1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số

116 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hội Thảo Đổi Mới Quan Hệ Nhà Trường–Doanh Nghiệp Đáp Ứng Cuộc Cách Mạng Số
Tác giả Trần Thị Thu Huyền, ThS. Lê Tấn Cường, ThS. Nguyễn Đặng Mỹ Duyên, ThS. Đặng Minh Phụng, ThS. Dương Đăng Danh, TS. Trần Vũ Tự, TS. Vũ Trần Khánh Linh, TS. Trịnh Khánh Sơn, TS. Phan Thị Anh Đào, TS. Lê Minh Nhựt, ThS. Huỳnh Phước Sơn, TS. Nguyễn Văn Thái
Trường học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Thể loại hội thảo
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tp.HCM
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 18,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Ngày hội kết nối để thành công lần 1 ngày 14/10/2016: 28 doanh nghiệp với khoảng 2000 sinh viên tham gia + Ngày hội Kết nối để thành công lần 2 ngày 42 doanh nghiệp với khoảng gần 2000

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM

HỘI THẢO

ĐỔI MỚI QUAN HỆ NHÀ TRƯỜNG–DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG CUỘC CÁCH MẠNG SỐ

Tp.HCM, ngày 10 tháng 5 năm 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thời gian: 8h00 ngày 10/5/2018 tại phòng họp 2, tòa nhà Trung Tâm

HỘI THẢO ĐỔI MỚI QUAN HỆ NHÀ TRƯỜNG – DOANH NGHIỆP ĐÁP ỨNG CUỘC CÁCH MẠNG SỐ

7:30 – 8:00 am Đón tiếp đại biểu

Tham quan triển lãm sản phẩm NCKH của sinh viên, giảng viên

8:20 – 8:30 am Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu

8:30 – 8:40 am Phát biểu khai mạc

8:40 – 9:00 am Đại diện phòng Quan hệ Doanh nghiệp

Chia sẻ hoạt động kết nối doanh nghiệp của Phòng Quan hệ doanh nghiệp

Tham luận 1: ThS Lê Tấn Cường, Phòng KH&CN, HCMUTE Tham luận 2: ThS Đặng Minh Phụng, Khoa CKM, HCMUTE Tham luận 3: TS Trịnh Khánh Sơn, Khoa CNH-TP, HCMUTE Tham luận 4: Mr Khemratch Amornwatpong,

Partnership manager, USAID COMET

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

1 Tổng kết hoạt động của phòng Quan hệ Doanh nghiệp từ 2014 đến nay và định

hướng đổi mới hoạt động đáp ứng yêu cầu của cách mạng số 1 Trần Thị Thu Huyền

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

2 Thực trạng và giải pháp cho việc đẩy mạnh năng lực nghiên cứu khoa học,

chuyển giao công nghệ, thương mại hóa sản phẩm giữa trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật TP.HCM và doanh nghiệp 6 ThS Lê Tấn Cường

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

3 Đề xuất áp dụng học kỳ doanh nghiệp trong chương trình đào tạo ngành công

nghệ thực phẩm - Khó khăn và giải pháp 13 ThS Nguyễn Đặng Mỹ Duyên

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

4 Quan hệ với doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng thực tập của sinh viên 17 ThS Đặng Minh Phụng, ThS Dương Đăng Danh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

5 Tăng cường kết nối hiệu quả giữa nhà trường và doanh nghiệp trong thời kỳ hội

nhập 21

TS Trần Vũ Tự

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

6 Xây dựng mối quan hệ hợp tác chiến lược giữa Doanh nghiệp và Trường đại học

ở Việt Nam 26

TS Vũ Trần Khánh Linh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

7 Một số vấn đề trong mối quan hệ về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển

giao công nghệ giữa doanh nghiệp và ngành công nghệ thực phẩm tại Đại học

Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM 29

TS Trịnh Khánh Sơn

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

8 Về quan hệ doanh nghiệp và nghiên cứu khoa học của bộ môn công nghệ hóa học 34

TS Phan Thị Anh Đào

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

9 Tầm quan trọng của việc hợp tác giữa trường Đại học và Doanh nghiệp trong

đào tạo nguồn nhân lực 36

TS Lê Minh Nhựt, ThS Huỳnh Phước Sơn

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

10 Gắn kết doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng đào tạo 41

TS Nguyễn Văn Thái

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Trang 4

11 Những thành tựu mối quan hệ hợp tác giữa khoa Điện-Điện tử với các doanh

nghiệp và hướng phát triển trong tương lai 45 PGS.TS Lê Chí Kiên

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

12 Hợp tác cùng phát triển 50 ThS Vũ Ngàn Thương

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

13 Bàn về nâng cao hiệu quả hợp tác giữa Doanh nghiệp và Nhà trường 52

TS Nguyễn Quốc Khánh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

14 Khoa Cơ khí Chế tạo máy Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh

đồng hành cùng Doanh nghiệp 65 ThS Dương Đăng Danh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

15 Kết hợp giữa doanh nghiệp và nhà trường trong đào tạo: Lợi ích, khó khăn và

giải pháp 68

TS Đặng Thanh Dũng

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

16 Nghiên cứu khoa học theo định hướng ứng dụng và chuyển giao công nghệ tại

khoa in & truyền thông 72 ThS Cao Xuân Vũ

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

17 Doanh nghiệp với ngành sư phạm anh văn kỹ thuật – khoa Ngoại ngữ trường Đại

học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh 75 ThS Đinh Thị Thanh Hằng

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

18 Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp trong thời kỳ cạnh tranh nhân sự 83 Trần Kim Phỏng

Công ty Cổ phần Dệt TEXHONG Nhơn Trạch - KVN Nhơn Trạch 5 – Đồng Nai

19 Tăng cường kết nối đào tạo với doanh nghiệp 85 ThS Mai Quỳnh Trang

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

20 An introduction to Work -Based learning for industry partners 97

Mr Khemratch Amornwatpong

Partnership manager, USAID COMET

21 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo 101

TS Nguyễn Huy Hoàng

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Trang 5

1

TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG QUAN HỆ DOANH NGHIỆP

TỪ NĂM 2014 ĐẾN NAY VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI HOẠT ĐỘNG

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CUỘC CÁCH MẠNG SỐ

Trần Thị Thu Huyền

Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM

- Quá trình thành lập và phát triển: là đơn vị được tách ra từ phòng Công tác Học sinh – SinhViên, quyết định thành lập ngày 3/9/2014 với tên gọi Phòng Quan hệ Công chúng

và Doanh nghiệp Ngày 14/9/2016, Phòng được đổi tên thành Phòng Quan Hệ Doanh nghiệp

- Những đặc điểm chính của đơn vị:

 Có 6 nhân sự (tính tới thời điểm tháng 4/2018): 1 trưởng phòng, 2 phó trưởng phòng và 3 chuyên viên;

 Tuổi trung bình là 35;

 Trình độ từ đại học đến thạc sĩ, gồm nhiều chuyên môn khác nhau; nhân sự được điều chuyển từ các đơn vị trong trường do đó có nhiều kinh nghiệm trong công việc, hiểu biết các lĩnh vực đào tạo, hoạt động trong trường;

 Các cá nhân trong đơn vị tâm huyết với công việc, năng động, sáng tạo có mối quan hệ tốt với các đơn vị, doanh nghiệp, được các doanh nghiệp tin tưởng, hỗ trợ trong các hoạt động liên kết

~500 ứng viên/

7 công ty tổ chức phỏng vấn

803 ứng viên/

10 công ty tổ chức phỏng vấn

Trang 6

- Tổ chức Tuần lễ tuyển dụng: 2 lần/năm học: tháng 1 hàng năm dành cho sinh viên tốt nghiệp đợt tháng 3 và tháng 8 dành cho sinh viên tốt nghiệp đợt tháng 9

Số lượt ứng viên đăng kí

- Đăng thông báo tuyển dụng của doanh nghiệp trên website, face, fanpage của phòng

- Tổ chức các hội thảo bồi dưỡng, tập huấn, chia sẻ kỹ năng mềm cho sinh viên

- Tổ chức các hội thảo chuyên môn phối hợp với doanh nghiệp và các khoa

Các hoạt động chính

- Chủ động tìm kiếm, xây dựng các mối quan hệ bền vững với các doanh nghiệp tiềm năng nhằm tổ chức các địa bàn tham quan, thực tập ổn định cho sinh viên, giảng viên

- Tổ chức ký kết biên bản thỏa thuận hợp tác toàn diện với các doanh nghiệp

- Kết nối hợp tác đào tạo giữa Khoa/TT và Doanh nghiệp

- Tổ chức các sự kiện quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp, các cuộc thi cho sinh

viên

Trang 7

3

- Hoạt động nổi bật: Từ năm 2016, Phòng chủ trì tổ chức chương trình với tên gọi

“Ngày hội kết nối để thành công” vào tháng 9 hoặc tháng 10 hàng năm với mục đích tạo cơ hội cho sinh viên đặc biệt là sinh viên bước vào năm cuối được gặp gỡ, giao

lưu, chia sẻ định hướng nghề nghiệp

+ Ngày hội kết nối để thành công lần 1 ngày 14/10/2016: 28 doanh nghiệp với khoảng 2000 sinh viên tham gia

+ Ngày hội Kết nối để thành công lần 2 ngày 42 doanh nghiệp với khoảng gần

2000 sinh viên tham gia

- Tổ chức tham quan nhà máy cho sinh viên và giảng viên

- Vận động tài trợ, trang thiết bị, học bổng, tài trợ cuộc thi, hoạt động nghiên cứu khoa

học của sinh viên…

* ĐIỂM MẠNH/CƠ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG NHÀ TRƯỜNG- DOANH NGHIỆP

- Công tác quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp của nhà trường được đánh giá cao sau đợt đánh giá 8 chương trình đào tạo đạt tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng chung của khu vực ASEAN ((ASEAN University Network - Quality Assurance, viết tắt là AUN-QA)

- Hoạt động của phòng luôn được sự ủng hộ, hỗ trợ từ Ban giám hiệu nhà trường và các đơn vị khác trong trường

- Bộ Giáo dục Đào tạo có xu hướng đánh giá chất lượng các trường đại học chú trọng tỉ

lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đúng ngành đào tạo, đạt yêu cầu từ doanh nghiệp

- Giai đoạn 2018-2020, ĐH SPKT TPHCM là 1 trong 5 trường tại Việt Nam tham gia

dự án hợp tác tài trợ giữa Việt Nam và Châu Âu trong lĩnh vực việc làm cho sinh viên tốt nghiệp (European and Vietnamese Collaboration on Graduate Employment - EVENT) nhắm đến cải thiện cơ hội việc làm cho sinh viên Việt Nam thông qua việc nâng cao chất lượng đào tạo đại học đáp ứng yêu cầu thị trường lao động và xã hội

Trang 8

* THÁCH THỨC

- Yêu cầu về việc ứng dụng dữ liệu số, cổng thông tin kết nối trực tuyến giữa doanh nghiệp và sinh viên trong vấn đề tuyển dụng nhằm cung cấp dịch vụ về việc làm hiệu quả hơn cho doanh nghiệp, sinh viên

- Kết nối giữa doanh nghiệp và nhà trường trong việc liên kết đào tạo để thực hiện định hướng của lãnh đạo trường: đưa Giảng viên, sinh viên tham gia các dự án thực tế tại doanh nghiệp để nâng cao chất lượng chương trình đào tạo các ngành hoặc mô hình

“học kỳ sinh viên học tại doanh nghiệp”…

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA CÁCH MẠNG SỐ

Phòng Quan hệ doanh nghiệp trong thời gian qua không ngừng đổi mới, đa dạng các hoạt động, hình thức tổ chức cũng như chủ động kết nối nhằm hỗ trợ tối đa, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, sinh viên đem lại hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, thực tế định hướng phát triển mối quan hệ với doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những hoạt động như: Tuyển dụng, Tài trợ trang thiết bị, học bổng, tham quan, thực tập, hỗ trợ chia sẻ kỹ năng chuyên môn, kỹ năng mềm… cho sinh viên vì những hoạt động đó chưa phát huy hết tiềm năng vốn có và nhu cầu của nhà trường cũng như doanh nghiệp

Phòng Quan hệ doanh nghiệp đang xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc cách mạng số cũng như yêu cầu đào tạo gắn với thực tiễn xã hội và môi trường doanh nghiệp Định hướng trên được cụ thể hóa qua các hoạt động đã triển khai và dự kiến trong thời gian tới ngoài việc duy trì, phát triển các hoạt động chính trong thời gian qua như sau:

- Chủ động kết nối với doanh nghiệp xây dựng, phát triển mối quan hệ bền vững, hiệu quả với doanh nghiệp trong các mảng công việc hiện tại đặc biệt trong việc hỗ trợ khoa, giảng viên đi thực tế, làm việc tại nhà máy

- Triển khai trung tâm nghề nghiệp

- Cung cấp dịch vụ việc làm với cổng thông tin trực tuyến kết nối giữa nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và ứng viên

- Hỗ trợ kết nối chuyển giao công nghệ từ các nghiên cứu của Giảng viên, sinh viên trong trường

- Hỗ trợ Giảng viên, sinh viên tham gia các hoạt động nghiên cứu của Doanh nghiệp

- Định kỳ tổ chức “Hội nghị khách hàng” với nội dung giới thiệu năng lực nhà trường, tiếp nhận yêu cầu, dự án, các vấn đề công nghệ, kỹ thuật… từ doanh nghiệp, kết nối cơ hội hợp tác đào tạo, chuyển giao công nghệ… giữa các khoa và doanh nghiệp

Trang 9

Thông tin tác giả chịu trách nhiệm bài viết:

Trần Thị Thu Huyền

Phòng Quan hệ Doanh nghiệp

Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM

Email: huyenttt@hcmute.edu.vn

Trang 10

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC ĐẨY MẠNH NĂNG LỰC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ, THƯƠNG MẠI HÓA SẢN PHẨM GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ DOANH NGHIỆP

Xu hướng liên kết hữu ích này nếu thực hiện được thì nó trở thành công cụ khai thác phát huy trong việc nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo ra những sản phẩm mới với hàm lượng công nghệ cao cho xã hội Mục tiêu của bài viết này là trình bày thực trạng và đề ra các giải pháp cho việc đẩy mạnh tình hình nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TpHCM, trong bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại

Thực tế ở các nước tiên tiến trên thế giới như Nhật, Mỹ, Anh, Pháp v.v đã cho thấy rằng: nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm cùng với các chính sách chiến lược phát triển hợp lý là một trong những công cụ đóng góp tích cực cho sự phát triển toàn diện nền Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Giáo dục và quốc phòng, Kinh tế và chính trị, Văn hóa và xã hội của quốc gia [1, 2] Vì thế, ở nước ta các Trường đại học, các Trung tâm và các Viện nghiên cứu đã xem công việc nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp, thương mại hóa sản phẩm là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của các nhà khoa học, các cán bộ giảng dạy Tuy nhiên trong thời gian qua các nhà khoa học, các cán bộ giảng dạy đã thực hiện rất nhiều đề tài nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất chiếm tỉ lệ rất ít (chỉ dưới 1%) còn đa số chưa thể (có thể là không thể) ứng dụng vào thực tế sản xuất được [3, 4] Vậy nguyên nhân này bắt đầu từ đâu?, vấn đề đặt ra phải giải quyết như thế nào?, và định hướng ra sao?, để đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học theo hướng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sản phẩm trong các Trường đại học, các Trung tâm và các Viện nghiên cứu

Đó là thực trạng của xã hội, còn ở trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TpHCM thì sao ? giải pháp nào để đẩy mạnh nghiên cứu khoa học hướng đến chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm ?

Trang 11

7

CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TRONG THỜI GIAN QUA VÀ CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ

2.1 Những kết quả đạt được về nghiên cứu khoa học

Hiện tại, nhà trường có gần 800 cán bộ nhân viên, trong đó có 37 phó giáo sư, 114 tiến

sỹ, với đội ngũ tương đối đồng đều, có thế mạnh trong nhiều lĩnh vực Các kết quả về Nghiên cứu khoa học đạt được trong năm 2013-2017

Bảng 1 Số lượng đề tài giai đoạn 2013-2017

Để đạt được kết quả trên thì nhà trường đã phân bổ nguồn kinh phí cho nghiên cứu khoa học như sau :

Bảng 3 Tình hình phân bổ kinh phí giai đoạn 2013-2017(triệu đồng)

2011 đến nay, Nhà trường cũng đã điều chỉnh định mức nghiên cứu khoa học và số tiết quy đổi để ngày một phù hợp với tình hình thực tế

Trang 12

Hình 1 Biểu đồ giảng viên thực hiện tiết nghĩa vụ NCKH

Để có được kết quả trên thì các chính sách nhà trường đang áp dụng :

Năm 2011, Nhà trường phân cấp đề tài cấp cơ sở thành đề tài cấp trường trọng điểm, cấp trường và đặc biệt có đề tài dành cho giảng viên trẻ, nhằm tạo ra những đề tài có sản phẩm là bài báo đăng trên tạp chí xếp hạng

Từ năm 2012 đến nay, Nhà trường đã thành lập được 12 nhóm nghiên cứu trọng điểm Với mục tiêu ban đầu là các nhóm nghiên cứu trọng điểm sẽ phát huy hết tiềm năng, thế mạnh của mình để có những nghiên cứu mang tính dài hơi, để cạnh tranh, đấu thầu các đề tài cấp Tỉnh, cấp Bộ, cấp Nhà nước

Năm 2014, Nhà trường giao quyền tự chủ cho các đơn vị trong việc xét duyệt đề tài cấp trường và sinh viên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị tự chủ trong việc xét duyệt đề tài, chủ động tạo ra hướng đi phù hợp với thế mạnh của từng đơn vị, chủ động đầu tư kinh phí vào những công trình có chất lượng để các đơn vị có kế hoạch xây dựng chiến lược phát triển trong nghiên cứu khoa học Tích cực mở rộng mối quan hệ với các sở ban ngành nhằm tìm kiếm đề tài có khả năng ứng dụng, triển khai vào thực tế; Ký kết hợp tác toàn diện với đối tác

là khu Công nghệ cao và các công ty kỹ thuật

Thêm vào đó, Nhà trường cũng thành lập được 4 trung tâm hoạt động khoa học công nghệ:Trung tâm Nghiên cứu - Chuyển giao công nghệ; Trung tâm Kỹ thuật và Công nghệ môi trường; Trung tâm Tư vấn thiết kế và chế tạo thiết bị Công nghiệp; Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Tái tạo Nhà trường tích cực tham gia đấu thầu các đề tài cấp Bộ, cấp Sở… số lượng đề tài cấp Bộ, cấp Tỉnh và đặc biệt là đề tài cấp Nhà nước, Quỹ Nafosted bắt đầu tăng

Từ năm 2013-2017, các nhóm trọng điểm đã chủ trì 02 đề tài cấp Nhà nước, 06 đề tài thuộc quỹ Nafosted, 33 đề tài cấp Bộ, cấp Tỉnh với tổng kinh phí trị giá gần 30 tỷ đồng

Ngoài ra, hàng năm giảng viên tích cực tham gia các triển lãm do các doanh nghiệp, các trường đại học tổ chức như: Techmart, Triển lãm Giới thiệu sản phẩm sáng tạo và kết nối doanh nghiệp

Chính sách đi vào áp dụng, giảng viên đã nhận thấy rõ hơn tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học trong giáo dục đại học, năng lực của giảng viên ngày một nâng cao, sức sáng tạo tăng, vì vậy chất lượng đào tạo cũng tăng theo

Trang 13

được kết quả như hình 2

Hình 2 Biểu đồ chuyển giao công nghệ từ 2008 đến 2014 (đơn vị VNĐ)

2.2.1 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình chuyển giao công nghệ và thương mại

hoá sản phẩm giai đoạn 2008 – 2014

Theo biểu đồ hình 4, ta thấy tình hình chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật hưng thịnh nhất là từ giai đoạn 2008 -2011 và giảm mạnh trong năm 2012, 2013 và 2014 Phân tích nguyên nhân này có một số nhận định

và phân tích như sau từ Trung tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Công Nghệ:

Một số thầy có thế mạnh trong chuyển giao công nghệ thì nay đã nghỉ làm ở trường, mở doanh nghiệp riêng

Các hướng chuyển giao công nghệ hiện tại không còn phù hợp với xu thế phát triển nhanh của xã hội

- Mô hình thực hành, thí nghiệm bị cạnh tranh bởi một số công ty chế tạo thiết bị trong nước, mô hình không đẹp và giá cao hơn so với bên ngoài, với các gói

dự án ưu tiên chọn đồ ngoại hơn đồ nội (giá cả không phải là yếu tố quyết định)

- Đào tạo, huấn luyện kỹ thuật: các thiết bị hiện tại của trường không đủ hiện đại so với các thiết bị của các trường nghề, doanh nghiệp Kỹ năng tay nghề của giảng viên cũng không đủ để đáp ứng

- Xu hướng hiện nay: là sự kết hợp giữa cơ khí, điện tử, điện điều khiển, công nghệ thông tin và thiết kế kiểu dáng công nghiệp nếu các thầy không thuê khoán chuyên môn lẫn nhau thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn hoặc không đáp ứng nhu

0 1,000,000,000

Trang 14

cầu doanh nghiệp - Sáng tạo giúp năng cao giá trị sản phẩm: xu thế cạnh tranh trong xã hội phát triển

 Các nghiên cứu ở các khoa không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn của xã hội do

đó ngại tham gia triển lãm và không chuyển giao được ra bên ngoài

 Trung tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Công Nghệ chỉ mới hỗ trợ các thầy cô

về mặt pháp lý, chưa hỗ trợ trong việc ươm mầm, giới thiệu các chuyên gia, tham gia triễn lãm, nhu cầu doanh nghiệp,…

 Các thầy có thế mạnh thực sự trong chuyển giao thì mới giải quyết bài toán mang tính chất cá nhân, bộc phát chưa được giới thiệu rộng rãi, hỗ trợ về chuyên môn cho các thầy khác vì vậy cần mở rộng mối quan hệ, hợp tác nghiên cứu – chuyển giao, giải quyết bài toán cho doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp trong xu thế cạnh tranh khốc liệt

 Các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam đa phần là các doanh nghiệp sản xuất: nên thường các bài toán liên quan đến cải tiến, tự động hoá, bảo trì, huấn luyện

….rất được quan tâm ( chi phí đầu tư thấp, thời gian ngắn, hiệu quả tức thời, khấu hao nhanh ) , các hướng nghiên cứu cơ bản, chuyên sâu chưa phù hợp với doanh nghiệp hiện tại

2.2.2 Một số đề xuất và giải pháp để đẩy mạnh về chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm tại trường đại học sư phạm kỹ thuật áp dụng từ 2015

 Chuyển giao công nghệ trong đơn vị: mô hình – tài liệu chuyên dùng trong thực hành thí nghiệm bên cạnh đó còn kết hợp với các cá nhân , đơn vị khác nhằm chuẩn hoá mô hình và tiến đến tham gia triễn lãm và chuyển giao ra xã hội

 Chuyển giao công nghệ trong nhà trường, phòng ban nghiên cứu và giải quyết các vấn đề mang tính chất cụ thể, cấp bách, cải tiến, mang tính quảng bá theo đơn đặt hàng của Ban Giám Hiệu, các phòng ban với nguồn ngân sách đầu tư của nhà trường tiến đến chuyển giao cho các đơn vị bạn, doanh nghiệp,…

 Phát triển các sân chơi khoa học mang tính sáng tạo cho sinh viên tại đơn vị và hướng đến chuyên môn hoá sản phẩm: mô hình vật tư , luật chơi, … từ đó chuyển giao cho các đơn vị trường bạn bằng nguồn ngân sách mua lẻ hằng năm

 Các nghiên cứu đã được chuyển giao từ các cá nhân, đơn vị : nhà trường có chính sách hỗ trợ phát triển thành sản phẩm mang thương hiệu nhà trường và có

sự cam kết rõ ràng giữa 2 bên

 Thẩm định, ươm mầm và phát tiển các nghiên cứu của các nhóm sinh viên, giảng viên trẻ trẻ đồng thời hỗ trợ về chuyên gia, môi trường, kinh phí để phát triển thành các sản phẩm mang thương hiệu nhà trường nhằm tiến đến chuyển giao cho xã hội

Trang 15

11

 Chuyên môn hoá các nhóm nghiên cứu tại các đơn vị và kết hợp lại với nhau khi giải quyết các vấn đề mang tính chất tầm cỡ (thực hiện tại Trung Tâm NC & CGCN)

 Các xưởng, phòng thí nghiệm được đầu tư trang thiết bị hiện đại cần : phát triển chuyển giao về huấn luyện , đào tạo nghề; sử dụng, khai thác các thiết bị để thiết

kế các mô hình - bài thí nghiệm dựa trên cải tiến các thiết bị đã được trang bị;

hỗ trợ gia công, thí nghiệm ( có thu phí và trợ giá ) cho các nhóm nghiên cứu khác nhưng phải ở mức độ chuyên nghiệp

2.2.3 Kết quả đạt được về chuyển giao công nghệ và thương mại hoá sản phẩm giai

đoạn 2015-2018

Với các đề xuất và giải pháp để đẩy mạnh tình hình chuyển gioa công nghệ và thương mại hoá sản phẩm của Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Công Nghệ được nhà trường

hỗ trợ thực hiện thì từ năm 2015 cho đến nay tình hình chuyển giao công nghệ được cải thiện

rõ rệt, số tiền chuyển giao công nghệ năm 2015 và 2017 gấp đôi năm 2014 như hình 3

Hình 3 Biểu đồ chuyển giao công nghệ 2015 - 2018 (đơn vị VNĐ)

0 200,000,000

Trang 16

vì vậy nhà trường mong muốn lực lượng giảng viên hăng say với nghiên cứu, phát huy tính sáng tạo và tự chịu trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ yếu giai đoạn 2011 – 2015 (Tg Chính Phủ đã phê duyệt), http://www.hunre.edu.vn/hre/xem-in-8287

[2] Hợp tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ (Tỉnh Đồng Tháp), http://www.hcmiu.edu.vn/crtt-vn/Du-An/Tinh-Dong-Thap

[3] Định hướng nghiên cứu và ứng dụng công nghệ (KHCN) năm 2015 (Tỉnh Sơn La), http://sokhoahoc.sonla.gov.vn/hoat-dong-khcn/dinh-huong-nghien-cuu-khoa-hoc-ung-dung-chuyen-giao-cong-nghe-tinh-son-la-nam-2015

[4] Đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu khoa học giữa các trường cao đẳng, đại học và doanh nghiệp (Tỉnh Nam Định), http://khcnnamdinh.vn/index.php/news/379?fx=4

Thông tin cá nhân chịu trách nhiệm bài viết:

ThS Lê Tấn Cường

Trung tâm Chuyển giao Công nghệ

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Email: cuonglt@hcmute.edu.vn

Trang 17

13

ĐỀ XUẤT ÁP DỤNG HỌC KỲ DOANH NGHIỆP TRONG

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM

đó, việc rút ngắn khoảng cách từ giảng đường tới doanh nghiệp, tạo cơ hội để sinh viên có thể tiếp cận với thực tiễn đang là yêu cầu cấp bách giúp sinh viên thích ứng nhanh hơn với công việc sau khi tốt nghiệp Để giải quyết được vấn đề này, các trường đại học cần phải có những

mô hình đào tạo mới mẻ, giàu tính thực tiễn; trong đó, học kỳ doanh nghiệp đang được đánh giá là một trong những hình thức đào tạo hiệu quả, mang lại lợi ích cho cả sinh viên và doanh nghiệp

Chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm và các ngành khác của trường ĐH SPKT đang được tiến hành biên soạn lại với tổng số tín chỉ là 132 Khi triển khai chương trình đào tạo 132 tín chỉ, thời gian học trên lớp của sinh viên sẽ ít hơn Do đó, sinh viên sẽ chuyển từ hình thức học tập bị động sang các hình thức học tập chủ động thông qua việc tham khảo tài liệu học tập ở thư viện, thực hành, thí nghiệm và trải nghiệm thực tế tại doanh nghiệp [1]

Như vậy, đưa học kỳ doanh nghiệp vào chương trình đào tạo 132 tín chỉ ngành công nghệ thực phẩm là một trong những giải pháp để có thể đáp ứng mục tiêu trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên, cũng như đáp ứng được yêu cầu đào tạo của doanh nghiệp

2.1 Giới thiệu về học kỳ doanh nghiệp

Học kỳ doanh nghiệp là mô hình đào tạo với sự hợp tác chặt chẽ giữa nhà trường và doanh nghiêp Khác với những chuyến tham quan thực tế ngắn ngày, một học kỳ doanh nghiệp được tính là một học kỳ chính thức trong chương trình đào tạo Với thời gian khoảng 3 đến 4 tháng, học kỳ doanh nghiệp đủ dài để sinh viên thực sự quen thuộc với môi trường làm việc của doanh nghiệp, đồng thời có thể tham gia làm việc như một nhân viên chính thức Kết quả học kỳ doanh nghiệp cũng được tính như một học kỳ bình thường và sẽ do chính doanh nghiệp đánh giá để đảm bảo khách quan, hiệu quả Trong học kỳ doanh nghiệp, bên cạnh những buổi huấn luyện về kiến thức chuyên ngành, nhà trường và doanh nghiệp luôn phối hợp xây dựng một cộng đồng làm việc khoa học, năng động với nhiều hoạt động ngoại khóa

để phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên như kỹ năng hội nhập, kỹ năng thích ứng môi trường doanh nghiệp, kỹ năng xây dựng thương hiệu cá nhân… Đó là những kỹ năng đơn giản nhưng không phải ai cũng nghĩ đến, như cách trình bày thư điện tử, nghe điện thoại, kỹ năng ứng xử

Trang 18

với khách hàng, chào hỏi lãnh đạo… Từ những kỹ năng mềm đó, sinh viên sẽ dễ dàng thích nghi với môi trường làm việc của công ty sau này [2]

Học kỳ doanh nghiệp đang được các trường cao đẳng - đại học rất quan tâm vì đây là cầu nối quan trọng kết nối nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp với nhu cầu đào tạo của nhà trường Học kỳ doanh nghiệp đã tạo nên sự chuyển biến tích cực trong việc giảm dần độ chênh giữa chất lượng đào tạo nghề với nhu cầu thực tế Học kỳ doanh nghiệp đã được các trường như Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học HUTECH … áp dụng cho chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm Một trong những doanh nghiệp sẵn sàng tạo điều kiện để sinh viên có thể tham gia học kỳ doanh nghiệp là công ty Cổ phần Sài Gòn Food

Công Ty Cổ Phần Sài Gòn Food (Saigon Food), tiền thân là Công Ty Cổ Phần Hải Sản S.G (S.G FISCO) được thành lập ngày 18/07/2003, chuyên sản xuất – kinh doanh các mặt hàng thủy hải sản đông lạnh và thực phẩm chế biến cho thị trường Xuất khẩu & Nội địa Khởi nguồn từ một công ty lúc thành lập với bộ máy ban đầu chỉ 11 người, đến hôm nay Saigon Food đã trở thành một doanh nghiệp với đội ngũ nhân sự gần 1.300 người, sở hữu 3 xưởng sản xuất thực phẩm chế biến đông lạnh và thực phẩm ăn liền cao cấp Công ty có tổng diện tích gần 13.500 m2 với hệ thống kho lạnh, thiết bị cấp đông hiện đại, hệ thống đảm bảo chất lượng đạt tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9001:2008, HACCP, BRC, Kaizen, 5S [3]

Chương trình học kỳ doanh nghiệp tại công ty Sài Gòn Food xuất phát từ những trăn trở, mong muốn chia sẻ trách nhiệm xã hội với cộng đồng, hỗ trợ các sinh viên tìm kiếm công việc phù hợp và phát triển nguồn nhân lực cho Công ty Thông qua các học kỳ doanh nghiệp

đã được tổ chức, công ty Cổ phần Sài Gòn Food đã thu được nhiều kết quả khả quan Qua các học kỳ doanh nghiệp đã được tổ chức, công ty tuyển dụng được nguồn lao động tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu các vị trí công việc mà không phải mất thời gian đào tạo lại Điều này giúp tiết kiệm một khoản chi phí đào tạo rất lớn cho doanh nghiệp Sau khi hoàn thành học kỳ doanh nghiệp, các bạn sinh viên có nguyện vọng ở lại làm việc tại Sài Gòn Food sẽ được phỏng vấn tuyển dụng, được tham gia khóa đào tạo đặc biệt từ 1–2 năm ở các vị trí nhân viên, chuyên viên, sau đó sẽ thi tuyển để tham gia vào chương trình quản trị viên tập sự với các vị trí quản lý cấp trung Qua 5 kỳ tổ chức, đã có 470 sinh viên tham gia và 437 sinh viên đã được cấp giấy chứng nhận tại công ty Sài Gòn Food [3]

2.2 Một số khó khăn khi tích hợp học kỳ doanh nghiệp vào chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm

Chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm hiện nay được biên soạn theo định hướng tiếp cận mô hình CDIO Mục tiêu chương trình đào tạo hướng tới việc người học đạt

được 4 năng lực: hình thành ý tưởng, thiết kế ý tưởng, thực hiện và vận hành Với mục tiêu

này, việc đưa học kỳ doanh nghiệp vào chương trình đào tạo sẽ giúp sinh viên có được các kỹ năng cứng và mềm cần thiết khi ra trường, đáp ứng được yêu cầu của xã hội Tuy nhiên, việc đưa học kỳ doanh nghiệp vào chương trình đào tạo chắc chắn sẽ gặp phải những khó khăn sau đây:

Để mang lại hiệu quả thật sự, học kỳ doanh nghiệp cần phải được tiến hành từ 3-4 tháng tại doanh nghiệp Điều này đồng nghĩa với việc sinh viên phải mất đi 1 học kỳ học tại giảng đường nhà trường nhưng phải đảm bảo việc hoàn thành 132 tín chỉ theo quy định của

Trang 19

Một vấn đề nữa là các doanh nghiệp rất khó và thường rất ngại nhận những sinh viên - thực tập viên có kiến thức chuyên môn còn mơ hồ, chưa hiểu biết về môi trường làm việc Do

đó, các trường cần chuẩn bị việc trang bị kiến thức và kỹ năng cho sinh viên để đảm bảo học

kỳ doanh nghiệp phát huy được tác dụng, đem lại được lợi ích cho cả sinh viên và doanh nghiệp

2.3 Đề xuất một số giải pháp để có thế áp dụng học kỳ doanh nghiệp vào chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm

Để có thể áp dụng học kỳ doanh nghiệp vào chương trình đào tạo, việc thiếp lập các mối quan hệ lâu dài và bền vững giữa nhà trường và các doanh nghiệp thực phẩm là vấn đề quan trọng nhất Nhà trường, khoa và bộ môn phải có chiến lược cụ thể để xây dựng mối quan

hệ hợp tác hai bên cùng có lợi với các doanh nghiệp thực phẩm trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cũng như các tỉnh lân cận Nhà trường phải chứng minh cho doanh nghiệp thấy được quyền lợi của họ khi tiếp nhận sinh viên tham gia học kỳ doanh nghiệp tại công ty của mình Điều này sẽ làm tăng số lượng các công ty thực phẩm chấp nhận mô hình đào tạo này tại doanh nghiệp Khi đã có nhiều doanh nghiệp tham gia vào mô hình đào tạo này, nhà trường mới có thể lựa chọn doanh nghiệp thích hợp làm đối tác cho chương trình đào để hướng đến giá trị cốt lõi của chương trình đào tạo

Để đảm bảo thời gian học tập của sinh viên, học kỳ doanh nghiệp nên được thực hiện vào học kỳ hè của năm thứ 2 hoặc thứ 3 trong khoảng 3 tháng Bước đầu áp dụng, học kỳ doanh nghiệp cũng có thể đưa vào phần tự chọn của chương trình đào tạo để tăng tính linh động trong việc sắp xếp chương trình Sinh viên nếu lựa chọn học kỳ doanh nghiệp sẽ được xét miễn trừ các môn học tương đương ví dụ như thực tập tốt nghiệp 1, 2 và một số môn thực tập công nghệ tương ứng để có đảm bảo việc hoàn thành đủ số tín chỉ của chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm

Cuối cùng, để có được một học kỳ doanh nghiệp thật sự hiệu quả, bộ môn công nghệ thực phẩm và doanh nghiệp phải phối hợp chặt chẽ để xây dựng những nội dung sẽ đào tạo trong học kỳ doanh nghiệp Sự chuẩn bị của chính nhà trường là nền tảng quan trọng quyết định mức độ thành công của mô hình này Sinh viên phải được trang bị thật tốt các kiến thức chuyên ngành, được thực hành nhiều tại phòng thí nghiệm cũng như phải có am hiểu nhất định về đơn vị nơi sẽ đến tham gia học kỳ

Trang 20

3 KẾT LUẬN

Mô hình học kỳ doanh nghiệp nếu được áp dụng vào chương trình đào tạo ngành công nghệ thực phẩm sẽ là một trong những nền tảng để củng cố kỹ năng chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm làm việc cho sinh viên ngành công nghệ thực phẩm Mô hình này cũng sẽ góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác đào tạo và các mối quan hệ bền vững khác trên cơ sở đảm bảo quyền lợi giữa nhà trường và doanh nghiệp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hướng dẫn xây dựng chương trình đào tạo 132 tín chỉ Trường Đại học Sư phạm kỹ

BM Công nghệ thực phẩm – Khoa Công nghệ Hóa học &Thực phẩm

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Phone: 0906828585

Email: myduyen@hcmute.edu.vn

Trang 21

17

QUAN HỆ VỚI DOANH NGHIỆP

ĐỂ ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG THỰC TẬP CỦA SINH VIÊN

Đặng Minh Phụng, Dương Đăng Danh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Bộ môn Công nghệ chế tạo máy (CNCTM), Khoa Cơ khí chế tạo máy, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM quản lý 02 ngành: Công nghệ Chế tạo máy và Công nghệ Kỹ thuật Cơ khí mỗi năm có khoảng trên 700 sinh viên cần thực tập tốt nghiệp (TTTN)

Để đảm bảo chất lượng và số lượng của TTTN, Ban chủ nhiệm Khoa và bộ môn CNCTM cùng các giảng viên trong bộ môn CNCTM cần phải khảo sát các lĩnh vực sản xuất của doanh nghiệp phù hợp với chuyên ngành đào tạo, đồng thời cũng phải quan hệ tốt với doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các bạn sinh viên được kiến tập, thực tập nhằm

để nâng cao trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế, giúp các bạn sinh viên chuẩn bị các kiến thức về chuyên môn, tác phong công nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng quản lý công việc, kỹ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, kỹ năng quản lý nhóm, kỹ năng khởi nghiệp

và kỹ năng sẵn sàng công việc sau khi tốt nghiệp, …

Trong quá trình kiến tập và TTTN, các bạn sinh viên sẽ biết được các kiến thức chuyên môn cốt lõi cần thiết và các kỹ năng mềm, tác phong công nghiệp, kỹ năng quản lý… mình cần phải trang bị ở trường Đại học Do đó, sau đợt thực tập và kiến tập, các bạn sẽ quay

về trường thực hiện nhiệm vụ hoàn thành các môn học trong chương trình đào tạo, đồng thời

tự trang bị thêm các kiến thức chuyên môn và kỹ năng cần thiết mà bên ngoài thực tế yêu cầu Tùy vào đặc điểm và lĩnh vực hoạt động của mỗi công ty mà các bạn sẽ được kiến thức và tích lũy kinh nghiệm khác nhau Nhưng về cơ bản thì các kỹ năng cốt lõi cần thiết mà các bạn sinh viên sẽ tự nhìn nhận lại được những gì mình còn thiếu và phải tự cũng cố trước khi rời khỏi ghế nhà trường

2.1 Khảo sát đối tác (công việc, số lượng, yêu cầu,…)

Ban chủ nhiệm Khoa, Ban chủ nhiệm Bộ môn CNCTM và các giảng viên thuộc Bộ môn tiến khảo sát số lượng các doanh nghiệp phù hợp với chuyên ngành đào tạo, các yêu cầu cần thiết để sinh viên được thực tập tại doanh nghiệp và số lượng sinh viên doanh nghiệp có thể nhận

2.2 Khảo sát sinh viên

Khoa tiến hành thống kê và khảo sát số lượng, địa điểm thích hợp của sinh viên để có

kế hoạch thực tập

2.3 Thông qua Khoa để giới thiệu các vị trí có thể chọn TTTN của sinh viên

Khoa sẽ tập hợp các công ty do giảng viên đề nghị để giới thiệu cho các bạn sinh viên đăng ký

Trang 22

Hỗ trợ doanh nghiệp để tuyển sinh viên thực tập

Khoa và bộ môn hỗ trợ cho công ty phỏng vấn tuyển chọn sinh viên thực tập tại công

ty phù hợp với yêu cầu

doanh nghiệp

Bộ môn và Khoa thường xuyên hoàn thiện đề cương thực tập và rubric đánh giá trên các phản hồi từ các giảng viên, cựu sinh viên, doanh nghiệp và từ các bạn sinh viên đã thực tập nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

2.5 Sau 02 tuần: giảng viên hướng dẫn thực tập đến đánh giá sơ bộ hiệu quả

Hỗ trợ sinh viên các vấn đề khó khăn trong chuyên môn để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, điều này làm cho sinh viên an tâm hơn khi thực tập, nhắc nhở sinh viên tuân thủ quy định về an toàn lao động và các quy định riêng của công ty

2.6 Trước khi kết thúc thực tập đến doanh nghiệp cảm ơn, tìm hiểu về đánh giá của

doanh nghiệp đối với sinh viên

Giảng viên hướng dẫn thực tập đến công ty sinh viên thực tập để tìm hiểu việc đánh giá sơ bộ của cán bộ quản lý trực tiếp quản lý sinh viên Ngoài ra có thể trao đổi về phương án hợp tác sau thực tập về cải tiến năng suất, thiết kế và chế tạo máy nhằm tăng năng suất cho công ty, góp ý về vấn đề an toàn lao động Từ ý tưởng hợp tác, sinh viên sẽ tiếp cận được các

đề tài thực tế từ doanh nghiệp, giúp tăng kỹ năng sẵn sàng công việc cho sinh viên sau khi tốt nghiệp Đặc biệt, một số bạn sinh viên thực tập được công ty đề xuất giữ lại làm sau khi hoàn thành đồ án tốt nghiệp và các giảng viên có thể làm cố vấn kỹ thuật, hợp tác hỗ trợ công ty trong việc tính toán thiết kế, phát triển các dòng sản phẩm mới,…

ý kiến để cải tiến chương trình đào tạo, cử cán bộ hướng dẫn để giám sát và huấn luyện sinh viên

- Cựu sinh viên ở các doanh nghiệp hỗ trợ rất nhiều trong việc hướng dẫn sinh viên thực tập tốt nghiệp, đóng góp ý kiến để cải tiến chương trình đào tạo, tài trợ thiết bị cho Khoa, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp

- Đa số các bạn sinh viên rất chịu khó học hỏi, vững kiến thức chuyên ngành, có tác phong công nghiệp, tuân thủ các quy định công ty và được công ty đánh giá rất cao

Trang 23

19

- Chất lượng sinh viên chưa đều, một số bạn còn nợ nhiều môn và kiến thức chuyên ngành còn yếu: dẫn đến bở ng và không đáp ứng được các yêu cầu cao đối với một số doanh nghiệp Đặc biệt là thái độ chưa tốt, thiếu tác phong công nghiệp, ý thức kỹ luật kém và thiếu kiến thức chuyên môn Kết quả là có một số trường hợp: công ty phàn nàn về tác phong và kiến thức chuyên môn, không đáp ứng các yêu cầu cụ thể của doanh nghiệp Vì vậy, công ty không hài lòng và phàn nàn trực tiếp với giáo viên hướng dẫn và Khoa

- Sinh viên có xu hướng tìm chỗ nhẹ nhàng, điểm cao Đặc biệt là chọn việc các công ty nhỏ, công ty có người quen để được thoải mái về giờ giấc và nhận xét thực tập Do đó không đảm bảo được yêu cầu chuẩn đầu ra kiến thức mà Khoa, Bộ môn yêu cầu

- Một số công ty có yêu cầu cao về chất lượng sinh viên thực tập: về chuyên môn, tác phong và ngoại ngữ nên tiến hành phỏng vấn và lựa chọn ứng viên phù hợp nhằm để huấn luyện, đào tạo và tuyển chọn làm việc sau nay nên khi sinh viên phỏng vấn không đạt và chuyển sang công ty khác thì ảnh hưởng đến kế hoạch thực tập của Khoa và Bộ môn

- Đối với doanh nghiệp: Ban chủ nhiệm Khoa, Bộ môn và các giảng viên khảo sát kỹ số lượng doanh nghiệp có lĩnh vực hoạt động phù hợp với chuyên ngành sinh viên thực tập, đồng thời tạo quan hệ tốt và thường xuyên với công ty Ngoài ra, Khoa cũng phải thông báo cho doanh nghiệp biết trước kế hoạch thực tập để doanh nghiệp thu xếp bố trí công việc, bố trí cán

bộ giám sát, bố trí kế hoạch đào tạo và hỗ trợ sinh viên Đồng thời Khoa cũng phải khảo sát

số lượng sinh viên dự kiến thực tập để đảm bảo đủ số lượng công ty phù hợp với chuyên ngành của sinh viên Đặc biệt, khi sinh viên phỏng vấn không đạt: Khoa và Bộ môn phải linh hoạt giới thiệu công ty khác để giới thiệu sinh viên có chỗ thực tập

- Đối với sinh viên: cần tuân thủ quy định về an toàn, quy định về thời gian làm việc và các quy định cụ thể nơi mình làm việc Có bất cứ vấn đề liên quan đến công ty, thành viên nhóm thực tập phải báo cáo ngay cho cán bộ trực tiếp hướng dẫn tại nhà máy và giảng viên hướng dẫn thực tập để có hướng giải quyết phù hợp

Khoa, Bộ môn đã tiến hành gửi sinh viên đi kiến tập, tham quan nhà máy (đối với môn nhập môn ngành) và gởi thực tập vào học kỳ 6 (học kỳ hè) nhằm giúp sinh viên có nhiều thời gian thực tập ở nhà máy Ngoài ra trong quá trình thực tập giúp sinh viên tìm các đề tài, dự án thực tế, xuất phát từ doanh nghiệp nhằm cải tiến năng suất, tăng tính an toàn Đặc biệt là khi sinh viên thực tập vào học kỳ 6, còn lại 02 kỳ để cho sinh viên hoàn thiện kỹ năng mềm, các kiến thức chuyên môn, các kiến thức thực tế mà doanh nghiệp đang cần mà mình còn thiếu khi còn trên ghế nhà trường, nhằm lập chiến lược học tập và tự học hiêu quả, giúp sinh viên chuẩn

bị kỹ năng sẵn sàng công việc để đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng

Ngoài các kết quả đạt được, để nâng cao hơn nữa chất lượng TTTN, các việc cần làm trong quan hệ với doanh nghiệp để nâng cao chất lượng TTTN của sinh viên:

Trang 24

- Giảng viên hướng dẫn thực tập trao đổi với ban giám đốc công ty nhằm thảo luận các vấn

đề có thể hợp tác trong việc kết nối giữa thực tập tốt nghiệp, đồ án tốt nghiệp nhằm tạo cho sinh viên thực hiện các đề tài mang tính chất thực tế, hỗ trợ trực tiếp cho việc cải tiến năng suất, an toàn lao động tại công ty

- Khuyến khích sinh viên đóng góp ý kiến ngược lại với công ty về ý tưởng cải tiến năng suất, tăng hiệu quả an toàn lao động

- Cập nhật và hoàn thiện đề cương chi tiết, Rubric đánh giá

- Tạo cầu nối thường xuyên giữa Khoa, Bộ môn CNCTM và Doanh nghiệp để tạo điều kiện tốt hơn cho sinh viên thực tập

- Chấm báo cáo thực tập bằng cách hỏi vấn đáp và lấy ý kiến từ các bạn sinh viên thực tập nhằm cải tiến chương trình đào tạo

Thông tin tác giả chịu trách nhiệm bài viết:

1.ThS Đặng Minh Phụng

Khoa Cơ Khí Chế tạo máy

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Phone: 0906814944

Email: phungdm@hcmute.edu.vn

2 ThS Dương Đăng Danh

Khoa Cơ Khí Chế tạo máy

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Phone: 0903728598

Email: danhdd@hcmute.edu.vn

Trang 25

21

TĂNG CƯỜNG KẾT NỐI HIỆU QUẢ GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ

DOANH NGHIỆP TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP

ra để đào tạo lại Mối liên hệ giữa Nhà Trường và Doanh nghiệp này chưa thật sự phát triển,

do doanh nghiệp chưa thật sự sẵn sàng cũng như chưa được tham gia và đóng góp ý kiến về xây dựng chương trình đào một cách bài bản chi tiết và thường xuyên Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như về mặt nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng về nhu cầu gắn kết và hợp tác giữa Nhà Trường và Doanh nhiệp Giữa Nhà Trường và Doanh nghiệp chưa có sự đồng điệu trong tư duy cũng như những hiểu biết về trách nhiệm và quyền lợi của nhau trong việc hợp tác cùng phát triển Thêm vào đó, sự thiếu thông tin, thiếu hiểu biết về lợi ích và thế mạnh của nhau cũng là yếu tố làm cho mối quan hệ này chưa được chú trọng Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn chưa có chính sách cụ thể để phát triển và duy trì mối gắn kết giữa Nhà Trường

và Doanh Nghiệp, điều đó đã góp phần làm cho mối quan hệ này không được xích gần nhau Hơn thế nữa, vẫn còn nhiều suy nghĩ trong Doanh nghiệp cũng như từ Nhà trường rằng sự gắn kết giữa Nhà trường và Doanh nghiệp chưa thực sự là nhu cầu bức thiết Từ đó, Nhà trường lẫn Doanh nghiệp còn thụ động, chưa nhận thức được sự phát triển của đôi bên cần có phần đóng góp của ở sự hợp tác hiệu quả với Doanh nghiệp và Nhà Trường Trong khi đó, nhiều Doanh nghiệp có nhu cầu nhân lực chất lượng cao, có trình độ, có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế lại gặp khó khăn trong công tác tuyển chọn nhân sự cho phù hợp do sự không đồng nhất với chương trình đào tạo trong trường Nhà trường và Doanh nghiệp thiếu người lãnh đạo tài năng có tầm nhìn, có khả năng nhìn xa trông rộng Nhà trường và Doanh nghiệp đều thiếu kinh nghiệm trong việc hợp tác với nhau Thiếu lòng tin và sự tin tưởng lẫn nhau giữa Nhà trường và Doanh nghiệp cũng là một nguyên nhân khiến cho mối gắn kết giữa hai bên còn lỏng lẻo, chắp vá, chưa đến nơi đến chốn. [1] Do đó, việc tăng cường kết nối và quan hệ doanh nghiệp trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao là điều cần thiết mà các bên liên quan phải thấu hiểu, duy trì và phát huy trong thời đại mới

Trang 26

2 GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

Ở Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật, nhờ cơ chế thoáng và khuyến khích hợp tác với doanh nghiệp, nên Khoa Xây Dựng trong thời gian quan đã có những khởi sắc trong việc tạo mối quan hệ tốt với doanh nghiệp bên ngoài trong việc xây dựng chương trình đào tạo, nghiên cứu chuyển giao cũng như thực tập và trao học bổng cho sinh viên Mặc dù có những sự tiến triển tốt nhưng công tác phối hợp với doanh nghiệp vẫn chưa có sự phát triển toàn diện và sâu rộng được, do đó cần phải có sự phân tích và đưa ra các giải pháp hữu hiệu để trong thời gian tới Có thể nói, đề có một chiến lược rõ ràng và cụ thể trong công tác tăng cường mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà trường, chúng ta phải xét đến 03 nhóm đối tượng chính có quan hệ mật thiết với nhau, cùng tồn tại với nhau để phát triển mối quan hệ này, đó là: Nhà Trường, Doanh nghiệp và Nhà Nước Mối quan hệ giữa 03 yếu tố trên được thể hiện như sau:

Hình 1 Mối quan hệ giữa Nhà Trường, Doanh Nghiệp và Nhà nước

Dựa vào biểu đồ trên, có thể thấy mối quan hệ mật thiết giữa Nhà Trường, Doanh nghiệp và Nhà Nước trong việc hình thành mối quan hệ phát triển bền vững trong đào tạo, việc làm và phụng sự xã hội Hiện tại, mối quan hệ giữa Nhà Trường và Doanh nghiệp nói chung đang trên đà tạo kết nối (mũi tên liền nét), trong khi đó mối liên hệ giữa Nhà Nước và Nhà Trường cũng như Doanh nghiệp mờ nhạt trong việc tăng cường phát triển mục tiêu này (mũi tên nét đứt) Để bộ ba quan hệ trên được gắn kết, hiểu nhau trong việc củng cố phát huy mối quan

hệ giữa Nhà trường và Doanh Nghiệp, cần phải có sự điều chỉnh và các quyết sách từ các phía,

cụ thể như sau:

NHÀ NƯỚC

NHÀ TRƯỜNG

DOANH NGHIỆP

Trang 27

23

Nhà trường cần phát triển tốt nguồn nhân lực để cung cấp cho doanh nghiệp, chính sách quan hệ doanh nghiệp, có đủ tầm vóc, tố chất, tiêu chuẩn, tài đức, đủ sức đảm đương công việc được giao, đáp ứng khả năng lao động của doanh nghiệp và xã hội Để làm tốt những điều trên, Nhà Trường cần phải:

 Tiếp tục thiết kế xây dựng chương trình đào tạo dựa trên nhu cầu doanh nghiệp bằng cách đưa ra các chính sách để khuyến khích trong việc phối hợp xây dựng đào tạo Thực tế chúng ta đã tổ chức hội thảo với doanh nghiệp về xây dựng chương trình đào tạo, nhưng chỉ vài đơn vị đại diện tham gia, trong khi đó vẫn còn có nhiều nhân tố khác mà chương trình đào tạo cần phải được xây dựng một cách toàn diện hơn, phù hợp với xu thế của ngành nghề Do đó, cần phải có chính sách phù hợp để tạo sự kết nối với các tổ chức, các Hiệp hội ngành nghề để có sự tham vấn sâu sắc

 Nhà trường cần phải có chính sách hỗ trợ trong việc thiết lập và xây dựng mạng lưới liên kết với doanh nghiệp liên quan ở từng khoa Việc này lâu nay vẫn thực hiện, nhưng tính chất không thực sự chuyên nghiệp, bởi vì một người có thể kiêm nhiệm nhiều chức năng Nếu xác định rằng quan hệ doanh nghiệp là cơ hội, là xu hướng tất yếu thì sự đầu tư này là hoàn toàn phù hợp Một người đại diện cho khoa chỉ làm đại diện nhà trường hợp tác với các doanh nghiệp, tổ chức các buổi gặp gỡ, thu thập dữ liệu thông tin việc làm, phản hồi doanh nghiệp, v.v… Có thế nói, công việc của bộ phận này nặng nề không khác gì một thư ký khoa, đội ngũ này sẽ phát triển nghề nghiệp thường xuyên Đội ngũ này sẽ xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp đối tác, tích cực tiếp cận nguồn vốn tài trợ và đầu tư nghiên cứu, sản xuất thử của Khoa cũng như tăng cường sự tương tác doanh nghiệp bên ngoài

 Thêm vào đó, Nhà trường cần xây dựng các chính sách, cơ chế và các quy định về hình thức, nội dung, cơ chế hợp tác và đãi ngộ, đồng thời khuyến khích nhà khoa học, thầy cô giáo và cá nhân tham gia và tích cực khai thác các hợp tác với doanh nghiệp song song với việc đăng ký, xác lập và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp để có nguồn thu tái đầu tư cho nghiên cứu, phát triển [7] Hiện nay, mặc dù Nhà trường vẫn có chính sách cho việc mở rộng mối quan hệ này, nhưng vẫn còn thiếu và mơ hồ Các cá nhân tham gia tạo mối liện hệ nhiều lúc phải chịu sức ép về thời gian và tiền bạc, nên sẽ không hiệu quả về mặt lâu dài nếu như cơ chế chính sách không tương xứng

Doanh nghiệp Việt Nam cần phải tránh tư duy làm ăn theo kiểu “mì ăn liền” và cần phải xây dựng chiến lược phát triển bền vững trong đó phối hợp với các Nhà Khoa học trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như vật liệu mới Doanh nghiệp cần thay đổi nhận thức và quan điểm về hợp tác với nguyên tắc “hiểu biết lẫn nhau và hai bên cùng có lợi ích từ hợp tác”; đồng thời có cơ chế để nhà khoa học không nên chỉ quan tâm đến bảo vệ tài sản trí tuệ hay bản quyền, ngược lại doanh nghiệp cũng không quá lo lắng giữ bí quyết công nghệ Doanh nghiệp phải nhận thực rằng phối hợp với Nhà Trường là bảo vệ quyền lợi của mình và cũng là trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội Do đó, doanh nghiệp cần phải duy trì thường xuyên các kênh tiếp xúc và liên lạc, chia sẻ thông tin, ý tưởng thông qua bộ phận chuyên trách về hợp tác hoặc thông qua các dự án và các hoạt động chung, kể cả về kế hoạch phát triển để xây dựng hợp tác lâu dài có tính chiến lược Hơn thế nữa, các doanh nghiệp phải có định hướng, xây dựng kế hoạch đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ( R&D) và tiếp nhận kết quả để thương mại hóa, trong

Trang 28

đó doanh nghiệp đóng vai trò là nhà cung cấp thông tin, phản biện để các trường đại học nắm được nhu cầu của thị trường công nghệ và thị trường lao động, cũng như hình thành các cơ chế, chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, khuyến khích đội ngũ nhà khoa học ở các trường đại học tham gia vào các dự án và chia sẻ học thuật với doanh nghiệp.[7]

Có thể nói, ngoài sự nỗ lực của Nhà Trường và Doanh nghiệp, vai trò của Nhà Nước trong việc thúc đẩy mối quan hệ này vô cùng quan trọng Nhà nước đóng vai trò là điều phối, trung gian và là chất xúc tác để cho mối quan hệ này tăng cường hơn Nếu như trên thế giới, Đạo luật Bayh-Dole đã được đưa ra để góp phần thúc đẩy mối quan hệ giữa đại học và giới công nghiệp đã góp chuyển biến mạnh mẽ trong các trường đại học ở Mỹ, thúc đấy sự hợp tác với giới công nghiệp – doanh nghiệp – dịch vụ, đóng góp 40 tỷ USD và tạo ra trên 260.000 việc làm [3,4], thì ở Việt Nam cũng nên ban hành luật thể hiện sự ràng buộc hơn nữa giữa Nhà trường và Doanh nghiệp Các luật này cần phải cụ thể hóa vai trò và trách nhiệm của Doanh nghiệp đối với trường đại học và ngược lại Việc cụ thể hóa này là cần thiết và ảnh hướng đến mọi hoạt động làm ăn của doanh nghiệp Mặc dù vẫn có một số văn kiện được Nhà nước ta đưa ra để tạo mối quan hệ giữa Nhà trường và Doanh nghiệp như quy định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Trung ương Đảng khóa

XI, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để mối quan hệ hợp tác này trở nên thiết thực Hơn thế nữa, với gia tăng quyền tự chủ trong mỗi trường đại học, bây giờ nó dễ dàng hơn nhiều cho các trường đại học cá nhân để tìm kiếm sự hợp tác với ngành công nghiệp Trong các nước công nghiệp, đổi mới kỹ thuật đã trở thành lực lượng chính cho khả năng cạnh tranh Điều này dẫn đến sự tham gia mạnh mẽ hơn của ngành công nghiệp trong nghiên cứu và phát triển (R&D) Ở các nước công nghiệp hóa, sự tham gia của các trường đại học trong các dự án R&D cho ngành công [2]

Để tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và Doanh nghiệp, ngoài việc các bên phải có những quyết sách đúng đắn để có thể xúc tiến các hoạt động hợp tác, các Quy định của Pháp Luật được ban hành bởi Nhà nước được xem là rất quan trọng để mối quan hệ này tiến xa và toàn diện hơn Về phía Nhà trường, cần phải xây dựng một chính sách chuyên biệt

để kích thích các giảng viên, các Khoa thúc đẩy mối quan hệ này Đối với Doanh nghiệp, cần nhận thức rõ chiến lược phát triển bền vững, trong đó quan hệ với trường đại học sẽ rất cần thiết trong việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm (R&D), nâng cao năng suất và khẳng định

vị thế Đối với Nhà Nước, cần phải thông qua các luật để tính điểm phục vụ xã hội cũng như hợp tác giáo dục trong kinh doanh, gắn kết hơn nữa Nhà trường và Doanh nghiệp, xây dựng

bộ giải pháp đồng bộ và tối ưu nhằm xây dựng và phát triển mối gắn kết bền vững này trong thời đại hội nhập

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Nguyễn Đình Luận, Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn

nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị, Tạp Chí Phát triển & Hội nhập, Số 22 (32) – Tháng 05-06 năm 2015

Trang 29

25

[2] Hoàng Hùng, Lê Văn Sỹ, Nguyễn Văn Lợi, Lê Quốc Phong, Nguyễn Quang Vinh, “Mô

hình trường "đại học - doanh nghiệp”: mô hình, cơ chế và chính sách trong bối cảnh việt

http://www.pvu.edu.vn/images/khoa-hoc-cong-nghe/bai-bao-khoa-hoc/6-2016/GV1509_paper_hung.pdf

[3] Trần Khánh Đức Giáo Dục Đại Học Việt Nam Và Thế Giới, Đại học Quốc gia Hà Nội,

2012 Trần Khánh Đức, Đặc trưng và mô hình quản lý giáo dục ở một số nước trên thế giới, TTKHGD, Số 102 Tr.42-43, 45

[4] Julio A Pertuze, Best Practices for Industry-University Collaboration, MITSloan

Management review, Summer 2010, Vol 5 No 4, 81-91

[5] S K Chou, Development of University – Industry Partnerships forthe Promotion of

Innovation and Transfer of Technology: Singapore, WIPO, 2007, ISBN 9280516205 [6] Đinh Văn Toàn, Hợp tác đại học - doanh nghiệp trên thế giới và một số gợi ý cho Việt

Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 32, Số 4 (2016) 69-80 [7] Nguyễn Kim Dung, Phạm Thị Hương, Thực trạng hợp tác của các trường đại học với

doanh nghiệp ở việt nam, Tạp chí Khoa học Giáo Dục, trường ĐH Sư Phạm TP HCM, Tập 14, Số 4 (2017): 29-41

Thông tin tác giả chịu trách nhiệm bài viết:

TS Trần Vũ Tự

Khoa Xây Dựng - Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Email: tutv@hcmute.edu.vn

Phone: 0931.282881

Trang 30

XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ HỢP TÁC CHIẾN LƯỢC

Vũ Trần Khánh Linh

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

NGHIỆP (DN) VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trong bối cảnh thế giới đang tiến đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, chất lượng lao động là một vấn đề ngày càng được quan tâm và được đánh giá là một trụ cột quan trọng, là động lực chính cho giai đoạn cạnh tranh kinh tế [1] Tuy nhiên, chất lượng lao động Việt Nam hiện nay vẫn còn là câu chuyện đáng bàn Số liệu thống kê và điều tra lao động ở nước ta cho thấy tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý 4 năm 2017 khoảng 76.9% (55.16 triệu người), trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp/chứng chỉ chỉ vào khoảng 21.8% [2] Riêng ở vùng Đông Nam Bộ, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động khá cao (hơn 10.9 triệu dân trên 15 tuổi) và được xếp vào tỷ lệ "dân số vàng” [3]; tuy nhiên, tỷ lệ dân số có trình độ đại học trở lên của cả vùng rất thấp, khoảng 6,6%; tỷ lệ dân số có trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng cũng chỉ chiếm vài phần trăm và hầu hết dân số không có trình độ chuyên môn kỹ thuật [3] Vì vậy dù có tiềm năng về nguồn lao động dồi dào, lực lượng lao động trên địa bàn vẫn chưa đáp ứng được cầu lao động tại địa phương nhất là ở tứ giác công nghiệp TP Hồ Chí Minh - Đồng Nai- Bà Rịa Vũng Tàu - Bình Dương Mặt khác, dự báo đến năm 2025, tại thị trường lao động TP HCM và các tỉnh phía Nam, nhu cầu tỉ trọng lao động có trình độ đại học, cao đẳng vẫn chiếm thị phần cao trên 30% [4] Vì vậy việc đào tạo nguồn nhân lực có học vấn,

có trình độ chuyên môn cao và có khả năng thích ứng nhanh với những tiến bộ công nghệ, tiếp thu và làm chủ công nghệ mới và có nhiều sáng chế, sáng tạo trong sản xuất luôn là một vấn đề cấp thiết Để cung ứng được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp, việc xây dựng mối liên kết giữa doanh nghiệp (DN) và truờng đại học (ĐH) ngày càng được quan tâm nhiều hơn [5]

DOANH NGHIỆP VÀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Trên thực tế, mối liên kết giữa doanh nghiệp và trường đại học đã được xây dựng từ nhiều năm trước chủ yếu tập trung vào các hình thức:

- Nhà trường có thể tư vấn, xây dựng chương trình đào tạo cho DN

- DN tham gia góp ý nội dung chương trình đào tạo của trường ĐH, tạo điều kiện cho sinh viên tham quan, thực tập

- Trường ĐH có thể mời DN tham gia giảng dạy hay nói chuyện chuyên đề; hoặc DN tổ chức các buổi seminar để giới thiệu về công nghệ, các buổi tọa đàm về hướng nghiệp tại trường ĐH

- DN gửi nhân sự tại trường đại học để được đào tạo, trang bị kĩ năng cần thiết

Đối với các truờng ĐH, động cơ điển hình cho sự cộng tác với ngành công nghiệp chính là để cải thiện chất lượng giảng dạy, tiếp cận các nguồn tài trợ, nâng cao uy tín của

Trang 31

27

trường và đặc biệt là có thể tiếp cận với nguồn dữ liệu thực tế từ các ngành công nghiệp Đối với các DN, động cơ để hợp tác với các trường ĐH có thể bao gồm: tiếp cận với với công nghệ mới, tuyển dụng được nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật, đào tạo nhân viên, sử dụng

cơ sở vật chất và trang thiết bị của trường ĐH Các DN cũng có thể hợp tác với trường ĐH để

có thể tác động tới kế hoạch giảng dạy và nghiên cứu của trường, hoặc thông qua việc chia sẻ kinh phí R&D để giảm thiểu các rủi ro cho DN [6]

Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam mối liên kết giữa DN và truờng ĐH thường là liên kết ngắn hạn (short-term collaboration), nhằm chỉ giải quyết những vấn đề theo nhu cầu (on-demand problem) với kết quả được xác định trước và có xu hướng kết nối thông qua các hợp đồng nghiên cứu, hợp đồng tư vấn và chuyển giao công nghệ [6] Các DN không “mặn mà” với các mối liên kết, đầu tư cho nghiên cứu khoa học một cách lâu dài, có chiến lược và định hướng vì ngân sách hàng năm dành cho R&D không cao; hơn nữa, thủ tục hành chính cho việc hợp tác còn nhiều phức tạp Ngoài ra, mối liên hệ giữa DN - trường ĐH cũng đang đối mặt với nhiều rào cản khác như:

- Sự không phù hợp về định hướng nghiên cứu của các DN và trường ĐH: các DN thường mong muốn các kết quả có khả năng thương mại hóa nhanh, trong khi các trường đại học lại tập trung nhiều vào nghiên cứu cơ bản Sự cộng tác giữa DN - ĐH thường khá tốn kém

và cần có thời gian để đem lại kết quả tốt, nhưng các DN thường tìm kiếm các kết quả ngắn hạn

và những sự đóng góp rõ ràng cho các lĩnh vực kinh doanh hiện tại [6]

- Đối với sản phẩm đầu ra: các DN thường quan tâm đến việc các bằng sáng chế mới hoặc sản phẩm mới có thể đạt được nhanh như thế nào, và muốn trì hoãn việc công bố (publications) để tránh tiết lộ thông tin Ngược lại, các nhà nghiên cứu trong trường ĐH, thường muốn công bố kết quả nghiên cứu càng nhanh càng tốt [6]

- Những khó khăn trong việc đàm phán hợp tác bao gồm: sự thiếu thông tin, những trở ngại trong việc tìm kiếm người liên hệ và chi phí giao dịch cho việc tìm kiếm đối tác thích hợp [6]

Vì những rào cản kể trên, sự hợp tác của DN với các trường ĐH hiện nay chủ yếu thể hiện ở việc DN đóng góp ý kiến nhằm xây dựng chương trình đào tạo cho sinh viên đại học (như việc xây dựng chương trình đào tạo 150 tín chỉ), tạo điều kiện cho sinh viên đi tham quan, thực tập; trường ĐH xây dựng và áp dụng các kỹ thuật hiện tại vào công nghiệp để đáp ứng nhu cầu của địa phương

Trong khi đó ở các nuớc phát triển, sự liên kết giữa DN và truờng ĐH có tính chất chiến lược hơn Cụ thể, DN và trường ĐH có thể cùng tham gia xây dựng các chương trình đào tạo sau đại học, đồng hướng dẫn các nghiên cứu sinh, có những tổ hợp nghiên cứu và nghiên cứu dài hạn để đạt các đột phá về mặt công nghệ Sự hợp tác dài hạn (long-term collaboration) này sẽ cung cấp một nền tảng đa diện, giúp các DN có thể phát triển năng lực sáng tạo mạnh mẽ hơn, bền vững hơn dựa trên khả năng, phương pháp và cơ sở vật chất của các trường đại học Trường ĐH cũng sẽ có được nguồn kinh phí dồi dào, ổn định phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu khoa học, đồng thời có cơ hội công bố các kết quả nghiên cứu có tính đột phá, và có tính ứng dụng cao trong sản xuất công nghiệp [6]

Trang 32

3 MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ GIỮA TRƯỜNG

ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP

Đối với trường ĐH

- Cần nắm bắt đuợc nhu cầu và định hướng phát triển của các ngành công nghiệp thông qua việc tổ chức nhiều hơn nữa các buổi hội thảo, tọa đàm, gặp gỡ các DN

- Đầu tư cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp [7]

- Tạo ra cơ chế trao đổi cởi mở hơn để các giảng viên, nhà nghiên cứu trong trường ĐH

có thể tiếp cận với DN dễ dàng hơn

DN những công nghệ mới, góp phần nâng cao hiệu quả, năng suất sản xuất

- Đầu tư vào học viên cao học và nghiên cứu sinh (vì đây là lực lượng nghiên cứu có kỹ năng, có nhiều thời gian nghiên cứu) thông qua các hình thức như cấp học bổng nghiên cứu, cung cấp đề tài, tạo điều kiện để làm thí nghiệm, làm nghiên cứu tại DN, công ty

Đối với chính phủ

- Cần có chính sách hỗ trợ cho sự phát triển liên kết giữa DN – ĐH như: hỗ trợ việc tham quan, thực tập của sinh viên tại DN, cung cấp nhiều học bổng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hồng Hải – Kim Thoa, Nhân lực chất lượng cao: Đòn bẩy cho phát triển kinh tế, Lao

động thủ đô, 29/04/2017

[2] Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê, Bản tin cập nhật thị truờng

lao động Việt Nam, Số 16, quý 4 năm 2017

[3] Bảo Hạnh, Đông Nam Bộ: Khát nguồn nhân lực chất lượng cao, Đại Đoàn Kết,

29/09/2011

[4] G.Nam, TP HCM khan hiếm lao động chất lượng cao, Người lao động, 17/12/2017

[5] TS Nguyễn Đình Luận, Sự gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo

nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị, Phát triển & Hội nhập, Số 22 (32) - tháng 05-06/2015

[6] José Guimón, Promoting University-Industry Collaboration in Developing countries,

World Bank, 2013

[7] Rosly Othman a *, Ahmad Fairuz Omar, University and industry collaboration:

towards a successful and sustainable partnership, Procedia - Social and Behavioral

Sciences 31 (2012) 575 – 579

Thông tin tác giả chịu trách nhiệm bài viết:

TS Vũ Trần Khánh Linh

BM Công nghệ thực phẩm – Khoa Công nghệ Hóa học &Thực phẩm

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Phone: 0966 955 469

Email: linhvtk@hcmute.edu.vn

Trang 33

29

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG MỐI QUAN HỆ VỀ ĐÀO TẠO,

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ GIỮA DOANH NGHIỆP VÀ NGÀNH CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

Cơ sở vật chất của bộ môn CNTP hiện nay bao gồm 06 phòng thí nghiệm bao gồm: Xưởng thực hành CNTP 1, Xưởng thực hành CNTP 2, Xưởng thực hành CNTP 3, Phòng Cảm quan Thực phẩm, PTN Vi sinh, PTN Hóa Sinh Các phòng thí nghiệm được trang

bị khá hiện đại đủ sức đáp ứng cho nhu cầu học tập của sinh viên cũng như nhu cầu nghiên cứu của giảng viên Các PTN này cũng là nơi thực hiện các luận án thạc sĩ, tiến sĩ của học viên và giảng viên trong bộ môn Hiện nay, bộ môn CNTP cũng đang trong quá trình triển khai thiết lập 1-2 PTN mới nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nữa nhu cầu của người học và công tác nghiên cứu của các giảng viên [1]

Hiện nay, đội ngũ giảng viên cơ hữu của Khoa CNHH&TP là 32 người gồm 1 PGS, 13 tiến sĩ, 15 thạc sĩ và 02 kỹ sư Trong đó, BM CNTP có 10 người gồm 5 tiến sĩ và 5 thạc sĩ Tuy vậy, tổng số sinh viên hiện BM CNTP phụ trách chiếm quá nữa tổng số sinh viên cả khoa (bao gồm cả hệ CLC) tức vào khoảng gần 600 sinh viên và dự kiến đến năm 2020 là vào khoảng 800 sinh viên Ngoài số giảng viên cơ hữu của BM CNTP, các giảng viên thuộc các

bộ môn còn lại trong khoa, các giảng viên cơ hữu của ĐH SPKT và các giảng viên thỉnh giảng khác cùng tham gia giảng dạy cho tất cả các hệ đào tạo của ngành CNTP

1.1 Đào tạo

Bộ môn CNTP hiện đang quản lý các chương trình đào tạo sau thuộc ngành CNTP: cao học CNTP, chương trình đại học đại trà, chương trình đại học chất lượng cao (CLC) tiếng Việt, chương trình CLC tiếng Anh, và chương trình liên thông cao đẳng - đại học, chương trình liên thông trung cấp-đại học (theo chuẩn CDIO 150 tín chỉ và sắp tới tới là CDIO 132 tín chỉ)

Chương trình cao học ngành CNTP đã được triển khai đào tạo từ cuối năm 2017 với thời lượng 03 học kỳ Các môn học được thiết lập theo kiểu modul với 45 tín chỉ và được chia làm 2 hướng đào tạo: hướng ứng dụng và hướng nghiên cứu Cách thức đào tạo này tạo sự linh hoạt cho người học cũng như các doanh nghiệp/đơn vị sử dụng lao động có nhu cầu cử cán bộ đi học nâng cao trình độ [1]

Trang 34

Bộ môn đã thiết lập chuẩn đầu ra và chương trình giảng dạy sát với nhu cầu thực tế để thực hiện mục tiêu đào tạo ra những kỹ sư, thạc sĩ có trình độ chuyên môn giỏi, tư cách đạo đức tốt, có tính chuyên nghiệp cao cùng với kỹ năng tin học và ngoại ngữ đủ sức làm việc trong môi trường đa quốc gia nhằm đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước cũng như tính toàn cầu trong thời đại mới [1]

1.2 Nghiên cứu khoa học

Bộ môn CNTP xác định rõ tầm quan trọng của nghiên cứu khoa học gắn liền với năng lực giảng dạy của giảng viên và năng lực học tập của sinh viên Bên cạnh đó, các sản phẩm nghiên cứu khoa học còn là một trong những tiêu chí giúp nâng cao vị thế của bộ môn và là nền tảng cho các chương trình hợp tác và quan hệ quốc tế Từ những định hướng đó, bộ môn TNTP

đã khuyến khích, động viên giảng viên và sinh viên tích cực tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp Sự cộng tác giữa giảng viên - giảng viên, giảng viên - sinh viên trong các đề tài nghiên cứu không những giúp nâng cao trình độ chuyên môn của giảng viên, nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn tăng cường tinh thần đoàn kết nội bộ của bộ môn và sự thông hiểu giữa giảng viên và sinh viên Đã có rất nhiều đề tài cấp cơ sở, cấp sở, cấp bộ được hoàn thành với sản phẩm là các bài báo trong nước và quốc tế (ISI, SCIE, SCI) cũng như các sản phẩm cụ thể được chuyển giao cho các doanh nghiệp sản xuất [1]

Các hướng nghiên cứu của Bộ môn CNTP [1]:

 Ứng dụng công nghệ lạnh và sấy (sấy thăng hoa, sấy lạnh, sấy hồng ngoại…) trong chế biến và bảo quản thực phẩm

 Nghiên cứu về toán ứng dụng trong công nghệ thực phẩm

 Nghiên cứu xây dựng qui trình công nghệ chế biến các sản phẩm từ thịt, thủy sản, rau quả, sữa…

 Nghiên cứu ứng dụng một số enzyme trong chế biến thực phẩm

 Nghiên cứu ứng dụng của vi sinh vật trong chế biến và bảo quản thực phẩm

 Nghiên cứu các kỹ thuật cố định vi sinh vật, các kỹ thuật vi bao probiotic và các chất có hoạt tính sinh học

 Nghiên cứu về các kỹ thuật lên men hiện đại để sản xuất một số sản phẩm trao đổi chất bậc một và sản phẩm trao đổi chất bậc hai

 Nghiên cứu các phương pháp hóa học, vật lý và sinh học để biến tính các đại phân tử sinh học

 Ứng dụng công nghệ plasma, điện hóa, chiếu xạ… trong chế biến và bảo quản thực phẩm

2.1 Thực tập tại doanh nghiệp/công ty

Căn cứ vào chương trình đào tạo, hàng năm luôn có từ 1 đến 2 đợt sinh viên (với số lượng từ 100 đến 200 sinh viên/đợt) phải tham gia môn học thực tập tại doanh nghiệp/nhà máy với thời gian từ 1-6 tháng/đợt Đây là môn học được đánh giá rất quan trọng và được đặt nhiều kỳ vọng nhằm giúp sinh viên tiếp cận với các hoạt động thực tiễn trong công việc về sau Tuy nhiên, phía sinh viên và bộ môn gặp rất nhiều khó khăn vì các lý do sau:

Trang 35

3 Rất nhiều công ty không hỗ trợ nhà trường trong việc tiếp nhận sinh viên thực tập

4 Việc cùng tham gia hướng dẫn đào tạo của công ty cùng với nhà trường là rất ít

Vì vậy, hiệu quả của môn học thực tập tại doanh nghiệp là rất hạn chế so với mong muốn ban đầu của sinh viên và đơn vị đào tạo

2.2 Hỗ trợ về thiết bị và vật tƣ

Hầu như Bộ môn CNTP chưa nhận được sự hỗ trợ về thiết bị và vật tư từ bất kỳ đơn vị doanh nghiệp/công ty nào mặc dù trong nhiều buổi tiếp xúc với doanh nghiệp/công ty phía bộ môn đã có nhiều đề nghị sự cộng tác của hai bên bằng nhiều hình thức khác nhau cùng có lợi

2.3 Hỗ trợ về kinh phí thực hiện các nghiên cứu của sinh viên và giảng viên

Mặc dù ở qui mô cấp trường có khá nhiều hoạt động tương tự, nhưng riêng ngành CNTP hầu như chưa có những hỗ trợ đáng kể Các nghiên cứu ở đây hoàn toàn có thể xuất phát từ những yêu cầu từ phía doanh nghiệp/công ty đặt hàng cho Bộ môn CNTP và được thực hiện bởi sinh viên (khóa luận tốt nghiệp) hay bởi giảng viên (nghiên cứu chuyển giao) Nếu có, thường đó là những hoạt động mang tính chất đơn lẻ giữa một giảng viên và một doanh nghiệp nào đó (thường xuất phát từ quan hệ cá nhân)

2.4 Hỗ trợ về giảng dạy hoặc các buổi trao đổi học thuật, kinh nghiệm…

Mặc dù có nhiều nỗ lực, nhưng số doanh nghiệp cùng đồng hành với Bộ môn CNTP trong nội dung này còn hạn chế Trước đây cũng đã có một vài hoạt động trao đổi chuyên môn của các cty như TetraPak, Massan, Nestlé…

Theo hiểu biết chủ quan, chúng tôi xin đề cập đến một số nhu cầu có thể có từ phía doanh nghiệp/đơn vị sử dụng lao động đối với nhà trường và cụ thể là Bộ môn CNTP:

a Tham gia giải quyết một số vấn đề về kỹ thuật của đơn vị hoặc tham gia R&D một số sản phẩm thực phẩm

b Tư vấn nâng cấp, cải tiến công nghệ cho đơn vị

Trang 36

c Giới thiệu một số kiến thức cập nhật hoặc một số công nghệ mới có liên quan đến hoạt động của đơn vị

d Huấn luyện một số kiến thức và kỹ năng cho cán bộ-nhân viên của đơn vị

e Đào tạo nâng cấp cho công nhân hoặc nâng bậc học vị cho cán bộ kỹ thuật

f Tham gia các hoạt động quảng bá cho sản phẩm hoặc thương hiệu của đơn vị

 Nhà trường chưa có cơ chế đủ mạnh có tính khuyến khích cao hoặc đủ sức hấp dẫn để tạo động lực giúp doanh nghiệp chuyển một số hoạt động nghiên cứu/thử nghiệm vào nhà trường hoặc cùng tham gia đào tạo Nhà trường cũng chưa có cơ chế đủ mạnh và đủ hấp dẫn để giảng viên tập trung công sức vào các hoạt động liên quan đến doanh nghiệp

 Các hoạt động giảng dạy cũng như các hoạt động khác trong trường hiện đang quá tải với giảng viên khiến giảng viên không còn quĩ thời gian cho các hoạt động liên quan đến doanh nghiệp Với cơ chế hiện nay của nhà trường, lợi ích thực sự (chẳng hạn lợi ích kinh tế) thu được chưa đủ sức hấp dẫn giảng viên giảm bớt giờ dạy (giờ vượt chuẩn) để tham gia các hoạt động liên quan đến doanh nghiệp

Theo hiểu biết chủ quan, chúng tôi xin đề cập một số vướng mắc của doanh nghiệp như sau:

 Phải tập trung với công việc sản xuất/kinh doanh và chưa nhận thấy lợi ích cụ thể trong việc hỗ trợ nhà trường trong việc đào tạo

 Chưa hoặc không có nhu cầu liên kết với nhà trường trong nghiên cứu, phát triển sản phẩm; hoặc chưa có sự tin tưởng vào khả năng giải quyết vấn đề của nhà trường trong khi có nhiều lựa chọn khác phù hợp hơn (từ các công ty tư vấn, từ chuyên gia nước ngoài…)

 Hoặc doanh nghiệp ưu tiên mua trọn gói công nghệ hơn tự đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ riêng

 Đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ thường có xu hướng liên hệ với các chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn để giải quyết các vấn đề gặp phải Trong khi với các doanh nghiệp lớn thì

có xu hướng mua công nghệ hoặc thuê chuyên gia nước ngoài

Trang 37

33

Như vậy, do không có sự tương tác giữa đơn vị đào tạo và doanh nghiêp nên các giảng viên không có điều kiện cọ xát thực tế, tiếp xúc với thiết bị và công nghệ hiện có Việc thiếu các trang thiết bị phù hợp với sản xuất thực tế cũng là một nguyên nhân tiếp theo khiến việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề có khoảng cách khá xa so với thực tế sản xuất Mặt khác, các doanh nghiệp cũng ít có sự đầu tư hoặc liên kết với đơn vị đào tạo Từ đây thấy rằng, cần thiết phải có một bên thứ ba làm trung gian để giải quyết sự lệch pha này Theo ý kiến chủ quan, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:

1 Mời các doanh nghiệp tham dự các buổi bảo vệ khóa luận tốt nghiệp đại học hoặc các buổi bảo vệ luận án sau đại học Các doanh nghiệp có thể tìm thấy một vài đề tài nằm trong sự quan tâm để tiến hành các bước hợp tác tiếp theo

2 Doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu và phát triển sản phẩm Phòng R&D và đơn vị đào tạo sẽ ngồi lại để cụ thể hóa từng công việc: một số việc sẽ triển khai tại nhà trường, một số việc khác sẽ triển khai thực tế tại doanh nghiệp Phía doanh nghiệp sẽ cử 01 cá nhân làm nhiệm vụ theo dõi tiến độ và kết quả của từng dự án

3 Doanh nghiệp có thể đặt hàng đơn vị đào tạo tiến hành huấn luyện một số kiến thức kỹ năng giúp ôn luyện hoặc cập nhận thông tin cho người lao động Song song đó, doanh nghiệp có

cơ chế cho phép giảng viên tham gia giải quyết một số vấn đề tại doanh nghiệp (giảng viên vẫn hưởng lương từ đơn vị đào tạo)

Theo Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM (FALMI) [2], hiện nay ngành CNTP là một trong bốn nhóm ngành nghề có nhu cầu nhân lực cao nhất trong giai đoạn 2020-2025 Chính vì lý do này mà số lượng sinh viên theo học ngành CNTP ngày một gia tăng và tạo một áp lực không nhỏ cho đơn vị đào tạo Việc kết hợp giữa đơn vị đào tạo và đơn vị sử dụng lao động trong việc đào tạo cũng như triển khai các nghiên cứu để áp dụng vào thực tiễn vẫn còn nhiều vấn đề cần phải bàn Chúng tôi nhận thấy vẫn cần

có một bên thứ ba làm trung gian để kết nối Ngoài ra, cần có những buổi hội thảo, gặp mặt để trao đổi về đề xuất những giải pháp nhằm giải quyết các tồn tại từ đó giúp mối quan hệ hợp tác giữa người sử dụng lao động và đơn vị đào tạo được gắn kết hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Website: Khoa Công nghệ Hóa học và thực phẩm fcft.hcmute.edu.vn

[2] Websie: Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM

http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/tin-tuc/4305.du-bao-nguon-nhan-luc-thanh-pho-ho-chi-minh-den-nam-2020-%E2%80%93-2025.html

Thông tin tác giả chịu trách nhiệm bài viết:

TS Trịnh Khánh Sơn

Bộ môn Công nghệ thực phẩm - Khoa Công nghệ Hóa học và thực phẩm

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Email: sontk@hcmute.edu.vn

Phone: 0935 133 734

Trang 38

VỀ QUAN HỆ DOANH NGHIỆP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CỦA BỘ MÔN CÔNG NGHỆ HÓA HỌC

Phan Thị Anh Đào

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Bộ môn Công nghệ Hóa học (CNHH) được thành lập vào tháng 01 năm 2007 đồng hành với sự ra đời của Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh Bộ môn Công nghệ Hóa học là một trong ba bộ môn trực thuộc Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm Trước năm học 2015-2016, Bộ môn có trách nhiệm giảng dạy các môn học liên quan đến lĩnh vực khoa học và kỹ thuật Hóa học cho sinh viên khối Kỹ thuật toàn trường với khối lượng giảng dạy rất lớn Từ năm học 2015-2016, Bộ môn Công nghệ Hóa học bắt đầu đào tạo ngành Công nghệ Kỹ thuật Hóa học với ba chuyên ngành: CNKT Hóa vô cơ, CNKT Hóa hữu cơ và CNKT Hóa polymer

Hiện nay, với số lượng cán bộ giảng dạy trẻ gồm bảy Tiến sỹ, ba nghiên cứu sinh và một cử nhân cùng số lượng sinh viên chính qui của ngành CNHH khoảng 500 sinh viên, Bộ môn CNHH đang duy trì và ngày càng mở rộng mối quan hệ doanh nghiệp nhằm đào tạo ra các Kỹ sư Công nghệ Hóa học vững nền tảng kiến thức và tự tin trong môi trường làm việc doanh nghiệp

GIỮA BỘ MÔN CNHH & DOANH NGHIỆP

Trong thời gian qua, bộ môn CNHH đã liên kết với các doanh nhiệp trên địa bàn Tp HCM, Vũng Tàu nhằm biến mục tiêu đào tạo Kỹ sư CNHH không chỉ nắm vững kiến thức nền tảng mà còn có các kỹ năng thực tế tốt, hòa nhịp cùng môi trường làm việc doanh nghiệp

Ngay từ những ngày đầu bước chân vào Giảng đường Đại học (học kỳ 1, năm thứ nhất), các sinh viên đã có được các Thầy Cô hướng dẫn tham quan và học tập tại nhà mày Hóa Chất Đồng Nai Sinh viên có cơ hội tiếp cận những máy móc, thiết bị, qui trình vận hành

và đặc biệt tạo cho sinh viên nhận thức về công việc của mình sau khi tốt nghiệp, vai trò của

kỹ sư Hóa

Sang năm thứ 3, các sinh viên sẽ được thực tập tại các nhà máy phù hợp chuyên ngành

đã chọn trong môn thực tập tốt nghiệp Các doanh nghiệp sẵn sàng hỗ trợ các em như: Nhà máy xi măng Hà Tiên, Cao Su Vina, Nhà máy Đạm Phú Mỹ, phân bón Bình Điền, Bột giặt Viso, Kính nổi và gốm sứ Viglacera, Nhà máy sản xuất Găng tay Cao su, Sơn KoVa…

Đây không còn là tham quan học tập như năm thứ nhất nữa mà chính các sinh viên có

cơ hội trở thành một thành viên của doanh nghiệp, các em sẽ được học tập và trang bị nhiều kiến thức thực tiễn, vận hành máy móc, thiết bị, nắm bắt các nguyên tắc làm việc doanh nghiệp, xử lý sự cố Những kiến thức thực tiễn này là hành trang thiết thực, cần thiết cho các

em sau khi tốt nghiệp và làm việc tại doanh nghiệp

Bên cạnh đó, nhằm tăng cường sự kết nối doanh nghiệp, mở rộng thêm tầm hiểu biết cho sinh viên về thực tiễn doanh nghiệp, môi trường làm việc, qui trình công nghệ, các

Trang 39

35

chuyên gia của các doanh nghiệp sẽ cung cấp thêm cho sinh viên nhiều kiến thức thực tiễn hơn trong môn học “Doanh nghiệp và Công nghiệp” Môn học này sẽ được triển khai trong thời gian tới với các buổi tọa đàm trực tiếp của các chuyên gia đến từ các doanh nhiệp, dưới hình thức tổ chức các buổi chuyên đề đối thoại của sinh viên với các chuyên gia (ít nhất là 5 seminar), trong thời gian từ năm thứ nhất tới năm thứ tư Các chuyên gia không những mở rộng cánh cửa doanh nghiệp với các em mà còn cung cấp nhiều kiến thức thực tiễn, tạo động lực cho sinh viên thêm phần tự tin và hiểu biết thêm về vai trò kỹ sư Hóa trong doanh nghiệp, mối quan hệ trong doanh nghiệp, các qui trình mới, cải tiến được áp dụng trong doanh nghiệp hiện nay

Song song với các hoạt động chính ở trên, bộ môn CNHH tổ chức các buổi đối thoại của sinh viên với doanh nghiệp, triển lãm các sản phẩm của doanh nghiệp trong các ngày hội

Mở hoặc buổi giới thiệu máy móc, thiết bị phân tích ngay trên lớp học (Môn Kỹ thuật phòng thí nghiệm và An toàn hóa chất), sinh hoạt học thuật của Bộ Môn Nhiều quỹ học bổng, cuộc thi đến từ các doanh nghiệp như: cuộc thi Holcim Prize (Insee Prize), giải pháp Thủy sản (Aquaculture Innovation Challenge) phụ gia Thực phẩm (Ingredient Food), giải ý tưởng sáng tạo (YSEALI Innovation Challenge), … đã được các em tham gia và đạt giải cao

Quan hệ doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở kết nối đào tạo mà còn là sự kết nối về nghiên cứu khoa học Ngay từ những ngày đầu thành lập, Bộ môn CNHH luôn có nhiều đề tài NCKH của Giảng viên và Sinh viên Sự đam mê NCKH đã được thắp lửa từ những Thầy Cô thế hệ trước (Thầy Thích, Thầy Sức, Thầy Hoàng, Cô Minh) tới những giảng viên trẻ bây giờ NCKH không còn thực hiện các đề tài cấp Trường, cấp Bộ mà các giảng viên còn chủ động tìm kiếm các nguồn kinh phí từ Ngoài Trường như: Chương trình Vườn Ươm của Thành Đoàn, Chương trình Vườn Ươm Công nghệ Cao của TP.HCM Dự định trong thời gian tới, sẽ

tổ chức buổi tọa đàm với sự tham gia PGS.TS Nguyễn Thị Hòe (Người sáng lập ra sơn Kova)

- tấm gương nhà Khoa học thành công với NCKH của chính mình Đây là buổi tọa đàm khơi nguồn đam mê của giảng viên và sinh viên, chia sẽ những kinh nghiệm quí báu của PGS.TS Nguyễn Thị Hòe trong việc kết nối NCKH với doanh nghiệp, cấp bằng sáng chế, phát triển sản phẩm

Ngành Công nghệ Hóa học tuy mới ra đời và vẫn còn nhiều bộn bề khó khăn nhưng chúng tôi luôn cố gắng hoàn thiện, ý thức cao về mối quan hệ doanh nghiệp sẽ là chìa khóa cho việc đào tạo các sinh viên giỏi công nghệ, tăng cơ hội tuyển dụng nghề nghiệp cho sinh viên sau khi tốt nghiệp và kết nối các công trình NCKH của Giảng viên, sinh viên với doanh nghiệp

Thông tin tác giả chịu trách nhiệm bài viết:

TS Phan Thị Anh Đào

Bộ môn Công nghệ Hóa học - Khoa Công nghệ Hóa học và Thực phẩm

Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Email: daopta@hcmute.edu.vn

Phone: 0902373656

Trang 40

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC HỢP TÁC GIỮA TRƯỜNG ĐẠI HỌC VÀ DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC

Lê Minh Nhựt, Huỳnh Phước Sơn

Trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Trong thời đại công nghiệp phát triển mạnh mẽ như hiện nay, nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng đối với đối với sự phát triển các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng bởi vì nếu một quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng thì sẽ mang lại nhiều lợi ích và lợi thế cạnh tranh của cho quốc gia đó [1,2]

Vai trò của nguồn nhân lực

 Nguồn nhân là một trong những nhân tố quyết định đến sự thành công của một doanh nghiệp, một quốc gia trong thời đại phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ

 Nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế, để tạo ra sản phẩm cho xã hội tiêu dùng nó là một quá trình chế biến, gia công, kết hợp… các loại nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định, nếu thiếu thì sẽ không thể

có được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong xã hội hoặc đạt hiệu quả trong sản xuất kinh doanh

 Nguồn nhân lực là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu với các nước phát triển phát triển, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

 Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng trong hội nhập quốc tế

Đối với doanh nghiệp: nguồn nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp Phần giá trị gia tăng của sản phẩm về cơ bản là do lao động sáng tạo Giá trị gia tăng của doanh nghiệp càng cao thì lợi nhuận của doanh nghiệp càng lớn mà muốn có giá trị gia tăng lớn thì phải dựa vào chất lượng và kết quả nguồn nhân lực Do đó, hợp tác giữa đại học

và doanh nghiệp là xu hướng phổ biến trên thế giới Hợp tác đại hoc và doanh nghiệp được hiểu như sự tương tác, giao dịch giữa cơ sở giáo dục đại học với các doanh nghiệp để mang lại lợi ích hài hòa cho các bên tham gia

Xuất phát từ thực tế trên, khoa Cơ khí Động lực (CKĐ), trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh trong những năm gần đây luôn coi trong việc đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp với nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu, hợp tác chuyển giao công nghệ cũng như đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy của khoa

NGHIỆP

Như chúng ta đã biết, hợp tác giữa đại học mà cụ thể là trường Đại học sư phạm kỹ thuật

nói chung và khoa Cơ khí Động lực nói riêng với doanh nghiệp được thể hiện ở nhiều hình thức

và nhiều mức độ khác nhau như trao đổi sinh viên thực tập trong năm học, sinh viên thực tập tốt nghiệp, tham quan thực tế tại công ty hay nhà máy sản xuất, tài trợ học bổng cho sinh viên cho sinh viên học khá, giỏi và sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, tài trợ quỹ nghiên cứu khoa học của

Ngày đăng: 05/04/2022, 07:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 9.9 Bàn tay (a) và ban chân (b) so nở bệnh nhân xơ gan do rượu. Được phép của Martin W - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 9.9 Bàn tay (a) và ban chân (b) so nở bệnh nhân xơ gan do rượu. Được phép của Martin W (Trang 6)
Bảng 2. Số lượng bài báo giai đoạn 2013-2017 - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Bảng 2. Số lượng bài báo giai đoạn 2013-2017 (Trang 11)
Bảng 1. Số lượng đề tài giai đoạn 2013-2017 - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Bảng 1. Số lượng đề tài giai đoạn 2013-2017 (Trang 11)
Hình 1. Biểu đồ giảngviên thực hiện tiết nghĩa vụ NCKH Để có được kết quả trên thì các chính sách nhà trường đang áp dụng : - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 1. Biểu đồ giảngviên thực hiện tiết nghĩa vụ NCKH Để có được kết quả trên thì các chính sách nhà trường đang áp dụng : (Trang 12)
Hình 2. Biểu đồ chuyển giao côngnghệ từ 2008 đến 2014 (đơn vị VNĐ) 2.2.1 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình chuyển giao cơng nghệ và thương mại  hoá sản phẩm giai đoạn 2008 – 2014 - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 2. Biểu đồ chuyển giao côngnghệ từ 2008 đến 2014 (đơn vị VNĐ) 2.2.1 Các nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình chuyển giao cơng nghệ và thương mại hoá sản phẩm giai đoạn 2008 – 2014 (Trang 13)
Với các đề xuất và giải pháp để đẩy mạnh tình hình chuyển gioa côngnghệ và thương mại hoá sản phẩm của Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Công Nghệ được nhà trường  hỗ trợ thực hiện thì từ năm 2015 cho đến nay tình hình chuyển giao cơng nghệ được cải thi - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
i các đề xuất và giải pháp để đẩy mạnh tình hình chuyển gioa côngnghệ và thương mại hoá sản phẩm của Trung Tâm Nghiên Cứu Và Chuyển Giao Công Nghệ được nhà trường hỗ trợ thực hiện thì từ năm 2015 cho đến nay tình hình chuyển giao cơng nghệ được cải thi (Trang 15)
Hình 1. Mối quan hệ giữa Nhà Trường, DoanhNghiệp và Nhà nước - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 1. Mối quan hệ giữa Nhà Trường, DoanhNghiệp và Nhà nước (Trang 26)
Hình 2. Tài trợ trang thiết bị của các doanhnghiệp cho khoa CKĐ (đơn vị tính: USD) - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 2. Tài trợ trang thiết bị của các doanhnghiệp cho khoa CKĐ (đơn vị tính: USD) (Trang 41)
Hình 1. Một số doanhnghiệp tiêu biểu tặng học bổng chosinhviên khoa CKĐ - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 1. Một số doanhnghiệp tiêu biểu tặng học bổng chosinhviên khoa CKĐ (Trang 41)
Hình 3. Sinhviên khoa CKĐ thamgia cuộc thi Shell Eco-Marathon và cuộc thi lái xe - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 3. Sinhviên khoa CKĐ thamgia cuộc thi Shell Eco-Marathon và cuộc thi lái xe (Trang 42)
 Tủ được xây dựng theo một mơ hình hồn chỉnh gồm các thiết bị bảo vệ đóng cắt, tích hợp thêm các thiết bị điều và khởi động động cơ - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
c xây dựng theo một mơ hình hồn chỉnh gồm các thiết bị bảo vệ đóng cắt, tích hợp thêm các thiết bị điều và khởi động động cơ (Trang 52)
Hình 1. Mơ hình đào tạo truyền thống - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 1. Mơ hình đào tạo truyền thống (Trang 57)
Hình 2. Mơ hình đào tạo theo quan điểm mới - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 2. Mơ hình đào tạo theo quan điểm mới (Trang 58)
Hình 3. Mơ hình đào tạo hiện đại - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 3. Mơ hình đào tạo hiện đại (Trang 59)
Hình 4. Mô phỏng môi trường họctập và làm việc theo mơ hình gắn với doanhnghiệp - Hội thảo Đổi mới quan hệ nhà trường  Doanh nghiệp đáp ứng cuộc cách mạng số
Hình 4. Mô phỏng môi trường họctập và làm việc theo mơ hình gắn với doanhnghiệp (Trang 64)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w