(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay(Luận án tiến sĩ) Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LIÊU CHÍ TRUNG
HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, 2022
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
-
LIÊU CHÍ TRUNG
HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG
HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu trong luận án đều được trích dẫn nguồn trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận án
Liêu Chí Trung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 8
1.1 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 8 1.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 17 1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề đặt
ra nghiên cứu trong luận án 21
Kết luận Chương 1 24 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 26
2.1 Khái niệm, đặc điểm, địa vị pháp lý của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 26 2.2 Vai trò và các mối quan hệ của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 36 2.3 Thể chế hóa bằng pháp luật các vấn đề về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 42 2.4 Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự 51 2.5 Đại diện nhân dân tham gia vào hoạt động xét xử trong các
mô hình tố tụng hình sự 55
Kết luận Chương 2 69 Chương 3: THỰC TIỄN QUY ĐỊNH VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM 71
3.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về hội thẩm nhân dân trong
tố tụng hình sự 71 3.2 Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam 89
Trang 5Chương 4: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA HỘI THẨM NHÂN DÂN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 115
4.1 Yêu cầu tăng cường vai trò của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam 115 4.2 Các giải pháp tăng cường vai trò của hội thẩm nhân dân trong
tố tụng hình sự 121
Kết luận Chương 4 145 KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI 149 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 150
Trang 6DANH MỤC VIẾT TẮT
+ Bộ luật Tố tụng hình sự : BLTTHS + Cộng hòa xã hội chủ nghĩa : CHXHCN
Trang 7DANH MỤC PHỤ LỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Danh mục bảng
Bảng 2.1 Phân biệt giữa bồi thẩm viên và hội thẩm nhân dân 160 Bảng 3.1 So sánh phụ thẩm nhân dân và hội thẩm nhân dân 161 Bảng 3.2 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án hình sự có hội thẩm
nhân dân tham gia của TAND TP Hải Phòng 2015-2021 162 Bảng 3.3 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án hình sự có hội thẩm
nhân dân tham gia của TAND TP Hà Nội 2015-2021 162 Bảng 3.4 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án hình sự có hội thẩm
nhân dân tham gia của TAND TP Đà Nẵng 2015-2021 163 Bảng 3.5 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án hình sự có hội thẩm
nhân dân tham gia của TAND TP Hồ Chí Minh 2015-2021 163 Bảng 3.6 Thời gian xem xét hồ sơ trước phiên tòa của thẩm phán trong
vụ án hình sự 164 Bảng 3.7 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án có hội thẩm nhân dân
tham gia của TAND huyện Hoài Đức (Hà Nội) 2008-2018 164 Bảng 3.8 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án có hội thẩm nhân dân
tham gia của TAND huyện Tiên Lữ (Hưng Yên) 2008-2018 165 Bảng 3.9 Trình độ học vấn của hội thẩm nhân dân cấp tỉnh tại một số
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhiệm kỳ 2016-2021 165 Bảng 3.10 Trình độ hội thẩm nhân dân cấp tỉnh có kiến thức luật và
trình độ chuyên môn khác tại một số tỉnh, nhiệm kỳ 2016-2021 166 Bảng 3.11 Hội thẩm nhân dân tái cử và tham gia lần đầu tại một số tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, nhiệm kỳ 2016-2021 166 Bảng 3.12 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án có hội thẩm nhân dân
tham gia của TAND huyện Phúc Thọ (Hà Nội) 2015-2021 166 Bảng 3.13 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án có hội thẩm nhân dân
tham gia của TAND quận Hoàng Mai (Hà Nội) 2015-2021 167
Trang 8Bảng 3.14 Bảng thống kê kết quả xét xử các vụ án có hội thẩm nhân dân
tham gia của TAND quận Dương Kinh (Hải Phòng) 2015-2021 167 Bảng 3.15 Tình hình giải quyết, xét xử án hình sự theo thủ tục sơ thẩm,
phúc thẩm cả nước năm 2018, 2019, 2020 168 Bảng 3.16 Cơ cấu hội thẩm nhân dân cấp tỉnh kiêm nhiệm tại một số tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương, nhiệm kỳ 2016-2021 169
Danh mục biểu đồ
Biểu đồ 3.1 Vai trò đại diện cho người dân tham gia xét xử trong các vụ
án hình sự của hội thẩm nhân dân như vừa qua? 170 Biểu đồ 3.2 Yếu tố chính khiến vai trò, nhiệm vụ của hội thẩm nhân dân
khó đạt như yêu cầu là do? 170 Biểu 3.3 Hầu hết các quyết định của hội đồng xét xử vừa qua, hội thẩm
nhân dân đều thể hiện đồng tình với quan điểm của thẩm phán (chủ tọa phiên tòa), nguyên nhân vì? 171 Biểu đồ 4.1 Hội thẩm nhân dân chiếm đa số (2/3 hoặc 3/5) trong hội
đồng xét xử và trực tiếp tham gia xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự theo quy định của pháp luật như hiện nay? 171 Biểu đồ 4.2 Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử trong các vụ án hình sự
vừa qua? 172 Biều đồ 4.3 Sự tham gia của hội thẩm nhân dân trong hoạt động xét xử
hiện nay ở Việt Nam? 172 Biều đồ 4.4 Để phát huy vai trò đại diện nhân dân tham gia xét xử các
vụ án hình sự thực sự hiệu quả nên theo mô hình? 173
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phán quyết của tòa án về vụ án hình sự được thể hiện bằng bản án hoặc quyết định của hội đồng xét xử không những liên quan trực tiếp đến quyền sống, quyền tự do hay sinh mệnh chính trị của mỗi cá nhân mà nó còn có thể ảnh hưởng lớn đến xã hội, uy tín của nhà nước Chính vì ý nghĩa đặc biệt đó nên pháp luật luôn coi trọng quy định trình tự, thủ tục tố tụng, xét xử hết sức chặt chẽ nhằm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nhưng đồng thời cũng nhằm tránh bất công, hạn chế oan, sai và bảo vệ quyền con người
Trải qua hàng nghìn năm phát triển của lịch sử xã hội loài người, đến nay luật pháp ở hầu hết các nước đều quy định đại diện nhân dân tham gia xét xử các vụ
án hình sự Tuy nhiên, tùy theo quan điểm, điều kiện ở mỗi quốc gia, mô hình tổ chức, cách thức thực hiện mà có tên gọi khác nhau, như “bồi thẩm”, “hội thẩm”,
“thẩm phán không chuyên”,… nhưng về cơ bản nó đều nhằm thể hiện tính dân chủ, nhân đạo và để các phán quyết của tòa án đảm bảo công lý, công bằng
Ở Việt Nam, từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, xét xử có hội thẩm đã trở thành nguyên tắc hiến định, được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Hội thẩm tham gia xét xử vụ án hình sự không chỉ dựa trên cơ sở pháp luật mà còn dựa trên các giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội để đánh giá tính chất, mức độ, sự tác động mà hành vi của bị cáo và các sự việc liên quan đối với xã hội Đây cũng là cách thức để nhân dân trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước, giám sát hoạt động tư pháp, đồng thời góp phần để các phán quyết tư pháp không bị lệ thuộc một cách cứng nhắc vào các quy phạm pháp luật, giúp cho việc xét xử được chính xác, khách quan, công bằng Hơn nữa, hội thẩm là những người có kiến thức thực
tế, gắn liền với đời sống xã hội nên trong quá trình thực hiện vai trò của mình, họ còn là nhịp cầu nối giữa tòa án và cộng đồng, tích cực hỗ trợ cho công tác tuyên truyền và thực thi pháp luật
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và để xây dựng thành công nhà nước pháp quyền XHCN, vấn đề phát huy dân chủ, bảo vệ quyền con người tiếp tục đặt ra với những yêu cầu mới Nghị quyết số 08-NQ/TW
Trang 10ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới xác định “Khi xét xử, các tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ khách quan; thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, của bị cáo, nguyên đơn, bị đơn” [6] Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng chỉ rõ “Tòa án có vị trí trung tâm
và xét xử là hoạt động trọng tâm”, đồng thời đặt ra yêu cầu “Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai dân chủ, nghiêm minh,…” [8]
Tuy nhiên, đến nay vai trò của HTND nói chung và HTND trong TTHS vẫn chưa thực sự được phát huy, nhiều quy định và quá trình tổ chức thực hiện đang bộc
lộ những hạn chế, bất cập Không ít vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý, trách nhiệm của HTND trong xét xử cũng như hoạt động, quản lý hội thẩm chưa được làm rõ; hoạt động của HTND trong TTHS chưa đáp ứng đúng yêu cầu; tình trạng vi phạm pháp luật, oan sai trong các vụ án hình sự vẫn diễn ra khá nghiêm trọng Thống kê cho thấy, trong cơ cấu thành phần hội thẩm hiện nay có đến 99,95 % hội thẩm đại diện cho 7% dân số Việt Nam là cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng hưu trí, nhưng chỉ có 0,03% hội thẩm đại diện cho 93% dân số còn lại tham gia hoạt động xét xử của tòa án [4] Chỉ tính từ 1/1/2010 đến hết năm 2020 các cơ quan nhà nước giải quyết xong trên 420 vụ việc bồi thường oan sai với số tiền phải bồi thường ước tính trên 225 tỷ đồng [47] Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đánh giá “Mặc dù Nghị quyết 49-NQ/TW xác định “tòa án có vị trí trung tâm”, nhưng trên thực tế, vị trí và vai trò của tòa án chưa được đặt đúng tầm Hoạt động của các TAND các cấp vẫn còn một số sai sót, chất lượng xét xử chưa cao;
có nhiều vụ án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; nhiều vụ án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn bị đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm… Một bộ phận nhân dân chưa thực sự tin tưởng tính đúng đắn của nhiều bản án, quyết định của TAND” [2, tr.114]
Trang 11Từ một số phân tích trên cho thấy, việc nghiên cứu về HTND trong TTHS một cách toàn diện, khoa học, có hệ thống nhằm làm rõ bản chất, thực trạng để chỉ
ra những ưu điểm, khuyết điểm, cũng như những bất cập, hạn chế, đồng thời đề ra các giải pháp phù hợp, nhằm đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp là một trong những nhiệm vụ hết sức cấp thiết Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án
- Câu hỏi nghiên cứu trọng tâm: Làm thế nào để hoàn thiện quy định và thực hiện có hiệu quả vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay?
- Lý thuyết nghiên cứu:
Hệ thống lý luận về tố tụng nói chung và lý luận về chính sách pháp luật, chính sách TTHS nói riêng; định hướng, chiến lược cải cách tư pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN
Lý thuyết về chế định HTND nói chung, HTND trong TTHS nói riêng trong tư pháp TTHS
- Giả thuyết nghiên cứu
+ HTND trong TTHS được hình thành, phát triển và có quan hệ, chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó có chính sách pháp luật của nhà nước nhằm phát huy dân chủ, đảm bảo công bằng, công lý và quyền con người
+ Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về HTND trong TTHS còn nhiều bất cập, nhất là ở quá trình tham gia xét xử của HTND trong vụ án hình sự
+ Các giải pháp hoàn thiện HTND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay chưa được
nghiên cứu, thực hiện một cách đầy đủ, toàn diện
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, thực tiễn về HTND trong TTHS, luận
án đề xuất các giải pháp tăng cường vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên đây, luận án tập trung thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 12Thứ nhất, xem xét, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, làm rõ những kết quả nghiên cứu đã công bố, xác định những khoảng trống, các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu
Thứ hai, làm rõ khái niệm, đặc trưng, vai trò của HTND trong TTHS; xem xét
về các mối quan hệ, cơ sở hình thành, những yếu tố tác động đến HTND trong TTHS; quá trình hình thành, phát triển của đại diện nhân dân trong xét xử hình sự; việc tổ chức, hoạt động của một số mô hình TTHS tiêu biểu hiện nay trên thế giới
để liên hệ với Việt Nam
Thứ ba, phân tích, đánh giá quy định và thực tiễn thi hành quy định pháp luật
về HTND trong TTHS ở Việt Nam từ khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay; chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó
Thứ tư, phân tích các yêu cầu và đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam trên cơ sở phù hợp với đặc thù tình hình chính trị - xã hội Việt Nam và xu hướng phát triển hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, thực tiễn quy định pháp luật và thi hành quy định về HTND trong TTHS ở Việt Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu quy định về hội thẩm nhân dân trong xét xử
vụ án hình sự thuộc thẩm quyền của TAND cấp tỉnh và cấp huyện ở Việt Nam
- Về thời gian: Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong đó tập trung vào giai đoạn từ khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận mà luận án sử dụng gồm: Phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà nước CHXHCN Việt Nam về xây dựng và cải cách tư pháp Từ phương pháp chung đó,
Trang 13tác giả sử dụng hướng tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành đối với nội dung nghiên cứu của luận án
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu trong từng chương, mỗi tiểu mục, vấn đề của luận án, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp, như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để nghiên cứu phân tích, tổng
hợp các văn bản, tài liệu, số liệu liên quan đến quy định của pháp luật về HTND và hoạt động xét xử đã và đang được áp dụng trong thực tiễn; các kết quả nghiên cứu
đã được công bố và áp dụng;
- Phương pháp thống kê: Sử dụng để thống kê từ số liệu thực tế và kết quả
hoạt động thực tế liên quan đến HTND trong TTHS của các cơ quan chức năng và tài liệu tin cậy từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay;
- Phương pháp lịch sử: Sử dụng để tìm hiểu, nghiên cứu quá trình hình
thành, phát triển và hoạt động TTHS có sự tham gia của quần chúng nhân dân;
- Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh HTND nói chung và HTND
trong TTHS ở từng giai đoạn tại Việt Nam và một số mô hình TTHS tiêu biểu của các nước thực hiện việc người dân tham gia xét xử;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Sử dụng để tổng kết và rút ra những
vấn đề có tính nguyên tắc của chế định HTND;
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Sử dụng lựa chọn các tài liệu, số liệu,
mô hình tiêu biểu có liên quan từ các kết quả nghiên cứu, thu thập để làm căn cứ, cơ
sở cho các nội dung luận án
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng để thu thập ý kiến của các chuyên
gia, nhà khoa học, người làm việc trong các cơ quan tiến hành tố tụng,… để làm rõ đánh giá, nhận xét về thực trạng vai trò, hoạt động của HTND trong TTHS ở Việt Nam
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình đầu tiên về HTND trong TTHS ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay với những điểm mới cơ bản như sau:
- Hệ thống, bổ sung, phân tích làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về khái niệm, vai trò, địa vị pháp lý, đặc điểm và các yếu tố tác động, mối quan
Trang 14hệ của HTND trong TTHS cũng như sự hình thành, phát triển của cơ chế đại diện nhân dân trong xét xử án hình sự
- Khảo sát, phân tích làm rõ quy định, thực tiễn hoạt động của HTND trong TTHS ở Việt Nam từ sau khi có Hiến pháp năm 2013 đến nay
- Phân tích về các ưu điểm, những bất cập, hạn chế và nguyên nhân của HTND trong TTHS hiện nay; các yếu tố liên quan đến công tác lựa chọn (bầu), quản lý hội thẩm; các điều kiện làm việc, chính sách đãi ngộ, trách nhiệm pháp lý của HTND trong TTHS
- Phân tích, so sánh về lý luận, thực tiễn một số mô hình TTHS tiêu biểu trên thế giới, quá trình phát triển của HTND trong TTHS ở Việt Nam; đồng thời nêu ra những yêu cầu tăng cường vai trò của HTND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay
- Kiến nghị các giải pháp (bao gồm cả lý luận, quy định pháp luật và hoạt động) tăng cường vai trò của HTND trong TTHS hiện nay ở Việt Nam Đặc biệt, luận án sẽ đề xuất một số giải pháp, quy định mới liên quan đến công tác quản lý; quá trình lựa chọn, bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm hội thẩm; thành phần HTND tham gia HĐXX và nhiệm vụ của HTND trong quá trình xét xử, nhằm nâng cao vị trí, vai trò, hiệu quả hoạt động của HTND trong TTHS
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa lý luận
Với việc làm rõ các vấn đề về quan điểm, điều kiện, thực trạng và nguyên nhân tồn tại, hạn chế, bất cập của HTND trong TTHS ở Việt Nam, luận án góp phần nhận thức một cách sâu sắc, đúng đắn, thống nhất những vấn đề lý luận về HTND trong TTHS trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án là tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy mang tính chuyên sâu về HTND trong TTHS; đồng thời là nguồn tham khảo cho công tác xây dựng pháp luật và phục vụ cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nghiên cứu, hoạt động tư pháp, xét xử
Trang 157 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Chương 2: Những vấn đề lý luận về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Chương 3: Thực tiễn quy định và thi hành pháp luật về hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam
Chương 4: Yêu cầu và các giải pháp tăng cường vai trò của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự ở Việt Nam hiện nay
Trang 36Ở Việt Nam, vai trò đại diện nhân dân tham gia xét xử được quy định và thực hiện xuyên suốt trong lịch sử tố tụng ở Việt Nam kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay Dù ở mỗi thời điểm, nó có tên gọi khác nhau, như “phụ thẩm” hay “hội thẩm” và có những quy định liên quan đến đến việc lựa chọn, sự tham gia với những điều chỉnh, thay đổi nhất định, nhưng vẫn luôn được duy trì, thể hiện bản chất của chế độ Đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc”, mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân Đại diện nhân dân tham gia xét xử đã và đang một mặt giúp cho các quyết định của tòa án được khách quan, toàn diện, có tính thuyết phục cao, mặt khác còn là một trong những cách thức để nhân dân tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, hệ thống tư pháp ở nước ta
Hội thẩm, do gắn bó trực tiếp với quần chúng nhân dân, không phải là một chuyên gia pháp luật, không chịu sự quản lý giống như thẩm phán, họ thấu hiểu đời sống, tâm tư nguyện vọng của người dân nên khi tham gia xét xử sẽ giúp cho việc phân tích đánh giá các sự việc, hiện tượng, hành vi thực tế, đầy đủ hơn, đồng thời là cầu nối phản ánh của thực tế cuộc sống với tòa án Từ đó, những chủ trương chính sách nói chung và phán quyết của tòa án nói riêng trở nên thuyết phục, tạo niềm tin cho quần chúng, tăng hiệu quả đối với quá trình giáo dục, thuyết phục trong cộng đồng
Thực tiễn hơn 75 năm qua ở Việt Nam, “hội thẩm” (bao gồm HTND và hội thẩm quân nhân) là những người được bầu hoặc cử ra để tham gia xét xử các vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án Cụ thể, đó là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có
uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực; có kiến thức pháp luật, hiểu biết xã hội và có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ của hội thẩm
Từ những phân tích khái quát trên đây có thể định nghĩa về hội thẩm như
sau: Hội thẩm là những người đại diện của nhân dân được bầu hoặc cử ra để cùng
thẩm phán trực tiếp tham gia xét xử và tiến hành tố tụng những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án theo quy định của pháp luật
Trên thực tế, HTND (hay hội thẩm TAND) là công dân Việt Nam, do chánh
án TAND địa phương (cấp huyện hoặc cấp tỉnh) đề nghị, y ban MTTQ Việt Nam lựa chọn, giới thiệu và do HĐND cùng cấp bầu ra theo nhiệm kỳ để làm nhiệm vụ
Trang 37xét xử những vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án theo quy định [66], [67], [72], [75], [125] Điều này khác với hội thẩm quân nhân được cử ra để tham gia xét xử trong các phiên tòa quân sự theo quy định của pháp luật [125] HTND tham gia tố tụng hay xét xử đối với các loại án khác nhau tại TAND địa phương, mà không phân biệt cụ thể là hình sự, hành chính, dân sự
Khái niệm về tố tụng hình sự và hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
Để thấy rõ hơn phần nào vị trí, vai trò của HTND trong TTHS cần xác định TTHS là gì Thực chất, “tố tụng hình sự” là cụm từ ghép gồm “tố tụng” và “hình sự” có nguồn gốc Hán tự Trải qua lịch sử, cụm từ này ngày nay đã được Việt hóa
và trở thành một thuật ngữ pháp lý quen thuộc Ở đó, “hình sự” là “việc trừng trị những tội xâm phạm đến nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự xã hội” [62, tr.570] “Tố tụng” (tiếng Anh là Procedural) được hiểu là thủ tục, quá trình gồm các hoạt động khác nhau nhằm giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, sai phạm theo quy định của pháp luật Theo quan niệm pháp lý, “tố tụng” chính là một bộ phận trong pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến trình tự, thủ tục tranh tụng như: các quy phạm pháp luật TTHS, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính,…
Theo Từ điển Luật học, TTHS là “trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự được quy định trong BLTTHS theo chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng và của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Luật TTHS chia hoạt động tố tụng hình sự thành các giai đoạn: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án hình sự Mỗi giai đoạn do cơ quan và người tiến hành tố tụng khác nhau thực hiện” [60, tr.521]
Trên cơ sở các tài liệu về khái niệm từ ngữ, thực tiễn quy định và áp dụng
thực hiện, có thể thống nhất về TTHS cơ bản như sau: TTHS là trình tự, thủ tục khởi
tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự theo quy định của pháp luật
Trong toàn bộ quá trình TTHS, xét xử không chỉ có chức năng quan trọng nhất của tòa án mà còn là giai đoạn quan trọng nhất, nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết do luật định để kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các
Trang 38quyết định mà cơ quan điều tra và viện kiểm sát đã thông qua trước khi chuyển vụ
án hình sự sang tòa án, nhằm loại trừ các những hậu quả tiêu cực do sơ xuất, sai lầm hoặc bị lạm dụng đã bị bỏ lọt trong các giai đoạn TTHS trước đó, chuẩn bị đưa vụ
án ra xét xử Bằng việc xét xử sơ thẩm, thông qua quá trình nghiên cứu hồ sơ, điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng công khai và dân chủ của các bên, HĐXX, trong đó HTND là thành viên, với tính chất là cơ quan trọng tài kiểm tra lại và đánh giá một cách toàn diện, khách quan và đầy đủ các chứng cứ, các tình tiết của vụ án hình sự để giải quyết về bản chất của nó – phán xét về vấn đề tính chất tội phạm (hay không) của hành vi, có tội (hay không) của bị cáo hoặc bằng việc kiểm tra tính hợp pháp, nhằm đạt mục đích trong toàn bộ các giai đoạn TTHS
là tuyên một bản án hoặc quyết định có căn cứ, công minh, đúng pháp luật và đảm bảo sức thuyết phục, tránh bỏ lọt tội phạm và kết án oan người vô tội
Trong khi đó, như đã nêu, ở Việt Nam, HTND là người (hay những người) đại diện của nhân dân tham gia xét xử và tố tụng đối với các vụ án thuộc lĩnh vực hình sự, hành chính, dân sự Trong TTHS, hoạt động xét xử thuộc hệ thống TAND của nước CHXNCN Việt Nam gồm các tòa án quân sự (tòa án quân sự trung ương;
các cấp Thực tiễn quy định và hoạt động cho thấy, thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự bao gồm các vụ án hình sự mà: 1) bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục
vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong quân đội nhân dân; 2) xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật (Điều 272 BLTTHS 2015) Ngoài những trường hợp này, còn lại toàn bộ các vụ án hình sự khác đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAND Đồng thời, để phù hợp với tính chất, đặc trưng riêng, hội thẩm ở Việt Nam có hội thẩm quân nhân tham gia xét
xử tại các phiên toà quân sự và HTND tham gia xét xử tại các phiên tòa của TAND
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài là HTND trong TTHS nên luận án sẽ không đi sâu phân tích những vấn đề về hội thẩm quân nhân và HTND trong tố tụng dân sự, HTND trong tố tụng hành chính
Trang 39Cùng với đó, thực tiễn cũng cho thấy ở các thời điểm khác nhau HTND trong TTHS ở nước ta pháp luật cũng có những điều chỉnh nhất định về nhiệm vụ, quyền hạn Ví như, nếu trước đây hội thẩm tham gia xét xử ở phiên tòa cấp sơ thẩm và có thể ở cấp phúc thẩm thì hiện tại pháp luật quy định “việc xét xử sơ thẩm của tòa án
có hội thẩm tham gia” [72], [73], [67] Đồng thời, theo tinh thần Hiến pháp năm
2013 thì hội thẩm không chỉ tham gia xét xử mà còn tham gia tố tụng [72] Điều này
có nghĩa HTND hiện nay tham gia xét xử vụ án hình sự ở cấp sơ thẩm là bắt buộc trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn và còn tham gia vào một số hoạt động tố tụng khác Hơn nữa, do TTHS luôn phức tạp, mang những đặc điểm riêng, đòi hỏi HTND trong TTHS cùng với các tiêu chí, điều kiện chung của HTND còn phải có những điều kiện, kinh nghiệm và bản lĩnh nhất định khi được phân công tham gia xét xử và tiến hành tố tụng vụ án hình sự
Từ đó, có thể khái niệm về HTND trong TTHS ở Việt Nam hiện nay như
sau: HTND trong TTHS là người đại diện cho nhân dân được bầu ra theo nhiệm kỳ
để tham gia xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự theo quy định của pháp luật, nhằm
chống các loại tội phạm trong xã hội
2.1.2 Đặc điểm của hội thẩm nhân dân trong tố tụng hình sự
HTND tham gia xét xử ở Việt Nam là một chức danh tư pháp, đại diện cho nhân dân trong hoạt động tố tụng HTND được HĐND địa phương bầu ra theo nhiệm
kỳ để tham gia xét xử sơ thẩm và tiến hành tố tụng các vụ án theo quy định của pháp luật HTND cùng với thẩm phán trực tiếp xét xử, đưa ra các phán quyết của tòa án, nhưng không phải đáp ứng các yêu cầu về tiêu chuẩn, điều kiện chuyên môn và là công chức tư pháp chịu sự quản lý, làm việc thường xuyên ở tòa án như thẩm phán HTND được pháp luật quy định về các quyền, nghĩa vụ và được hưởng các chế độ khi làm nhiệm vụ hội thẩm Bên cạnh đó, HTND còn là người thường xuyên gắn bó với cộng đồng dân cư, nơi mình công tác, làm việc, tham gia giám sát hoạt động tư pháp, góp phần tuyên truyền pháp luật và là nhịp cầu nối giữa tòa án và người dân
HTND trong TTHS ở Việt Nam bên cạnh những điểm chung của HTND còn
có những đặc điểm riêng, cụ thể như sau:
Trang 40Thứ nhất, HTND đại diện cho nhân dân, với tư cách người tiến hành tố tụng,
cùng với thẩm phán, trên danh nghĩa thay mặt Nhà nước xét xử đối với người được cho là phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự Quá trình xét xử và quyết định của HĐXX, trong đó HTND là thành viên, liên quan trực tiếp đến những quyền cơ bản của con người Phán quyết của tòa án trong vụ án hình sự được xem là biện pháp chế tài nghiêm khắc nhất, có tác động trực tiếp, ảnh hưởng về nhiều mặt đối với người bị phán xét và cộng đồng xã hội, do đó đòi hỏi HTND trong TTHS phải
có kiến thức pháp luật, sự công tâm, khách quan và tập trung cao độ trong suốt quá trình tham gia vụ án
Thứ hai, theo các nguyên tắc bình đẳng, độc lập xét xử, quyết định theo đa số
và chiếm tỷ lệ cao hơn so với thẩm phán trong HĐXX như quy định hiện nay, quan điểm và quyết định của HTND trong TTHS khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự giữ vai trò hết sức quan trọng đối với phán quyết của tòa án, nhưng HTND trong TTHS lại không đòi hỏi trình độ pháp lý, sự quản lý kèm các chế tài, điều kiện như thẩm phán Do vậy, để bản án hoặc quyết định của tòa án thực sự khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, HTND trong TTHS cùng với kiến thức về pháp luật còn cần phải dành nhiều thời gian tìm hiểu về vụ án, có tâm huyết, bản lĩnh và trách nhiệm khi tham gia xét xử
Thứ ba, do hội thẩm chủ yếu làm việc kiêm nhiệm hoặc là người đã nghỉ
hưu, hoạt động theo nhiệm kỳ, trong khi án hình sự có thể thuộc nhiều lĩnh vực (liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người; danh dự, nhân phẩm; an ninh quốc gia; chức vụ;…), bị cáo thuộc các đối tượng khác nhau (vị thành niên, phụ nữ, người dân tộc thiểu số, người nước ngoài,…), do đó để hội thẩm tham gia xét xử vụ án hình sự thực sự hiệu quả, việc đánh giá, quyết định của HĐXX khách quan, đúng đắn đòi hỏi HTND trong TTHS phải có sự hiểu biết đối với tâm lý, hoàn cảnh, điều kiện của bị cáo cũng như các kiến thức chuyên môn
Thứ tư, phán quyết của tòa án trong vụ án hình sự không chỉ là quyết định
đối với bị cáo có tội (hay không có tội), về tội danh, hình phạt đối với bị cáo (hoặc các bị cáo), mà còn quyết định các vấn đề liên quan về dân sự, các biện pháp khác kèm theo trong vụ án Do đó, đòi hỏi HTND trong TTHS phải mất nhiều thời gian