Phân tích quy định của pháp luật hiện hành về chiếm hữu và nêu ý nghĩa của quy định về chiếm hữu đối với việc bảo vệ quyền của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sựChiếm hữu với ý nghĩa là chiếm dụng đồ vật trên thực tế là quan hệ làm cơ sở phát sinh cho sở hữu và quyền sở hữu. Tuy nhiên, theo V. M Khvoxtop “chiếm hữu là chế định hoàn toàn khác biệt với sở hữu, chủ sở hữu có thể không phải là người chiếm hữu và ngược lại người không phải là chủ sở hữu có thể chiếm hữu”(1). Bởi lẽ đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung chế định chiếm hữu thành một chế định độc lập với quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản theo cách tiếp cận tôn trọng tình trạng thực tế mối quan hệ thực tế giữa người chiếm hữu và tài sản. Quy định mới về chiếm hữu trong Bộ luật dân sự năm 2015 đã cụ thể hóa nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu, quyền bình đẳng trước pháp luật và trong đời sống dân sự. Bảo đảm trật tự xã hội, sự ổn định của giao dịch, giá trị kinh tế của tài sản, sự thiện chí trong quan hệ dân sự.
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 NỘI DUNG………… ………2
I NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHIẾM HỮU TRONG BỘ LUẬT
DÂN SỰ NĂM 2015……… 2
hữu……… 2
hữu……….2
1.2 Phân biệt giữa chiếm hữu với quyền chiếm hữu……… 3
hữu……… 4
2.1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật………4 2.2 Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật……… 5
2.2.1 Chiếm hữu ngay tình………
5
tình……… 6 2.3 Chiếm hữu liên tục………
7
khai……….8
3 Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu……… 8
hữu……….9
Trang 2II Ý NGHĨA CỦA QUY ĐỊNH VỀ CHIẾM HỮU ĐỐI VỚI VIỆC BẢO
VỆ QUYỀN CỦA CÁC CHỦ THỂ TRONG QUAN HỆ DÂN SỰ……….10
KẾT
LUẬN……….14 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… …
15
Trang 3MỞ ĐẦU
Chiếm hữu với ý nghĩa là chiếm dụng đồ vật trên thực tế là quan hệ làm cơ sở phát sinh cho sở hữu và quyền sở hữu Tuy nhiên, theo V M Khvoxtop “chiếm hữu là chế định hoàn toàn khác biệt với sở hữu, chủ sở hữu có thể không phải là người chiếm hữu và ngược lại người không phải là chủ sở hữu có thể chiếm hữu”(1) Bởi lẽ đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung chế định chiếm hữu thành một chế định độc lập với quy định về quyền
sở hữu và quyền khác đối với tài sản theo cách tiếp cận tôn trọng tình trạng thực tế - mối quan hệ thực tế giữa người chiếm hữu và tài sản Quy định mới
về chiếm hữu trong Bộ luật dân sự năm 2015 đã cụ thể hóa nội dung, tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền sở hữu, quyền bình đẳng trước pháp luật và trong đời sống dân sự Bảo đảm trật tự xã hội, sự ổn định của giao dịch, giá trị kinh tế của tài sản,
sự thiện chí trong quan hệ dân sự Sau đây em xin trình bày nội dung bài tập
học kỳ của mình “Phân tích quy định của pháp luật hiện hành về chiếm hữu và nêu ý nghĩa của quy định về chiếm hữu đối với việc bảo vệ quyền của các chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự” Do kiến thức cùng sự
hiểu biết còn hạn hẹp nên bài viết sẽ còn nhiều sai sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy cô để hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn
(1): V M Khovoxtov: Hệ thống Luật la Mã Giáo trình NXB “Spartak” M 1996.
Trang 4NỘI DUNG
I NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ CHIẾM HỮU TRONG BỘ LUẬT DÂN
SỰ NĂM 2015.
1 Khái niệm chiếm hữu.
1.1 Khái niệm chiếm hữu.
Bộ luật dân sự năm 2015 là Bộ luật dân sự đầu tiên có quy định về khái niệm chiếm hữu tài sản Trước đó, Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân
sự năm 2005 chỉ quy định về quyền chiếm hữu với tính chất là một trong các nội dung của quyền sở hữu mà chưa thừa nhận chiếm hữu với tư cách là một tình trạng chiếm hữu thực tế Chiếm hữu với ý nghĩa là chiếm dụng đồ vật trên thực tế là quan hệ làm cơ sở phát sinh cho sở hữu và quyền sở hữu Theo Điều 179 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về khái niệm chiếm hữu như sau:
“1 Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản.
2 Chiếm hữu bao gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu.
Việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu không thể là căn cứ xác lập quyền sở hữu, trừ trường hợp quy định tại các điều 228, 229, 230,
231, 232, 233 và 236 của Bộ luật này.”
Như vậy, từ đây chiếm hữu được ghi nhận ở một số vấn đề cụ thế sau:
Một là, định nghĩa về chiếm hữu đã được đưa ra tại khoản 1: Chiếm hữu
là hành vi của bất cứ chủ thể nào Do ghi nhận chiếm hữu là một trạng thái nắm giữ thực tế đối với tài sản nên bất cứ chủ thể nào cũng có thể là người có quyền chiếm hữu đối với tài sản, bao gồm việc nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Việc chi phối được hiểu là ngay cả trường hợp tài sản đã chuyển giao sang cho chủ thể khác cầm giữ, quản lý hay sử dụng thì chủ sở hữu vẫn còn tiếp tục được chi phối tới tài sản Bởi suy cho cùng thì tài sản vẫn là của chủ sở hữu nên họ có quyền giám sát, chi phối tài sản của
Trang 5họ là điều hợp lý Chủ thể có thể bằng hành vi của chính mình thực hiện quyền chiếm hữu hoặc qua hành vi của người khác Chủ thể bằng hành vi của chính mình thực hiện quyền chiếm hữu gọi là chiếm hữu trực tiếp Chủ thể thực hiện quyền chiếm hữu thông qua hành vi của người khác gọi là chiếm hữu gián tiếp Ý chí của người chiếm hữu là coi như mình là người có quyền đối với tài sản Hành vi chiếm hữu chỉ được pháp luật ghi nhận và bảo vệ khi chủ thể chiếm hữu có những xử sự giống như họ là chủ sở hữu hay có quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản Do đó, những người có hành vi nắm giữ tài sản một cách lén lút, giấu diếm như cất giấu, che đậy tài sản để tránh sự phát hiện của những người xung quanh của những người xung quanh của những người đi trộm cắp, lừa đảotài sản thì không được pháp luật bảo vệ
Hai là, chủ thể chiếm hữu được phân loại tại khoản 2: Chiếm hữu bao
gồm chiếm hữu của chủ sở hữu và chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu Chủ sở hữu là người có quyền chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản; còn việc chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu thì có thể là trường hợp chiếm hữu có căn cứ pháp luật hoặc không Người không phải là chủ sở hữu thực hiện việc chiếm hữu thông qua sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc thông qua giao dịch (hợp đồng thuê, mượn, gửi giữ tài sản) với chủ sở hữu cũng được thừa nhận là người chiếm hữu hợp pháp Theo quy định của điểm a khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015 thì hành vi chiếm hữu của chủ sở hữu là hành vi chiếm hữu có căn cứ pháp luật; còn hành vi chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu thì có thể là chiếm hữu có căn cứ pháp luật theo điểm b, c, d, đ, e khoản 1 Điều 165 và chiếm hữu không có căn cứ pháp luật theo khoản 2 Điều 165
Giới hạn hệ quả pháp lý của hành vi chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu đối với tài sản đang chiếm hữu, nhưng việc chiếm hữu của có thể
là căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với tài sản theo quy định tại Điều 228,
229, 230, 231, 232, 233 và 236 Như vậy, các trường hợp chiếm hữu khác của các chủ thể không phải là chủ sở hữu mà không thuộc các Điều luật này
sẽ không được pháp luật bảo hộ
Trang 61.2 Phân biệt giữa chiếm hữu với quyền chiếm hữu.
Như phân tích ở trên, Bộ luật dân sự năm 2015 bổ sung chế định chiếm hữu với tính chất là một tình trạng thực tế được ghi nhận tại Chương XII
Việc phân biệt cụ thể giữa chiếm hữu (với tư cách là một tình trạng pháp lý)
và quyền chiếm hữu (với tư cách là một quyền năng của chủ sở hữu) là điều
cần thiết nhằm tránh những nhầm lẫn không đáng có giữa hai nội dung này:
“Quyền chiếm hữu” với tính chất là một trong các quyền năng của chủ sở
hữu, nên khi đã xác định được chính xác chủ sở hữu thì lúc này việc chiếm
hữu tài sản được xác định là “quyền” Bên cạnh chủ sở hữu, những chủ thể
khác không phải là chủ sở hữu cũng được ghi nhận có quyền chiếm hữu theo các căn cứ luật đinh tại Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015
Còn việc “chiếm hữu” tài sản của một chủ thể trong xã hội chỉ phản ánh
thực tế chiếm hữu của người đó chứ chưa chắc chủ thể này đã thực sự có
“quyền” trong việc chiếm hữu tài sản đó Đây là lý do Bộ luật dân sự năm
2015 dùng thuật ngữ “chiếm hữu” và “quyền chiếm hữu” để quy định về hai
nội dung này
2 Các hình thức chiếm hữu.
2.1 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật.
Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc kiểm soát tài sản dựa trên các quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015, chiếm hữu có căn cứ pháp luật gồm các trường hợp:
- “Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản”: Người được thừa nhận là chủ sở
hữu của một tài sản thì họ có tất cả các quyền: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản đó
- “Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản”: Người không
phải là chủ sở hữu chiếm hữu tài sản chỉ được coi là hợp pháp nếu được chủ
sở hữu chuyển quyền chiếm hữu
- “Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật”: Giao dịch dân sự phù hợp với
Trang 7quy định của pháp luật như hợp đồng thuê tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản,
… Trong trường hợp này, người được giao tài sản phải thực hiện quyền chiếm hữu tài sản phù hợp với mục đích, nội dung giao dịch Ví dụ: A cho B thuê nhà để ở trong thời hạ 5 năm Như vậy, B được chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng căn nhà thông qua hợp đồng thuê tài sản phù hơp với quy định của pháp luật
- “Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan.”: Ví dụ trên đường đi làm về, anh A có nhặt
được một sợi dây chuyền vàng Anh A đã thông báo, giao nộp theo đúng quy định của pháp luật thì việc chiếm hữu của anh A được thừa nhận là có căn cứ pháp luật
- “Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan.”: Ví dụ một con trâu đi lạc vào nhà ông A Ông
A đã báo ngay cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi ông A cư trú theo đúng quy định của pháp luật thì việc chiếm hữu con trâu trong khi đợi chủ sở hữu đến nhận lại của ông A là có căn cứ pháp luật
- “Trường hợp khác do pháp luật quy định”: Các trường hợp khác
do pháp luật quy định như chiếm hữu trên cơ sở quyết định của Tòa án, của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền…
2.2 Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.
Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với các căn cứ chiếm hữu tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự năm 2015 là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Chiếm hữu không có căn cứ pháp luật gồm chiếm hữu ngay tình
và chiếm hữu không ngay tình
2.2.1 Chiếm hữu ngay tình.
Điều 180 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Chiếm hữu ngay tình là
việc chiếm hữ mà ngươi chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối
Trang 8với tài sản đang chiếm hữu” Theo quy định này, chiếm hữu ngay tình phải
là các trườn hợp người chiếm hữu có cơ sở để tin rằng mình có quyền chiếm hữu Chủ thể chiếm hữu có căn cứ để tin rằng người chuyển giao tài sản cho mình là chủ sở hữu hoặc có căn cứ tin rằng người chuyển giao tài sản cho mình có thẩm quyền chuyển giao
Ví dụ: A lấy cắp chiếc xe đạp của B, A bán chiếc xe đạp đó cho C và cam đoan đó là xe của mình, C mua chiếc xe đạp đó mà không biết đó là tài sản trộm cắp, đồng thời vì chiếc xe đạp là một tài sản không phải đăng ký quyền
sở hữu nên C không thể biết xe đạp đó có phải của A hay không Như vậy, trong trường hợp này hành vi chiếm hữu của C là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình
Hay D mua tài sản của E có giấy ủy quyền cho H bán, tuy nhiên giấy ủy quyền là do H làm giả thì trong trường hợp này việc chiếm hữu của D cũng được coi là ngay tình
2.2.2 Chiếm hữu không ngay tình.
Theo quy định tại Điều 181 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Chiếm hữu
không ngay tình là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu biết hoặc phải biết rằng mình không có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu.” Như vậy, theo
Bộ luật dân sự năm 2015 người chiếm hữu không ngay tình là người có đủ căn cứ để biết việc chiếm hữu của mình không tuân thủ quy định của pháp luật Để nhận diện việc chiếm hữu là ngay tình hay không ngay tình phải dựa vào ý chí của người chiếm hữu đối với việc chiếm hữu tài sản của mình không tuân thủ quy định của pháp luật Chiếm hữu không ngay tình bao gồm các trường hợp sau:
Một là, người chiếm hữu biết việc chiếm hữu của mình là không thuộc
chiếm hữu ngay tình như:
- Người chiếm hữu hoàn toàn biết mình không có quyền chiếm hữu tài sản nhưng vẫn cố tình chiếm hữu: Người chiếm hữu trộm cắp, cướp tài sản của người khác…
Trang 9- Người chiếm hữu biêt người chuyển giao quyền chiếm hữu cho mình là người không có quyền chuyển giao Ví dụ như A trộm chiếc điện thoại của B rồi bán lại cho C C biết rõ đây là điện thoại của A do B trộm cắp nhưng vẫn mua Như vậy việc chiếm hữu của C là không ngay tình do C biết
rõ nguồn gốc tài sản
Hai là, pháp luật buộc người chiếm hữu phải biết việc chiếm hữu của
mình là không có căn cứ pháp luật Trong trường hợp này áp dụng đối với tài sản chiếm hữu là tài sản có đăng ký quyền chủ sở hữu Ví dụ như A trộm xe máy của B, sau đó, A mang xe máy bán cho C và cam kết đây là chiếc xe máy của mình nhưng bị mất giấy tờ C tin tưởng và mua Trong trường hợp này C chiếm hữu chiếc xe máy đó bị coi là không có căn cứ pháp luật và không ngay tình vì dù C không biết tài sản đó là A trộm cắp nhưng xe máy là
tài sản phải đăng ký quyền sở hữu nên C buộc phải biết chiếc xe đó có phải
là của A hay không thông qua việc kiểm tra giấy tờ đăng ký xe máy hoặc các hình thức khác
2.3 Chiếm hữu liên tục.
Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật dân sự năm 2015, pháp luật quy định các yếu tố để xác định chiếm hữu liên tục tại khoản 1 của Điều luật này Chiếm hữu liên tục phải đáp ứng các điều kiện về thời gian và không có tranh chấp Cụ thể là:
Một là, thời gian chiếm hữu là một khoảng thời gian nhất định Pháp luật
không quy định cụ thể độ dài về thời gian trong thời gian chiếm hữu, tuy nhiên cần hiểu đó là khoảng thời gian lâu dài và việc chiếm hữu diễn ra ổn định mà tùy từng trường hợp cụ thể thì luật quy định về độ dài của thời gian chiếm hữu Ví dụ: Điều 236 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định để được xác lập sở hữu với động sản thì phải chiếm hữu liên tục trong vòng 10 năm
Hai là, không có tranh chấp về quyền đối với tài sản trong khoảng thời
gian chiếm hữu Tức là trong trường hợp này, việc một người thực hiện chiếm hữu không gây ra xung đột về lợi ích dẫn đến tranh chấp giữa các bên
Trang 10Như vậy, khi thỏa mãn hai điều kiện trên, việc chiếm hữu của chủ thể đối với tài sản được coi là chiếm hữu liên tục
Mặt khác, xác định chiếm hữu liên tục có ý nghĩa trong việc xác định
chiếm hữu không liên tục theo quy định tại khoản 2 Điều luật này Chiếm hữu không liên tục là chiếm hữu không thỏa mãn các điều kiện của chiếm hữu liên tục Xác định các tình trạng chiếm ữu có ý nghĩa trong việc suy đoán tình trạng và quyền của người chiếm hữu được quy định tại Điều 184 Bộ luật dân sự năm 2015
2.4 Chiếm hữu công khai.
Theo Điều 183 Bộ luật dân sự năm 2015, chiếm hữu công khai phải thỏa mãn các nội dung sau:
- “Chiếm hữu công khai là việc chiếm hữu được thực hiện một cách mnh bạch, không giấu giếm”: Người chiếm hữu thực hiện việc chiếm hữu mà
không che giấu với bất kỳ chủ thể nào Các chủ thể khác có nghĩa vụ tôn trọng quyền chiếm hữu của chủ thể này
- “Tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng”: Mỗi tài sản đều có những tính năng, công dụng riêng Người chiếm
hữu công khai sử dụng tài sản theo đúng tính năng, công dụng của sản phẩm
để khai thác tài sản một cách tốt nhất
- “Người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình”:
Trong quá trình chiếm hữu, người chiếm hữu luôn ý thức bảo vệ, giữ gìn tài sản để duy trì tình trạng, công năng cho tài sản
3 Suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu.
Điều 184 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về vấn đề suy đoán về tình trạng và quyền của người chiếm hữu gồm các nội dung cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc suy đoán về tình trạng và quyền chiếm hữu là người
đang thực tế chiếm hữu tài sản luôn được coi là người chiếm hữu ngay tình Tình trạng chiếm hữu của chủ thể đó phù hợp với các yêu cầu của pháp luật đặt ra tại Điều 182 Bộ luật dân sự năm 2015 Người nào muốn khẳng định