Bài thu hoạch diễn án hành chính hồ sơ số 12 khiếu kiện quyết định xử phạt hành chính. Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết (chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan). Người bị khởi kiện: Chánh Thanh tra Sở Văn Hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Ông Trần Ngọc Minh)
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
MÔN:
KỸ NĂNG CƠ BẢN CỦA LUẬT SƯ KHI THAM GIA GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ VIỆC HÀNH CHÍNH
HỒ SƠ LS.HC: 12
KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH
DIỄN ÁN LẦN : 02 NGÀY DIỄN ÁN : 15/07/2021
Trang 2MỤC LỤC
I.TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 3 II.Luận cứ bảo vệ người khởi kiện 6
Trang 3I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN
Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết (chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan)
Người bị khởi kiện: Chánh Thanh tra Sở Văn Hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L (Ông Trần Ngọc Minh)
Ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan của bà Nguyễn Thị Tuyết tại địa chỉ: Tổ 9,
phường Đông Lân, thành phố P, tỉnh GL Tại thời điểm kiểm tra phát hiện phòng số
11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có Giấy kết hôn, đang quan hệ vợ chồng; phòng số 9 có ông Phan Văn và bà Nguyễn Thị Thùy không có Giấy kết hôn đang ở chung phòng xem tivi; không vào sổ bà Nguyễn Thị
Lành Sau đó, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC
ngày 23/12/2013, kết luận: Chủ cơ sở nhà trọ Hoàng Lan đã thiếu tinh thần trách
nhiệm để xảy ra hành vi vi phạm như trên
Ngày 10/03/2014 Chánh Thanh tra sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L ban hành quyết định số 23/QĐ-XP xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch Theo đó, xử phạt bà Tuyết 15 triệu đồng về hành vi “thiếu tinh thần trách nhiệm, tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm” căn cứ Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin;
Do không đồng ý với quyết định xử phạt hành chính, bà Tuyết đã có đơn khiếu
nại lần đầu ngày 24/03/2014 đối với Quyết định số 23/QĐ-XP.
Ngày 20/04//2014, Chánh thanh tra sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quyết định số 01/QĐ-TTr về việc giải quyết khiếu nại, giữ nguyên quyết định
số 23/QĐ-XP.
Không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại, ngày 02/05/2014, bà
Nguyễn Thị Tuyết làm đơn khởi kiện yêu cầu TAND tỉnh GL hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo
số 23/Q-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thannh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL.
Ngày 13/5/2014, TAND tỉnh GL ban hành Thông báo thụ lý án hành chính số 03/2014/TB-HC
Ngày 10/9/2014, TAND tỉnh GL ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
Trang 4Đương sự Câu hỏi
Đại diện theo ủy
quyền của người
khởi kiện – ông Mai
Anh Tuấn
Ông Tuấn cho biết, ngày 23/12/2013, tại nhà trọ Hoàng Lan
do bà Tuyết làm chủ đã xảy ra sự việc gì?
Cơ sở kinh doanh của bà Tuyết có quy định rằng khi cho thuê phòng trọ phải kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn của khách không?
Ông cho biết Đoàn kiểm ta của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL đến cơ sở kinh doanh của bà Tuyết vào ngày nào? Biên bản vi phạm hành chính được lập cùng hay không?
Khi đoàn kiểm tra đến nhà trọ của bà Tuyết thì có đọc quyết định kiểm tra trước khi tiến hành kiểm tra không?
Bà Tuyết nhận được Quyết định số 23/QĐ-XP của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch vào ngày nào?
Ông cho biết, khi có quyết định số 23, bà Tuyết có bị thiệt hại gì không? Nếu có thì là những gì?
Khi những người đến thuê phòng trọ, bà Tuyết có biết được mục đích của họ hay không?
Ông cho biết, khi muốn thuê phòng ở nhà trọ của bà Tuyết thì người thuê phải làm các thủ tục gì? Xuất trình loại giấy
tờ nào?
Có phải những người đến thuê phòng đều được đăng ký và ghi sổ đúng không?
Trang 5Đại diện theo ủy
quyền của người bị
kiện – ông Dương
Văn Thành (Phó
Chánh thanh tra Sở
VH, TT và DL tỉnh
GL)
Vị đại diện Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (sau đây gọi là ông Thành) hãy cho biết ngày tiến hành kiểm tra nhà trọ của bà Tuyết là ngày nào?
Tại thời điểm kiểm tra, thì trong nhà trọ có những ai? Và những người này đang làm gì?
Căn cứ vào đâu để Đoàn kiểm tra kết luận những người trong nhà trọ đang mua bán dâm?
Khi lập Biên bản kiểm tra nhà trọ có những ai là người làm chứng?
Tại sao trong biên bản lại không ghi rõ điều khoản xử phạt?
Ông Thành hãy cho biết những căn cứ để xử phạt hành chính đối với bà Tuyết? Đoàn kiểm tra đã áp dụng những văn bản nào?
Các văn bản áp dụng đó có hiệu lực như thế nào?
Ông cho biết từ ngày lập biên bản đến ngày ra quyết định xử phạt là bao nhiêu ngày?
Thời hạn xử phạt vi phạm hành chính đối với bà Tuyết kể từ ngày lập biên bản đối chiếu với Điều 66 Luật XLVPHC là đúng hay sai?
Ông cho biết hành vi của bà Tuyết đang vi phạm trong lĩnh vực nào?
Theo Quyết định số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014, ghi nhận
Trang 6II Luận cứ bảo vệ người khởi kiện
LUẬN CỨ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN
Phiên tòa sơ thẩm - TAND tỉnh GL
Vụ án “Kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính”
giữa Người khởi kiện: bà Nguyễn Thị Tuyết
Người bị kiện: Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch tỉnh GL
Kính thưa Hội đồng xét xử, thưa đại diện Viện kiểm sát cùng toàn thể quý vị đang có mặt tại phiên tòa ngày hôm nay!
Tôi, Luật sư Lê Thị Thư thuộc Công ty Luật TNHH TN – Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khởi kiện là bà Nguyễn
Thị Tuyết trong vụ án “Kiện yêu cầu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số
23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L” được TAND tỉnh GL xét xử ngày hôm nay.
Tôi xin trình bày quan điểm của mình để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết như sau:
Tôi xin khẳng định, bà Nguyễn Thị Tuyết yêu cầu hủy Quyết định xử phạt hành chính số 23/QĐ-XP ngày 10/03/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L là hoàn toàn có cơ sở
Khẳng định hành vi vi phạm không có trên thực tế:
Khi Đoàn kiển tra tiến hành kiểm tra nhà nghỉ của bà Nguyễn Thị Tuyết, đến các phòng số 11, phòng số 9 thì thấy tại phòng số 11 có ông Nguyễn Văn Thường
và bà Nguyễn Thị Lành đang quan hệ tình dục
Tại Điều 3 Pháp lệnh 10/2003/PL-UBTVQH11 về phòng chống mại dâm giải thích rõ ràng như sau:
“Điều 3 Giải thích từ ngữ
1 Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
2 Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.
3 Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm …”
Qua nghiên cứu tài liệu hồ sơ có trong vụ án, tôi nhận thấy rằng không có bất
kỳ chứng cứ nào chứng minh tại thời điểm thực hiện kiểm tra, trong nhà nghỉ Hoàng Lan có diễn ra hành vi mua bán dâm
Trang 7Đồng thời, tại văn bản tường trình ngày 23/12/2013 thì ông Thường khai rằng ông và bà Lành là vợ chồng Do đó không có căn cứ cho rằng đây là hành vi mua bán dâm
Từ đó đi đến khẳng định rằng: không thể kết luận bà Tuyết có hành vi thiếu trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng để hoạt động mua dâm, bán dâm như Đoàn kiểm tra đã nêu trong biên bản vi phạm và quyết định xử phạt
Về trình tự thủ tục:
- Thứ nhất, Biên bản 1/BB-VPHC ngày 23/12/2013 ghi không đầy đủ thông tin Biên bản 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 ghi không đầy đủ thông tin: Không ghi thông tin của người chứng kiến, Thông tin về người xử phạt không đầy đủ (không
có giấy CMND, thông có thông tin giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh), Không ghi cụ thể căn cứ xử phạt
Thứ hai, Thời gian lập biên bản lúc 21h là không đúng quy định Theo quy
định thời gian ban đêm đều được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng hôm sau
- Thứ ba, Vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt Theo Đ66 Luật xử lý vi phạm hành chính Ngày 23/12/2013, Đội điều tra lập biên bản vi phạm nhưng đến ngày 10/3/2014 mới ra quyết định xử phạt Theo quy định thì trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản phải ra quyết định xử phạt nhưng trong trường hợp này đã quá thời hạn Trường hợp của bà Tuyết không thuộc trường hợp có tình tiết phức tạp hay cần bổ sung chứng cứ hay thuộc trường hợp phải giải trình; Nếu có thuộc trường hợp này thì thời hạn tối đa ra quyết định xử phạt cũng chỉ là 60 ngày Căn cứ theo Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì:
“1 Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt hành chính trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày,
kể từ ngày lập biên bản.
Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn
Trang 8Trong Biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa, thể thao
và du lịch số 11/BB-VPHC đã không ghi rõ điều khoản áp dụng để xử phạt Đồng thời phần người làm chứng (người chứng kiến) không ghi nhưng đến cuối văn bản vẫn có chữ ký của những người làm chứng Đối với phần thông tin của người bị kiểm tra là bà Nguyễn Thị Tuyết cũng không ghi cụ thể Do đó không thể dùng biên bản này làm căn cứ để ra quyết định xử phạt hành chính số 23 đối với bà Tuyết Tại khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định cụ thể như sau:
“Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người
vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình ”.
Như vậy, tôi khẳng định việc lập biên bản của đoàn kiểm tra đã vi phạm
nghiêm trọng về thể thức và nội dung được quy định tại Luật xử lý vi phạm hành
chính 2012 Vì thế, không thể lấy một văn bản vi phạm để làm căn cứ ra quyết định
xử phạt hành chính đối với bà Tuyết
2 Áp dụng sai căn cứ xử phạt sai
Thứ nhất, đoàn kiểm tra đã lập biên bản số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013
Biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch Trong biên bản này đã căn cứ vào Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hóa – thông tin Đây là một văn bản chưa có hiệu lực Cụ thể, Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013
có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 Do vậy việc Đoàn kiểm tra áp dụng căn cứ pháp luật này là hoàn toàn sai Một văn bản quy phạm pháp luật không thể được áp dụng khi chưa có hiệu lực pháp luật
Thứ hai, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP đã áp dụng
khoản 1 Điều 25 Nghi định số 167/2013/NĐ-CP (sau đây gọi là Nghị định 167) ngày 12/11/2013 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa – thông tin Tuy nhiên, tại thời điểm xảy ra sự việc, tức ngày lập Biên bản 11/BB-VPHC – ngày 23/12/2013, Nghị định 167 chưa có hiệu lực pháp luật Nghị định 167 chỉ có hiệu lực thi hành kê từ ngày 28/12/2013
Cụ thể, Điều 25 Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm:
Trang 9“1 Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đứng đầu cơ sở kinh doanh dịch vụ do thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm ở cơ sở do mình quản lý.”
Tại khoản 1 Điều 73 Nghị định 167 về điều khoản chuyển tiếp quy định:
“1 Đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm.”
Trong trường hợp này, áp dụng quy định tại Nghị định 167 là không có lợi cho
bà Tuyết so với việc áp dụng quy định tại Nghị định 73/2010/NĐ-CP hoặc nghị định 178/2004/NĐ-CP (bị thay thế bởi Nghị định 167) Cụ thể là không có lợi về mức tiền phạt đối với các hành vi tạo điều kiện hoặc thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy
ra hoạt động mua bán dâm tại cơ sở do mình làm chủ
Như vậy, việc áp dụng Nghị định 167 để xử phạt bà Nguyễn Thị Tuyết, dẫn đến làm tăng trách nhiệm hành chính và không có lợi cho người vi phạm Điều này
là trái với nguyên tắc hồi tố nói chung và quy định về chuyển tiếp tại Nghị định 167 nói riêng
=> Như vậy, có thể kết luận việc ra quyết định xử phạt số 23/QĐ-XPHC về mặt áp dụng pháp luật là hoàn toàn sai
Theo đó, tôi đề nghị HĐXX:
Hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014 củaChánh thannh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
Trên đây là toàn bộ quan điểm pháp lý của tôi để bảo vệ quyền và lợi ích hợp cho thân chủ của tôi là bà Nguyễn Thị Tuyết
Xin cảm ơn HĐXX, cảm ơn đại diện VKS và quý vị đã lắng nghe!
Hà Nội, ngày 15 tháng 7 năm 2021
LUẬT SƯ BẢO VỆ
(đã ký)
Lê Thị Thư