So sánh quy định của các quốc gia khác và việt nam về trách nhiệm cung cấp thông tin So sánh quy định của các quốc gia khác và việt nam về trách nhiệm cung cấp thông tin So sánh quy định của các quốc gia khác và việt nam về trách nhiệm cung cấp thông tin
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỀ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG
HÁC VÀ VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM CUN
GVHD: Phan Thị Hương Giang
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
I.TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM 4
1.1.Khái quát chung 4
1.1.1. Khái quát chung về người tiêu dùng 4
1.1.2. Khái quát chung về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho ngư ời tiêu dùng 4
1.1.3. Ý nghĩa của việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng 5
1.2.Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng 5
1.2.1. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng 5
1.2.2. Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch v ụ cho người tiêu dùng 8
II.SO SÁNH TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN Ở CÁC QUỐC GIA VÀ VIỆT NAM 9
2.1 Đài Loan 9
2.1 Liên minh châu Âu 12
2.3.Lào 16
2.4.Thái Lan 17
III.BẤT CẬP VÀ ĐỀ XUẤT 19
3.1.Một số bất cập 19
3.2.Đề xuất 20
KẾT LUẬN 22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi kinh tế phát triển, đời sống xã hội không ngừng được cải thiện, nhucầu tiêu dùng của các cá nhân, gia đình theo đó cũng tăng lên Tuy nhiên, trong quan hệtiêu dùng, người tiêu dùng thường ở rơi vào yếu thế và bị động Chính vì vậy, Việt Nam vàcác nước trên thế giới đã xây dựng hệ thống pháp luật bao gồm Luật bảo vệ quyền lợingười tiêu dùng và các văn bản khác có liên quan nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng,hợp pháp của người tiêu dùng Trong đó, để ngăn chặn tình trạng bất cân xứng về thông tingiữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh cũng như để người tiêu dùng có thểđưa ra những lựa chọn, quyết định phù hợp, pháp luật đã đưa ra quy định về trách nhiệmcung cấp thông tin của tổ chức, cá nhân kinh doanh Tuỳ vào từng quốc gia, khu vực vàvùng lãnh thổ mà trách nhiệm cung cấp thông tin được pháp luật quy định sẽ có những nộidung và cách thức thực hiện khác nhau Sau đây nhóm 1 sẽ đi vào phân tích và so sánhgiữa trách nhiệm cung cấp thông tin ở Việt Nam với một số quốc gia và vùng lãnh thổkhác
Trang 5I TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN TẠI VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung
1.1.1 Khái quát chung về người tiêu dùng
Khái niệm “Người tiêu dùng” có thể được hiểu ở các góc độ khác nhau như:
Ở góc độ kinh tế, người tiêu dùng là những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo bởi nềnkinh tế Ở góc độ pháp lý, khi pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng ra đời, khái niệm ngườitiêu dùng mới được giải thích tại khoản 1, Điều 3 Luật BVNTD: “Người tiêu dùng là ngườimua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổchức.”
Luật bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam không có quy định cụ thể về hàng hóa, dịch
vụ tiêu dùng Tuy nhiên, có thể hiểu được đó là hàng hóa, dịch vụ được phép lưu thông vàđược người mua về để sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cá nhân hoặc giađình
Vấn đề bảo về quyền lợi người tiêu dùng được ngày càng quan tâm vì gắn liền vớithực tế khi người ta có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm một cách đúng đắn, đồng thời bảo đảmđược lợi ích của mình Hơn nữa, người tiêu dùng thường ở vị trí yếu thế hơn trong các giaodịch thương mại liên quan đến hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng
1.1.2 Khái quát chung về trách nhiệm cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng là việc mà tổchức, cá nhân kinh doanh phải có trách nhiệm tuân thủ theo quy định của pháp luật đối vớingười tiêu dùng Tổ chức, cá nhân kinh doanh sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợitheo quy định của pháp luật nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ cáctrách nhiệm đối với người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về trách nhiệm của tổ chức, cánhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ chongười tiêu dùng để bảo đảm quyền “Được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ; nguồn gốc,xuất xứ hàng hóa; được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch vàthông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng đã mua, sử dụng.” (theokhoản 2, Điều 8 về quyền của người tiêu dùng quy định ở Luật bảo vệ quyền lợi người tiêudùng)
Trang 61.1.3 Ý nghĩa của việc cung cấp thông tin cho người tiêu dùng
Theo hướng dẫn của Liên hợp quốc, quyền được cung cấp thông tin là một trongtám quyền cơ bản của người tiêu dùng “Khắc phục vị trí yếu thế của người tiêu dùng” vàđặc biệt là khắc phục tình trạng “bất cân xứng về thông tin giữa người tiêu dùng và tổchức, cá nhân kinh doanh” là hai trong những định hướng chủ yếu khi xây dựng Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng của các quốc gia trên thế giới cũng như tại Việt Nam
Để đảm bảo người tiêu dùng có thể đưa ra một quyết định, một lựa chọn đúng đắn thìthông tin về hàng hoá, dịch vụ mà người tiêu dùng đang cân nhắc mua hoặc sử dụng là vấn
đề quan trọng, đặc biệt quan trọng trong giai đoạn trước khi người tiêu dùng mua hay xáclập giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh Người tiêu dùng cần có những thông tin cơbản nhất về hàng hoá, dịch vụ như: nguồn gốc xuất xứ, giá cả, chất lượng, tính năng côngdụng, chế độ hậu mãi, phương thức thanh toán… cũng như về tổ chức, cá nhân kinh doanhhàng hoá, dịch vụ đó như: uy tín, thương hiệu, năng lực hoạt động, địa điểm kinh doanh,địa điểm thực hiện việc bảo hành, sửa chữa hàng hóa…
Tuy nhiên, những thông tin này thì người tiêu dùng hoặc bất kỳ ai khác đều khó có thểtiếp cận được bởi những hạn chế về độ chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cũng nhưphương tiện để thực hiện Vì vậy, việc quy định các tổ chức, cá nhân kinh doanh nghĩa vụcung cấp thông tin cho người tiêu dùng là cần thiết và là một trong những nghĩa vụ quantrọng nhất, cơ bản nhất trong pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng
1.2.1 Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấpthông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng được quy định tại điều 12 Luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng như sau:
Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật.
Quy định pháp luật liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề “ghi nhãn hàng hóa”chính là Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 về nhãn hàng hóa.Đây là Nghị định được ban hành căn cứ quy định của Luật Chất lượng sản phẩm,hàng hóa 2007, Luật Thương mại 2005 và Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010
Trong Nghị định số 43/2017/NĐ-CP, các khái niệm pháp lý cơ bản liên quanđến ghi nhãn hàng hóa đã được xây dựng như “Nhãn hàng hóa” và “Ghi nhãn hàng hóa”.
Trang 7Căn cứ quy định của Nghị định này thì các thương nhân có trách nhiệm ghi nhãnđối với mọi loại hàng hóa do mình sản xuất, cung cấp và phải bảo đảm ghi nhãntrung thực, rõ ràng, chính xác, phản ánh đúng bản chất của hàng hóa.
Nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện các nội dung: tên hàng hóa; tên và địa chỉcủa tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; xuất xứ hàng hóa; các nội dungkhác theo tính chất của mỗi loại hàng hóa được quy định tại Phụ lục I của Nghị định này và văn bản quy phạm pháp luật liên quan ( Điều 10)
Nghị định số 43/2017/NĐ-CP đã quy định khá rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm ghinhãn hàng hóa của thương nhân Ngoài ra, khi cung cấp các hàng hóa, thương nhâncũng cần thực hiện theo các quy định đặc thù trong những văn bản quy phạm phápluật chuyên ngành, trong đó có bổ sung thêm một số nội dung hướng dẫn cụ thểhơn Nghị định số 43/2017/NĐ-CP, chủ yếu do yêu cầu riêng xuất phát từ đặc điểmcủa hàng hóa
Ví dụ, đối với thực phẩm, Nghị định số 43/2017/NĐ-CP quy định doanh nghiệpphải ghi thành phần hoặc chất trong thành phần phức hợp của hàng hóa thuộc loạiđặc biệt có sử dụng chất bảo quản mà đã quy định liều lượng sử dụng và xếp trongdanh sách gây kích ứng, độc hại đối với người, động vật và môi trường, phải ghitên chất bảo quản kèm theo các thành phần này Nghĩa vụ này có tác dụng phòngngừa tác động xấu của hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng
Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ tại địa điểm kinh doanh, văn phòng
dịch vụ.
Giá hàng hóa, dịch vụ được coi là một yếu tố quan trọng trong giao dịch giữaNTD và tổ chức kinh doanh hàng hóa dịch vụ, nó phản ánh giá trị mà NTD phảitrả để nhận được hàng hóa, dịch vụ Về nguyên tắc, mọi thương nhân khi cung cấphàng hóa, cung ứng dịch vụ cho NTD đều phải niêm yết giá Vấn đề niêm yết giáhàng hóa, dịch vụ được quy định tại Luật Giá 2012 và các văn bản hướng dẫn.Luật Giá 2012 đã xây dựng được các khái niệm cơ bản có liên quan, trong đó
có khái niệm về “niêm yết giá” tại khoản 6 Điều 4: “Niêm yết giá là việc tổ chức,
cá nhân sản xuất, kinh doanh thông báo công khai bằng các hình thức thích hợp,
rõ ràng và không gây nhầm lẫn cho khách hàng về mức giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bằng Đồng Việt Nam bằng cách in, dán, ghi giá trên bảng, trên giấy hoặc trên bao bì của hàng hóa hoặc bằng hình thức khác tại nơi giao dịch hoặc nơi chào bán hàng hóa, dịch vụ để thuận tiện cho việc quan sát, nhận biết của khách hàng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền”.
Trang 8Luật Giá 2012 yêu cầu các thương nhân phải công khai thông tin về giá và quy định rõ hình thức không khai chính là “niêm yết giá” và khoản 5 điều 12 quyđịnh nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phải niêm yết đúng giá
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và mua, bán đúng giá niêm yết Đối với hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá còn đối với hàng hóa, dịch vụ không
thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước định giá thì không được mua, bán cao hơn giá tự mình niêm yết
Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính
mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa
Nghĩa vụ thông tin về khả năng hàng hóa có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tínhmạng, tài sản của người tiêu dùng được quy định trong Nghị định số 43/2017/NĐ-
CP ngày 14/04/2017 về nhãn hàng hóa và một số văn bản dưới luật khác Nghĩa vụthông tin cảnh báo này phải được ghi nhận trên nhãn hàng hóa Nghĩa vụ này cònđược ghi nhận trong các tài liệu hướng dẫn sử dụng đi kèm với sản phẩm hoặctrong chính hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung do tổ chức, cá nhânkinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo
Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của
hàng hóa.
Các doanh nghiệp lớn, uy tín thường thực hiện tốt trách nhiệm cung cấp thôngtin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa Do quá trình vận chuyển, mua bán và tạo điều kiện cho các nhà phân phối, danh nghiệp cung cấp sản phẩm thường đưa thời gian bảo hành linh kiện, phụ kiện khác với thời gian bảo hành của sản phẩm chính
Ví dụ, đối với các loại xe cơ giới, thời gian bảo hành thiết bị sạc pin hoặc ắc-quy khác với thời gian bảo hành xe nên các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm này
sẽ phải thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế
Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành
trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành.
Nghĩa vụ cung cấp hướng dẫn, sử dụng được thực hiện trước khi giao kết hợpđồng (ví dụ ghi trên nhãn hàng hóa, bao bì sản phẩm, tài liệu hướng dẫn sử dụngsản phẩm), trong và cả sau khi hợp đồng được giao kết (theo quy định ở Điều
443 BLDS)
Trang 9Thông tin liên quan đến bảo hành được quy định trong Luật BVQLNTD gồm
có thông tin về điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành Trên thực tế, nhằmcạnh tranh với các đối thủ, các doanh nghiệp thường nghiêm túc thực hiện nghĩa
vụ thông tin về bảo hành cho người tiêu dùng để đánh vào tâm lý người tiêu dùng tin tưởng vào hàng hóa nào được bảo hành dài hạn hơn khi so sánh giữa các hàng hóa cùng loại
Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều
kiện giao dịch chung trước khi giao dịch.
Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có quy định tại Điều 405 và Điều 406 BLDS
Nghĩa vụ công bố, công khai thông tin về nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có thể được thực hiện tại trụ sở doanh nghiệp hay trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp hoặc bằng tài liệu gửi cho người tiêu dùng Người tiêu dùng có thể nắm thông tin thông qua việc đọc các quy định, điềukhoản trong hợp đồng theo mẫu Tuy nhiên, thực tế người tiêu dùng khó có thời gian nghiên cứu trước về hợp đồng hoặc thời gian đọc kỹ hợp đồng
Ngoài Luật bảo vệ người tiêu dùng thì ta cũng thấy về nghĩa vụ cung cấp thông tin trong một số văn bản khác Theo khoản 1 điều 14 Luật thương mại 2005 thì thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hóa và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó hay điều 45 Luật cạnh tranh 2018 cũng cấm hành vi đưa thông tingian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác
1.2.2 Trách nhiệm của bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng
Bên cạnh các tổ chức, các nhân kinh doanh, luật bảo vệ NTD còn đặt ra trách nhiệmđối với bên thứ ba trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho NTD
Khái niệm “bên thứ ba” trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ choNTD được xây dựng từ Nghị định số 19/2012/NĐ-CP, sau đó được tích hợp vào Nghị định
số 185/2013/NĐ-CP Theo đó, “bên thứ ba” trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa,
Trang 10dịch vụ cho NTD được xác định bao gồm các tổ chức cá nhân trực tiếp tham gia vào quátrình xây dựng và truyền tải thông tin về hàng hóa, dịch vụ đến NTD 1
Các trách nhiệm của bên thứ ba quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật BVQLNTDgồm các nội dung bao gồm: đảm bảo cung cấp thông tin chính xá, đầy đủ; yêu cầu tổ chức,
cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp chứng cứ chứng minh tính chính xác, đầy
đủ của thông tin về hàng hóa, dịch vụ; chịu trách nhiệm liên đới khi cung cấp thông tinkhông chính xác hoặc không đầy đủ và tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí,pháp luật về quảng cáo
Ngoài những trách nhiệm nêu trên, Luật BVQLNTD cũng đưa ra quy định thêm củabên thứ ba đối với chủ phương tiện truyền thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền thông ởkhoản 2 Điều 13, đó là các nội dung liên quan tới vấn đề quấy rối NTD như: xây dựng,phát triển giải pháp kỹ thuật ngăn chặn vấn đề quấy rối NTD; từ chối cho tổ chức, cá nhânkinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụng phương tiện, dịch vụ của mình quản lý nếu có khảnăng quấy rối NTD; ngừng cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sử dụngphương tiện, dịch vụ do mình quản lý theo yêu cầu của NTD hoặc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền
II SO SÁNH TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN Ở CÁC QUỐC GIA VÀ VIỆT NAM
2.1 Đài Loan
Trách nhiệm cung cấp thông tin trong Luật Bảo vệ NTD 1994 của Đài Loan chủ2yếu tập trung ở Điều 4 và Điều 5, trong đó nhấn mạnh đến tính xác thực, đầy đủ củathông tin cũng như khuyến khích việc tăng cường và cung cấp thông tin mà NTD sử dụngqua đó đảm bảo cách cư xử phù hợp và hợp lý của NTD được chấp nhận, để đảm bảo lợi
ích, sự an toàn của NTD, cụ thể tại Điều 4 có quy định “Các doanh nghiệp kinh doanh phải quan tâm đến sức khỏe, sự an toàn của NTD đối với những hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, đồng thời phải giải thích cho NTD cách sử dụng hàng hóa, dịch vụ, đảm bảo sự trung thực trong giao dịch, cung cấp cho NTD những thông tin đầy đủ, xác thực,
và thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi NTD.” và Điều 5 có nội dung
“Chính quyền, các doanh nghiệp kinh doanh và NTD phải cùng nhau nỗ lực tăng cường thông tin tiêu dùng
1 Th.S Cao Xuân Quảng, “Trách nhiệm của thương nhân trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng ở Việt Nam: Từ quy định của pháp luật đến thực tiễn thi hành” (Tạp chí Công thương, ngày 06/11/2020) < http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/trach-nhiem-cua-thuong-nhan-trong-viec-cung-cap-thong-tin-ve- hang-hoa-dich-vu-cho-nguoi-tieu-dung-o-viet-nam-tu-quy-dinh-cua-phap-luat-den-thuc-tien-thi-hanh-76100.htm >, truy cập ngày 24/09/2021.
2 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Đài Loan năm 1994 (sửa đổi và bổ sung năm 2005):
Trang 11<http://vibonline.com.vn/bao_cao/luat-bao-ve-nguoi-tieu-dung-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi-3>.
Trang 12và cung cấp các thông tin mà NTD sử dụng qua đó đảm bảo cách cư xử phù hợp và hợp
lý của NTD được chấp nhận, để đảm bảo được lợi ích và sự an toàn của họ.”
Đối chiếu với Luật BVNTD ở Việt Nam (về trách nhiệm cung cấp thông tin quyđịnh tại Điều 12, Điều 13), chúng ta có thể thấy:
Thứ nhất, về “Ghi nhãn hàng hóa”, Luật BVNTD của Đài Loan có quy định về
việc ghi nhãn hàng hóa phải phù hợp với Luật về Nhãn sản phẩm và các quy định
pháp luật khác có liên quan tại Điều 24 với nội dung “Doanh nghiệp kinh doanh phải dán nhãn sản phẩm, dịch vụ phù hợp với Luật về Nhãn sản phẩm và các quy định pháp luật khác có liên quan…”
Thứ hai, đối với vấn đề “Niêm yết giá”, Luật BVNTD của Đài Loan không quy
định cụ thể về trách nhiệm niêm yết giá của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,dịch vụ nhưng có quy định về trách nhiệm “Xúc tiến duy trì giá cả hợp lý của hànghóa và dịch vụ” của Chính phủ (khoản 6 Điều 3) và trách nhiệm “Điều tra, đốichiếu, nghiên cứu và thông báo về giá của hàng hóa và dịch vụ” của Tổ chức bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng (khoản 2 Điều 28), nhằm đảm bảo giá cả phù hợpvới NTD
Thứ ba, việc “Cảnh báo rủi ro từ hàng hóa, dịch vụ và biện pháp phòng ngừa”,
Luật BVNTD ở Đài Loan cũng có quy định tại Điều 7 là “ Trong trường hợp hàng hóa hoặc dịch vụ gây nguy hại đến tính mạng, cơ thể, sức khỏe hoặc tài sản của người tiêu dùng, một cảnh báo và phương pháp đối phó trong trường hợp khẩn cấp đối với những nguy hiểm đó phải được ghi tại một vị trí thích hợp trên sản phẩm ”
Thứ tư, Luật BVNTD của Đài Loan chưa có quy định cụ thể liên quan đến trách
nhiệm “Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện hàng hóa”
Thứ năm, về “Hướng dẫn sử dụng, bảo hành”, Luật BVNTD ở Đài Loan có quy
định ở các Điều khoản cụ thể cho từng nội dung, đó là ở Điều 4 đã nêu ở trên và
Điều 25 là “Doanh nghiệp kinh doanh phải chủ động cung cấp văn bản bảo hành khi họ tiến hành bảo hành cho người tiêu dùng những vấn đề liên quan đến chất lượng hàng hóa hoặc dịch vụ….”, bên cạnh đó Điều 25 cũng quy định văn bản bảo
hành nêu trên phải quy định rõ những điểm như: Tên, chủng loại và số lượng hànghóa hoặc dịch vụ và, số sản xuất hoặc số lô sản xuất nếu có; nội dung bảo hành;thời hạn bảo hành và phương pháp tính điểm bắt đầu thời hạn bảo hành đó; tên vàđịa chỉ của nhà sản xuất; tên, địa chỉ của nhà phân phối (trong trường hợp hàng
Trang 13hóa hoặc dịch vụ được bán bởi doanh nghiệp phân phối) và ngày có hiệu lực củagiao dịch.