Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946 Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946 Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946 Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946 Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946 Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946 Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945 – 1946
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
CƠ SỞ II – TP H CHÍ MINH Ồ -*** -
ĐỀCƯƠNG TIỂU LUẬN GIỮA K MÔN L CH SỬ Ỳ Ị
ĐẢNG C NG SẢN VI T MAM Ộ Ệ
GIAI ĐOẠN 1945 – 1946
Thành viên – nhóm 1:
1 Chu Hải Dương - 1911115095
2 Văn Bội Hân - 1911115133
Giảng viên : Thạ ỹ Tô Ng c H c s ọ ằng
TP Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng năm 2021 9
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CHỦ TRƯƠNG NGOẠI GIAO GIAI ĐOẠN 1945-1946 6
1.1 Giai đoạn 2/9/1945 - 6/3/1946 6
1.2 Giai đoạn 6/3/1946 - 19/12/1946 7
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHỦ TRƯƠNG NGOẠI GIAO GIAI ĐOẠN 1945-1946 8 2.1 Phương châm “dĩ bấ t biến ứng vạn biến” và quyết sách “hòa để tiến” 8
2.1.1 Ý nghĩa phương châm 8
2.1.2 Quá trình thực hiện 9
2.1.3 Kết quả 12
2.2 Phương châm “thêm bạ n bớt thù” 12
2.2.1 Ý nghĩa phương châm 12
2.2.2 Quá trình thực hiệ n 13
2.2.3 K ết quả 14
CHƯƠNG 3 LIÊN HỆ TỚI VIỆC VẬ N DỤNG CH ỦTRƯƠNG NGOẠI GIAO GIAI ĐOẠN 1945 – 1946 TRONG XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐ I NGOẠI GIAO HI N Ệ NAY 16
3.1 B ối cảnh hi n nayệ 16
3.1.1 Quốc tế 16
3.1.2 Trong nước 17
3.2 S ự vận dụng chủ trương ngoại giao hòa bình giai đoạn 1945-1946 trong xây dựng đường l i ngo i giao hi n nayố ạ ệ 18
3.2.1 Thắt chặ t m i quan h ngo i giao khu v c và quố ệ ạ ự ốc tế, song phương và đa phương hiệu quả, chủ động và linh hoạt 19
3.2.2 Nguyên tắc đối ngo i là c n ph c v lạ ầ ụ ụ ợi ích củ a qu c gia, dân t c 20 ố ộ 3.2.3 H ọc hỏ i trau d i phát triồ ển đường l i ngo i giao ngày càng hi u qu , v ng ố ạ ệ ả ữ mạnh 21 KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LI U THAM KHỆ ẢO 24
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cho thấy, hoạt động đối ngoại luôn đóng một vai trò quan trọng trong bảo đảm giữ yên bờ cõi, gìn giữ nền độc lập, chủ quyền của đất nước Trong quan hệ chính trị quốc tế, ngoại giao là một vấn đề quan trọng bậc nhất, là
cơ sở phát triển các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, của mỗi quốc gia Chính sách ngoại giao vững mạnh sẽ thúc đẩy được mọi mặt đời sống xã hội phát triển, hợp tác, giao lưu quốc tế ngày càng sâu rộng Ba mục tiêu cơ bản trong chính sách ngoại giao mà mọi quốc gia đều hướng tới, đó là góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia; tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi nhất để phát triển đất nước và nâng cao vị thế, mở rộng ảnh hưởng trên trường quốc tế Việt Nam chúng ta cũng dựa trên những mục tiêu này và đạt được thành tựu nhất định trên chính trường quốc tế
Trong quá trình kháng chiến và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn thể hiện được bản lĩnh, trí tuệ của mình trong việc hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại phù hợp với từng thời kỳ lịch sử Ngoại giao Việt Nam đã đóng vai trò tích cực trong việc kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp cho dân tộc ta giành thắng lợi cuối cùng Ngoại giao đã trở thành một mặt trận quan trọng, một bộ phận không thể tách rời của cách mạng Việt Nam, luôn sát cánh cùng mặt trận quân sự ở tuyến đầu cuộc đấu tranh cách mạng Đặc biệt trong giai đoạn 1945 1946, ngoại giao đã đi trước mở đường, -bảo vệ chính quyền cách mạng trước thế trận “ngàn cân treo sợi tóc”, từng bước giải quyết khó khăn, đưa đất nước thoát khỏi vòng vây của kẻ thù
Với những lý do cấp thiết trên, nhóm chúng em chọn đề tài “Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945-1946” làm tiểu luận, nhằm mục đích làm rõ tính đúng đắn trong đường lối ngoại giao của Đảng, góp phần làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, và thành công bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc Bên cạnh đó, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo phương pháp ngoại giao hòa bình Hồ Chí Minh cả về mặt khoa học và thực tiễn, làm cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam huy động nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với
Trang 4nguồn lực nội sinh của dân tộc tạo ra sức mạnh tổng hợp trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giai đoạn hiện nay
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Những công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng ngoại giao của Đảng ta nói riêng đã được đẩy mạnh và đạt được những thành tựu to lớn từ những năm 90 đến nay Thực tiễn minh chứng cho thấy, các vấn đề ngoại giao là đề tài rất được nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu một cách cẩn thận, nghiêm túc Tiêu biểu như các công trình khoa học sau:
• "Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại thời kỳ 1945 - 1946" của Nguyễn Thị Kim
Dung không chỉ phân tích, luận giải về đường lối đối ngoại của Đảng mà còn làm rõ
tư tưởng, nghệ thuật chỉ đạo, chiến lược, sách lược ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như là “lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù”, “thêm bạn bớt thù”, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” góp phần giữ vững chính quyền cách mạng, xây dựng lực lượng, trong những năm đầu mới thành lập của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
• Luận án “Ngoại giao Hồ Chí Minh trong những năm 1945 – 1946: Tiếp cận chính
trị học quốc tế” của Nguyễn Thanh Tùng đã làm rõ những thành tựu đạt được và những vấn đề của thế giới và Việt Nam ảnh hưởng tới ngoại giao Việt Nam giai đoạn
1945 – 1946, làm rõ tư tưởng và hoạt động ngoại giao Hồ Chí Minh năm 19451946(dưới góc nhìn chính trị học quốc tế hiện đại); đồng thời, khái quát, phân tích những kết quả thực tiễn và kinh nghiệm ngoại giao Hồ Chí Minh trong những năm 1945-1946
-• Luận án “Sách lược hòa hoãn của Đảng để giữ vững chính quyền thời kỳ 1945 –
1946” của Vũ Như Khôi đã trình bày, phân tích đường lối chiến lược ngoại giao đúng đắn, sách lược linh hoạt, nghệ thuật tài giỏi của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh; đồng thời, rút ra những bài học kinh nghiệm của việc thực hiện sách lược ngoại giao, từ đó có thể vận dụng vào thực tiễn Việt Nam hiện nay
• Sách "Ngoại giao Việt Nam 1945-2000" của Nguyễn Đình Bin là công trình nghiên
cứu về ngoại giao khá toàn diện Các tác giả đã phác họa được những nét chính của
Trang 5hoạt động ngoại giao Việt Nam trong 55 năm, từ năm 1945 đến năm 2000, một thời
kỳ đầy những biến động và những thay đổi ở Việt Nam cũng như trên thế giới.Việc thu thập tài liệu và đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài tiểu luận tạo cơ sở để xác định nhiệm vụ nghiên cứu và cung cấp nguồn tư liệu quan trọng để sinh viên chúng em tiếp thu, kế thừa và phát triển, phục vụ cho việc nghiên cứu, hoàn thành tiểu luận của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng vào việc xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đáp ứng được yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dựa trên cơ sở những nội dung cơ bản của đường lối ngoại giao hòa bình của Đảng giai đoạn 1945 – 1946
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
• Luận giải khái niệm cơ bản của đề tài
• Nghiên cứu làm rõ nội dung đường lối ngoại giao hòa bình của Việt Nam
• Phân tích hoàn cảnh ra đời, diễn biến, nguyên nhân và kết quả trong đường lối ngoại giao của Đảng Cộng sản Việt Nam
• Đưa ra nhận xét, bình luận về những cơ hội và thách thức trong việc chỉ đạo thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
• Đề xuất giải pháp tiếp tục vận dụng sáng tạo phương pháp ngoại giao trong xây dựng và thực hiện đường lối chính sách và chỉ đạo hoạt động ngoại giao để giải quyết những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam giai đoạn hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 64.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các chính sách ngoại giao của Đảng và Nhà nước Việt
Nam giai đoạn 1945 – 1946
từ 2/9/1945 đến 6/3/1946 và giai đoạn từ 6/3/1946 đến 19/12/1946 Các nội dung nhằm khái quát đường lối ngoại giao của Việt Nam đặc biệt là đường lối ngoại giao hòa bình trong giai đoạn 1945 1946 cũng như đưa ra những nhận xét, đề xuất ứng -dụng của đường lời ngoại giao này đối với bối cảnh đất nước hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân cũng như những quan điểm về vấn đề này trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt
Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về độc lập dân tộc
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp logic lịch sử, phương pháp thống kê… để giải quyết các vấn đề - đặt ra dựa trên nền tảng là phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Trang 7• Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phân tích những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài từ đó có thể tổng hợp, khái quát những đóng góp cũng như hạn chế của các công trình để làm sáng tỏ nhiệm vụ của mục, tiểu mục và chương trong đề tài Đối với, phương pháp tổng hợp đóng vai trò làm rõ những nhiệm vụ đặt ra đối với từng chương và toàn bộ luận văn Việc kết hợp sử dụng các phương pháp này, có thể khẳng định chủ trương ngoại giao của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1954 không chỉ có ý nghĩa trong giai đoạn lịch sử cụ thể, mà còn có ý nghĩa trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc Việt Nam hiện nay
• Phương pháp logic – lịch sử: là phương pháp nhằm xâu chuỗi, hệ thống hóa, sắp
xếp một cách khoa học và logic chuỗi kiện lịch sử thuộc phạm vi thời gian của
đề tài Từ đó, khái quát được sự hình thành mô hình nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tạo tiền đề cho sự tìm hiểu về đường lối ngoại giao hòa bình của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
• Phương pháp thống kê: là phương pháp được sử dụng để tập hợp, sắp xếp, phân loại các chủ trương trong giai đoạn này theo trình tự thời gian, đồng thời phân tích những chính sách, chủ trương tương ứng với hoàn cảnh lịch sử
Ngoài ra, đề tài cũng được áp dụng phương pháp khảo cứu tài liệu, phương pháp hệ thống hóa, ở mục tổng quan tình hình nghiên cứu, để khái quát và tổng hợp các kết quả đạt được từ các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài: “Chủ trương ngoại giao giai đoạn 1945-1946”
Trang 8CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA CHỦ TRƯƠNG NGOẠI GIAO GIAI ĐOẠN 1945-1946
1.1 Giai đoạn 2/9/1945 - 6/3/1946
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, ngày 2/9/1945, tại vườn hoa Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Nhà nước công nông đầu tiên -
ở Đông Nam Á
Ngay khi vừa giành lại độc lập, đất nước phải đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách Theo thỏa thuận giữa các nước đồng minh thắng trận, quân đội Tưởng Giới Thạch vào đóng tại miền Bắc, quân Anh (theo sau là quân Pháp) vào đóng tại miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật (lấy vĩ tuyến 16 làm ranh giới), nhưng đều nuôi dưỡng ý đồ tiêu diệt lực lượng cách mạng và Đảng Cộng sản Đông Dương, thành lập chính quyền phản động tay sai Trong khi đó, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước rơi vào khủng hoảng trầm trọng: sản xuất trì trệ, ngân khố quốc gia trống rỗng, nạn đói năm
1945 làm gần 2 triệu người chết chưa khắc phục xong, hơn 90% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội còn rất phổ biến, các thế lực phản động ra sức hoạt động chống phá Vận mệnh dân tộc nguy nan như “ngàn cân treo sợi tóc”
Sau khi chiếm đóng ở Nam Bộ, thực dân Pháp tiếp tục có dã tâm tiến quân ra miền Bắc
để xâm lược toàn bộ nước ta Để thực hiện ý đồ trên, ngày 28/2/1946, thực dân Pháp điều đình với Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và kí bản Hiệp ước Hoa Pháp tại Trùng Khánh, - Trung Quốc Theo đó, Trung Hoa Dân Quốc được Pháp trả lại các tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc và được vận chuyển hàng hóa qua cảng Hải Phòng vào Vân Nam Đổi lại, Pháp được đưa quân ra Bắc thay quân Trung Hoa Dân Quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản
Hiệp ước Hoa Pháp đã đặt nhân dân ta trước hai sự lựa chọn: hoặc cầm súng chiến - đấu chống thực dân Pháp, không cho chúng đổ bộ lên miền Bắc; hoặc hòa hoãn, nhân nhượng với Pháp để tránh tình trạng phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù, tranh thủ thời gian chuẩn bị đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp về sau
Trang 9Trước tình hình trên, ngày 3/3/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì đã chọn giải pháp “hòa để tiến”, cùng ra sức thực hiện những
nỗ lực ngoại giao hòa bình thông qua nhiều cuộc gặp gỡ, trao đổi và đàm phán giữa Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Chính phủ Pháp Ngày 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định Sơ bộ với nhiều nội dung có lợi cho Pháp, theo đó thì hai bên ngừng mọi xung đột ở Nam Bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đàm phán chính thức sau này
-Ngày 1/6/1946, Cao ủy Đác-giăng- -liơ cho ra đời Chính phủ lâm thời Cộng hòa Nam
Kỳ tự trị nhằm tách biệt Nam Bộ ra khỏi Việt Nam Không những không chịu đình chỉ chiến sự, Đác-giăng-li-ơ tiếp tục cho đánh chiếm Tây Nguyên và Phủ toàn quyền cũ, hắn coi Hiệp định Sơ bộ như cái cớ để kéo quân ra miền Bắc Việt Nam
Trước tình hình nguy cấp này, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động ký với Pháp bản Tạm ước ngày 14/9/1946 Tạm ước ngày 14/09/1946 là sự nhượng bộ cuối cùng của đất nước ta
để cứu vãn nền hoà bình mỏng manh, nhưng sự nhượng bộ chắc chắn phải có điểm dừng Chúng ta chỉ chấp nhận hòa hoãn, hợp tác để đi lên, phấn đấu theo mục tiêu của cách mạng chứ quyết không đánh đổi hoà bình của đất nước/dân tộc
Nước ta chủ trương hoà bình hoá trong cuộc chiến chống lại quân Tưởng và Pháp Tuy nhiên, chúng ta cũng khước từ kiên quyết trước những yêu sách ngang ngược của chúng Đây là sự hoà hoãn có nguyên tắc, là nước đi đúng đắn, chủ trương sáng suốt của Đảng ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 10CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH CHỦ TRƯƠNG NGOẠI GIAO GIAI ĐOẠN 1945-1946
Cách mạng tháng Tám 1945 là một sự kiện lịch sử vĩ đại, có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng sâu rộng đối với mặt trận đấu tranh của các dân tộc thuộc địa trên thế giới Thời khắc lịch sử quan trọng đánh dấu sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, làm vững mạnh thêm lập luận "nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập" Dân tộc Việt Nam bước vào cuộc hồi sinh vĩ đại, xóa bỏ 80 năm ách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, xây dựng cuộc sống mới trên tư thế và địa vị của người làm chủ
Lúc này, lợi ích tối cao của dân tộc là độc lập, tự do; nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân là bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ chế độ Trên tinh thần các mặt đối nội
và đối ngoại phải cấp bách được gắn kết chặt chẽ, thống nhất, nhằm tạo lập thế và lực cho đất nước, Đảng chủ trương: "Củng cố chính quyền, dùng chính trị, ngoại giao, vũ khí cần thiết, đến dùng quân sự để giữ vững nền độc lập"
Như vậy, nhằm hiện thực hóa chủ trương kết hợp chặt chẽ ba vấn đề tiên quyết là chính trị, quân sự và ngoại giao, biến ngoại giao trở thành cánh tay đắc lực để phát triển hai vấn
đề còn lại, ngày 3/10/1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chính thức ra Thông cáo về chính sách ngoại giao Thông cáo chỉ rõ mục tiêu bất di, bất dịch các chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta là "đưa nước nhà đến sự độc lập hoàn toàn và vĩnh viễn" Để thực hiện mục tiêu ấy, "tất cả chính sách ngoại giao phải có mục đích cốt yếu là giúp cho sự tranh đấu ấy thắng lợi bằng mọi phương pháp êm dịu hay kiên quyết"
Có thể thấy, trong cơn "nước sôi, lửa bỏng", Đảng đã đánh giá đúng điều kiện khách quan, chủ quan để đưa ra phương pháp đấu tranh ngoại giao phù hợp, trong đó, đối thoại, thương lượng hòa bình cần được đặt lên hàng đầu
2.1 Phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” và quyết sách “hòa để tiến”
2.1.1 Ý nghĩa phương châm
Từ những chủ trương đúng đắn, sách lược linh hoạt, mềm dẻo mà Đảng, Chính phủ ta
và Chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện để củng cố, giữ vững nền độc lập dân tộc ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những tháng đầu năm 1946 cho thấy, nội dung cốt lõi
Trang 11trong tư tưởng Hồ Chí Minh về “dĩ bất biến, ứng vạn biến” có nghĩa là, độc lập dân tộc là cái “bất biến” phải giữ vững, không được thay đổi, còn sách lược để giữ vững độc lập dân tộc phải linh hoạt, mềm dẻo là cái “vạn biến” Nói một cách tổng quát, tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết hợp chặt chẽ giữa đường lối cách mạng (cái bất biến) và phương pháp cách mạng (cái vạn biến) Để thực hiện được đường lối cách mạng (cái bất biến), thì phương pháp cách mạng trong từng thời kỳ cụ thể phải mềm dẻo, uyển chuyển, linh hoạt (cái vạn biến) Đồng thời, tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh còn có nghĩa là lấy cái bất biến (cái không thay đổi) ứng phó với cái vạn biến (cái thay đổi); ứng phó với cái vạn biến nhưng không xa rời, vứt bỏ, đánh mất cái bất biến
Trong suốt quá trình cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, độc lập, chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia dân tộc luôn được xem là những vấn đề thiêng liêng, tối thượng của dân tộc ta Những giá trị cốt lõi này được thể hiện một cách xuyên suốt, nhất quán trong đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta và trong tư tưởng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Trong “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước”, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Đảng, Nhà nước ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định với mục tiêu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cả nước (cái bất biến), để sẵn sàng đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù (cái vạn biến)
2.1.2 Quá trình thực hiện
a Giai đoạn 1
Vào giai đoạn đầu, chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra những bất đồng và xung đột quyền lực cục bộ khá gay gắt ngay trong nội bộ tướng lĩnh của Tưởng và các nhóm tay sai, do đó đã có ứng xử khôn khéo trong quan hệ, vừa đấu tranh chính trị, ngoại giao, vừa khai thác mặt hám lợi vật chất của các tướng lĩnh Tưởng để hạn chế sự chống phá của
Trang 12chúng Nhằm hạn chế sự phá hoại của quân Trung Hoa Dân Quốc và tay sai, ta chủ trương
“Hoa - Việt thân thiện, coi Hoa kiều như dân tối huệ quốc” nhân nhượng một số yêu sách
về kinh tế, chính trị của chúng như nhượng 1 ghế Phó Chủ tịch nước, 4 ghế Bộ trưởng và
70 ghế trong Quốc hội cho Việt Quốc, Việt Cách - tay sai của Trung Hoa Dân Quốc không qua bầu cử trong Chính phủ Liên hiệp chính thức Bên cạnh đó, chính quyền cách mạng cung cấp 10 ngàn tấn gạo mỗi tháng cho quân đội Tưởng, thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu
về nhà ở, điều kiện sinh hoạt, tạm thời cho phép lưu hành tiền Quan Kim mất giá trong phạm vi trao đổi hàng hoá giữa nhân dân ta với quân đội Tưởng Hơn nữa, để giảm bớt sức
ép công kích từ phía kẻ thù, Đảng Cộng sản Đông Dương tuyên bố “tự giải tán” (11/1945) nhưng thực chất là rút vào hoạt động bí mật
➢ Kết quả
Các biện pháp hòa hoãn với quân Trung Hoa Dân quốc sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 của Việt Nam đã hạn chế đến mức thấp nhất các hoạt động chống phá của quân Trung Hoa Dân quốc và tay sai, tránh được xung đột vũ trang cùng lúc với nhiều kẻ thù Chúng ta đã làm thất bại âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của chúng, góp phần làm
ổn định mọi mặt ở miền Bắc, tạo điều kiện tập trung lực lượng chống Pháp xâm lược trở
lại ở Nam Bộ
b Giai đoạn 2
Với thiện chí nhân đạo và hòa bình, Việt Nam đã nỗ lực cứu vãn một nền hòa bình mong manh, kiên trì sử dụng biện pháp ngoại giao hòa bình, nhằm giải quyết mọi xung đột giữa Việt Nam với Pháp Vì thế, Việt Nam đã chuyển quan hệ với Pháp từ đối đầu về quân
sự sang đối thoại hòa bình, dùng biện pháp đàm phán, nhân nhượng cho Pháp một số quyền lợi, biểu hiện cụ thể trong bản Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 và Tạm ước 14/9/1946
❖ Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946
Trước tình thế cấp bách Hiệp ước Trùng Khánh được ký kết đặt Việt Nam trước một cuộc chiến tranh trên quy mô cả nước, ngày 3/3/1946, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng do chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì họp, đưa ra quyết định chọn giải pháp “hòa để tiến” Vào ngày 6/3/1946, tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt chính phủ Việt Nam Dân
Trang 13chủ Cộng hòa (VNDCCH) ký với đại diện Chính phủ Pháp là G.Xanhtơni bản Hiệp định
Sơ bộ Theo đó, chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có Chính phủ riêng, quân đội riêng, tài chính riêng nằm trong khối Liên hiệp Pháp Chính phủ Việt Nam đồng ý để cho 15 nghìn quân Pháp ra miền Bắc thay quân Trung Hoa Dân Quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật và rút quân sau 5 năm Hai bên ngừng mọi xung đột ở Nam Bộ và giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 mới chỉ công nhận tính thống nhất (một quốc gia) nhưng chưa công nhận nền độc lập của nước Việt Nam, lại để cho quân Pháp ra miền Bắc vĩ tuyến 16 một cách dễ dàng Đó là một sự nhân nhượng, thể hiện thái độ thiện chí hòa bình của ta để đổi lấy hòa bình
Hiệp định Sơ bộ 6/3/1946 là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên mà Việt Nam DCCH ký với nước ngoài, tạo cơ sở pháp lý rằng Việt Nam là một quốc gia tự do ngang bằng với nước Pháp “Đây là một thắng lợi lớn về chính trị” Ký kết Hiệp định Sơ bộ đã cho thấy tầm nhìn, tư duy chiến lược sắc bén của Đảng về vận dụng điều kiện thực tiễn khách quan
để chuyển hóa tình thế cách mạng Việt Nam đã chủ động quyết định thay thế quân PhápTưởng, vừa tránh phải đối đầu với Pháp vừa mượn tay Pháp đuổi 20 vạn quân Tưởng ra khỏi bờ cõi Đó là đòn tiến công ngoại giao hết sức chủ động, sáng tạo, nhằm phân hóa kẻ thù, thúc đẩy chúng tự loại trừ lẫn nhau, tạo thuận lợi để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài
-❖ Tạm ước 14/9/1946
Ngày 19 tháng 4 đến ngày 11 tháng 5 năm 1946 tại Đà Lạt, Hội nghị Đà Lạt đóng vai trò như cuộc gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp để chuẩn bị cho Hội nghị Fontainebleau (Phông-ten-nơ-blô) chính thức vào tháng 7 năm ấy Sau khi ký hiệp định Sơ bộ, chủ tịch
Hồ Chí Minh muốn có một hội nghị tại Paris để hai nước làm rõ những điểm đã nêu cũng như ấn định tương lai của Việt Nam Một trong những nỗ lực của VNDCCH là chuyến thăm nước Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tư cách thượng khách Lãnh sứ mệnh cùng đoàn đại biểu Việt Nam sang Pháp để mở cuộc đàm phán chính thức Người gặp gỡ đại diện các đảng phái chính trị, các nhà báo và trí thức nổi tiếng, nhờ cậy những mối quan hệ quen biết tác động đến Chính phủ Pháp, hy vọng cứu vãn nền hòa bình mong manh vào 31/5/1946