Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân Văn hóa tổ chức đời sống cá nhân
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
-NỘI DUNG THUYẾT TRÌNH
VĂN HÓA TỔ CHỨC ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN
Giảng viên hướng dẫn: Lê Huyền Trang
Mã học phần: 212VH0417
Danh sách nhóm:
1 Đặng Phạm Thiên Như – K214080580
2 Bùi Cát Lượng Ngân Hà – K214080568
3 Đỗ Thị Tuyết Nhung – K214080579
4 Thái Lê Kim Ngân – K214080576
5 Từ Thiên Kim – K214080572
6 Lương Thị Thanh Thảo – K215022249
7 Nguyễn Lê Hùng – K215041198
8 Nguyễn Quốc Quỳnh Anh – K214080564
9 Nguyễn Thị Bảo Nhi – K214080578
Trang 2MỤC LỤC
I TÍN NGƯỠNG 3 I.1 TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰ _3 I.2 TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI TỰ NHIÊN 5 I.3 TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI CON NGƯỜI 6
II PHONG TỤC _7 II.1 PHONG TỤC HÔN NHÂN 7 II.2 PHONG TỤC TANG MA _9 II.3 PHONG TỤC LỄ TẾT VÀ LỄ HỘI _10 III VĂN HÓA GIAO TIẾP VÀ NGHỆ THUẬT NGÔN _11 III.1 CÁC ĐẶC TRƯNG GIAO TIẾP CƠ BẢN CỦA NGƯỜI VIỆT. _11 III.2 CÁC ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA NGHỆ THUẬT NGÔN TỪ VIỆT NAM 13
IV NGHỆ THUẬT THANH SẮC VÀ HÌNH KHỐI 15 IV.1 TÍNH BIỂU TRƯNG _15 IV.2 TÍNH BIỂU CẢM _16 IV.3 TÍNH TỔNG HỢP _16 IV.4 TÍNH LINH HOẠT _16
Trang 3I TÍN NGƯỠNG
Định nghĩa: tín ngưỡng là hệ thống các niềm tin mà con người tin vào để giải thích thế
giới và để mang lại sự bình an cho cá nhân và cộng đồng
I.1 TÍN NGƯỠNG PHỒN THỰ
(phồn: nhiều; thực: nảy nở), nghĩa chung là sự sinh sản, phát triển
I.1.1 Nguồn gốc tín ngưỡng phồn thực
Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở Từ thực tiễn này cùng với trình độ nhận thức còn hạn chế, con người nhìn thấy ở hiện thực một sức mạnh siêu nhiên, bởi vậy mà sùng bái nó như thần thánh, kết quả là xuất hiện tín ngưỡng phồn thực Qua tín ngưỡng, con người cầu mong sinh được nhiều con cháu để có nhiều sức lao động, khai khẩn đất đai, thuần dưỡng vật nuôi với hi vọng mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no
I.1.2 Biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực
- Thờ sinh thực khí/ cơ quan sinh dục (sinh: đẻ, thực: nảy nở, khí: công cụ)
→ Hình thái đơn giản của tín ngưỡng phồn thực, phổ biến ở các nền văn hóa nông nghiệp
VD:
Nhà mồ Tây Nguyên
Thông thường, ở hai bên cửa nhà mồ đều có một cặp tượng trai gái đang phô bày cơ quan sinh dục của mình hoặc giao hoan Đứng bên cặp tượng trai gái đó, là tượng đàn bà chửa, còn các góc quanh rào là tượng những hài nhi đang ngồi
Di sản Mỹ Sơn
Nơi đây còn tồn tại hơn 70 công trình kiến
trúc do người Chămpa xây dựng từ thế kỷ
thứ 7 Được xem như là cội nguồn của sự
sáng tạo và không thể thiếu trong mỗi đền
Trang 4tháp Champa, linga - yoni (bộ phận sinh dục của nam, nữ) là biểu tượng sống động thể hiện tín ngưỡng phồn thực của người Chăm xưa
Linga là bộ sinh thực khí nam, tượng trưng cho thần Siva - một trong ba vị thần tối cao của Ấn Độ giáo - biểu tượng cho dương tính
và năng lực sáng tạo
Yoni là bộ sinh thực khí nữ, tượng trưng cho thần Uma - vợ của thần Siva - biểu tượng cho âm tính
Tục cúng Lỗ Lường
+ Tục cúng Lỗ Lường của người dân làm nghề
lưới đăng ở xã Ninh Phước (thị xã Ninh Hòa,
Khánh Hòa) tại đảo Hòn Đỏ ngày 19 – 20/2 âm
lịch hằng năm
+ Trong lễ hội này gồm lễ rước nghinh ông ra bờ
biển và làm lễ tế Sáng sớm hôm sau ngày lễ hội
nghinh ông của làng, tức là ngày 20/2 âm lịch,
những người làm lưới đăng mang lễ vật ra đảo
(chủ yếu là thịt heo sống) bày biện làm lễ dâng thần Nơi đặt ban thờ trong hang – chỗ sẽ tái hiện trò giao hợp Ngư dân Ninh Hoa tin rằng thực hiện các nghi lễ như vậy thì Bà Lường (mà ngư dân xem là thần biển) sẽ…thích thú, cho ngư dân được mùa tôm cá
- Thờ hành vi giao phối → Dạng tín ngưỡng phồn thực độc đáo, phổ biến ở khu
vực ĐNA
VD:
Nắp thạp đồng ở làng Đào
Thịnh (Yên Bái) Tượng nam nữ giao hoan trên
nắp thạp đồng Đào Thịnh
Trang 5Chày và cối - bộ công cụ thân thiết của người dân Đông Nam Á - là những vật tượng trưng
cho sinh thực khí nam và nữ, còn việc giã gạo là tượng trưng cho hành động giao phối Trên các trống đồng khắc rất nhiều những hình nam nữ giã gạo từng đôi
Tục giã cối đón dâu: nhà trai bày chày cối ra trước cổng, khi dâu về đến nơi thì người nhà trai cầm chày mà giã không vào cối mấy tiếng - nghi lễ cầu chúc cho đôi vợ chồng trẻ được
đông con nhiều cháu → Trống đồng - Biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực:
+ Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo
+ Cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo
I.2 TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI TỰ NHIÊN
Thờ động vật:
Tiên Rồng là một cặp đôi (chỉ có tư duy theo triết
lí âm dương mới có vật tổ cặp đôi), trong đó Tiên được trừu tượng hóa từ giống chim (cho nên Mẹ
Âu Cơ đẻ trứng), còn Rồng được trừu tượng hóa
từ hai loài bò sát rắn và cá sấu có rất nhiều ở vùng sông nước Đông Nam Á Đó cũng là hai loài vật biểu của phương Nam và phương Đông trong Ngũ hành
Cuộc sống của người dân Việt Nam gắn liền với vùng sông nước nên từ xa xưa họ đã tôn sùng cá sấu là loài vật đại diện cho sự
trù phú và sức mạnh, nguyên nhân một
phần do cá sấu phổ biến và thường làm
hại các cư dân quanh sông hay vồ táp
những người lội sông, tắm sông
Tại Cần Thơ còn một ngôi chùa cổ kính
mang tên là chùa Ông Vàm Đầu Sấu
Chùa Ông Vàm Đầu Sấu Cần Thơ là
ngôi chùa linh thiêng gắn liền với câu
chuyện truyền thuyết cá sấu mê hát bội
ở Chợ Nổi Cái Răng
Thờ thực vật
Trang 6Thực vật được tôn sùng nhất là cây Lúa: khắp nơi – dù là vùng người Việt hay vùng các dân tộc – đều có tín ngưỡng thờ Thần Lúa, Hồn Lúa, Mẹ Lúa…
Phú Thọ là địa phương gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng Hùng
Vương - vốn được coi là Thần tổ của nghề nông Bởi vậy, trong nhiều lễ hội đầu năm tại Phú Thọ, mọi người sẽ dễ nhận ra những nghi thức và diễn xướng dân gian gắn liền với cây lúa, hạt thóc hay vua quan dạy dân cày cấy vô cùng độc đáo
→ Các lễ thức trong các lễ hội cho thấy tục thờ lúa trong các lễ hội truyền thống luôn gợi nhớ truyền thuyết về vua Hùng Đây chính là đặc trưng của những tập tục tín ngưỡng nông nghiệp lúa nước được gắn với không gian văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương thời dựng nước, thông qua những câu chuyện tái hiện trong các lễ hội nhằm mang lại cho người dân đời sống ấm no
I.3 TÍN NGƯỠNG SÙNG BÁI CON NGƯỜI
Trong con người có cái vật chất và cái tinh thần Cái tinh thần trừu tượng, khó nắm bắt, nên người xưa đã thần thánh hóa nó thành khái niệm “linh hồn”, và linh hồn trở thành đầu mối của tín ngưỡng
Thờ cúng tổ tiên: Niềm tin rằng chết là về nơi chín
suối, tin rằng tuy ở nơi chín suối nhưng ông bà tổ tiên vẫn thường xuyên đi về thăm nom, phù hộ cho con cháu
là cơ sở hình thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên
Thờ Thổ Công: Thổ Công, một dạng của Mẹ Đất, là vị
thần trông coi gia cư, định đoạt phúc họa cho một gia đình Sống ở đâu thì có Thổ Công ở đó: Đất có Thổ Công, sông có Hà Bá
Trong phạm vi thôn xã, quan trọng nhất là việc thờ thần làng (Thành Hoàng) Thành Hoàng trong một làng là vị thần cai quản, che chở, định đoạt phúc họa cho dân làng đó
Trong nhà thờ gia tiên, trong làng thờ
Thành Hoàng, thì trong nước, người Việt
Nam thờ Vua Tổ – vua Hùng Mảnh đất
Phong Châu (Phú Thọ), nơi đóng đô của
các vua Hùng khi xưa, trở thành đất Tổ
Ngày 10-3 là ngày giỗ Tỗ) (Tục thờ Vua
Tổ chỉ có ở Việt Nam – điều này càng
cho thấy tính đặc thù của tục thờ cúng tổ
tiên ở người Việt Nam)
Trang 7 Người Việt Nam còn có một tín ngưỡng đặc biệt là tục thờ Tứ bất tử (bốn vị thánh không chết): Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử, và Liễu Hạnh
Tản Viên (với truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh) và Thánh Gióng (với truyền thuyết Thánh Gióng) là biểu tượng cho sức mạnh đoàn kết của một cộng đồng cư dân nông nghiệp để, một mặt, ứng phó với môi trường tự nhiên là chống lụt và, mặt khác, ứng phó với môi trường xã hội là chống giặc ngoại xâm Sự phối hợp thần thánh ấy đã dựng nên ĐẤT NƯỚC
Chủ Đồng Tử – người nông dân nghèo với hai bàn tay trắng, đã cùng vợ gây dựng
nên cơ nghiệp với phố xá sầm uất, mang vàng ra biển buôn bán với khách thương nước ngoài – chính là biểu tượng cho ước mơ thứ nhất
Liễu Hạnh – người con gái quê từ bỏ cuộc sống đầy đủ trên Thiên Đàng, xin vua
cha cho xuống trần gian để sống cuộc đời của một người phụ nữ bình dị với khát vọng về tự do, hạnh phúc – chính là hiểu tượng cho ước vong thứ hai Hai ước vọng thiêng liêng ấy đã tạo nên CON NGƯỜI
→ Như vậy, tục thờ Tứ bất tử là một giá trị văn hóa tinh thần rất đẹp của dân tộc ta Đó là tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử biểu tượng cho sức mạnh liên kết của cộng đồng để làm ruộng và đánh giặc, cho khát vọng xây dựng một cuộc sống vật chất phồn vinh và tinh thần hạnh phúc
II PHONG TỤC
Phong: gió, tục: thói quen → phong tục: thói quen lan rộng, được đại đa số mọi người thừa nhận và làm theo Tập trung xem xét 3 nhóm chủ yếu: phong tục hôn nhân, tang ma, lễ Tết
và lễ hội
II.1 PHONG TỤC HÔN NHÂN
1 trong 2 đặc trưng cơ bản của làng xã VN là tính cộng đồng, nó chi phối đời sống cá nhân
kể cả hôn nhân (lĩnh vực riêng tư nhất)
II.1.1 Quyền lợi của gia tộc
- Hôn nhân là việc xác lập quan hệ giữa 2 gia tộc → việc đầu tiên cần làm là lựa chọn 1 dòng họ, 1 gia đình xem cửa nhà 2 bên có môn đăng hộ đối không
- Đối với cộng đồng gia tộc, hôn nhân còn là 1 công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực
→ Để đáp ứng 2 nhu cầu này, khi xem xét con người trong hôn nhân, người nông nghiệp
VN quan tâm trước hết đến năng lực sinh sản của họ Khi kén dâu, lấy vợ thì họ phải chọn
Trang 8“Đàn bà thắt đáy lưng ong, Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con” và xem xét các quan hệ khác: “Mua heo chọn nái, lấy gái chọn dòng; Ăn mày nơi cả thể, làm rể nơi nhiều con”…
Gắn với nhu cầu và khát vọng này còn có tục “giã cối đón dâu” và tục nhờ người phụ nữ đứng tuổi, đông con, phúc hậu, vợ chồng song toàn vào trải đôi chiếu (1 ngửa, 1 sấp – 1 âm
1 dương ép vào nhau)
- Không chỉ duy trì dòng giống, người con tương lai còn có trách nhiệm làm lợi cho gia đình (con gái phải đảm đang tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho gđ nhà chồng; con trai phải giỏi giang, đem lại vẻ vang (nguồn lợi tinh thần) cho gđ nhà vợ: “Chồng sang vợ được đi giày, Vợ ngoan chồng được tối ngày cậy trông”…)
II.1.2 Hôn nhân còn phải đáp ứng quyền lợi của làng xã
Mối quan tâm hàng đầu của người VN là sự ổn định làng xã Quan niệm chọn vợ chọn chồng cùng làng cũng thể hiện rõ yêu cầu ổn định của làng xã này
- Khi con lấy vợ, nhà trai phải nộp cho làng xã 1 khoản “lệ phí” gọi là “cheo” → đám cưới được công nhận hợp pháp (có các câu ca dao, tục ngữ: “Nuôi lợn thì phải vớt bèo, Lấy vợ thì phải nộp cheo cho làng; Lấy vợ 10 heo, không cheo cũng mất”) Người cùng làng lấy nhau → nộp ít (có tính tượng trưng), gọi là cheo nội; lấy vợ ngoài làng → cheo rất nặng, gấp đôi gấp 3 cheo nội, gọi là cheo ngoại Chính Nhà nước như thời Gia Long cũng có quy định như vậy (“về tiền cheo thì nhà giàu phải nộp 1 quan 5 tiền, nhà bậc trung nộp 6 tiền, nhà nghèo nộp 3 tiền Nếu lấy người làng khác thì phải nộp gấp đôi.”)
→ Nhìn chung, lịch sử hôn nhân VN luôn là ls hôn nhân vì lợi ích của cộng đồng, tập thể (tiêu biểu là các cuộc hôn nhân nổi danh như Mị Châu- Trọng Thủy, công chúa Huyền Trân – vua Chàm Chế Mân, công chúa Ngọc Hân – Nguyễn Huệ)
II.1.3 Khi các quyền lợi của tập thể cộng đồng đã được tính đến và được đáp ứng, lúc
ấy người ta mới lo đến những nhu cầu riêng tư.
- Sự phù hợp của đôi trai: thể hiện bằng việc hỏi tuổi (chạm ngõ) Để quan hệ vợ chồng bền vững, khi cưới, đôi vợ chồng trẻ có tục trao nhau nắm đất và gói muối: tượng trưng cho lời nguyền gắn bó với đất đai- làng xóm và mong tình nghĩa giữa 2 người luôn mặn
mà, thủy chung (“Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”) Sau này thay cho đất và muối, trong lễ vật dẫn cưới luôn có 1 loại bánh đặc biệt có ý nghĩa là bánh su sê (đọc chệch của từ phu thê) Khi làm lễ hợp cẩn còn có tục 2 vợ chồng ăn chung 1 đĩa cơm nếp, uống chung 1 chén rượu → mong cho 2 vợ chồng luôn gắn bó, thủy chung
- Quan hệ mẹ chồng-nàng dâu: khi cô dâu mới bước vào nhà, có tục mẹ chồng ôm bình vôi lánh sang nhà hàng xóm (bởi vì trong gđ nông nghiệp VN, người phụ nữ được xem là “nội
Trang 9tướng”, người mẹ chồng lánh đi có ý nhường quyền “nội tướng” tương lai cho con dâu để trong gđ trên thuận dưới hòa Nhưng đó là trong tương lai còn hiện tại thì chưa nên mẹ chồng mới phải ôm theo chiếc bình vôi-biểu tượng quyền lực của người phụ nữ)
II.2 PHONG TỤC TANG MA
II.2.1 Người Việt bị giằng kéo giữa 2 thái cực: 1 mặt cho rằng chết là về nơi “thế giới bên kia”, xem như việc đưa tiễn, mặt khác cho rằng chết dẫn đến chia biệt, dẫn đến việc xót thương.
- Xem tang ma như về “thế giới bên kia”: chuẩn bị rất chu đáo: lo sắm áo quan (quan tài), nhờ thầy địa đi tìm đất, rồi xây mộ (các vua chúa thường lo tất cả chuyện này rất chu đáo thường là ngay từ khi mới lên ngôi →các lăng mộ ở Huế trở thành thắng cảnh) Những người còn sống đưa tiễn người chết cũng rất chu đáo: nghi thức đặt tên hèm (khi cúng giỗ, con trưởng sẽ khấn tên hèm và Thổ thần chỉ cho phép linh hồn có mật danh đúng như thế vào hưởng), lễ mộc dục (tắm gội cho người chết) và lễ phạn hàm (bỏ nhúm gạo nếp và 3 đồng tiền vào miệng hàm ý gạo dùng thay bữa, tiền để đi đò) Trước khi đưa tang, cúng thần coi sóc các ngả đường để xin phép Trên đường đi có tục rắc vàng giấy làm lộ phí cho
ma quỷ Đến nơi, làm lễ tế Thổ thần xin phép cho người chết được “nhập cư”
- Xót thương (muốn níu kéo, giữ lại): tục khiêng người chết đặt xuống đất, tục gọi hồn thể hiện hi vọng mong người chết sống lại, tục khóc than, con cháu k lòng dạ nào mà dùng đồ tốt, k tâm trí nào mà nghĩ đến việc ăn mặc, đau buồn quá nên đứng k vững, đau buồn quá
dễ sinh quẩn trí, va đập thành trùng tang
→ Ở lĩnh vực tang lễ, ta có thể thấy rõ tính cộng đồng: biết nhà có tang, bà con xóm làng chạy tới giúp rập, lo toan; nhìu nơi láng giềng còn để tang người chết
II.2.2 Phong tục tang lễ của ta thấm nhuần rất sâu sắc tinh thần triết lí Âm Dương Ngũ Hành
- Màu sắc: tang lễ VN truyền thống dùng màu trắng là màu của hành Kim (hướng tây) Theo Ngũ Hành, mọi thứ liên quan đến hướng tây đều bị xem xấu: nơi để mồ mả thường là hướng tây Sau màu trắng là màu đen (màu của hành Thủy-phương Bắc theo Ngũ Hành) Chỉ khi chắt, chút để tang cụ, kị thì mới dùng các màu tốt như màu đỏ và vàng (tốt vì đó là bằng chứng cho thấy các cụ sống lâu) Tất cả đều theo đúng trình tự ưu tiên trong Ngũ Hành
- Loại số: âm ứng với số chẵn, dương ứng với số lẻ → mọi thứ liên quan đến người chết đều phải là số chẵn: lạy trước linh cữu thì phải lạy 2 hoặc 4 lạy, hoa cúng thì phải làm số chẵn (trừ trường hợp cúng Phật, cúng cha mẹ sau khi đoạn tang thì thắp 3 nén nhang), cầu thang nhà mồ của các dân tộc miền núi phải làm số chẵn Luật âm dương về việc phân biệt
Trang 10tang cha và tang mẹ: khi con trai chống gậy để tang thì cha gậy tre, mẹ gậy vông (thân tre tròn: dương, cành vông đẽo thành hình vuông: âm) Đưa tang và để tang có tục cha đưa mẹ đón (tang cha - đi sau quan tài, tang mẹ - đi giật lùi phía đầu quan tài) và tục áo tang cha thì mặc trở đằng sống lưng ra, tang mẹ mặc trở đằng sống lưng vô
→ Phong tục tang lễ phổ biến và chính thống của ta còn thừa kế được tinh thần dân chủ
truyền thống Thọ Mai gia lễ của ta quy định cha mẹ phải để tang con, ông bà và cụ kị cũng
để tang hàng cháu, hàng chắt
II.3 PHONG TỤC LỄ TẾT VÀ LỄ HỘI
II.3.1 Các ngày lễ tết được phân bố theo thời gian trong năm, xen vào các khoảng trống trong lịch thời vụ (chữ “tết” biến âm từ chữ “tiết”) Lễ tết gồm 2 phần: cúng tổ tiên
(lễ) và ăn uống bù cho lúc làm lụng đầu tắt mặt tối (tết hay người ta còn gọi là “ăn tết”)
- Trong năm, quan trọng nhất là Tết Nguyên Đán (nguyên=bắt đầu, đán=buổi sáng) hay còn gọi là Tết ta hoặc Tết cả Đặc trưng văn hóa điển hình nhất là nếp sống cộng đồng: từ
23 tháng chạp (ngày ông Táo lên Trời) người dân nô nức đi chợ tết, giết lợn, gói bánh chưng Tết còn là dịp duy nhất trong năm có sự sum họp đầy đủ của tập thể gia đình, gia tiên và gia thần Tính cộng đồng của Tết bộc lộ trong tục mừng tuổi
- Các Tết Thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), Trung nguyên (Rằm tháng Bảy), Hạ nguyên (Rằm tháng Mười) rất được coi trọng Thuộc loại Tết ngày rằm còn có Trung Thu (rằm Tháng Tám)
- Ngoài ra còn có Tết Đoan Ngọ (5-5) là Tết của xứ nóng phương Nam ta kỉ niệm thời điểm giữa năm Đây là thời điểm nóng nực, nhiều bệnh tật phát sinh →gọi là Tết giết sâu
bọ với tục dùng lá móng nhuộm móng tay móng chân cho trẻ, ăn rượu nếp và hoa quả chua chat và giờ Ngọ đi hái lá (lá ngải, ích mẫu, lá muỗm…) phơi khô để dùng uống cả năm Ngoài ra trước đây còn có Tết Ngâu 7-7
- 23 tháng chạp là ngày Tết Ông Táo, các gia đình sắm 2 mũ ông 1 mũ bà cùng với cá chép
để ông lên chầu Trời Và đêm 30 Ông Táo trở về cùng gia đình bước vào năm tiếp theo- hệ thống lễ Tết thành 1 chu trình khép kín, âm dương chuyển hóa cho nhau
II.3.2 Khác với lễ Tết, lễ hội là hệ thống phân bố theo không gian vì lễ hội diễn ra theo vùng, mỗi vùng có lễ hội riêng Lễ hội có 2 phần: phần lễ và phần hội.
- Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình Ta có thể phân biệt 3 loại lễ hội: lễ hội liên quan đến cuộc sống trong quan hệ với môi trường tự nhiên (lễ hội cầu mưa, hội xuống đồng, hội đâm trâu, hội cơm mới…), lễ hội liên quan đến
cuộc sống trong quan hệ với môi trường xã hội (kỉ niệm các anh hung dựng nước và giữ nước – hội Đền Hùng, hội Gióng, hội đền An Dương Vương, hội Tây Sơn…) và lễ hội liên