Báo cáo đã đánh giá và xây dựng được 01 mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để quản lý chất lượng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng quy chuẩn VietGAHP phù hợp với HTX chăn nuôi lợn tại tỉnh Hà Tĩnh.
Trang 1Chuyên đề 3.2: Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật quản lý chất lượng và an
toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng quy chuẩn VietGAHP phù hợp với các HTX chăn nuôi.
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Mở Đầu
Hiện nay vấn đề chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) đangđược đặc biệt quan tâm bởi thực phẩm ngày càng trở nên mất an toàn cho người
sử dụng Thực phẩm bị nhiễm hóa chất, chất tồn dư cũng như chứa đựng các visinh vật (VSV) gây ngộ độc đang đe dọa sức khỏe của con người Trong đó, thịtlợn là một loại thực phẩm được sử dụng phổ biến hiện nay nhờ có thành phầndinh dưỡng cao, dễ sử dụng trong chế biến các món ăn hằng ngày Tuy nhiên, thực trạng thịt lợn mất an toàn đang trở thành vấn đề đáng lo ngại do việc sử dụng một
số loại kháng sinh cấm để “thổi” thịt siêu nạc, tình trạng sử dụng thức ăn tăng trọng bổ sung các yếu tố vi lượng đôi khi quá mức gây tồn dư cao, việc sử dụng thuốc thú y không đúng cách để trị bệnh cho lợn đã để lại dư lượng quá mức cho phép ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng Các loại thức ăn công nghiệp không được kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn, nguồn nước chăn nuôi không đủ tiêu chuẩn có thể bị nhiễm bẩn bởi môi trường như một số kim loại nặng: Chì, Asen… khi lợn ăn vào sẽ gây tích lũy trong các mô cơ làm giảm chất lượng thịt và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Không những vậy, quá trình giết mổ không đảm bảo vệ sinh, việc vận chuyển, bày bán thịt lợn không đúng quy định làm tăng khả năng lây nhiễm VSV gây bệnh vào thịt…
Trước thực tế đó, đòi hỏi phải có những thay đổi về hình thức, quy trìnhchăn nuôi, nhằm ngăn ngừa mầm bệnh lưu tồn, lây lan trong môi trường, nâng caonăng suất, chất lượng sản phẩm và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Chăn nuôi theo quy trình thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP) sẽ đáp ứngđược những yêu cầu đó Chăn nuôi theo quy chuẩn VietGAHP hướng đến tiêu chí
Trang 2đầu tiên là tạo ra sản phẩm an toàn và chất lượng Sản phẩm theo quy chuẩnVietGAHP dễ dàng được lưu thông trên thị trường khi có chứng nhận làm giấythông hành tiêu thụ tại các siêu thị, thậm chí xuất khẩu ra nước ngoài, vào các thịtrường khó tính vì đủ điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm Bản thân người tiêudùng trong nước cũng sẽ được sử dụng những sản phẩm an toàn, không còn phải longại trước một loạt thông tin trứng gà giả, gà lậu, lợn sử dụng chất tạo nạc… docác trang trại chăn nuôi tập trung và được giám sát chặt chẽ Ngoài ra, chăn nuôitheo quy chuẩn VietGAP sẽ giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Trong tiến trình thực hiện tái có cấu ngành chăn nuôi hiện nay, vai trò củacác HTX trở nên quan trọng, nhất là trong việc tập hợp, liên kết nông dân cùng sảnxuất theo chuỗi giá trị Tuy nhiên mô hình HTX chăn nuôi ở Việt Nam vẫn đanghình thành tự phát và khi đạt đến quy mô công nghiệp thì hầu hết đều gặp khó khăntrong quản lý và phát triển sản xuất Hầu hết cơ sở vật chất, trình độ quản lý củaHTX chăn nuôi còn thiếu và lạc hậu, nên rất khó để đáp ứng được các yêu cầu củaquy chuẩn VietGAHP
Vì vậy, để thúc đẩy, nhân rộng, hỗ trợ HTX chăn nuôi lợn theo hướng antoàn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm Thì cần thiết phải tìm ra giải pháp hướngdẫn, quy trình quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhân rộng các môhình HTX chăn nuôi an toàn theo quy chuẩn VietGAHP Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu chuyên đề: “Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật quản lý chất lượng
và an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng quy chuẩn VietGAHP phù hợp với các HTX chăn nuôi”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứngquy chuẩn VietGAHP phù hợp với các HTX chăn nuôi
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 31.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Tình hình quản lý, kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường trong chăn nuôi lợntại các HTX chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Hà Tĩnh và HTX chăn nuôi lợn Minh Lộc, xã Cẩm Minh, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
Thời gian: Từ 01/05/2017 – 01/06/2017
Trang 4II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, CÁCH TIẾP CẬN 2.1 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Thu thập thông tin về tình hình chăn nuôi, số lượng vật nuôi, môi trườngchất thải, từ các cơ quan như Liên minh HTX tỉnh Hà Tĩnh, Phòng tài nguyên vàmôi trường các huyện, tỉnh
- Thu thập các số liệu có sẵn từ sách báo, tạp chí khoa học, các đề tài nghiêncứu có liên quan
2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Phương pháp điều tra phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra HTX để thu thập các thông tin liên quan đến tìnhhình chăn nuôi, môi trường chất thải, phương pháp quản lý và xử lý chất thải chănnuôi tại các HTX
Tổng số lượng phiếu điều tra là 20 phiếu
Đối tượng phỏng vấn được lựa chọn là các cán bộ HTX chăn nuôi
Phương pháp khảo sát thực địa
Khảo sát thực địa các HTX chăn nuôi để tìm hiểu về môi trường, điều kiệnchuồng tại, tình hình ô nhiễm trong chăn nuôi Quan sát thực tế hoạt động chănnuôi, hiện trạng phát thải và phương pháp xử lý chất thải,
2.3 Tổng hợp và xử lý thông tin
Các thông tin sau khi thu thập, được xử lý bằng phần mềm Excel và tổnghợp bằng phương pháp phân tổ thống kê
Trang 5III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong chăn nuôi tại Hà Tĩnh
Thời gian qua, tỉnh Hà Tĩnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong pháttriển kinh tế - xã hội Sản xuất nông nghiệp đã có những bước tiến đáng kể trênnhiều mặt Năng suất, chất lượng các sản phẩm chăn nuôi, trồng trọt ngày càngtăng; một số vùng chăn nuôi, trồng trọt tập trung, sản xuất hàng hóa quy mô lớn đãđược hình thành và phát triển; hàng hóa sản xuất và cung ứng trên địa bàn ngàycàng phong phú, đa dạng đáp ứng được các nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của ngườidân Tuy vậy, công tác quản lý chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn nhiềubất cập, nhất là việc sử dụng những hoá chất cấm dùng trong nuôi trồng, chế biếnlương thực, thực phẩm vẫn diễn ra khá phổ biến; một số nhà hàng, khách sạn, bếp ăntập thể và nhiều quán phục vụ ăn, uống chưa đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩmnhưng chưa được xử lý triệt để; một số hàng hóa kinh doanh trên địa bàn không đảmbảo chất lượng, không rõ nguồn gốc; giá cả hàng hóa chưa được quan tâm quản lýđúng mức gây ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe của người tiêu dùng
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém này là do: Nhiều tổ chức, cá nhânkinh doanh chỉ chú trọng đến lợi nhuận chứ chưa quan tâm đến sức khỏe, lợi ích củangười tiêu dùng; mạng lưới sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn nhỏ lẻ, hoạt động phântán, rời rạc làm ảnh hưởng đến giá trị gia tăng sản phẩm cũng như công tác quản lýchất lượng, an toàn thực phẩm theo chuỗi gặp rất nhiều khó khăn Công tác quản
lý, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước trên các khâu của chuỗisản xuất, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm còn nhiều hạn chế, bất cập Phương tiện kỹthuật phục vụ công tác phân tích, kiểm nghiệm hàng hóa phục vụ cho công táckiểm tra chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm còn thiếu, lạc hậu
Mặt khác, kinh nghiệm của các nước cho thấy, việc xây dựng và phát triển các
mô hình chuỗi cung cấp lương thực, thực phẩm an toàn là giải pháp yêu cầu tất cả
Trang 6các nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm tuân thủ đầy đủ các yêu cầu đảm bảo antoàn thực phẩm, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng, đồng thời nâng cao vai tròtrách nhiệm của người sản xuất kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng Việctriển khai mô hình kiểm soát theo chuỗi là chia sẻ rủi ro và trách nhiệm cho ngườidân, doanh nghiệp trong sản xuất thực phẩm, cùng nhau thúc đẩy sản xuất, nângcao giá trị sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm Xây dựng và phát triển chuỗi sản xuất,bảo quản, tiêu thụ đảm bảo chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm với lộ trình phùhợp trên một hệ thống quản lý đủ mạnh, có hiệu lực sẽ tạo ra tác động rõ rệt vàtoàn diện tới việc cải thiện an toàn thực phẩm, góp phần bảo vệ sức khỏe của chínhmình và cho cả cộng đồng
Hà Tĩnh có tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội để pháttriển nông nghiệp: Năm 2012, diện tích đất nông nghiệp 461.883 ha, chiếm 77%;
cư dân nông thôn chiếm 85%; lao động trong nông nghiệp chiếm 62%; giá trị sảnxuất nông nghiệp theo giá hiện hành đạt 10.119 tỷ đồng, GDP lĩnh vực nông, lâm,ngư nghiệp chiếm 32,2%; tỷ trọng ngành chăn nuôi chiếm 39,96% trong giá trị sảnxuất nông nghiệp Những năm qua, Hà Tĩnh đã có nhiều chuyển biến trong việcquy hoạch sản xuất nông nghiệp, cơ cấu lại các ngành sản xuất nông, lâm, ngư,diêm nghiệp hợp lý; tạo ra các sản phẩm chủ lực theo hướng phát huy lợi thế củatừng địa phương trong tỉnh
3.1.1 Thực trạng phát triển sản xuất chăn nuôi
A, Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm
Ngành chăn nuôi của Hà Tĩnh chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nôngnghiệp Những năm gần đây, nhờ sử dụng các giống vật nuôi có năng suất và chấtlượng cao, áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong chăn nuôi nên đã rút ngắnđược chu kỳ sản xuất, tăng số lượng và sản lượng thịt hơi xuất chuồng Giá trị sảnxuất chăn nuôi trong giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng từ 36,6% năm 2008 lên42,7% năm 2013, tạo bước chuyển dịch trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông
Trang 7thôn Tổng đàn vật nuôi khá lớn, năm 2013: Đàn trâu, bò: 241.800 con; đàn lợn400.000 con; đàn gia cầm 6,1 triệu con; đàn hươu 34.200 con; sản lượng thịt hơixuất chuồng đạt 78.391 tấn Chất lượng đàn tiếp tục được nâng cao; tỷ lệ bò lai zêbuđạt 35% tổng đàn, tỷ lệ nái ngoại đạt 16% tổng đàn nái.
Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đang từng bước phát triển theo hướng hànghóa, trang trại tập trung và hình thành một số mô hình chăn nuôi liên kết với cácdoanh nghiệp phát triển bền vững; hiện nay toàn tỉnh có 139 cơ sở chăn nuôi lợnliên kết với doanh nghiệp, quy mô từ 300-2500 con/lứa (trong đó: 117 cơ sở liênkết với Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại Hà Tĩnh, Công ty cổ phần chănnuôi C.P Việt Nam) Ngoài ra, còn có các cơ sở khác tổ chức sản xuất độc lập theo
mô hình trang trại có hướng sản xuất hàng hóa, tập trung Đến tháng 10/2013, toàntỉnh có 129 trang trại đạt tiêu chí Thông tư 27/2011/TT-BNNPTNT, trong đó có 84trang trại chăn nuôi lợn, 10 trang trại chăn nuôi gia cầm, 35 trang trại chăn nuôitổng hợp, chiếm 15% sản lượng chăn nuôi; 4.930 gia trại chiếm 20% sản lượngchăn nuôi; chăn nuôi nhỏ: 205 ngàn hộ, chiếm 65% sản lượng chăn nuôi
Bảng 3.1 Tổng hợp số lượng, sản lượng đàn lợn giai đoạn 2008 – 2012
(Ghi chú: Sản lượng (tấn) là sản lượng thịt gia súc/gia cầm xuất bán trong cả năm; Tổng đàn
(con) là số lượng gia súc/gia cầm có tại thời điểm điều tra trong năm)
Nguồn: Chi cục Thú y Hà Tĩnh
Trang 8Tuy vậy, sản xuất lương thực, thực phẩm của Hà Tĩnh vẫn còn nhỏ lẻ, phântán; quy hoạch chưa đồng bộ, thiếu chiều sâu, các hình thức sản xuất theo hướnghàng hóa chưa nhiều, các mô hình sản xuất thực phẩm áp dụng các tiêu chuẩn vềGAP, VietGAP, HACCP còn ít, công nghệ chế biến còn lạc hậu, năng suất chấtlượng thấp Vẫn còn tồn tại hiện tượng mất cân đối trong cơ cấu sản xuất, chế biếnlương thực, thực phẩm, một số loại thực phẩm người dân sản xuất ra trong tỉnh khótiêu thụ nhưng một số loại lại phải nhập khẩu từ tỉnh khác nhằm đáp ứng nhu cầungười dân
b Chế biến, bảo quản lương thực, thực phẩm
Cùng với sự phát triển sản xuất nông nghiệp, hoạt động chế biến, bảo quảnlương thực, thực phẩm đã có bước chuyển biến đáng kể Trên địa bàn tỉnh hiện có 4đơn vị sản xuất, kinh doanh giống lúa; 1.060 cơ sở chế biến xay xát lúa, gạo ngô, tậptrung nhiều ở các huyện Đức Thọ, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên; 213 cơ sở chếbiến bún, bánh tráng, miến và 131 cơ sở kinh doanh lạc, đậu; 06 cơ sở chế biến thủysản áp dụng HACCP, GMP, SSOP; 198 cơ sở chế biến thủy sản truyền thống, 90 cơ
sở tham gia bảo quản, kinh doanh thủy sản, sử dụng các kho lạnh, tủ đông; 41 cơ sởchế biến giò, chả
Toàn tỉnh hiện có 233 cơ sở và điểm giết mổ gia súc, gia cầm, trong đó có 6 cơ
sở giết mổ tập trung (thành phố Hà Tĩnh 03 cơ sở, thị xã Hồng Lĩnh 01 cơ sở, huyệnThạch Hà 01 cơ sở và huyện Cẩm Xuyên 01 cơ sở), 227 điểm giết mổ tập trung và
1004 hộ giết mổ trong khu dân cư Tổng sản lượng thịt gia súc, gia cầm được thông
qua giết mổ tập trung và nhỏ lẻ khoảng 32,2 nghìn tấn, chiếm 49% tổng sản lượng thịtcủa tỉnh Dự án xây dựng Nhà máy chế biến súc sản của Tổng công ty Khoáng sản
và Thương mại Hà Tĩnh đã khởi công giai đoạn 1 với công suất giết mổ là 500 conlợn, chế biến 2 tấn thịt/ngày khi Nhà máy hoàn thành, đi vào hoạt động sẽ gópphần cung ứng sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn VSATTP cho người tiêu dùng, quản
Trang 9lý tốt nguy cơ lây lan dịch bệnh Đồng thời là động lực cơ bản bền vững giải quyếtđầu ra phát triển chăn nuôi gia súc gia cầm theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo việclàm ổn định cho hơn 100 lao động địa phương.
Nhìn chung, hoạt động chế biến lương thực, thực phẩm thời gian qua vẫncòn nhiều hạn chế, chủ yếu là giết mổ thủ công, phân tán, quy mô nhỏ, tự cung tựcấp, vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được đảm bảo theo quy định
c Phân phối, tiêu thụ lương thực, thực phẩm trên địa bàn
Những năm gần đây, mạng lưới bán buôn, bán lẻ phát triển khá mạnh ở địabàn nông thôn Sản phẩm, hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng đáp ứng ngàycàng cao nhu cầu tiêu dùng của người dân; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trườngđược quan tâm thực hiện nên chất lượng, giá cả hàng hóa đã được cải thiện đáng
kể Theo số liệu điều tra bình quân mỗi xã có 3-5 cơ sở thu mua sản phẩm chonông dân, tiêu thụ một khối lượng lớn sản phẩm do nông dân làm ra như: Lúa, gạo,ngô, sắn, thủy hải sản với nhiều hình thức bao tiêu khá linh hoạt Giá trị bán lẻ sảnphẩm lương thực, thực phẩm trên địa bàn không ngừng tăng, năm 2012 đạt 6.567
tỷ đồng, chiếm 33,9% tổng giá trị hàng hóa bán lẻ trên địa bàn, tăng 117% so vớinăm 2008 Tuy vậy, giá trị thực phẩm và đồ uống được chế biến năm 2012 chỉ đạt1.108 tỷ đồng
Hệ thống các cửa hàng bán buôn bán lẻ phát triển khá nhanh Theo số liệu điềutra, hiện nay toàn tỉnh có 173 chợ; 18.213 cửa hàng bán lẻ Bình quân mỗi xã có 70 -
80 cửa hàng bán lẻ Đã xuất hiện những mô hình liên kết bao tiêu sản phẩm có hiệuquả như mô hình nuôi lợn siêu nạc cho nông dân của Tổng công ty Khoáng sản vàThương mại; bao tiêu muối nguyên liệu cho diêm dân của Công ty CP Muối vàThương mại Hà Tĩnh, mô hình sản xuất lúa chất lượng cao vv
Công tác kiểm soát nguồn gốc, chất lượng sản phẩm gặp rất nhiều khó khăn
do sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng, chủng loại hàng hóa trên thị trường
3.1.2 Công tác quản lý sản xuất, đảm bảo VSATTP trong chăn nuôi
Trang 103.1.2.1 Công tác chỉ đạo và tổ chức quản lý, kiểm tra, kiểm soát sản xuất, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm.
Nhằm phát triển sản xuất, bảo quản, tiêu thụ theo chuỗi đảm bảo chất lượng,
an toàn, tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và cơ chế chính sách cụ thể đểphát triển sản xuất và hình thành các mô hình sản xuất, kinh doanh đảm bảo antoàn vệ sinh thực phẩm, cụ thể như: Nghị quyết số 56/2013/NQ-HĐND ngày13/7/2013 về Đề án bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm chủ yếu của tỉnh HàTĩnh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” và Nghị quyết số 53/2013/NQ-HĐND ngày 13/7/2013 về phát triển thương mại nông thôn gắn với xây dựng nôngthôn mới tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020 của HĐND tỉnh; Quyết định 03/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010 của về quy định về kiểm dịch, kiểm soát giết mổ động vật,sản phẩm động vật, kiểm tra vệ sinh thú y; các quy hoạch sản xuất, chăn nuôi; Quyếtđịnh ban hành chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhiều
cơ chế, chính sách đã phát huy hiệu quả, nhất là các chính sách trong xây dựngnông thôn mới
Công tác tổ chức quản lý, kiểm tra, kiểm soát một số khâu trong chuỗi sảnxuất, bảo quản và tiêu thụ lương thực, thực phẩm đã được quan tâm, tăng cường vàhoạt động có hiệu quả hơn, trong đó các cơ quan chịu trách nhiệm trực tiếp gồm:
Sở Công Thương, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Sở Khoa học
và Công nghệ và chính quyền cấp huyện, xã
3.1.2.2 Công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh hàng hóa lương thực, thực phẩm.
Trên địa bàn toàn tỉnh hiện có 11.618 cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm,trong đó: 576 cơ sở sản xuất, 7125 cơ sở kinh doanh và 3917 cơ sở dịch vụ ănuống Ngoài ra, còn có nhiều cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống theo thời vụ tạicác khu du lịch, lễ hội và bán hàng rong ), phần lớn các cơ sở có quy mô nhỏ lẻ,manh mún mang tính hộ gia đình là chủ yếu, sản xuất kinh doanh mang tính thời
Trang 11vụ nên việc kiểm soát các điều kiện về vệ sinh cơ sở, vệ sinh trang thiết bị bảo đảmATTP gặp nhiều khó khăn Qua điều tra, có khoảng 60-70% người dân đã có nhậnthức đúng về an toàn thực phẩm, tuy nhiên tỷ lệ có hành vi đúng về an toàn thựcphẩm chỉ đạt khoản 50-56%.
Thực phẩm tiêu thụ trên địa bàn tuy còn có một số vi phạm nhưng nhìn chungchất lượng và vệ sinh an toàn đã có bước chuyển biến đáng kể Kết quả thanh kiểmtra hàng năm cho thấy có 60-70 % sơ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm vàdịch vụ ăn uống có địa chỉ ổn định và đảm bảo vệ sinh Ngộ độc thực phẩm giảm,không có các vụ ngộ độc lớn xảy ra trên địa bàn, tỷ lệ mắc ngộ độc thực phẩmtrong các vụ ghi nhận năm 2012 là 3,69/100.000 dân, không có tử vong
Giai đoạn 2010-2012, lực lượng quản lý thị trường tiến hành kiểm tra, xử lýbình quân trên 1350 vụ vi phạm; xử phạt hành chính trên 1,5 tỷ đồng và giá trịhàng hóa tịch thu, tiêu hủy gần 1 tỷ đồng mỗi năm Trong đó, nhiều vụ vi phạm vềchất lượng, nguồn gốc xuất xứ và vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là các vụ viphạm chất cấm trong giò, chả; bia, rượu và bánh kẹo quá hạn sử dụng, mực khôgiả
a) Công tác quản lý ATTP trong sản xuất, kinh doanh rau, củ quả
Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm và lồngghép các chương trình giám sát nông sản sau thu hoạch, hàng năm đã tiến hành kiểmtra, giám sát ATTP quá trình sản xuất ban đầu tại một số vùng sản xuất nông sảnthực phẩm, lấy gần 200 mẫu rau, củ, quả để kiểm tra các chỉ tiêu về ATTP theo quyđịnh Kết quả phân tích các mẫu cơ bản đã đáp ứng các quy định về điều kiện antoàn thực phẩm, tuy nhiên đã phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật tại 08 mẫunông sản các loại, nhưng mức phát hiện vẫn nằm trong khoảng cho phép Mặt khác
do nguồn rau, quả cung ứng vẫn chủ yếu từ bên ngoài vào, trong khi chưa có chợđầu mối riêng cho mặt hàng rau, củ, quả nên công tác kiểm tra, giám sát ATTP đốivới nhóm thực phẩm này gần như vẫn còn bỏ sót
Trang 12b) Công tác quản lý ATTP trong sản xuất kinh doanh thủy sản thực phẩm
- Đối với nhóm sản phẩm có lợi thế về xuất khẩu (tôm, mực) đã tiển khai tốtcác chương trình giám sát ATTP theo chuỗi sản phẩm, như: Chương trình kiểm soát
dư lượng trong tôm nuôi: Mỗi năm đã tổ chức giám sát và thu 30 mẫu tôm thươngphẩm theo suốt vụ sản xuất tại các vùng nuôi tôm tập trung để kiểm tra dư lượngchất cấm; Chương trình kiểm soát VSATTP trong thu hoạch nhuyễn thể hai mảnh
vỏ, giám sát 20 đợt, lấy 24 mẫu nghêu và 48 mẫu nước để kiểm tra tảo độc, độc tốsinh học đồng thời cấp Giấy chứng nhận xuất xứ cho gần 1.000 tấn nghêu thu hoạchtại Lộc Hà Giám sát VSATTP thủy sản sau thu hoạch (lấy 20 mẫu thủy sản sau thuhoạch kiểm tra các chỉ tiêu ATTP theo quy định); Chương trình giám sát thủy sảnsau thu hoạch…
- Đối với nhóm sản phẩm tiêu thụ nội địa: Chủ yếu mới lồng ghép cácChương trình để tổ chức giám sát điều kiện ATTP tại các cơ sở thu mua, bảo quản,chế biến thủy sản, tuy nhiên tỷ lệ sản phẩm được giám sát so với sản lượng tiêu thụtrên thị trường là rất thấp, một số nhóm sản phẩm gần như chưa giám sát được như:
Cá nuôi, thủy sản khô, nước mắm, sản phẩm dạng mắm…
c) Công tác quản lý, giám sát giết mổ, kinh doanh gia súc, gia cầm
Hàng năm đã kiểm tra, kiểm dịch cho hành chục ngàn con gia súc, gia cầm bảođảm an toàn dịch bệnh trong giết mổ cũng như chăn nuôi, khống chế có hiệu quả dịchbệnh gia súc, gia cầm Trung bình hàng năm số gia súc, gia cầm giết mổ để kinhdoanh trên địa bàn toàn tỉnh đạt gần 50 ngàn con trâu bò, 300 ngàn con lợn nhưngmới chỉ kiểm soát được chưa đến 30% số lượng gia súc giết mổ (trung bình trên 13ngàn con trâu bò và trên 90 ngàn con lợn/năm) Đối với giết mổ gia cầm hầu nhưchưa được kiểm soát
Thời gian qua, đã tiến hành xét nghiệm giám sát ô nhiễm thực phẩm: 298 mẫuthịt và sản phẩm từ thịt gia súc gia cầm, kết quả:
+ 140 mẫu xét nghiệm kháng sinh và phoóc môn: kết quả âm tính (không phát
Trang 13hiện có chất kháng sinh và phoóc môn).
+ 70/208 mẫu có nhiễm Ecoli chiếm tỷ lệ: 33,6%;
+ 12/208 mẫu nhiễm Coliform quá giới hạn chiếm tỷ lệ: 5,7%;
+ 90/143 mẫu có chứa phụ gia cấm (hàn the) chiếm tỷ lệ: 62,9%
Nhìn chung, các hoạt động giết mổ tại hầu hết các địa phương trong tỉnh cònthiếu sự quản lý; điều kiện vệ sinh thú y đối với cơ sở, các điểm giết mổ tập trung
và giết mổ nhỏ lẻ tại các hộ gia đình chưa đảm bảo đúng quy định Chưa kiểm soátđược hết nguồn gốc gia súc đưa vào giết mổ; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhàxưởng, dụng cụ phục vụ giết mổ không đảm bảo hoặc đã bị hư hỏng, xuống cấp;nước sử dụng cho giết mổ và hệ thống xử lý chất thải chưa đảm bảo theo quy định
về điều kiện vệ sinh thú y; môi trường ô nhiễm Phần lớn các điểm không được đầu
tư xây dựng đúng quy cách, địa điểm nằm trong khu dân cư gây ồn ào, diện tíchchật hẹp không đủ không gian cho quá trình giết mổ, nguồn nước để sử dụng chogiết mổ thiếu hoặc không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, chưa có bể Biogas hoặc hệthống xử lý chất thải; giết mổ bằng phương pháp thủ công, được thực hiện trên nền
xi măng, sàn gạch, Việc kiểm tra, kiểm soát còn sơ sài, chưa đúng quy trình nênkhông đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng và gây ô nhiễm môitrường
3.2 Hiện trạng quản lý chất lượng và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại HTX Minh Lộc
Năm 2014 HTX Minh Lộc chăn nuôi tổng hợp và xây dựng thực hiện theođúng chủ trương của tĩnh Hà Tĩnh và huyện Cẩm Xuyên Là đầu tư xây dựng trangtrại lợn nái 100% máu ngoại cấp bố mẹ Được UBND Tỉnh cấp giấy chứng nhậnđầu tư số 28121000174 ngày 18 tháng 7 năm 2012
HTX được xây dựng tại vùng Đập Cộc, thôn 7, xã Cẩm Minh, huyện CẩmXuyên Nằm trong vùng quy hoạch chăn nuôi lợn được UBND tỉnh phê duyệt tạiquyết định 2696/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 2012