Bài tiểu luận trình bày những vấn đề lý luận chung về hệ thống chính trị theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lenin cũng như thực tiễn quá trình đổi mới hệ thống chính trị tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 2
1 Lý luận chung về hệ thống chính trị 2
1.1 Khái niệm hệ thống chính trị 2
1.2 Cấu trúc chung của một hệ thống chính trị 3
2 Hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay 4
2.2 Mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị 5
2.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam 6
II VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ……….7
1 Cơ sở đổi mới hệ thống chính trị 7
2 Những thành tựu đạt được 9
3 Những bất cập còn tồn tại 11
4 Các giải pháp kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị phù hợp với tình hình mới 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2MỞ ĐẦU
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, cùng với đổi mới về kinh tế - xã hội, đổi mới chính trị, trong đó vấn đề đổi mới hệ thống chính trị đang đặt ra rất cấp bách Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là một điều kiện hàng đầu bảo đảm cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Để làm rõ hơn những lý luận về hệ thống chính trị cũng như thực tiễn quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước
ta, em xin lựa chọn đề tài số 5: “Hệ thống chính trị và vấn đề đổi mới hệ thống
chính trị ở Việt Nam hiện nay.”
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1 Lý luận chung về hệ thống chính trị
1.1 Khái niệm hệ thống chính trị
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về hệ thống chính trị Theo nghĩa rộng, hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống, bao gồm các chủ thể chính trị, các quan điểm, hệ tư tưởng, các quan hệ chính trị cùng các chuẩn mực chính trị, pháp lý Theo nghĩa hẹp, hệ thống chính trị dùng để chỉ hệ thống các lực lượng chính trị tồn tại đồng thời trong một xã hội; vừa mâu thuẫn, vừa vận hành thống nhất như một chính thể; gồm các tổ chức chính thống thực hiện chức năng chính trị (Đảng cầm quyền, Nhà nước, các tổ chức xã hội ) và các lực lượng chính trị của giai cấp đối lập khác
Hệ thống chính trị xuất hiện và tồn tại trong xã hội có giai cấp và Nhà nước Quan hệ sản xuất đặc trưng cho một chế độ xã hội quy định bản chất và
xu hướng vận động của hệ thống chính trị Hệ thống chính trị bị chi phối bởi
Trang 3đường lối chính trị của Đảng cầm quyền, do đó nó luôn phản ánh bản chất của giai cấp cầm quyền
Từ đó, có thể đưa ra định nghĩa như sau : Hệ thống chính trị là tổng thể
các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội của một quốc gia, được luật pháp thừa nhận, có chức năng thực hiện (hoặc tham gia thực hiện) quyền lực chính trị, trước hết là quyền lực nhà nước đối với sự phát triển mọi mặt của xã hội.
I.2 Cấu trúc chung của một hệ thống chính trị
Một hệ thống chính trị về cơ bản gồm có những thành phần sau:
Đảng chính trị:
Đảng chính trị là một hiện tượng đặc thù của xã hội có phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp Đây là yếu tố cơ bản và quan trọng của hệ thống chính trị, hệ thống tổ chức quyền lực chính trị, của chế độ chính trị và xã hội công dân - là công cụ tập hợp của một giai cấp; tổ chức lãnh đạo đấu tranh giai cấp vì mục tiêu giành, giữ, sử dụng quyền lực nhà nước và định hướng chính trị phục vụ cho phát triển xã hội
Nhà nước:
Nhà nước là tổ chức quyển lực đặc biệt của xã hội, bao gồm một nhóm người được lựa chọn ra (thông qua bầu cử hoặc chỉ định) để chuyên làm nhiệm
vụ cưỡng chế, thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm mục đích tổ chức
và quản lí xã hội, phục vụ lợi ích chung của nhân dân cũng như lợi ích của giai cấp cầm quyền Là trung tâm của hệ thống chính trị, nhà nước thực thi quyền lực của mình thông qua một hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức từ trung ương đến địa phương
Các tổ chức chính trị - xã hội:
Tổ chức chính trị-xã hội là các tổ chức được thành lập bởi những thành viên đại diện cho lực lượng xã hội nhất định, thực hiện các hoạt động xã hội rộng rãi
Trang 4và có ý nghĩa chính trị nhưng các hoạt động này không nhằm tới mục đích giành chính quyền Các tổ chức chính trị-xã hội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được chia thành nhiều cấp để hoạt động trong phạm vi cả nước Các tổ chức này có điềụ lệ hoạt động do đại hội toàn thể hoặc đại hội đại biểu các thành viên thông qua
2 Hệ thống chính trị của Việt Nam hiện nay
Hệ thống chính trị ở Việt Nam được nhận thức và tổ chức theo loại cấu trúc “cứng”, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam (chính đảng cầm quyền duy nhất), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội Có thể thấy rằng, về cơ bản hệ thống chính trị Việt Nam được tổ chức theo những mô hình chung của hệ thống chính trị các nước trên thế giới Mặt khác, hệ thống chính trị Việt Nam cũng có những đặc điểm riêng để phù hợp với chế độ chính trị cũng như tình hình phát triển của đất nước
2.1 Các thành tố tạo nên hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị Việt Nam gồm có:
Đảng Cộng sản Việt Nam
Là đảng cầm quyền và đồng thời là chính đảng duy nhất ở nước ta Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành
vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc.1 Đảng ta vừa là một bộ phận, đồng thời cũng là hạt nhân giữ vai trò lãnh đạo của toàn bộ
hệ thống chính trị
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1 Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Điều 4
Trang 5Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân;2 là tổ chức quyền lực thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là trung tâm thực hiện quyền lực chính trị,
là trụ cột của hệ thống chính trị, là bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội và thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài Từ khi được thành lập đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận là tổ chức tập hợp, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết dân tộc của Việt Nam - nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi vẻ vang của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Các tổ chức chính trị - xã hội
Gồm có: Công đoàn Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam
2.2 Mối quan hệ giữa các thành tố trong hệ thống chính trị
Các quan hệ chính trị được xác lập theo nguyên tắc chủ đạo là: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ
2 Quốc hội khóa XIII, Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam, Điều 2
Trang 6Toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị đều đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Thông qua bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội của Nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện vai trò, chức năng lãnh đạo đối với toàn xã hội, nhằm phát huy và thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Quyền lực của Nhà nước là quyền lực của Nhân dân giao phó để phục vụ lợi ích của nhân dân Nhà nước thể chế hóa đường lối, mục tiêu, chủ trương lãnh đạo của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước và tổ chức thực hiện
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đại diện cho lợi ích rộng rãi của các giai cấp, tầng lớp xã hội, của toàn thể Nhân dân lao động và yêu nước Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
2.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam
Hệ thống chính trị Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:
Tính nhất nguyên chính trị
Hệ thống chính trị Việt Nam chịu sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản, không tồn tại các chính đảng đối lập Đây là đặc điểm chung của hệ thống chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới
Tính thống nhất
Hệ thống chính trị Việt Nam bao gồm nhiều thành tố có vị trí, vai trò, chức năng khác nhau, nhưng có quan hệ chặt chẽ, gắn bó với nhau, hợp thành một khối thống nhất Tính thống nhất của hệ thống chính trị xuất phát từ nguồn gốc quyền lực của nhân nhân ủy quyền cho Đảng, Nhà nước để thực hiện mục đích chung Mục đích chính trị của toàn bộ hệ thống là: xây dựng thành công chủ
Trang 7nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và mục tiêu cụ thể được xác định là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân
Từ lịch sử hình thành phát triển gắn liền với các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên do Đảng thành lập và lãnh đạo, có mối quan hệ gắn bó, mật thiết với Đảng và Nhà nước Mỗi thành phần trong hệ thống chính trị đều đại diện cho nhân dân, là cách thức để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình
II VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA HIỆN
NAY
Đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị là một trong những vấn đề trọng yếu, cốt lõi xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, là nhân tố hàng đầu bảo đảm cho việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân Đây cũng chính là cơ sở để có thể giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, khai thác và phát huy tối đa những tiềm năng, lợi thế, nguồn lực của đất nước, qua đó thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững Trong bối cảnh hiện nay, đổi mới hệ thống chính trị đang ngày càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết Gần 35 năm đã trôi qua kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam phát đi lời hiệu triệu về công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước tại Đại hội
VI, từ đó đến nay Đảng ta đã ban hành và tổ chức thực hiện nhiều nghị quyết, chủ trương quan trọng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, đạt được những kết quả đáng ghi nhận Tuy nhiên, công cuộc đổi mới, kiện toàn hệ thống chính trị vẫn còn đó nhiều khó khăn, thách thức cần phải tiếp tục giải quyết
1 Cơ sở đổi mới hệ thống chính trị
Trong những năm qua, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy
Trang 8của hệ thống chính trị, hướng tới xây dựng bộ máy Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị thực sự tinh gọn, trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả Ở nhiệm kỳ 2015-2020, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban
hành Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 “Một số vấn đề về tiếp tục
đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của HTCT, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 25-10-2017 “Tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập” Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch 07-KH/TW năm
2017 về thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW; Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày
15-3-2018 về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả”; Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24-12-2018 về
việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã; Kết luận số 34-KL/TW ngày 7-8-2018 về thực hiện một số mô hình thí điểm theo Nghị
quyết số 18-NQ/TW Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng ta tiếp
tục nhấn mạnh công tác xây dựng bộ máy cần “tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu
quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán
bộ, công chức, viên chức; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là những nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.”3
Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ đã lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hóa, thể chế hóa bằng các nghị quyết, luật, nghị định, điển hình như: Nghị
quyết số 56/2017/QH14, ngày 24-11-2017 của Quốc hội về việc tiếp tục cải
cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Đây là những cơ sở chính trị, pháp lý để các cấp cụ thể hóa, triển khai thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị
3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, 2021
Trang 9ở cấp mình Trên tinh thần các văn kiện trên, các cấp ủy, tổ chức đảng bám sát tình hình thực tế, chủ động cụ thể hóa và xây dựng kế hoạch, đề án, triển khai thực hiện
2 Những thành tựu đạt được
Dưới sự chỉ đạo và quán triệt mạnh mẽ, sát sao từ Trung ương, song hành với sự quyết tâm, nghiêm túc phối hợp thực hiện của cả hệ thống chính trị, quá trình đổi mới đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận:
Thứ nhất, mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị đã từng bước được tinh gọn, tổ chức lại theo hướng phù hợp, đáp ứng được phần nào những đòi hỏi của tình hình thực tiễn.
Tính đến 30-6-2019, giảm 4 đầu mối trực thuộc Trung ương, 100 đầu mối trực thuộc cấp tỉnh, 496 đầu mối trực thuộc cấp huyện; 7 tổng cục và tương đương; 81 cục, vụ, 73 đơn vị sự nghiệp công lập ở Trung ương; 2.658 phòng và tương đương; 1.946 đội thuộc chi cục; giảm 4.162 đơn vị sự nghiệp công lập, giảm 2.237 đầu mối trong các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương Giảm 9.893 cấp trưởng, cấp phó (trong đó: 5.289 cấp trưởng, 4.604 cấp phó) ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức hành chính cấp tỉnh, cấp huyện Giảm 2.998 cấp trưởng, 3.231 cấp phó ở các đơn vị sự nghiệp công lập địa phương4
Một số mô hình tổ chức mới được thực hiện thí điểm đã góp phần tinh gọn bộ máy, đổi mới cơ chế hoạt động, phương thức lãnh đạo, quản lý, điều hành theo hướng hiệu lực, hiệu quả hơn
Các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và thôn, tổ dân phố đang được hợp nhất, sắp xếp lại cho phù hợp Tính đến 30-6-2019, các tỉnh, thành phố đã
4 Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII, ngày 6-1-2020, tr.8.
Trang 10xây dựng đề án, gửi về Bộ Nội vụ sẽ giảm 5 đơn vị hành chính cấp huyện, 556 đơn vị hành chính cấp xã; đã giảm 10.639 thôn, tổ dân phố5
Bên cạnh đó, việc thực hiện tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đạt được những kết quả rõ rệt Những năm gần đây, biên chế của cả hệ thống chính trị có xu hướng giảm liên tục, cơ bản bảo đảm lộ trình tinh giản biên chế theo quy định Sau 04 năm thực hiện, đã giảm được 236.039 người (giảm 6,58% so với biên chế thực tế tại thời điểm 30-4-2015) Biên chế khối Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
đã giảm 10,46% Đã giảm 25.109 người hoạt động không chuyên trách cấp xã (giảm 12,84% so với thời điểm 30-4-2015) và 100.924 người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố (giảm 13,88% so với thời điểm 30-4-2015)6
Thứ hai, phương thức hoạt động của các nhân tố trong hệ thống chính trị
đã có sự đổi mới, đưa ra được các quyết sách giải quyết các vấn đề bức thiết đặt ra đối với sự phát triển của đất nước.
Cụ thể: Đảng ta đã xây dựng, bổ sung các quy định về chức năng, nhiệm
vụ, phương thức hoạt động và lề lối làm việc, lãnh đạo các cơ quan nhà nước tiến hành thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật cụ thể để thực hiện Chính phủ và các Bộ, ngành đã tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và linh hoạt hơn trong việc giải quyết những vấn đề cấp thiết của đất nước Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và bước đầu đạt kết quả tích cực Nhiều hoạt động cải cách tư pháp, được quy định trong Hiến pháp, pháp luật, đã được triển khai thực hiện nghiêm túc Chất lượng hoạt động tư pháp có nhiều tiến bộ, bảo vệ tốt hơn lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; hạn chế tình trạng oan, sai
5 Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII, ngày 6-1-2020, tr.8.
6 Ban Chấp hành Trung ương: Dự thảo Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nhiệm kỳ Đại hội XII, ngày 6-1-2020, tr.8.