Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết toàn dân trong phòng chống covid 19 Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết toàn dân trong phòng chống covid 19 Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết toàn dân trong phòng chống covid 19 Vận dụng tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết toàn dân trong phòng chống covid 19
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ II
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-*** -CHỦ ĐỀ: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG PHÒNG
CHỐNG COVID-19
Môn: Tư tưởng Hồ Chí Minh
Giảng viên: TS Thái Văn Thơ
Khoá lớp: K59E
Mã môn học: ML11
Trang 2MỤC LỤC
Trang 3I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT
2.2 Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc 112.2.1.Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc 112.2.2 Nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc 112.3 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc 112.4 Hình thức, nguyên tắc tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt trận
2.4.2 Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất 13
2.5 Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc 13 III VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HCM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ COVID 19 13
Trang 43.2.1.3 Đảng vận dụng phương pháp trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn
4.2 Phương hướng phấn đấu, rèn luyện tu dưỡng đạo đức lối sống của bản thân
4.3 Liên hệ thực tiễn cơ quan đơn vị, trách nhiệm bản thân trong xây dựng đại
4.4 Đặc biệt trong thời kỳ Covid, trách nhiệm xây dựng khối đại đoàn kết dântộc của học sinh sinh viên lại càng đáng trân trọng 27
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã từng nhận định: “Mỗi thắnglợi và mỗi bước đi lên của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với công lao to lớn củaChủ tịch Hồ Chí Minh, sự soi đường, dẫn dắt của tư tưởng Hồ Chí Minh”
Là một anh hùng giải phóng dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã để lạicho Đảng ta, dân tộc ta một di sản tư tưởng, đạo đức, phong cách vô cùng quý giá, làngọn đuốc soi đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, giankhổ, thử thách để đi đến thành công, làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam trên trườngquốc tế ngày càng được nâng cao
Không giống với các thách thức mà cách mạng Việt Nam phải đối mặt trong lịch
sử 90 năm qua, đại dịch COVID-19 là một cuộc chiến cam go với rất nhiều khác biệt.Cùng với nhân loại, đất nước ta đứng trước một kẻ địch gần như vô hình, bất định vàkhôn lường Một kẻ địch khiến cho cả thế giới ngừng trệ, tác động đến tuyệt đại đa sốcác quốc gia và vùng lãnh thổ, và ngay cả những quốc gia hùng cường nhất cũng phảirúng động Chính vì vậy, việc phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng,đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được Đảng, Nhà nước và Chính phủ vận dụng
và phát huy giá trị trong sự nghiệp lãnh đạo toàn thể nhân dân Việt Nam đồng sức,đồng lòng đoàn kết nhất trí để vượt qua mọi khó khăn, gian lao và thử thách để chiếnthắng đại dịch Covid 19
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 6Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết toàn dân tộc
đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta Tiếp tục pháthuy truyền thống quý báu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không đoàn kết thìsuy và mất Có đoàn kết thì thịnh và còn Chúng ta phải lấy đoàn kết mà xoay vần vậnmệnh, giữ gìn dân tộc và bảo vệ nước nhà” Vì thế, 8 chữ “Đoàn kết toàn dân, phụng
sự Tổ quốc” là mục đích của Đảng và Đảng thực hiện “đoàn kết để đấu tranh cho thốngnhất và độc lập của Tổ quốc”, “đoàn kết để xây dựng nước nhà”, cho nên phải “đoànkết rộng rãi và lâu dài”, “đoàn kết rộng rãi, chặt chẽ, đồng thời phải củng cố” và “ai cótài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết vớihọ” Khát vọng dân tộc được độc lập, tự do và thống nhất, nhân dân được sống ấm no,hạnh phúc là mẫu số chung, là điểm gốc để quy tụ tất cả mọi người dân Việt Nam vàokhối đại đoàn kết dân tộc Vì thế, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trong một mặttrận thống nhất chính là để tập hợp và lãnh đạo quần chúng nhân dân thành một khốithống nhất về ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh trong cuộc đấu tranh vì độc lậpdân tộc, vì tự do và hạnh phúc của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, khối đại đoàn kết toàndân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trithức ngày càng được mở rộng, việc tập hợp các tầng lớp nhân dân trong nước và đồngbào ta ở nước ngoài cũng như việc tăng cường đoàn kết với nhân dân các nước trongkhu vực và trên thế giới trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, hợp tác và phát triển cáchình thức đa dạng, có bước phát triển mới Nhờ đó, đất nước ta đạt được những thànhtựu to lớn, ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc ViệtNam XHCN: đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành một nước đangphát triển có thu nhập trung bình; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng an ninh đượctăng cường; văn hóa - xã hội có bước phát triển; sức mạnh mọi mặt của đất nước đượcnâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN được giữvững
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, nhiều vấn
đề mới của xã hội đã và đang nảy sinh, tích tụ không thể xem nhẹ Những thách thứcmới cần được quan tâm và xử lý Đặc biệt, trong thời kỳ Covid 19 hiện nay, cần phảicủng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy sức mạnh to lớn toàn dân trongphòng chống Covid 19, để duy trì sự phát triển của đất nước Bởi vậy, nghiên cứu, nắm
Trang 7vững và vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết trong điềukiện và nhiệm vụ mới của đất nước có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết
Đứng trước đại dịch COVID – 19, với tinh thần “chống dịch như chống giặc”,chúng ta càng phải nhớ đến lời của Bác đã từng khẳng định: “Dân ta có một lòng nồngnàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổquốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh
mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước
và lũ cướp nước” Trong những ngày qua, chúng ta đã thấy sự đồng lòng, quyết tâmcủa cả nước trong cuộc chiến đấu chống đại dịch Mọi tầng lớp nhân dân đã cùngchiến sĩ lực lượng vũ trang, lực lượng y tế từ y tá, bác sĩ, nhân viên; lực lượng thanhniên xung kích… đã ra quân đồng loạt, bất kể ngày đêm để truy vết, ngăn chặn sự lâylan; các lực lượng chính trị nòng cốt ở mọi ngành, mọi giới đã góp sức, góp tiền đểtiếp tế nhu yếu phẩm cho đồng bào ở khu vực phong tỏa, hỗ trợ trang thiết bị bảo vệ sựlây nhiễm cho lực lượng đang túc trực ở tâm dịch; những bếp lửa ấm tình đồng bàođược duy trì để tiếp cơm nước cho chiến sĩ, dân, quân ở mặt trận phòng, chống dịch;
cỗ máy ATM gạo lại khởi động để chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn… Tất cảnhững nghĩa cử cao đẹp ấy được kết tinh từ truyền thống “máu chảy ruột mềm”,
“thương người như thể thương thân” Hơn lúc nào hết, đây là lúc chúng ta cần pháthuy tinh thần yêu nước, kế thừa truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc của ông chatrong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước – một di sản tinh thần cực kỳ quýbáu của dân tộc Việt Nam
I CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có nguồn gốc từ nhiều yếu tố vàđược hình thành trên cơ sở kế thừa và phát triển chủ nghĩa yêu nước và truyền thốngđoàn kết của dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là đã vận dụng và phát triểnsáng tạo, chủ nghĩa Mác – Lênin phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể của ViệtNam trong từng giai đoạn cách mạng
Trang 81.1 Truyền thống yêu nước, nhân ái, tinh thần cố kết cộng đồng của dân tộc Việt Nam.
Đề cập đến chủ nghĩa yêu nước của dân tộc, chủ tịch Hồ Chí Minh viết: ” Dân ta
có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của ta từ xưa đếnnay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một lànsóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìmtất cả lũ bán nước và cướp nước”
Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tinh thần yêu nước gắn liền với
ý thức cộng đồng, ý thức cố kết dân tộc, đoàn kết dân tộc Việt Nam đã hình thành vàcủng cố, tạo thành một truyền thống bền vững Tinh thần ấy, tình cảm ấy theo thời gian
đã trở thành lẽ sống của mỗi con người Việt Nam, làm cho vận mệnh mỗi cá nhân gắnchặt vào vận mệnh của cộng đồng, vào sự sống còn và phát triển của dân tộc Nó là cơ
sở của ý chí kiên cường, bất khuất, tinh thần dũng cảm hy sinh vì dân, vì nước của mỗicon người Việt Nam, đồng thời là giá trị tinh thần thúc đẩy sự phát triển của cộng đồng
và của mỗi cá nhân trong quá trình dựng nước và giữ nước, làm nên truyền thống yêunườc, đoàn kết của dân tộc Dù lúc thăng, lúc trầm nhưng chủ nghĩa yêu nước vàtruyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam bao giờ cũng là tinh hoa đã được hun đúc
và thử nghiệm qua hàng nghìn năm lịch sử chinh phục thiên nhiên và chống giặc ngoạixâm bảo vệ Tổ quốc của ông cha ta Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết, cộngđồng của dân tộc Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng HồChí Minh về đại đoàn kết dân tộc
1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin
Chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhândân là người sáng tạo lịch sử; giai cấp vô sản muốn thực hiện vai trò là lãnh đạo cáchmạng phải trở thành dân tộc, liên minh công nông là cơ sở để xây dựng lực lượng tolớn của cách mạng Chủ nghĩa Mác-lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị áp bức conđường tự giải phóng Lê-nin cho rằng, sự liên kết giai cấp, trước hết là liên minh giaicấp công nhân với nông dân là hết sức cần thiết, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng
Trang 9vô sản Rằng nếu không có sự đồng tình và ửng hộ của đa số nhân dân lao động vớiđội ngũ tiên phong của nó, tức giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thựchiện được.
Đó là những quan điểm lý luận hết sức cần thiết để Hồ Chí Minh có cơ sở khoahọc trong sự đánh giá chính xác yếu tố tích cực cũng như những hạn chế trong các disản truyền thống, trong tư tưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Namtiền bối và các nhà cách mạng lớn trên thế giới, từ đó hình thành tư tưởng Hồ ChíMinh về đại đoàn kết dân tộc
1.3 Tổng kết những kinh nghiệm thành công và thất bại của các phong trào cách mạng Việt Nam và thế giới.
Không chỉ được hình thành từ những cơ sở lý luận suông, tư tưởng này còn xuấtphát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc và nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở nước ngoàicủa Hồ Chí Minh
1.3.1 Thực tiễn cách mạng Việt Nam
Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ có những cuộc đấutranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm gương tâm huyết của ôngcha ta với tư tưởng “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” và
“Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” Chính chủnghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc trong chiều sâu và bề dày của lịch
sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí Minh và được người ghi nhận như những bàihọc lớn cho sự hình thành tư tưởng của mình
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi vùng cao Việt Bắc (1960)
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, từ đó, các phong trào yêunước , chống pháp liên tục nổ ra, rất anh dũng, nhưng cuối cùng đều thất bại Hồ Chí
Trang 10Minh đã nhận ra được những hạn chế trong chủ trương tập hợp lực lượng của các nhàyêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi hỏi khách quan của lịch sử tronggiai đoạn này Đây cũng chính là lý do, là điểm xuất phát để Người quyết tâm từ Bếncảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công đã đưa Hồ Chí Minh đếnbước ngoặt quyết định trong việc chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc, giànhdân chủ cho nhân dân Từ chỗ chỉ biết đến Cách mạng Tháng Mười theo cảm tính,Người đã nghiên cứu để hiểu một cách thấu đáo con đường Cách mạng Tháng Mười
và những bài học kinh nghiệm quý báu mà cuộc cách mạng này đã mang lại cho phongtrào cách mạng thế giới Đặc biệt là bài học về sự huy động, tập hợp, đoàn kết lựclượng quần chúng công nông binh đông đảo để giành và giữ chính quyền cách mạng
II TƯ TƯỞNG CỦA HCM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC 2.1 Vai trò của đại đoàn kết dân tộc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành côngcủa cách mạng
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công.”
Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 10, trang 607.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạngViệt Nam
Trang 11Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là:
“ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC”.
Hồ Chí Minh, lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam, 3/3/1951.
2.2 Lực lượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
2.2.1 Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, theo Hồ Chí Minh bao gồm toàn thểnhân dân, tất cả những người Việt Nam yêu nước ở các giai cấp, các tầng lớp trong xãhội, các ngành, các giới, các lứa tuổi, các dân tộc, đồng bào các tôn giáo, các đảngphái, v.v “Nhân dân” trong tư tưởng Hồ Chí Minh vừa được hiểu với nghĩa là conngười Việt Nam cụ thể, vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân và cả haiđều là chủ thể của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
2.2.2 Nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Lực lượng góp thành sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc là toàn dân, trong đó lấyliên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng được tập hợp trong một Mặttrận thống nhất đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
2.3 Điều kiện để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Phải lấy lợi ích chung làm điểm quy tụ, đồng thời tôn trọng các lợi ích khác biệtchính đáng
- Phải kế thừa truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, đoàn kết của dân tộc
- Phải có lòng khoan dung, độ lượng với con người
- Phải có niềm tin vào nhân dân
2.4 Hình thức, nguyên tắc tổ chức của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - Mặt trận dân tộc thống nhất.
2.4.1 Mặt trận dân tộc thống nhất:
Khối đại đoàn kết toàn dân tộc chỉ trở thành lực lượng to lớn, có sức mạnh khiđược tập hợp, tổ chức lại thành một khối vững chắc, đó là Mặt trận dân tộc thống nhất.Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợpmọi người dân nước Việt, cả trong nước và kiều bào sinh sống ở nước ngoài Do yêucầu và nghiệp vụ của từng chặng đường lịch sử, Mặt trận dân tộc thống nhất đã có
Trang 12nhiều tên gọi khác nhau (hiện nay có tên là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam), tuy nhiênthực chất chỉ là một, là tổ chức chính trị - xã hội rộng rãi, tập hợp đông đảo các giaicấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, các tổ chức, cá nhân yêu nước ở trong vàngoài nước, phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do,hạnh phúc của người dân.
2.4.2 Nguyên tắc xây dựng và hoạt động của Mặt trận dân tộc thống nhất:
- Phải được xây dựng trên nền tảng liên minh công nhân - nông dân - trí thức vàđặt dưới sự lãnh đạo của Đảng
- Phải hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ
- Phải đoàn kết lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự, chân thành, thân ái giúp đỡnhau cùng tiến bộ
2.5 Phương thức xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc.
- Làm tốt công tác vận động quần chúng (dân vận)
“Cần phải chịu khó tìm đủ cách giải thích cho họ hiểu rằng: những việc đó là vì
ích lợi của họ mà phải làm.”
Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 5, trang 286.
- Thành lập đoàn thể, tổ chức quần chúng phù hợp với từng đối tượng để tập hợpquần chúng
- Các đoàn thể, tổ chức quần chúng được tập hợp và đoàn kết trong Mặt trận dântộc thống nhất
“Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực quyền
của dân, liên lạc mật thiết nhân dân với Chính phủ.”
Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 6, trang 397.
“Mặt trận dân tộc thống nhất vẫn là một trong những lực lượng to lớn của cách mạng Việt Nam [ ] Phải đoàn kết tốt các đảng phái, các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bộ Phải cùng nhau đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhau xây dựng Tổ quốc [ ] Phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng bào các tôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hòa thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc”.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, NXB Quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 13, trang 453.
Trang 13III VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HCM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ COVID 19 3.1 Đất nước trong giai đoạn bình thường:
Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, đượchun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.Thực tiễn cách mạng ViệtNam qua hơn 90 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống đại đoàn kết dân tộc đãđược phát huy cao độ, tạo thành sức mạnh vĩ đại Trong quá trình lãnh đạo, Đảng vàNhà nước đã vận dụng nhuần nhuyễn quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoànkết toàn dân tộc Cụ thể, tại Đại hội XIII, Đảng ta đã xác định mục tiêu của cách mạngnước ta là “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đo gàn kết toàn dân tộc kết hợp với sứcmạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiệnđại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu
để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủnghĩa”
3.1.1 Kinh tế
Về kinh tế, chính nhờ việc xác định được tầm quan trọng chiến lược của khối đạiđoàn kết toàn dân tộc đối với sự phát triển kinh tế, Đảng và Nhà nước đã ban hànhnhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc như Nghịquyết số 23-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về pháthuy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh; Nghị quyết số 20-NQ/TW về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân ViệtNam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết số 27-NQ/TW về xây dựngđội ngũ trí thức; Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng đội ngũ doanh nhân trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; Nghị quyết số NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Cùng với đó, Nhà nước đã ban hành nhiềuchính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo, thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, tríthức, văn nghệ sĩ, người Việt Nam ở nước ngoài nhằm khơi dậy, phát huy sức mạnhđại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Cụthể như sau:
Trang 1425-Thứ nhất, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc,Mặt trận đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Nhà nước và các tổ chức thành viêntăng cường tuyên truyền, vận động, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, tạo sựđồng thuận, thống nhất, ổn định xã hội để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triểnkinh tế-xã hội, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai, thực hiện chủ trương của Đảng về nông nghiệp, nông dân và nông thôn;hưởng ứng phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” do Chính phủphát động, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động, triển khaicuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” từ năm
2015 và nhanh chóng triển khai đến cơ sở
Thứ ba, với phương châm “lấy sức dân để chăm lo cho đời sống nhân dân,” Mặttrận đã chủ trì hiệp thương, phối hợp với các tổ chức thành viên vận động nhân dânhuy động nguồn lực, hiến đất, hiến công xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển kinh tế,giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, chấp hành pháp luật; giữ gìn, phát huy giátrị văn hóa truyền thống dân tộc, xây dựng các cộng đồng dân cư văn minh, hạnh phúc.Thứ tư, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đượctriển khai với nhiều giải pháp mới nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành,địa phương, doanh nghiệp, nhân dân trong việc đẩy mạnh phát triển sản xuất trongnước
Thứ năm, phát huy tinh thần sáng tạo, tự quản của nhân dân, triển khai các cuộcvận động, các phong trào thi đua yêu nước, Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chứcthành viên đã tổ chức phát động, đổi mới, nâng cao chất lượng, triển khai sâu rộng cácphong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo vànguồn lực để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảmbảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước
Thứ sáu, với chủ trương xuyên suốt “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phậnkhông tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” đã có nhiềungười Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê hương, cội nguồn, tham gia các hoạt độngnhân đạo, từ thiện, đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, về nước khởi nghiệp, đầu tưphát triển sản xuất, kinh doanh Hơn nữa trong Dự thảo Báo cáo Tổng kết thực hiệnchiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2011-2020, xây dựng chiến lược phát triểnkinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030, trình Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định:
Trang 15“Thực hiện có hiệu quả chính sách thu hút đồng bào hướng về Tổ quốc, đóng góp vào
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.”
Cuối cùng, với mục tiêu kép: “Vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, vừa phòng, chống dịch COVID-19” trong năm 2020, đất nước ta đã trở thành điểm sáng
trong bức tranh toàn cầu khi vừa kiểm soát tốt đại dịch COVID-19, vừa phát triển kinh
tế - xã hội với thành tựu là đạt mức tăng trưởng tăng 2,91% so với năm trước, ViệtNam thuộc nhóm nước có tăng trưởng cao nhất thế giới Có được kết quả đó là “Dophát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sự ưu việt của chế độ xã hội chủnghĩa, sự tham gia đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo đúngđắn của Đảng, sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân” Từ thực tiễn công cuộc đổi mới,trực tiếp là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đảng ta đã rút ra bài học phải
“phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước; khai thác, sử dụng có hiệu quảmọi nguồn lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo
vệ Tổ quốc trong tình hình mới”
3.1.2 Giáo dục
Nhà bác học nổi tiếng người Đức Leibniz từng nói “Ai làm chủ giáo dục có thểthay đổi thế giới” Giáo dục đối với một đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng Giáodục đào tạo thực hiện mục đích “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhântài” hình thành đội ngũ có tri thức, có tay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ năngđộng sáng tạo, có đạo đức cách mạng, tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội Hiểu rõ tầm quan trọng, tính thiết yếu của Giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhànước Việt Nam luôn luôn đề cao mục tiêu phát triển, hướng đến nền giáo dục toàn diệnhình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, phù hợp với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội và đặc biệt là củng cố và xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân tộc theo tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh
Thứ nhất, về mặt lý thuyết, chương trình giáo dục của Việt Nam luôn hướng đếngiáo dục về khối đại đoàn kết dân tộc Đại đoàn kết toàn dân tộc được đưa vào xuyênsuốt chương trình giảng dạy của hầu hết các cấp học trong hệ thống giáo dục ViệtNam Giá trị của đại đoàn kết toàn dân tộc được lồng ghép vào những bài học lịch sử
về dựng nước và giữ nước của thế hệ đi trước Học sinh, sinh viên được khuyến khíchtiếp cận và thấm nhuần tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc một cách chủ động
Trang 16Thứ hai, về mặt thực hành, đại đoàn kết toàn dân tộc được ứng dụng trong giáodục thông qua việc phát triển kỹ năng làm việc nhóm Học sinh sinh viên luôn đượckhuyến khích làm các dự án theo nhóm, phát huy tinh thần đoàn kết của các thành viêntrong nhóm Đại đoàn kết dân tộc được đơn giản hóa và đặt nền tảng từ việc giúp đỡnhau trong một tập thể Sự ứng dụng như vậy sẽ giúp cho học sinh sinh viên hìnhthành những nhận thức cơ bản nhất, từ đó phát huy đến mục tiêu to lớn hơn là khối đạiđoàn kết toàn dân tộc.
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc được Nhà nước taphát huy và ứng dụng rất rõ ràng trong chính sách và mục tiêu phát triển lâu dài củanền Giáo dục nước nhà
3.1.3 Xã hội
Để thực hiện thành công, thắng lợi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và mục tiêu
“Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh”, cần tiếp tục phát huy sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí, nghị lực và sức sáng tạo của con người ViệtNam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”,Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định:“Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọngcủa nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch HồChí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” Đồng thời, xác định rõ “Đại đoànkết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắnglợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam”.Ngày nay, sức mạnh của khối đạiđoàn kết toàn dân tộc đang tiếp tục phát huy cao độ, trở thành động lực của công cuộcđổi mới toàn diện đất nước Ðại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là bàihọc lớn của cách mạng Việt Nam Thực hiện lời dạy của Bác Hồ :“ Đoàn kết, đoàn kết,đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công ,, đang là động lực, kết nối sứcmạnh vô địch của toàn dân tộc Việt Nam Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới doÐảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ýnghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới
Nổi bật trong những mục tiêu đã đạt được là công cuộc phát huy sức mạnh củatoàn dân trong công cuộc “ xóa đói giảm nghèo Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bốhoàn thành “Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo,” về đích trước