2 đất có giấy phép xây dựng không?
Ngoài làm sân phơi cá, xây phòng trọ cho thuê thì gia đình ông còn sử dụng 54,7m2 đất này vào mục đích nào khác không?
Ông Hải và bà Kim có nộp thuế sử dụng đất tương ứng với diện tích 54.7m2 đất lấn biển này không?
Từ thời điểm ông Mĩ cất sàn lấn biển trên diện tích 54.7m2 đất đến nay, có quyết định xử phạt nào của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với ông Mĩ về hành vi cất sàn, xây
kè đổ đất lấn biển và xây nhà trên đất đó không?
Trước thời điểm UBND TP A ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT thông báo đến ông Hải, bà Kim về việc tạm trả hồ sơ thì UBND TP A có văn bản hay thông báo trực tiếp đến ông Hải, bà Kim về việc UBND TP A đang tiến hành việc xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền về trường hợp của ông Hải hay không?
Người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp
của người bị kiện –
ông Nguyễn Thế
Khang
Việc ông Hải, bà Kim sử dụng phần diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa 164 có nguồn gốc đất lấn chiếm biển có phải là hành vi vi phạm không?
Nếu là hành vi vi phạm tại sao ông Hải, bà Kim vẫn được sử dụng ổn định đến thời điểm hiện tại và được nộp thuế đất hàng năm?
Trang 5Nếu không là hành vi vi phạm thì diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa 164 ông Hải, bà Kim đang sử dụng có thuộc trường hợp không đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận QSDĐ không?
Phần diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa 164 được xác định là nguồn gốc lấn biển từ lâu, tại sao UBND TP A không ra thông báo và phương án giải quyết mà để tình trạng cho ông Hải bà Kim sử dụng lâu dài đến tận bây giờ?
Trường hợp đề nghị cấp GCNQSDĐ của ông Hải, bà Kim
đã kéo dài từ năm 2016, tại sao đến ngày 09/3/2018, UBND
TP A mới có Văn bản số 1133/UBND-TNMT để xin ý kiến hướng dẫn của Sở TNMT về trường hợp này?
Việc xử phạt theo Quyết định số 452 ngày 19 tháng 02 năm
2014 của UBND thành phố A có bao gồm việc xử phạt hành
vi san lấp đất lấn biển 54.7 m2 của ông Hải hay không?
Theo Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất từ 2011-2015 do UBND tỉnh H phê duyệt thì diện tích 54,7 m2 đất thuộc quy hoạch đất gì?
Theo quy định pháp luật hiện hành thì thủ tục cấp GCNQSDĐ trong thời hạn bao nhiêu ngày? Trường hợp bổ sung hoặc trả lại hồ sơ thì trong bao nhiêu ngày
UBND thành phố A căn cứ vào cơ sở pháp lý nào để ban hành Quyết định số 504/UBND-TNMT và Văn bản số 1126/UBND-TMMT đối với ông Hải, bà Kim?
Trước khi UBND TP A ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT thông báo đến ông Hải, bà Kim về việc tạm trả hồ sơ thì UBND TP A có văn bản hay thông báo trực tiếp đến ông Hải, bà Kim về việc UBND TP A đang tiến hành việc xin ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền về trường hợp này không?
Trang 6III Luận cứ bảo vệ nguyên đơn
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa đại diện Viện kiểm sát cùng toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay!
Tôi, Luật sư Lê Thị Thư thuộc Công ty Luật TNHH TN – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khởi kiện là ông Bùi
Quang Hải và bà Đặng Thị Kim “Khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực
đất đai” trong vụ án được TAND tỉnh H xét xử ngày hôm nay.
Tôi xin trình bày về nội dung khởi kiện và căn cứ như sau:
Ngày 20/4/2018, ông Hải bà Kim nộp lại bộ hồ sơ đề nghị cấp GCN QSDĐ tại
bộ phận tiếp nhận và giao trả hồ sơ thuộc UBND thành phố A, ngày nhận kết quả là ngày 06/6/2018;
Ngày 30/01/2019, UBND thành phố A ban hành Văn bản số 504/UBND-TNMT về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A của ông Hải bà Kim;
Ngày 24/8/2018, ông Hải có đơn khiếu nại về hành vi chậm giải quyết cấp GCN QSDĐ;
Ngày 18/3/2019, UBND thành phố A ban hành Văn bản số
1126/UBND-TNMT về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do lấn chiếm “Biển”
Ông Hải, bà Kim nhận thấy:
- Văn bản số 504/UBND-TNMT của UBND TP A về việc tạm trả hồ sơ đăng
ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A của ông Hải bà Kim là không đúng với quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung, gây thiệt hại và ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông Hải, bà Kim
- Văn bản số 1126/UBND-TNMT của UBND TP A về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do lấn chiếm “Biển” là văn bản giải quyết khiếu nại có liên quan nên cũng được xác định là trái pháp luật
Như vậy, việc ông Hải, bà Kim đã khởi kiện quyết định hành chính trong lĩnh
Trang 7Đề nghị Tòa án hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A
Buộc UBND thành phố A tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A cho ông Hải, bà Kim
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, cùng lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ cho người khởi kiện như sau:
Thứ nhất,về hình thức Văn bản số 504 là không phù hợp quy định pháp luật:
Văn bản số 504/UBND-TNMT ban hành nhằm thông báo đến ông Hải, bà Kim về việc tạm trả lại hồ sơ đăng ký, cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là GCN) Tuy nhiên, kể từ khi UBND thành phố A ban hành văn bản 504 đến nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật về thủ tục hành chính nào quy định về trường hợp ban hành văn bản tạm trả lại hồ sơ như văn bản số 504 của UBND thành phố A Nếu trường hợp diện tích đất của ông Hải, bà Kim không được cấp GCN thì UBND thành phố A phải trả lại hồ sơ cho ông Hải, bà Kim theo quy định tại Khoản 5, Điều 19 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ
Thứ hai, về nội dung văn bản số 504:
Diện tích đất 54,7m2 thuộc thửa số 164 có nguồn gốc đất và nhà ở trên đất đã được xác định cụ thể và rõ ràng như sau:
Phần diện tích này trước đây là sàn phơi cá do ông Bùi Xuân Mĩ cất sàn phơi
cá trước năm 1993 Đến năm 1998, ông Mĩ xây kè đổ đất và tiếp tục làm nơi phơi
cá Đến năm 2000, ông Mĩ xây phòng trọ trên đất để cho thuê Đến năm 2002, ông
Mĩ bán toàn bộ nhà đất này cho ông Hải, bà Kim Ông Hải, bà Kim tiếp tục sử dụng cho thuê đến nay, không ai tranh chấp Tại bản đồ địa chính năm 1993, phần diện tích 54,7m2 chưa hình thành Tại bản đồ địa chính năm 2000, phê duyệt năm 2002 thì phần diện tích này thuộc một phần thửa đất số 164, tờ bản đồ số 09 do ông Bùi Xuân Mĩ đứng tên đăng ký, diện tích nguyên thửa là 156,7m2 (trong đó có 102m2
đã được cấp GCN)
Tại văn bản này không xác định việc sử dụng diện tích 54,7m2 nêu trên là hành vi vi phạm, mà chỉ xác định diện tích 54,7m2 có nguồn gốc là đất lấn chiếm biển Tuy nhiên tại Văn bản này lại trình bày lí do trả lại hồ sơ do không có quy định pháp luật áp dụng là không hợp pháp Vì những lí do sau:
Tại khoản 3, khoản 5 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai có quy định:
Trang 8a) Trường hợp đang sử dụng đất thuộc quy hoạch sử dụng đất cho các mục đích quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì Nhà nước thu hồi đất trước khi thực hiện dự án, công trình đó.
Người đang sử dụng đất vi phạm được tạm thời sử dụng cho đến khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng phải giữ nguyên hiện trạng đang sử dụng đất và phải kê khai đăng ký đất đai theo quy định;
b) Trường hợp đang sử dụng đất không thuộc trường hợp quy định tại
Điểm a Khoản này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo rà soát, điều chỉnh quy
hoạch sử dụng đất; người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
5 Người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại Khoản
1, Điểm a và Điểm c Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này mà không có tranh chấp
thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định như sau:
a) Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này;”
Khoản 18 Điều 2 Nghị định Số: 01/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai quy định:
“18 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 5 Điều 22 như sau:
a) Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức công nhận đất ở tại địa phương nếu đã sử dụng đất ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993; diện tích đất ở được công nhận bằng hạn mức giao đất ở tại địa phương nếu đã sử dụng đất ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014;”
Đối chiếu quy định trên, diện tích đất 54,7m2 do ông Hải bà Kim sử dụng xác định là trường hợp lấn, chiếm đất chưa sử dụng, cụ thể là lấn biển, đã có nhà ở xây dựng trước ngày 01/7/2014, được xem xét cấp GCN Căn cứ vào tài liệu hồ sơ vụ án
và đối chiếu quy định của pháp luật thì diện tích đất phù hợp quy hoạch sử dụng đất
ở đô thi (thể hiện tại Quyết định số 1352, Quyết định số 51, Quyết định số 653 của UBND tỉnh H) nên phần diện tích này đủ điều kiện được cấp GCN và nộp tiền sử dụng đất theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định 45/2014/NĐ-CP Thực tế ông Hải, bà Kim vẫn đóng tiền sử dụng đất từ năm 2002 đến nay
Như vậy, việc UBND thành phố A thực hiên việc giải quyết cấp GCN cho ông Hải bà Kim phải căn cứ vào các quy định có liên quan nêu trên Tuy nhiên, UBND thành phố A lại ban hành văn bản số 504 tạm trả lại hồ sơ do không có quy phạm pháp luật áp dụng, chưa có văn bản hướng dẫn chỉ đạo là hoàn toàn không phù hợp với quy định của pháp luật
Chính vì thế, tại văn bản số 1126 là quyết định giải quyết khiếu nại liên quan
Trang 9Theo đó, tôi đề nghị HĐXX:
Hủy Văn bản số 504/UBND-TNMT ngày 30/1/2019 của UBND thành phố A
về việc tạm trả hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại phường 5, thành phố A đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa 164, tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A của ông Hải bà Kim và Văn bản số 1126/UBND-TNMT ngày 18/3/2019 của UBND thành phố A về việc giải quyết đơn của ông Bùi Quang Hải, phường 5 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc do lấn chiếm “Biển”
Buộc UBND thành phố A tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích 54,7m2 thuộc thửa số 164 tờ bản đồ số 09, phường 5, thành phố A cho ông Hải, bà Kim
Trên đây là tTrên đây là toàn bộ quan điểm pháp lý của tôi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với người khởi kiện là ông Bùi Quang Hải, bà Đặng Thị Kim Xin cảm ơn HĐXX, cảm ơn đại diện VKS và quý vị đã lắng nghe!
Hà Nội, ngày 13 tháng 7 năm 2021
LUẬT SƯ BẢO VỆ
(đã ký)
Lê Thị Thư
IV Câu hỏi phần nhận xét diễn án
IV.1 Anh chị lựa chọn và phân tích 5 điểm hạn chế nhất trong trình tự phiên tòa ngày hôm nay?
Tôi xác định năm điểm hạn chế nhất trong trình tự phiên tòa ngày hôm nay như sau:
Thứ nhất, một số vai diễn không có sự chủ động, còn lúng túng khi đến phần trình bày của mình trong quá trình diễn ra phiên tòa cũng nhưa có sự tập trung cao cũng trong buổi diễn án;
Thứ hai, nội dung các câu hỏi trong phần hỏi còn có sự trùng lặp;
Thứ ba, các tài liệu viện dẫn của người phát biểu nêu không chắc chắn, từ đó cho thấy việc chuẩn bị chưa kĩ và không có sự trao đổi giữa những người tham gia phiên tòa;
Thứ tư, trong trình tự diễn án còn nhiều điểm dừng gây mất thời gian do trục trặc về kỹ thuật;
Thứ năm, cách xưng hô giữa VKS, người tiến hành tố tụng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, luật sư chưa có sự thống nhất, hợp lý
Trang 10Trong quá trình tham gia phiên tòa chúng ta có thể thấy rằng Luật sư của bên
bị kiện đang sử dụng phương pháp quy nạp Cụ thể:
Luật sư phía NBK đã đưa ra các căn cứ như nguồn gốc thửa đất, thẩm quyền, quy định pháp luật để bảo về việc đưa ra văn bản số 504/UBNB-TNMT ngày 30/01/2019 là đúng quy định Thể hiện ở việc LS NBK đã đưa ra căn cứ về nguồn gốc thửa đất được xác định là đất lấn biển dựa trên phiếu lấy ký kiến dân cư, xác nhận của UBND phường Về thẩm quyền LS NBK căn cứ do hiện nay chưa có Văn bản pháp luật nào quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất lấn biển, lấn sông do đó Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố A cũng như UBND chưa xác định được thẩm quyền cấp giấy chứng nhận Điều nãy dẫn tới
họ cần được sự hướng dẫn tờ cơ quan có thẩm quyền Tuy nhiên chưa có thẩn quyền nên họ cần phải tạm trả hồ sơ để có hướng dẫn
Về Luật sư người khởi kiện:
Luật sư người khởi kiện cũng sử dụng phương pháp quy nạp Tuy nhiên, Luật
sư người khởi kiện căn cứ vào nguồn gốc đất, thời gian sử dụng,… Mặc dù đất được xác định có nguồn gốc lấn biển tuy nhien theo quy định tại điều 9 Luật đất đai
2013 thì nhà nước khuyến khích công dân khai hoang, lấn biển,… Sử dụng đúng mục đích Luật sư người khởi kiện có quan điểm đât được lấn chiếm không trái với quy định của pháp luật, được sử dụng ổn định lâu dài, không có tranh chấp, hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận đầy đủ và đã được cơ quan tiếp nhận hồ sơ tiếp nhận Tuy nhiên, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể cấp Giấy chứng nhận QSDĐ đối vs đất lấn sông lấn biển tuy nhiên theo quy định chung tại điều 22 nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai thì đối với đất lấn chiếm k trái với quy định pháp luật, đã sử dụng ổn định, lâu dài, không tranh chấp thì khi đủ điều kiện sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất