Đặc biệt, chủ nghĩa Mác với tư cách là một công cụ phân tích đã có thể phát triển bên trong và thích ứng với môi trường thay đổi của các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là với những lo ngạ
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM
Lênin
Đề tài: Tại sao Chủ nghĩa Mác - Lênin có quan điểm đúng về nhận thức? Từ đó rút ra những ý nghĩa phương pháp luận, vận dụng những ý nghĩa đó xem xét quá trình
cải cách nền giáo dục ở nước ta hiện nay.
GVHD: NGUYỄN THỊ THU HÀ TSV:
MSSV:
Lớp HP:
TP.HCM ngày 22 tháng 3 năm 2022
z
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường Đại học Kiến Trúc TP.HCM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN:
Họ và tên sinh viên:
………
Mã số sinh viên:
……….
Mã lớp học phần:
………
ĐIỂM CỦA BÀI TIỂU LUẬN
Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 1
Họ tên và chữ ký của cán bộ chấm thi thứ 2 Ghi bằng số Ghi bằng chữ
Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày…… tháng……năm 2022
Sinh viên nộp bài
Ký tên
Trang 3MỞ ĐẦU Chủ nghĩa Marx mang lại cho các nhà lý luận chính trị và xã hội một khuôn khổ thực tế, năng động và toàn diện nhất cho phép nghiên cứu nguyên nhân của chiến tranh trong tính ‘tổng thể’ của nó; trong đó vượt qua ranh giới của mỗi lý thuyết về quan hệ quốc tế và bao gồm các khía cạnh chính trị, xã hội và kinh tế của nguyên nhân gây ra chiến tranh Đặc biệt, chủ nghĩa Mác với tư cách là một công cụ phân tích đã có thể phát triển bên trong và thích ứng với môi trường thay đổi của các mối quan hệ quốc tế, đặc biệt là với những lo ngại về xung đột toàn cầu Việc xem xét chủ nghĩa Mác, từ những hình thức thô sơ và sự tiến triển của nó vào các ứng dụng ngày nay chứng tỏ rằng chủ nghĩa Mác là cơ sở cực kỳ khả thi để phân tích nguyên nhân của mọi mặt
I Tại sao Chủ nghĩa Mác - Lênin có quan điểm đúng về nhận thức?
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hệ tư tưởng chính thức của Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết (Liên Xô) trước đây và do sự mở rộng của phong trào cộng sản quốc tế trong thế kỷ XX Chủ nghĩa duy vật biện chứng, một phương pháp triết học tiếp cận hiện thực bắt nguồn từ các tác phẩm của Karl Marx và Friedrich Engels Đối với Mác và Ăngghen, chủ nghĩa duy vật có nghĩa là thế giới vật chất, có thể cảm nhận được bằng giác quan, có thực tại khách quan độc lập với trí óc hay tinh thần Họ không phủ nhận tính thực tế của các quá trình tinh thần hoặc tâm linh nhưng khẳng định rằng các ý tưởng có thể nảy sinh, do đó, chỉ là sản phẩm và sự phản ánh của các điều kiện vật chất Đối với họ, những quan điểm về duy vật và duy tâm đã bị đối lập không thể hòa giải trong suốt quá trình phát triển của lịch sử triết học Họ đã áp dụng một cách tiếp cận duy vật triệt để, cho rằng bất kỳ nỗ lực nào để kết hợp hoặc dung hòa chủ nghĩa duy vật với chủ nghĩa duy tâm đều phải dẫn đến sự nhầm lẫn và không nhất quán
Sự thể chế hóa chủ nghĩa Mác - Lênin của chủ nghĩa Stalin trong những năm
1930 đã chứa đựng ba nguyên tắc giáo điều, có thể xác định được, đã trở thành mô
Trang 4hình rõ ràng cho tất cả các chế độ kiểu Xô Viết sau này: chủ nghĩa duy vật biện chứng là cơ sở vô sản duy nhất cho triết học, vai trò hàng đầu của Đảng cộng sản với
tư cách là nguyên tắc trung tâm của chính trị Mác xít, và công nghiệp hóa có kế hoạch do nhà nước lãnh đạo và tập thể hóa nông nghiệp làm nền tảng của kinh tế xã hội chủ nghĩa Ảnh hưởng toàn cầu của ba sự đổi mới về học thuyết và thể chế này làm cho thuật ngữ Chủ nghĩa Mác-Lê-nin trở thành một nhãn hiệu thuận tiện cho một loại trật tự tư tưởng riêng biệt — một trật tự ý thức hệ, ở đỉnh cao của quyền lực và ảnh hưởng, đã thống trị một phần ba dân số thế giới
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã tồn tại trong điều kiện cho rằng có mối quan hệ cần thiết
giữa chủ nghĩa độc tài và chính trị cánh tả, và ngược lại, giữa chủ nghĩa dân chủ và chủ nghĩa tư bản thị trường tự do Bác bỏ tiền đề rằng có một mối quan hệ tất yếu, xuyên lịch sử
giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa độc tài, dự án này định vị điểm mấu chốt lịch sử đã đóng chúng cùng nhau sản sinh ra chủ nghĩa Lê-nin và các học thuyết của Phép biện chứng
Chủ nghĩa duy vật và Chủ nghĩa duy vật lịch sử thời Liên Xô thời Stalin
II Những ý nghĩa phương pháp luận :
Ngoài chức năng thế giới quan, phương pháp luận là một trong hai chức năng
cơ bản nhất của triết học, nó định hướng cho con người xác định, lựa chọn, sử dụng phương pháp trong nhận thức và hoạt động thực tiễn một cách hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay, do chưa nghiên cứu sâu, có nhiều người vẫn hiểu chưa đúng và chưa phân biệt giữa phương pháp luận với phương pháp luận triết học; ngoài ra, họ còn đồng nhất phương pháp với phương pháp luận, phương pháp luận với phương pháp hệ,
Trang 5phương pháp luận với phương pháp luận triết học Việc nhầm lẫn này sẽ đánh giá không đúng vị trí, vai trò của triết học trong cuộc sống cũng như hạ thấp chức năng của triết học
Vai trò của phương pháp luận triết học đối với nhận thức và thực tiễn thể hiện
ở chỗ nó chỉ đạo sự tìm kiếm, xây dựng; lựa chọn và vận dụng các phương pháp để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn; đóng vai trò định hướng trong quá trình tìm tòi, lựa chọn và vận dụng phương pháp
Với tư cách là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới,
về vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó, triết học đóng vai trò là hạt nhân lý luận của thế giới quan Triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình củng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng trong lịch sử Trang bị thế giới quan đúng đắn mới chỉ là một mặt của triết học Mác - Lênin Với tư cách là hệ thống tri thức chung nhất của con người về thế giới và vai trò của con người trong thế giới đó, triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất Phương pháp luận của triết học Mác - Lênin đã góp phần quan trọng chỉ đạo, định hướng cho con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Chính vì những điều trên, trong quá trình giảng dạy triết học, giảng viên cần phải chú trọng hơn vào phần ý nghĩa phương pháp luận, tập trung làm rõ nội dung ý nghĩa phương pháp luận
Trong kết cấu, phần ý nghĩa phương pháp luận nằm ở cuối bài, ngay sau phần nội dung Phần này định hướng cho học viên áp dụng kiến thức lý luận đã học vào trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Theo logic thì đây chính là phần cần thiết nhất, phục vụ trực tiếp cho người học Học viên cần phải nắm vững và ghi nhớ phần này Để làm được điều đó, giảng viên cần phải chỉ rõ cơ sở lý luận để rút ra ý nghĩa phương pháp luận đó, như thế học viên mới có cơ sở để thừa nhận ý nghĩa phương pháp luận đó bằng sự hiểu biết có cơ sở khoa học chứ không phải bằng sự áp đặt Cơ
sở của ý nghĩa thường nằm ở phần nội dung, chẳng hạn cơ sở của quan điểm khách quan chính là tính thứ nhất của vật chất, cơ sở của quan điểm toàn diện là ở mối liên
Trang 6hệ phổ biến Vì vậy, giảng viên cần phải chỉ ra mối liên hệ giữa nội dung và phần ý nghĩa, qua đó, họ viên có sự liên tưởng logic hơn
Khi giảng nội dung ý nghĩa phương pháp luận, giảng viên cần lấy ví dụ để làm
rõ nội dung Từ một hiện tượng, nhiệm vụ cụ thể, giảng viên phải chỉ ra trong nhận thức học viên cần phải như thế nào, và có những hành động gì để hiện thực hóa lý luận đã học Ví dụ: từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, giảng viên phải chỉ cho học viên quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể trong nhận thức, đồng thời phải có những tác động vào từng mối liên hệ, có trọng tâm trọng điểm, tránh cào bằng, dàn trãi trong hành động Đồng thời với đó, giảng viên chỉ ra những quan điểm đối lập, những hạn chế cần phải khắc phục trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Ví dụ: trong khi nhấn mạnh vai trò của thực tiễn thì phải chỉ ra cách phòng chống bệnh kinh nghiệm, đề cao vai trò lý luận thì phải tránh bệnh giáo điều, …
Những luận điểm trên đã minh chứng phải hiểu đúng và phương pháp và phương pháp luận, từ đó có thái độ đúng đắn với phương pháp luận triết học Mác – Lênin, đồng thời giúp học viên học chương trình Trung cấp LLCT-HC ở các trường chính trị có cách nhìn các sự vật, hiện tượng trong đời sống kinh tế - xã hội và có cách giải thích, giải quyết hợp lý, cách biến tư duy thành hành động, biến lý luận khoa học thành thực tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội
Không thể phủ nhận rằng một số lý luận của Marx, Engels và Lenin không còn phổ biến nữa; tuy nhiên, phương pháp luận của họ vẫn còn giá trị; chẳng hạn, nguyên
lý mâu thuẫn giữa các mặt đối lập, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Ngoài ra, quan điểm lịch sử loài người nhất thiết phải trải qua các hình thái kinh tế - xã hội, sự tác động qua lại giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng và ngược lại, v.v chìa khóa để chúng tôi áp dụng vào thực tế Những giá trị bền vững còn bắt nguồn từ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Lịch sử cho thấy mỗi quốc gia đều phát triển theo quỹ đạo riêng của mình Sự phát triển của Việt Nam ngày nay là sự tiếp nối những thành tựu đã đạt được trong quá khứ
Trang 7III Quá trình cải cách nền giáo dục ở nước ta hiện nay:
Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đất nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn trong công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở tư tưởng và giá trị bền vững của Đảng và Nhân dân ta Trong đó, cải cách giáo dục là chuyện quan trọng và phổ biến nhất ở nước ta hiện nay
Công cuộc đổi mới giáo dục thực tế ở Việt Nam mà họ gọi là đổi mới bắt đầu
từ năm 1975 khi hai hệ thống giáo dục riêng biệt của hai miền đất nước Nam Bắc Việt Nam thống nhất thành một hệ thống quốc gia Ban đầu, chương trình giảng dạy quốc gia còn rời rạc và đặc trưng bởi sự tắc nghẽn của việc cung cấp các môn học vì học sinh nhận được các chương trình giảng dạy lên đến 13 môn học trong một ngày học Mặc dù đã có những nỗ lực để có tỷ lệ nhập học cao và tỷ lệ người biết chữ cao, nhưng tỷ lệ này vẫn còn rất ít với tỷ lệ đăng ký học quá cao, bỏ học sớm, tỷ lệ tiếp cận và tham gia không đồng đều Nói chung, chất lượng giảng dạy được coi là yếu và được bảo vệ quá mức trong việc cung cấp nội dung môn học Đồng thời, quá trình dạy-học và các phương pháp và tài liệu hướng dẫn không hoạt động chính xác vì việc đào tạo giáo viên và các hệ thống liên quan khác không hoạt động tốt
Các chiến lược để minh oan hoặc sắp xếp hợp lý một số môn học rất lớn đã chi phối cải cách chương trình giảng dạy đã được đưa ra vào năm 1981/82 và một lần nữa trong các năm học 1986/87 Nỗ lực tiếp theo là vào năm 1994 Năm 1994, chính phủ Việt Nam đưa ra chiến lược giảm số môn học ở trường để làm cho giáo dục phổ thông đáp ứng tốt hơn nhu cầu và yêu cầu của thị trường lao động Cải cách giáo dục mạnh mẽ này đã được truyền sang phát triển vào cuối năm 1997 khi một khuôn khổ được tổ chức để hiện đại hóa giáo dục nhằm hỗ trợ các cải cách thị trường trên phạm
vi rộng Chiến lược cải cách giáo dục thực hiện đồng thời hai cánh, tăng cường hệ thống giáo dục và tăng cường các quy định của khu vực tư nhân Hệ thống giáo dục bốn bậc trước đây (mầm non, phổ thông, dạy nghề và giáo dục đại học) đã được sửa
Trang 8đổi để tạo điều kiện cho giáo dục trung học phổ thông tăng trưởng đáng kể với chi phí hợp lý hóa và giảm cơ cấu trong giáo dục nghề nghiệp
Trong suốt năm 1997, số lượng sinh viên đăng ký học tăng lên nghiêm ngặt và
để thích ứng với sự dồn nén này, hệ thống giáo dục đã bước vào quá trình tái cấu trúc
và chuẩn bị cho những sinh viên đó trở thành một lực lượng lao động do các lực lượng thị trường thúc đẩy Có một gánh nặng về sách giáo khoa rất lớn; đến năm học 1997/98, số lượng sách giáo khoa yêu cầu của lớp 6-9 mỗi năm là khoảng 50 cuốn
Có một số nỗ lực cải cách chương trình giảng dạy khác, nhưng tất cả những nỗ lực đó đều không thành công với gậy và bóng Những nỗ lực trong những năm 1980
và 1990 có thể có cơ hội thất bại vì nó không cho phép thời gian cần thiết để xây dựng chính sách và khuôn khổ pháp lý cho phép cải cách giáo dục được yêu cầu Theo nhiều khía cạnh, khuôn khổ này phản ánh nỗ lực của chính phủ trong việc đẩy nhanh cải cách thị trường và cuối cùng, sự phát triển này đã được chứng minh tốt nhất trong lịch sử
Năm 1993, chính phủ tái cam kết tiếp tục đổi mới giáo dục và một lần nữa, họ nhận ra rằng đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng đầu tư chính để phát triển Do đó, Thủ tướng Chính phủ quyết tâm xây dựng khung chung mới cho hệ thống giáo dục quốc dân nhằm nâng cao khả năng tiếp cận giáo dục phổ thông, tăng cường tỷ lệ chuyển tiếp lên và lưu ban ở cấp trung học cơ sở, nâng chuẩn và hoàn thiện cơ cấu giáo dục đại học Cuối cùng, đã có sự gia tăng ngân sách chính phủ dành cho giáo dục và cùng với đó là sự cải thiện dần dần trong việc cung cấp giáo dục Phân bổ của chính phủ tăng gần 12% ngân sách quốc gia (Ngân hàng Thế giới, 1996) Tuy nhiên, việc tài trợ cho việc nâng cấp toàn diện về định tính và định lượng đối với việc học tập, giảng dạy, các nguồn lực và cơ sở vật chất là không cần thiết Vì vậy, chính phủ đã thừa nhận sáu chương trình phát triển quy mô lớn bao gồm 32 dự
Trang 9án khác nhau, thu hút sự tham gia của cộng đồng tài trợ quốc tế với một danh mục đầu tư gợi ý nhằm củng cố và hiện đại hóa hệ thống giáo dục của Việt Nam
Các nhà hoạch định chính sách đã nhận thức và tăng cường nguyên tắc chỉ đạo
là "đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển." Điều đáng chú ý là Việt Nam duy trì mối quan hệ rất thuận lợi với quá trình phát triển giáo dục, đồng thời với quy hoạch phát triển tiểu vùng Quá trình cải cách giáo dục đã đạt được cơ sở thực tiễn khi một nghiên cứu chung do Bộ Giáo dục Đào tạo (MOET), Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và UNESCO tổ chức vào năm 1991 Nghiên cứu chỉ ra một số lỗ hổng và điểm yếu đáng kể trong toàn hệ thống Đó là :
Sự suy giảm về số lượng và chất lượng giáo dục phổ thông.
Mối liên kết giữa giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, sản xuất và việc làm còn kém.
Sự không phù hợp của giáo dục đại học và mối liên kết kém với nghiên cứu, sản xuất và việc làm.
Một hệ thống tổ chức và đào tạo không phù hợp.
Sự bất cập của giáo dục và đào tạo trong một xã hội đang thay đổi (CHXHCNVN, 1995, trang 24-25).
Tìm ra những lỗ hổng, báo cáo cũng đề xuất một định hướng chiến lược để cải thiện Các hành động từng bước bao gồm phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000, tiến tới phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2005 với độ bao phủ toàn quốc vào năm 2010, và cải thiện mối liên kết giữa giáo dục trung học, kỹ thuật và dạy nghề Theo thời gian, chính phủ nhận thấy rằng có một số lĩnh vực như đào tạo giáo viên, chương trình giảng dạy và phương pháp đánh giá, cải tiến thiết kế và cung cấp
đồ dùng dạy học và cung cấp tài liệu đọc mặc dù thư viện cho học sinh trung học là
Trang 10những lĩnh vực yếu cần được tăng cường Chính phủ cũng lo lắng về hiệu quả của Bộ
GD & ĐT trong việc thiết kế chương trình và biên soạn sách giáo khoa
Chính quyền hiểu rằng số lượng người dân và cộng đồng có hoàn cảnh khó khăn bị bỏ lại phía sau để tiếp nhận giáo dục và sách giáo khoa Họ không thể tiếp cận và không tiếp cận được với giáo dục cơ bản chính thống và các dịch vụ xã hội cơ bản khác Do đó, ban quản lý đã mở rộng các trường nội trú và sắp xếp việc đào tạo nhân viên và trí thức có nguồn gốc dân tộc thiểu số Để hỗ trợ các nhóm dân tộc thiểu
số và dễ bị tổn thương, chính phủ đã có những biện pháp can thiệp lớn như xây dựng trường học ở vùng lũ lụt và vùng núi, xây dựng trường học chống chịu bão lụt, xây dựng các trường trung học cơ sở ở các vùng khó khăn, đa dạng hóa giáo dục không chính quy, v.v ADB lo ngại về sự bất bình đẳng trong giáo dục và do đó được khuyến khích tập trung hoạt động lập trình vào một số lĩnh vực này Họ đã xúc tiến thông qua một dự án cho vay để hiện đại hóa chương trình trung học cơ sở, giảm số môn học và viết lại sách giáo khoa để phù hợp với khung chương trình mới và phù hợp với người học Năm 1997, Thủ tướng Chính phủ đã công bố chiến lược phát triển giáo dục của Việt Nam từ năm 1996 đến năm 2020, trong đó nhấn mạnh đến việc chính thức hóa chiến lược tăng trưởng giáo dục theo hướng hiện đại hóa và công nghiệp hóa Bộ giáo dục được giao nhiệm vụ xây dựng văn bản chiến lược chính sách đến năm 2020 và các chi tiết về công cụ của các chương trình giáo dục cơ bản
do Ngân hàng Thế giới và ADB hỗ trợ đã được thực hiện bởi sáng kiến lớn hơn Có được những thay đổi này, Bộ đã đề ra kế hoạch chiến lược đổi mới giáo dục quốc dân các năm 1996-2000, 2001-2005, 2006-2010 và 2011-2020 Họ chuẩn bị cho phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2005, đồng thời lập kế hoạch phổ cập giáo dục trung học với việc đưa vào cơ cấu lại chương trình vào năm 2000 hoặc 2001 và hoàn thành vào năm 2010
Việc ban hành kế hoạch chiến lược của Thủ tướng và Bộ trưởng đã trở thành
kế hoạch quốc gia về cơ hội và phương hướng cải cách giáo dục Tại Việt Nam, nhiều tổ chức hoặc cơ quan đã tham gia vào quá trình ra quyết định, điều này đôi khi khiến quá trình này bị trì hoãn Các nhà hoạch định chính sách đã xác định rằng