Hợp đồng không tự hình thành được mà được hình thành từ thỏa thuận của các bên thông qua việc giao kết nhằm tạo lập hiệu lực pháp lý, tức là tạo ra sự ràng buộc pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên . Một trong những vấn đề quan trọng thể hiện sự ràng buộc giữa các bên chính là việc xác định thời điểm bắt đầu của sự ràng buộc. Có thể nói, thời điểm giao kết hợp đồng là vấn đề pháp lý quan trọng đối với sự tồn tại của hợp đồng và là vấn đề pháp lý rất phức tạp.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 1
1 Khái niệm thời điểm giao kết hợp đồng 1
1.1 Khái niệm giao kết hợp đồng 1
1.2 Khái niệm thời điểm giao kết hợp đồng 2
2 Ý nghĩa của thời điểm giao kết hợp đồng 2
II CÁC THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 3
1 Nguyên tắc chung xác định thời điểm giao kết hợp đồng 4
2 Thời điểm giao kết hợp đồng khi bên được đề nghị im lặng 4
3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói 5
4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản 6
5 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử 8
III BẢN ÁN VÀ QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ NỘI DUNG ĐƯỢC GIẢI QUYẾT TRONG BẢN ÁN LIÊN QUAN ĐẾN THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG 9
1 Tóm tắt nội dung bản án 9
2 Quan điểm cá nhân về nội dung được giải quyết trong bản án 11
KẾT LUẬN 14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 PHỤ LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
Hợp đồng không tự hình thành được mà được hình thành từ thỏa thuận của các bên thông qua việc giao kết1 nhằm tạo lập hiệu lực pháp lý, tức là tạo ra sự ràng buộc pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên2 Một trong những vấn đề quan trọng thể hiện sự ràng buộc giữa các bên chính là việc xác định thời điểm bắt đầu của sự ràng buộc Có thể nói, thời điểm giao kết hợp đồng là vấn đề pháp lý quan trọng đối với sự tồn tại của
hợp đồng và là vấn đề pháp lý rất phức tạp Vì vậy, em đã chọn đề “Phân tích và cho ví dụ minh họa về các thời điểm giao kết hợp đồng Sưu tầm một bản án của Tòa án giải quyết về vấn đề này và nêu quan điểm cá nhân về nội dung đã được giải quyết” để làm chủ đề chính cho bài tập
lớn học kỳ của mình Do kiến thức cùng sự hiểu biết còn hạn hẹp nên bài viết sẽ còn nhiều sai sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
NỘI DUNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP
ĐỒNG.
1 Khái niệm thời điểm giao kết hợp đồng.
1.1 Khái niệm giao kết hợp đồng.
Theo quy định tại Điều 385 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS 2015) thì
“Hợp đồng là sự thỏa thuận giũa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Theo đó, hợp đồng là kết quả của sự
thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các bên nên hợp đồng chỉ có thể hình thành khi được các bên cùng nhất trí tạo lập
1 Đỗ Xuân Đại, Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án – tập 2, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2017.
2 Đinh Văn Thanh, Đặc trưng pháp lý của hợp đồng dân sự, Tạp chí Luật học, số 4/1999, tr.23.
Trang 3Để tạo lập một hợp đồng, các bên tham gia phải tiền hành giao kết hợp
đồng Như vậy, có thể hiểu giao kết hợp đồng là việc các bên chủ thể bày
tỏ ý chí muốn cùng nhau xác lập hợp đồng thông qua sự bàn bạc, trao đổi, thương lượng theo các nguyên tắc và trình tự do luật định để đạt được sự đồng thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng giữa các bên với nhau3
1.2 Khái niệm thời điểm giao kết hợp đồng.
Như đã khẳng định ở trên, thông qua quá trình đàm phán và thương lượng, các bên tham gia hợp đồng sẽ đạt được sự đồng thuận, thống nhất ý chí với nhau trong việc cùng nhau thiết lập hợp đồng Đây là quá trình làm cho hợp đồng được xác lập, và quá trình này được gọi là trình tự giao kết hợp đồng Quá trình này sẽ kết thúc tại một thời điểm xác định, và tại thời điểm đó, hợp đồng sẽ được xác lập, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng có thể được phát sinh và được pháp luật công nhận Thời điểm đó là thời điểm giao kết hợp đồng
Thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bắt đầu sự ràng buộc pháp lý
giữa các bên, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng,
mà kể từ thời điểm đó các bên không được đơn phương thay đổi hoặc rút lại các cam kết trong hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng4
2 Ý nghĩa của thời điểm giao kết hợp đồng.
Việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa pháp lý rất quan trọng đối với giá trị pháp lý của hợp đồng, sự tồn tại các quyền và nghĩa vụ hợp đồng, khả năng thực hiện hợp đồng trên thực tế:
3, 4 Lê Minh Hùng, Thời điểm giao kết hợp đồng trong pháp luật của một số nước trên thế giới, các bộ nguyên tắc hợp đồng quốc tế và kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015.
4
Trang 4Thời điểm giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đối tượng trong hợp đồng đó Chẳng hạn, nếu tài sản là đối tượng của hợp đồng mua bán chưa có vào thời điểm giao kết hợp đồng hoặc đã có nhưng bên bán chưa chưa xác lập quyền sở hữu thì hợp đồng đó là hợp đồng mua bán tài sản hình thành trong tương lai Theo đó, cách thức xác định về tài sản là đối tượng của hợp đồng sẽ khác nhau Bởi lẽ, cách thức xác định về tài sản hình thành trong tương lai hoàn toàn khác với cách thức xác định tài sản có sẵn
Trong nhiều trường hợp, thời điểm giao kết hợp đồng còn là mốc thời gian để xác định giá của hợp đồng Chẳng hạn, nếu các bên thoả thuận về giá của hợp đồng theo giá thị trường thì giá thị trường vào thời điểm giao kết hợp đồng sẽ là giá của hợp đồng Hoặc trong hợp đồng bảo hiểm tài sản thì giá trị của đối tượng bảo hiểm được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng đó
Mặt khác, thời điểm giao kết hợp đồng còn là một trong các căn cứ để xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Đây là vấn đề pháp lý cơ bản của quy định pháp luật về hiệu lực hợp đồng Thường thì thời điểm giao kết hợp đồng cũng là thời điểm có hiệu lực của hợp đồng Nhưng xét về mặt logic thì thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng là hai thời điểm khác nhau Chẳng hạn trong luật Việt Nam, thời điểm giao kết và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng được quy định thành hai loại thời điểm khác nhau
Ngoài ra, thời điểm giao kết hợp đồng còn là cơ sở để xác định năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia hợp đồng; và là mốc tính thời hiệu khởi kiện trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan tới việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu
II CÁC THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.
Trang 5Thời điểm giao kết thường là thời điểm các bên thỏa thuận xong nội dung của hợp đồng, hay khi bên đề nghị đã nhận được trả lời chấp nhận hợp lệ của bên được đề nghị Do đó, thời điểm này được xác định như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào hình thức và phương thức giao kết hợp đồng
Cụ thể:
1 Nguyên tắc chung xác định thời điểm giao kết hợp đồng.
Về nội dung, ta có thể thấy có nhiều trường phái khác nhau về thời điểm hợp đồng được giao kết Xem xét theo quy định tại khoản 1 Điều
400 BLDS 2015 cho thấy, luật Việt Nam chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi
thuyết “tiếp nhận”: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị
nhận được chấp nhận giao kết” Theo thuyết “tiếp nhận”, hợp đồng được
giao kết tại thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận “nếu người
nhận đề nghị giao kết hợp đồng gửi lời chấp nhận, hợp đồng được giao kết khi lời chấp nhận đến người đề nghị giao kết hợp đồng” 5 Điều này có
nghĩa, khi trả lời chấp nhận được gửi đến được với bên đề nghị, tức là khi bên đề nghị đã nhận được trả lời chấp nhận hợp lệ, cho dù bên này đã đọc, biết được nội dung cụ thể của thư trả lời đó hay chưa, thì hợp đồng vẫn được coi là đã giao kết tại thời điểm nhận được trả lời chấp nhận
Ví dụ: Nếu A gửi thư chào hàng cho B ghi rõ thời gian trả lời là ngày
15/3, và B đã viết thư trả lời đồng ý, rồi B gửi đi vào ngày 10,3, bưu điện
đã mang thư đến giao cho A vào ngày 14/3, thì 14/3 là ngày giao kết hợp đồng, bất luận A đã xem nội dung thư của B hay chưa
2 Thời điểm giao kết hợp đồng khi bên được đề nghị im lặng.
Việc giao kết hợp đồng dựa trên nền tảng thông thuận và nhất trí, tức là
có sự trùng hợp về ý chí giữa các bên Muốn vậy, các bên cần có sự biểu
lộ ý chí ra bên ngoài để các bên có thể biết ý chí của nhau là có đồng
5 Khoản 1 Điều 2:205 Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng.
Trang 6thuận hay không Đôi khi trong giao kết hợp đồng, các bên có thể quy ước rằng hợp đồng cũng được giao kết bằng sự tuyên bố ý chí minh thị của một bên mà không cần có sự biểu lộ ý chí của bên kia bằng bất kỳ dấu hiệu nào Đây là trường “im lặng” trong giao kết hợp đồng
Bộ luật Dân sự Việt Nam cũng có quy định về thời điểm giao kết hợp đồng thông qua im lặng Tại khoản 2 Điều 404 BLDS 2005 quy định:
“Hợp đồng dân sự cũng xem như được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” Tuy nhiên quy định đó có thể suy luận rằng thời điểm hợp đồng được giao kết là thời điểm cuối cùng của thời hạn trả lời
Để tránh những suy luận như trên và để nội dung điều luật phù hợp với
tiêu đề của nó, BLDS 2015 đã có sự thay đổi như sau: “Trường hợp các
bên có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng trong một thời hạn thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm cuối cùng của thời hạn đó” 6 Như vậy, hợp đồng dân sự cũng xem như được giao
kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thỏa thuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết
Ví dụ: A và B thỏa thuận về việc mua xe máy của B Khi thỏa thuận,
hai bên đều nhất trí rằng nếu bên mua giữ im lặng trong thời hạn một tuần
kể từ ngày nhận đề nghị giao kết được đưa ra vào ngày thứ ba thì thời điểm hợp đồng được giao kết sẽ là ngày thứ ba tuần sau
3 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói.
Theo khoản 3 Điều 400 BLDS 2015 quy định: “Thời điểm giao kết hợp
đồng bằng lời nói là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng” Với nội dung quy định này, có thể có hai cách hiểu như sau:
6 Khoản 2 Điều 400 BLDS 2015.
Trang 7Cách hiểu thứ nhất, “bằng lời nói” được hiểu là khoản 3 chỉ được áp
dụng đối với những hợp đồng mà pháp luật cho phép xác lập bằng lời nói nên không thể vận dụng điều khoản này cho hợp đồng mà pháp luật yêu cầu phải thể hiện bằng văn bản như trường hợp hợp đồng bảo hiểm7 Theo cách hiểu này, việc các bên thống nhất với nhau về hợp đồng thông qua lời nói chưa đủ để hợp đồng được giao kết và hợp đồng chỉ được giao kết khi các bên thể hiện hợp đồng trên văn bản theo quy định của khoản 4
Điều 400 BLDS 2015: “Trường hợp hợp đồng giao kết bằng lời nói và
sau đó được xác lập bằng văn bản thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định theo khoản 3 Điều này”.
Cách hiểu thứ hai là chỉ cần việc giao kết được thể hiện qua lời nói,
mặc dù pháp luật quy định hợp đồng này phải lập thành văn bản Với cách hiểu này, khi pháp luật quy định hợp đồng phải lập bằng văn bản thì hợp đồng vẫn có thể được giao kết khi các bên đã thống nhất với nhau về nội dung của hợp đồng thông qua lời nói và thời điểm hợp đồng được giao kết
là thời điểm các bên thống nhất với nhau về nội dung của hợp đồng (thời điểm các bên thể hiện nội dung hợp đồng trên văn bản không ảnh hưởng tới thời điểm hợp đồng được giao kết)
Ví dụ: Ngày 16/11, A và B thỏa thuận với nhau về việc A sẽ bán cho B
căn nhà của A với giá bán là 900 triệu đồng Cả hai bên thỏa thuận với nhau bằng lời nói và đều nhất trí về nội dung thỏa thuận Một tuần sau (tức ngày 23/11) A và B mới cùng nhau xác lập nội dung đã thỏa thuận bằng văn bản Tuy nhiên, lúc này thời điểm giao kết hợp đồng vần được xác định là ngày 16/11 (thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng)
4 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản.
7 Theo Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010 quy định: “Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản”
Trang 8Theo khoản 4 Điều 400 BLDS 2015 quy định về thời điểm giao kết hợp
đồng bằng văn bản như sau: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản
là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn bản” Bộ luật dân sự sử dụng thuật ngữ “bên
sau cùng ký vào văn bản” nên chúng ta ngầm hiểu là đã có một bên ký vào hợp đồng và việc ký của bên này chưa khẳng định là hợp đồng đã được giao kết Khi có hai chủ thể tham gia hợp đồng thì theo quy định này hợp đồng chỉ được giao kết khi cả hai đã ký vào văn bản và thời điểm người sau cùng ký chính là thời điểm hợp đồng được giao kết:
Ví dụ: Ngày 09/3, A và B thỏa thuận với nhau về việc A sẽ bán cho B
chiếc xe ô tô của A với giá 650 triệu đồng và lập thành văn bản Tuy nhiên sau khi A ký xong vào văn bản thì B lại nói với A rằng do số tiền quá lớn, B muốn có thời gian để hỏi ý kiến gia đình Sau đó một tuần (tức ngày 16/3), B quyết định vẫn mua chiếc ô tô của A và đã ký tên vào hợp đồng Như vậy, thời điểm giao kết hợp đồng trong trường hợp này là ngày 16/3 (thời điểm B – bên sau cùng ký vào văn bản)
Mặt khác, BLDS 2015 đã bổ sung thêm nội dung ghi nhận cách thức khác của chấp nhận bên cạnh chữ ký như quy định tại BLDS 2005 Điều
đó cho thấy pháp luật chấp nhận không nhất thiết là bằng chữ ký mà có thể bằng những hình thức khác được thể hiện trên văn bản như chỉ điểm hay đóng dấu mà không ký
Ngoài ra, đối với những văn bản yêu cầu phải có công chứng, chứng thực thì thời điểm giao kết hợp đồng được xác định là thời điểm hợp đồng được công chứng, chứng thực Hơn nữa, yêu cầu của việc công chứng
chứng thực theo quy định của pháp luật thì “Các bên tham gia hợp đồng,
giao dịch phải ký trước mặt người thực hiện chứng thực” 8, nói cách khác,
về nguyên tắc ngay trước khi được công chứng, chứng thực thì bên sau
8 Khoản 3 Điều 36 Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao
từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch
Trang 9cùng đã ký vào văn bản trước mặt công chứng viên, điều này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 400 BLDS 2015
5 Thời điểm giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử.
Phương tiện điện tử được hiểu là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tỉnh, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự9 Giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử là việc các bên tiến hành giao kết hợp đồng thông qua bất kỳ hình thức phương tiện điện tử nào, và giữa các bên không có sự giao tiếp trực diện hoặc gặp gỡ đồng thời với nhau khi giao kết hợp đồng
Nếu hợp đồng được giao kết bằng phương tiện điện tử thì ngoài việc tuân thủ quy định của BLDS, việc xác định thời điểm giao kết hợp đồng còn phải áp dụng quy định của Luật giao dịch điện tử 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành Cụ thể, theo quy định tại các Điều 18, 19, 20 của Luật giao dịch điện tử năm 2005, à khoản 2 Điều 11 Nghị định số 57/2006/NĐ-CP ngày 09/6/2006 thì thời điểm nhận thông điệp dữ liệu là
“thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử đó tại một địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra Thời điểm nhận một chứng từ điện
tử ở địa chỉ điện tử khác do người nhận là thời điểm người nhận có thể truy cập được chứng từ điện tử tại địa chỉ này và người nhận biết rõ chứng từ điện tử đã được gửi tới địa chỉ này” Hoặc theo khoản 2 Điều 10
Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 thì “Trong trường hợp các
bên không có thỏa thuận khác, thời điểm nhận một chứng từ điện tử do người nhận chỉ ra và có thể truy cập được”.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, như giao kết hợp đồng trong hoàn cảnh thông thường, thời điểm giao kết hợp đồng điện tử cũng được xác định là thời điểm bên nhận đề nghị nhận được trả lời chấp nhận Chỉ khác một số điểm, như việc giao kết hợp đồng bằng cách này phải đáp ứng
9 Khoản 10 Điều 4 Luật Giao dịch điện tử 2005.
Trang 10những điều kiện tiên quyết về thông tin được công bố trước khi giao kết hợp đồng, việc cho phép một thời gian “cân nhắc giao kết hợp đồng” sau khi khách hàng có sự nhầm lẫn trong thao tác bấm nút “gửi đi”, quy ước
về việc nhận được thông điệp dữ liệu theo yêu câu kỹ thuật của phương thức giao kết hợp đồng điện tử là có quy định đặc biệt hơn so với giao kết thông thường
Ví dụ: Vào 8h ngày 1/3/2018, khách hàng A đã đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng bằng cách thực hiện các bước mua hàng trực tuyến trên website của doanh nghiệp B Vào 14h cùng ngày, doanh nghiệp B đã trả lời chấp nhận bán hàng cùng với những thông tin về nội dung hợp đồng qua email tới cho A Tuy nhiên hai ngày sau đó (tức ngày 03/03/2018 A mới truy cập vào hòm thư điện tử và đọc chấp nhận giao kết hợp đồng của doanh nghiệp B Như vậy thời điểm giao kết hợp đồng bằng phương tiện điện tử được sẽ được xác định là ngày 1/3/2018 (thời điểm email củadoanh nghiệp tới được hòm thư của khách hàng)
III BẢN ÁN VÀ QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN VỀ NỘI DUNG ĐƯỢC
GIẢI QUYẾT TRONG BẢN ÁN LIÊN QUAN ĐẾN THỜI ĐIỂM GIAO KẾT HỢP ĐỒNG.
1 Tóm tắt nội dung bản án: Bản án số 06/2016/KDTM-PT ngày 29/01/2016 về “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm” (Xem phụ lục).
Ngày 24/12/2010, để thi công công trình khách sạn tại đường A, quận
B, thành phố Đà Nẵng, ông Đỗ L và bà Nguyễn Thị B đã ký Hợp đồng bảo hiểm số 03102598 với Công ty Bảo hiểm B Đà Nẵng thuộc Tổng Công ty
Cổ phần B Trước khi ký hợp đồng, Công Ty B Đà Nẵng đã tiến hành các bước xem xét thẩm định Theo hợp đồng bảo hiểm, Công Ty B Đà Nẵng đồng ý bồi thường mọi rủi ro xảy trong suốt quá trình xây dựng khách sạn, thời hạn bảo hiểm là 02 năm kể từ ngày 24/12/2010 đến 24/12/2012 Đối