Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 1KHOA : LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ VỚI CHỦ ĐỘNG HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ
Sinh viên thực hiện: Đinh Thị Son
Mã sinh viên: 2114330025
Số thứ tự: 66
Lớp tín chỉ: TRI114.6
Giảng viên hướng dẫn: TS.Đào Thị Trang
Hà Nội, tháng 11, 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 4
1 Phép biện chứng 4
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 5
3 Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.7 II Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội
nhập kinh tế quốc tế 9
1 Khái quát 9
2 Vì sao cần xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế? 10
3 Thách thức 10
4 Giải pháp 11
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là vấn đề không phải bây giờ chúng ta mới đặt ra Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã
rất chú trọng đến “thực lực, binh cường” để yên dân và bảo đảm cho non sông bền vững Đảng ta trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng luôn đặc biệt quan tâm đến vấn đề này và quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ đã được đề cập đến trong nhiều Nghị quyết quan trọng của Đảng, nhất là từ Đại hội VI đến nay Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay, khi toàn cầu hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn
ra như một xu thế khách quan ngày càng có nhiều nước tham gia (trong đó nước
ta không phải là ngoại lệ) thì vấn đề xây dựng kinh tế độc lập tự chủ càng được đặt ra một cách nghiêm túc và bức thiết
Đương nhiên, trong thời đại ngày nay, độc lập, tự chủ về kinh tế tuyệt nhiên không phải là nền kinh tế “khép kín”, “tự cung tự cấp”, mà đặt trong mối quan
hệ biện chứng với việc chủ động tham gia vào quá trình giao lưu, hợp tác và cạnh tranh quốc tế trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh của quốc gia
Để giải quyết vấn đề nan giải này, vận dụng triết học Mác- Lê-Nin với phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến sẽ là cơ sở lý luận xác đáng và đúng đắn
nhất Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài:” Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập
tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế” để nghiên cứu Khi nghiên cứu đề
tài này, tôi mong muốn tìm hiểu được mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; qua đó đóng góp được chút công sức nhỏ bé của bản thân trong việc tìm ra giải pháp thiết thực và hợp lý nhất, giúp phát triển nền kinh tế tự chủ độc lập kết hợp với hội nhập kinh tế, đưa đất nước Việt Nam sánh vai cùng cường quốc năm châu theo đúng lời dạy của Bác Hồ
Trang 4NỘI DUNG
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1 Phép biện chứng
Phép biện chứng là khái niệm được dùng để chỉ sự liên hệ - vận động –
chuyển hoá – phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên,
xã hội, và tư duy
Biện chứng bao gồm: biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan Biện
chứng khách quan là biện chứng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới hiện thực khách quan Biện chứng chủ quan: là sự phản ánh hiện thực khách quan với đầu óc con người
Với tư cách là học thuyết triết học, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến và những quy luật chung nhất của mọi quá trình vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy; từ đó xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận chung cho các quá trình nhận thức và thực
tiễn.
Phép biện chứng đã có lịch sử phát triển trên 2.000 năm từ thời cổ đại phương Đông và phương Tây, với ba hình thức cơ bản(cũng là thể hiện ba trình
độ phát triển của phép biện chứng trong lịch sử triết học):
Phép biện chứng chất phác thời cổ đại là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong lịch sử triết học Nó là một nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại
Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng trong triết học của I Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph Hêghen Ph Hêghen đã nghiên cứu và phát triển các tư tưởng biện chứng thời cổ đại lên một trình độ mới - trình độ lý luận sâu
Trang 5sắc và có tính hệ thông chặt chẽ, trong đó trung tâm là học thuyết về sự phát triển Theo lý luận này, bản thân biện chứng của các quá trình trong giới tự nhiên và xã hội chỉ là sự tha hoá của bản chất biện chứng của “ý niệm tuyệt đối”
Phép biện chứng duy vật do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là hình thức phát triển cao nhất của phép biện chứng Nó được xây dựng trên cơ
sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng, đặc biệt
là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph Hêghen; đồng thời phát triển phép biện chứng trên
cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới Trên cơ sở phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, chủ nghĩa duy vật biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng Toàn bộ hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng được xây dựng trên cơ sở lý giải một cách khoa học về vật chất, ý thức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và
ý thức
Sự đối lập căn bản giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình trong việc nhận thức thế giới là ở chỗ: phương pháp biện chứng là phương pháp nhận thức sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ phổ biến, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; còn phương pháp siêu hình là phương pháp nhận thức các sự vật, hiện tượng không trong mối liên hệ, tương tác, chuyển hoá, vận động và phát triển; nó tuyệt đối hoá tính chất ổn định, cô lập của các sự vật, hiện tượng Do đó, phương pháp siêu hình chỉ có giá trị trong một phạm vi nhất định Chỉ có phương pháp biện chứng mới có thể cho phép nhận thức sự vật, hiện tượng đúng như chúng tồn tại trong thực tế
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1 Khái niệm
Trang 6“Liên hệ”: là quan hệ giữa 2 đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số
chúng nhất định làm đối tượng kia thay đổi
“Mối liên hệ”: là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc
tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau
“Mối liên hệ phổ biến”: là khái niệm dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới (cả tự nhiên, xã hội và tư duy) Trong đó, những mối liên hệ phổ biến nhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng
Theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trong thực tế đều tác động đến nhau Không có sự vật, hiện tượng nào tách biệt hoàn toàn với các sự vật, hiện tượng khác, nếu có thì chỉ là những quan hệ bề ngoài, ngẫu nhiên; các sự vật, hiên tượng, quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa liên hệ, quy định và chuyển hoá lẫn nhau
2.2 Tính chất của mối liên hệ phổ biến
a, Tính khách quan của mối liên hệ phổ biến
Trong thế giới vật chất, các sự vật, hiện tượng luôn có mối liên hệ với nhau,
dù nhiều dù ít Điều này là khách quan, không lệ thuộc vào việc con người có nhận thức được các mối liên hệ hay không
Sở dĩ mối liên hệ có tính khách quan là do thế giới vật chất có tính khách quan Các dạng vật chất (bao gồm sự vật, hiện tượng) dù có vô vàn, vô kể, nhưng thống nhất với nhau ở tính vật chất Có điểm chung ở tính vật chất tức là chúng
có mối liên hệ với nhau về mặt bản chất một cách khách quan
b, Tính phổ biến của mối liên hệ phổ biến
Tính phổ biến của các mối liên hệ nằm ở chỗ, bất kỳ ở đâu, trong tự nhiên,
xã hội và tư duy đều có vô vàn các mỗi liên hệ đa dạng, chúng giữ những vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hoá của các sự vật, hiện tượng Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hoá lẫn nhau không chỉ diễn ra ở mọi sự
Trang 7vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật, hiện tượng
c, Tính phong phú, đa dạng của mối liên kết
Mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng, phong phú Có mối liên hệ về không gian và cũng có mối liên hệ về mặt thời gian giữa các sự vật, hiện tượng Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới; có mối liên hệ chỉ tác động trong từng lĩnh vực, từng sự vật, hiện tượng
cụ thể Có mối liên hệ trực tiếp giữa nhiều sự vật, hiện tượng, có mối liên hệ gián tiếp Có mỗi liên hệ tất nhiên, có mỗi liên hệ ngẫu nhiên Có mỗi liên hệ bản chất, có mỗi liên hệ không bản chất chỉ đóng vai trò phụ thuộc Có mối liên
hệ chủ yếu và có mối liên hệ thứ yếu… Các mối liên hệ đó giữ những vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
3 Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của các sự vật, hiện tượng, chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử – cụ thể trong
nhận thức và hoạt động thực tiễn.
3.1 Quan điểm toàn diện
Quán triệt quan điểm toàn diện, chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng như sau:
Trong nhận thức, trong học tập:
Một là, xem xét các mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng Tức là xem xét những mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các tuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó
Hai là, xem xét các mối quan hệ bên ngoài của sự vật, hiện tượng Tức là, xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác, kể cả trực tiếp và gián tiếp
Ba là, xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số hữu hạn những mối liên hệ
Trang 8Do đó, trí thức đạt được về sự vật, hiện tượng chỉ là tương đối, không trọn vẹn, đầy đủ Ý thức được điều này sẽ giúp ta tránh được tuyệt đối hóa những tri thức
đã có, tránh xem đó là những chân lý luôn luôn đúng Để nhận thức được sự vật, chúng ta phải nghiên cứu tất cả những mối liên hệ
Bốn là, tuyệt đối tránh quan điểm phiến diện khi xem xét sự vật, hiện tượng Phiến diện tức là chỉ chú ý đến một hoặc một số ít những mối quan hệ Cũng có nghĩa là xem xét nhiều mối liên hệ nhưng đều là những mối liên hệ không bản chất, thứ yếu… Đó cũng là cách cào bằng những thuộc tính, những tính quy định trong bản thân mỗi sự vật
Quan điểm toàn diện đòi hỏi ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất, cái quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng Điều này không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê
Trong hoạt động thực tiễn:
Quan điểm toàn diện đòi hỏi, để cải tạo được sự vật, chúng ta phải dùng hoạt động thực tiễn để biến đổi những mối liên hệ nội tại của sự vật và những mối liên hệ qua lại giữa sự vật đó với những sự vật khác Để đạt được mục đích
đó, ta phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương tiện khác nhau để tác động nhằm làm thay đổi những mối liên hệ tương ứng
Quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữ
“chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” Ví dụ như trong thực tiễn xây dựng, triển khai chính sách Đổi Mới, Đảng Cộng sản Việt Nam vừa coi trọng đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội…, vừa nhấn mạnh đổi mới kinh tế là trọng tâm
3.2 Quan điểm lịch sử – cụ thể
Mọi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong không – thời gian nhất định và mang dấu ấn của không – thời gian Do đó, ta nhất thiết phải quán triệt quan điểm lịch
sử – cụ thể khi xem xét, giải quyết mọi vấn đề do thực tiễn đặt ra
Trang 9Nội dung cốt lõi của quan điểm này là chúng ta phải chú ý đúng mức đến hoàn cảnh lịch sử – cụ thể đã làm phát sinh vấn đề đó, tới bối cảnh hiện thực, cả khách quan và chủ quan, của sự ra đời và phát triển của vấn đề Nếu không quán triệt quan điểm lịch sử – cụ thể, cái mà chúng ta coi là chân lý sẽ trở nên sai lầm Vì chân lý cũng phải có giới hạn tồn tại, có không – thời gian của nó
II Mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
1 Khái quát
1.1 Nền kinh tế độc lập tự chủ
Ngày nay, khi mà xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế tất yếu trong đó nền kinh tế của mỗi quốc gia là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thống nhất thì nền kinh tế độc lập tự chủ không thể là một nền kinh tế khép kín, tự cung tự cấp, thực hiện đóng cửa, không cần hội nhập với nền kinh tế thế giới Độc lập tự chủ về kinh tế phải là độc lập tự chủ trong phát triển nền kinh tế thị trường và chủ động mở cửa, hội nhập có hiệu quả với nền kinh tế thế giới; tích cực tham gia vào giao lưu hợp tác, phân công lao động quốc tế, trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực, lợi thế so sánh của quốc gia để cạnh tranh có hiệu quả trên thương trường quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế độc lập tự chủ cần
được hiểu: đó là nền kinh tế không bị chi phối hay lệ thuộc vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển kinh tế; có khả năng tận dụng được tối ưu các nguồn lực bên ngoài và bên trong cho sự phát triển bền vững của đất nước đồng thời có khả năng ứng phó một cách hiệu quả với những biến động của thị trường khu vực và thế giới
1.2 Hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết, giao lưu, hợp tác giữa nền kinh
tế quốc gia vào nền kinh tế quốc gia khác hay tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu Hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những xu thế lớn và tất yếu trong quá
trình phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn thế giới
Trang 102 Vì sao cần xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế?
Hội nhập kinh tế quốc tế là con đường duy nhất để đưa một quốc gia không ngừng phát triển nền kinh tế và nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật của nứoc mình Theo quan điểm biện chứng về mối quan liên hệ phổ biến của các nhà triết học đã khẳng định ở trên :"Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều nằm trong mối liên hệ phổ biến không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách biệt lập mà chúng tác động lẫn nhau, rằng buộc quy định và chuyển hoá lẫn nhau" Khi áp dụng quan điểm này vào thực tế là hoàn toàn đúng khi một quốc gia tự mình tách ra khỏi mối quan hệ với các quốc gia khác thì nó không thể tồn tại và phát triển được Bởi vì trước hết một quốc gia không thể tự mình cung cấp những nhu cầu cho quốc gia mình, do mỗi quốc gia trên thế giới đều có một thế mạnh riêng
Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế là sự cụ thể hóa việc nắm vững và xử lý một trong những nội dung quan trọng là kinh tế trong mối quan hệ “giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế” Đây là hai phạm trù khác nhau, nhưng có mối quan hệ biện chứng; trong đó, xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước đều thống nhất với nhau ở mục tiêu cuối cùng là vì lợi ích của quốc gia - dân tộc Mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân và để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; đồng thời, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ là cơ sở, điều kiện bảo đảm cho nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế Với lẽ đó, Đảng ta đã đưa nội dung “Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ”; “nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế” trong cùng Mục IV: “Hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của
Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIII là đúng đắn, phù hợp, thể hiện sự nhất quán của Đảng trong nắm vững và xử lý các quan hệ lớn
3 Thách thức