1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU

99 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 6,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khai thác hải sản quá mức bằng những phương pháp đánh bắt mang tính huỷ diệt không những phá vỡ cân bằng sinh học của hệ sinh thái mà còn nguy hại hơn vì huỷ hoại nơi cư trú của các loài hải sản. Cùng với sự gia tăng cường lực khai thác thì nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng ven bờ ngày càng cạn kiệt.Huyện U Minh, tỉnh Cà Mau có chiều dài bờ biển khoảng 31 km. Nguồn lợi thủy sản trong gần bờ khá đa dạng, với nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, cá và các loài nhuyễn thể. Hàng năm, vùng biển ven bờ cung cấp cho cộng đồng dân cư ở khu vực một khối lượng lớn về nguồn lợi thủy sản. Nghề khai thác ven bờ đã đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế xã hội của huyện U Minh nói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung, tạo điều kiện cho người dân có công ăn việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo, duy trì ổn định đời sống của nhân dân trong vùng.Tuy nhiên, những năm gần đây, do sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển và mở rộng diện tích của nhiều ngành kinh tế (khai thác thủy sản, nuôi trồng thủy sản, ...) phát triển nhanh nhưng lại không được đặt trong một quy hoạch tổng thể đã gây ra hậu quả sinh thái nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường nước, ảnh hưởng tài nguyên thiên nhiên. Nhiều hoạt động khai thác được đẩy mạnh bằng những ngư cụ mang tính chất hủy diệt nguồn lợi như: sử dụng xung điện, te, xiệp, ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt đối tượng không đúng mùa vụ theo quy định, hủy hoại môi trường sống của nhiều loài, làm suy giảm tính đa dạng sinh học…. Việc nghiên cứu, để xuất giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ven bờ ở khu vực này là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn nghề cá tại địa phương.Mục tiêu của để tài: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện U Minh tỉnh Cà Mau.Phương pháp nghiên cứu:Tổng hợp số liệu, tài liệu đã được công bố của các cơ quan quản lý nghề cá, các phòng ban chức năng liên quan, bao gồm các thông tin về: Điều kiện tự nhiên, môi trường, nguồn lợi thủy sản; Số liệu thống kê về hiện trạng nghề khai thác thủy sản, tình hình vi phạm quy định về công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản của ngư dân trong huyện ; Hiện trạng nghề khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện U Minh, tỉnh Cà Mau bao gồm: số liệu về cơ cấu nghề, đối tượng khai thác, sản lượng khai thác, hiệu quả kinh tế, vùng khai thác, cường lực khai thác,Kết quả nghiên cứu: Về thực trạng nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện U Minh, có một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và đang ngày càng cạn kiệt. Về khai thác thủy sản,tổng số tàu thuyền khai thác biển trên địa bàn huyện năm 2015 là 730 chiếc, tổng công suất 44.825 CV, trong đó, có 127 chiếc trên 90 CV. Tác động của hoạt động khai thác thủy sản đến đa dạng sinh học: Hoạt động khai thác thủy sản gần bờ cạn kiệt (sò huyết) ảnh hưởng đến đa dạng sinh học, môi trường sống và phát triển thủy sản. Việc xung đột giữa các nghề khai thác đang diễn ra khá gay gắt, nhiều người dân làm nghề trong khu vực cấm khai thác vẫn biết việc làm của họ đang vi phạm quy định bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản. Quy hoạch không gian tổng hợp (ISP) nhằm đẩy mạnh tăng trưởng và phát triển kinh tế, cũng như là thước đo về môi trường, nhằm bảo tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VÕ MINH TẤN

GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY

SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

VÕ MINH TẤNGIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY

SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Quyết định giao đề tài: 306/QĐ-ĐHNT, ngày 26/03/2015

Quyết định thành lập hội đồng: 1035/QĐ-ĐHNT, ngày 05/11/2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi

thủy sản vùng biển ven bờ huyện U Minh tỉnh Cà Mau” được hoàn thành là

kết quả của quá trình nghiên cứu tài liệu, thực hiện các chuyến điều tra khảo sátthực tế ở huyện U Minh, tỉnh Cà Nau.Số liệu trong luận văn là hoàn toàn trungthực, được xử lý theo phương pháp khoa học và đảm bảo độ tin cậy

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn và các thông tin trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc

Khánh Hòa, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Võ Minh Tấn

Trang 4

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, Lãnh đạo Viện Khoa học và Công nghệ Khai thác Thủy sản, quý thầy trong Viện đã truyền đạt kiến thức và kinh nghiệm giúp tôi hoàn thành luận văn này./.

Khánh Hòa, ngày tháng năm

2017

Tác giả

Võ Minh Tấn

Trang 6

MỤC LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Trang 9

DANH MỤC VIẾT TẮT

- BVNL : Bảo vệ nguồn lợi

- BVNLTS : Bảo vệ nguồn lợi thủy sản

- PTNT : Phát triển nông thôn

- UBND : Ủy ban nhân dân

- FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức lương thực Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)

- SEAFDEC : Southeast Asian Fisheries Development Center (Trung tâm Phát triển nghề cá Đông Nam Á)

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Khai thác hải sản quá mức bằng những phương pháp đánh bắt mang tínhhuỷ diệt không những phá vỡ cân bằng sinh học của hệ sinh thái mà còn nguyhại hơn vì huỷ hoại nơi cư trú của các loài hải sản Cùng với sự gia tăng cườnglực khai thác thì nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng ven bờ ngày càng cạn kiệt

Huyện U Minh, tỉnh Cà Mau có chiều dài bờ biển khoảng 31 km Nguồnlợi thủy sản trong gần bờ khá đa dạng, với nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tếcao như: tôm, cá và các loài nhuyễn thể Hàng năm, vùng biển ven bờ cung cấpcho cộng đồng dân cư ở khu vực một khối lượng lớn về nguồn lợi thủy sản.Nghề khai thác ven bờ đã đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hộicủa huyện U Minh nói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung, tạo điều kiện cho ngườidân có công ăn việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo, duy trì ổn định đờisống của nhân dân trong vùng

Tuy nhiên, những năm gần đây, do sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển

và mở rộng diện tích của nhiều ngành kinh tế (khai thác thủy sản, nuôi trồngthủy sản, ) phát triển nhanh nhưng lại không được đặt trong một quy hoạchtổng thể đã gây ra hậu quả sinh thái nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường nước,ảnh hưởng tài nguyên thiên nhiên Nhiều hoạt động khai thác được đẩy mạnhbằng những ngư cụ mang tính chất hủy diệt nguồn lợi như: sử dụng xung điện,

te, xiệp, ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt đối tượng không đúng mùa

vụ theo quy định, hủy hoại môi trường sống của nhiều loài, làm suy giảm tính đadạng sinh học…

Việc nghiên cứu, để xuất giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợithủy sản ven bờ ở khu vực này là rất cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễnnghề cá tại địa phương

Mục tiêu của để tài: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ

huyện U Minh tỉnh Cà Mau

Phương pháp nghiên cứu:

Trang 11

Tổng hợp số liệu, tài liệu đã được công bố của các cơ quan quản lý nghề

cá, các phòng ban chức năng liên quan, bao gồm các thông tin về: Điều kiện tựnhiên, môi trường, nguồn lợi thủy sản; Số liệu thống kê về hiện trạng nghề khaithác thủy sản, tình hình vi phạm quy định về công tác bảo vệ và phát triển nguồnlợi thủy sản của ngư dân trong huyện ; Hiện trạng nghề khai thác thủy sản tạivùng biển ven bờ huyện U Minh, tỉnh Cà Mau bao gồm: số liệu về cơ cấu nghề,đối tượng khai thác, sản lượng khai thác, hiệu quả kinh tế, vùng khai thác,cường lực khai thác,

Kết quả nghiên cứu:

- Về thực trạng nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện U Minh, có một

số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và đang ngày càng cạn kiệt

- Về khai thác thủy sản,tổng số tàu thuyền khai thác biển trên địa bànhuyện năm 2015 là 730 chiếc, tổng công suất 44.825 CV, trong đó, có 127 chiếctrên 90 CV

- Tác động của hoạt động khai thác thủy sản đến đa dạng sinh học: Hoạtđộng khai thác thủy sản gần bờ cạn kiệt (sò huyết) ảnh hưởng đến đa dạng sinhhọc, môi trường sống và phát triển thủy sản

- Việc xung đột giữa các nghề khai thác đang diễn ra khá gay gắt, nhiềungười dân làm nghề trong khu vực cấm khai thác vẫn biết việc làm của họ đang

vi phạm quy định bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản

- Quy hoạch không gian tổng hợp (ISP) nhằm đẩy mạnh tăng trưởng vàphát triển kinh tế, cũng như là thước đo về môi trường, nhằm bảo tồn hệ sinhthái và đa dạng sinh học

Trang 12

MỞ ĐẦU

Cũngnhư nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang phải đối mặt với sự

suy giảm nguồn lợi ven bờ nghiêm trọng Nguồn lợi thủy sản ở vùng biển ven

bờ đã bị khai thác quá mức cùng với việc mất đi nhiều loài thủy sinh vật quýhiếm, có giá trị kinh tế, giá trị khoa học cao do chính những hành động bất hợp

lý của con người: khai thác quá mức; khai thác bằng phương pháp mang tínhhủy diệt; bằng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ hơn mức cho phép; xả nước thải,chất thải làm ô nhiễm môi trường sống của các loài thủy sản

Huyện U Minh nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Cà Mau, được thành lậpvào ngày 20/5/1979 Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía đông giáp huyện ThớiBình, phía tây giáp Vịnh Thái Lan, phía nam giáp huyện Trần Văn Thời Hiệnnay diện tích tự nhiên 774,14 km2 bằng 14,62% diện tích tự nhiên của tỉnh.Huyện U Minh có 08 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 01 thị trấn huyện lỵ và

07 xã: thị trấn U Minh; xã Khánh An; xã Khánh Hòa; xã Khánh Hội; xã KhánhLâm; xã Khánh Thuận xã Khánh Tiến; xã Nguyễn Phích Huyện U Minh đượchình thành trên vùng đất U Minh Hạ, nằm dọc theo tuyến sông Cái Tàu, chạyxuyên qua xóm Cái Tàu - Lâm An và Biện Nhị đến Tiểu Dừa (giáp xã VânKhánh, huyện An Minh, Tỉnh Kiên Giang) Sông Cái Tàu bắt nguồn từ vùngtrũng của Rừng U Minh Hạ có hình cánh cung, ngọn trổ ra biển Tây, còn VàmSông tiếp giáp hữu ngạn sông Ông Đốc, đổ nước vào sông này ra biển Sông CáiTàu với hệ thống kênh rạch xuyên sâu vào rừng tràm, xẻ thẳng vào ruột rừngchia U Minh Hạ ra từng ô với nhiều tên gọi khác nhau bám chặt vào rừng tràmrộng lớn và hùng vĩ

Huyện U Minh có chiều dài bờ biển khoảng 31 km Nguồn lợi thủy sảntrong gần bờ khá đa dạng, với nhiều loại thủy sản có giá trị kinh tế cao như: tôm,

cá và các loài nhuyễn thể Hàng năm, vừng biển ven bờ cung cấp cho cộng đồngdân cư ở khu vực một khối lượng lớn về nguồn lợi thủy sản Nghề khai thác ven

bờ đã đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện U Minhnói riêng và tỉnh Cà Mau nói chung, tạo điều kiện cho người dân có công ăn

Trang 13

việc làm, góp phần xóa đói, giảm nghèo, duy trì ổn định đời sống của nhân dântrong vùng.

Tuy nhiên, những năm gần đây, do sự gia tăng dân số, nhu cầu phát triển

và mở rộng diện tích của nhiều ngành kinh tế (khai thác thủy sản, nuôi trồngthủy sản, ) phát triển nhanh nhưng lại không được đặt trong một quy hoạchtổng thể đã gây ra hậu quả sinh thái nghiêm trọng làm ô nhiễm môi trường nước,ảnh hưởng tài nguyên thiên nhiên Nhiều hoạt động khai thác được đẩy mạnhbằng những ngư cụ mang tính chất hủy diệt nguồn lợi như: sử dụng xung điện,

te, xiệp, ngư cụ có kích thước mắt lưới nhỏ, đánh bắt đối tượng không đúng mùa

vụ theo quy định, hủy hoại môi trường sống của nhiều loài, làm suy giảm tính đadạng sinh học… Bên cạnh đó, công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản gặp nhiềukhó khăn do nhận thức của ngư dân thấp, diện tích đầm lớn, lực lượng thanh trachuyên ngành mỏng, chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm và sự phốihợp giữa các ngành chức năng chưa đồng bộ; việc phân công trách nhiệm quản

lý giữa cơ quan quản lý chuyên ngành cấp tỉnh và chính quyền địa phương(huyện, xã) chưa rõ ràng, cụ thể

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng, bất cập trên, đó là: Hầu hết nhữngcông trình nghiên cứu khoa học trước đây phục vụ cho việc hoạch định chínhsách, tổ chức quản lý chỉ mới chú trọng đến việc phát triển nuôi trồng thủy sản,chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủysản; các chính sách, quy định về khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản củaTrung ương và tỉnh còn chung chung, chưa cụ thể và khó áp dụng thực hiện;việc tổ chức, phân công quản lý của các ngành, cấp ở địa phương còn nhiều bấtcập, …

Chính vì vậy, việc nghiên cứu, để xuất giải pháp nhằm bảo vệ và pháttriển nguồn lợi thủy sản ven bờ ở khu vực này là rất cần thiết, có ý nghĩa khoahọc và thực tiễn nghề cá tại địa phương

Mục tiêu nghiên cứu:

Trang 14

Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện U Minhtỉnh Cà Mau.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

Về lý luận: Đề tài thực hiện thành công là cơ sở lý luận và tài liệu thamkhảo cho các cơ quan, cá nhân nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nghề khaithác ven bờ huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Về ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề tài là cơ sở khoa học góp phần phục vụcông tác quản lý nghề, xây dựng những chính sách, quản lý cho phù hợp với sựphát triển của nghề cá huyện U Minh, tỉnh Cà Mau góp phần ổn định kinh tế xãhội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh biển đảo

Nội dung nghiên cứu:

- Điều tra khảo sát hiện trạng khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờhuyện U Minh, tỉnh Cà Mau

- Điều tra khảo sát hiện trạng hoạt động BVNL thủy sản tại vùng biển ven

bờ huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

- Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng biểnven bờ huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

Trang 15

Huyện U Minh nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Cà Mau, cách trung tâm thành phố

Cà Mau trên 42 km, được thành lập vào ngày 20/5/1979 Phía Bắc giáp huyện

An Minh của tỉnh Kiên Giang, phía Đông giáp huyện Thới Bình, phía Tâygiáp Vịnh Thái Lan, phía Nam giáp huyện Trần Văn Thời Huyện U Minh đượcchia thành 7 xã và 1 thị trấn, bao gồm các xã Khánh An, Nguyễn Phích, KhánhLâm, Khánh Hội, Khánh Hoà, Khánh Thuận, Khánh Tiến và thị trấn U Minh[10]

Trang 16

Hiện nay diện tích tự nhiên 774,14 km2 bằng 14,62% diện tích tự nhiên của tỉnh.

Hình 1.1: Bản đồ hành chính huyên U Minh tỉnh Cà Mau

1.1.1.2 Địa hình, địa chất

Địa hình của huyện tương đối bằng phẳng, chênh lệch độ cao ít, cao trìnhtrung bình + 0,2m tới 0,4m, một số liếp vườn có độ cao 0,8 – 1,2m Địa bànhuyện bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch và kênh thủy lợi Địa tầng trong vùngtương đối đồng nhất, cấp tải trọng yếu

Trang 17

Huyện có bờ biển dài 31 km, có các kênh lớn thông ra biển như kênh BiệnNhị, cửa Hương Mai, cụ thể 2 xã ven biển Khánh Tiến và Khánh Hội, chịu ảnhhưởng trực tiếp của thủy triều biển Tây.

1.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Về cơ bản huyện U Minh có đặc trưng của khí hậu miền Tây Nam Bộ Mùa

mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượngmưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.200 mm, mùa mưa thường chiếm tới 90%lượng mưa cả năm, mưa tập trung vào các tháng 8, tháng 9 và tháng 10 Nhiệt

độ trung bình năm 26,6oc, độ ẩm không khí trung bình 80 - 85%

Trong năm gió thịnh hành theo mùa: Mùa khô hướng gió thịnh hành làĐông Bắc vận tốc trung bình khoảng 1,6 - 2,8 m/s; Mùa mưa hướng gió thịnhhành là Tây Nam hoặc gió Tây, tốc độ bình quân 1,8 - 4,5 m/s Trong mùa mưathường xảy ra giông, lốc xoáy (nhất là ở vùng ven biển) có gió mạnh cấp 7, cấp8

Chế độ phân mùa rõ rệt có ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và sinh hoạt củanhân dân, mùa khô thiếu nước ngọt sản xuất, sinh hoạt, nguy cơ cháy rừng cao,mùa mưa, mưa bão, áp thấp nhiệt đới thường ảnh hưởng đến khai thác biển Chế

độ phân mùa cũng tạo điều kiện phát triển nuôi tôm trong mùa khô, sản xuấtnông nghiệp trong mùa mưa tạo điều kiện cấy 01 vụ lúa luân canh trên đất nuôitôm trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sản xuất của huyện

Trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đang là mối quan tâm của tất

cả các quốc gia Là khu vực ven biển, huyện U Minh nói riêng và tỉnh Cà Maunói chung đang phải chịu những tác động tiêu cực đến từ biến đổi khí hậu Theokịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên vàmôi trường công bố năm 2012, kịch bản phát thải trung bình, đến năm 2020,nhiệt độ trung bình tỉnh Cà Mau tăng 0,5oC, lượng mưa tăng 0,9%; đến năm

2030, các con số này lần lượt là 0,7oC và 1,3% Khu vực mũi Cà Mau – KiênGiang, đến năm 2020, nước biển dâng trong khoảng từ 9 đến 10cm và 13 đến15cm năm 2030 Theo đó, kết quả xác định vùng có nguy cơ bị ngập theo các

Trang 18

mực nước biển dâng cho thấy, nếu nước biển dâng 1m, khoảng 39% diện tíchĐBSCL có nguy cơ bị ngập, đặc biệt là các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, HậuGiang, Sóc Trăng, Bạc Liêu; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng ĐBSCL bịảnh hưởng trực tiếp Một số tác động của BĐKH có thể gây ảnh hưởng tới việcphát triển kinh tế - xã hội cũng như việc thực hiện quy hoạch tổng hợp khônggian vùng ven biển huyện U Minh:

- Đối với sản xuất nông nghiệp: diện tích lúa sẽ bị thu hẹp do sự xâm nhậpmặn, suy giảm chất lượng đất; nuôi trồng thủy sản sẽ giảm sản lượng và mấtdiện tích nuôi trồng do bị ngập sâu và độ mặn tăng lên đáng kể; diện tích rừng sẽgiảm đi, hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc trưng của vùng sẽ bị tổn thất lớn do tìnhtrạng sạt lở ngày càng cao;

- Đối với các khu dân cư: do đặc điểm dùng sông nước khu vực ĐBSCLphần lớn các khu dân cư tập trung theo hệ thống sông và kênh rạch, do vậy, biếnđổi khí hậu gây nước biển dâng sẽ tác động trực tiếp đến đời sống người dân:ngập lụt, sạt lở, thiếu nguồn nước ngọt, sự thiếu hụt đất phục vụ cho nhu cầu nhà

ở và sản xuất của người dân rất hạn chế;

- Đối với hệ thống cơ sở hạ tầng: nước biển dâng khiến mạng lưới giaothông và các cơ sở hạ tầng khác sẽ bị nhấn chìm trong nước, nguy cơ sạt lở côngtrình cao, kinh phí xây dựng tăng lên đáng kể (đặc biệt là công trình xây dựngtuyến đê biển Tây) Hệ thống tưới và cấp nước giảm khả năng lấy nước do xâmnhập mặn [10]

Trang 19

1.1.3 Dân số, dân cư và lao động:

1.1.3.1 Dân số, dân cư:

Dân số trung bình huyện U Minh năm 2014 là 103.876 người, bằng8,43% dân số toàn tỉnh Huyện U Minh có nhiều dân tộc trong đó dân số nhiềunhất là dân tộc kinh chiếm tới 94,31%, dân tộc Khmer, Hoa và các dân tộc khácchiếm 5,69%

Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện tương đương với mức bình quântoàn tỉnh, năm 1997 là 1,95%, những năm sau giảm dần (từ 1,2 - 1,15% theotừng năm giai đoạn 2011-2015)

Mật độ dân số trung bình của huyện năm 2014 đạt 134 người/km2 so vớibình quân toàn tỉnh 229 người/km2 Dân cư của huyện phân bố không đều, mật

độ dân số ở thị trấn U Minh đạt 362 người/km2, nhưng ở các xã khu vực rừngmật độ dân số còn rất thấp, tại xã Khánh Thuận bình quân 68 người/km2, xãKhánh An bình quân 98 người/km2

Cũng như các địa phương khác trong tỉnh, dân cư ở huyện U Minh chủyếu định cư ở thị trấn, trung tâm các xã và dọc theo 2 bên bờ sông, bờ kênh lớn,nhằm thuận tiện giao thông thuỷ, bộ, dân cư của huyện phân bổ phân tán theokiểu tiện canh tiện cư, ít quần tụ; đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đếnđầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu dân cư nhất là về điện, đường giao thông,trường học dân số thành thị của huyện tăng từ 5.632 người năm 2000 lên6.975 người năm 2014 [10]

1.1.3.2 Lao động

Số lao động trong độ tuổi của huyện năm 2014 là 69.385 người, chiếm66,8% dân số của huyện, trong đó lao động nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản35.448 chiếm trên 51,1%; lao động chuyên sản xuất công nghiệp, xây dựng vàdịch vụ chiếm 48,9% Nhìn chung lao động của huyện là lao động trẻ, có thể lựctốt, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng hàng năm, đến nay là 28%

Trang 20

Nguồn lực lao động của huyện hiện nay sử dụng còn hạn chế, ngoài việcthời gian nông nhàn ở nông thôn còn lớn thì số lượng khá lớn lao động nữ củahuyện chủ yếu làm các việc nội trợ gia đình Số lao động nữ tham gia làm việctrong các ngành kinh tế chỉ chiếm khoảng 32% đến 38%.

1.1.3 Thực trạng phát triển kinh tế xã hội các xã ven biển huyện U Minh 1.1.3.1 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Khánh Tiến

Kinh tế xã Khánh Tiến có sự phát triển qua các năm Sinh kế chủ yếu củangười dân là nông nghiệp và ngư nghiệp

Về nông nghiệp, năm 2015, tổng diện tích cấy lúa mùa là 3.720 ha (trong

đó lúa tôm 120 ha), sản lượng ước đạt trên 13.000 tấn Các cây trồng khác trênđịa bàn xã như mía, dừa, cây ăn quả, chuối… Chăn nuôi khá phát triển với đàngia súc 5.500 con và gia cầm 15.500 con

Về thủy sản, tổng sản lượng khai thác thủy sản năm 2015 ước đạt 9.500 tấn

tôm, cá các loại Nuôi trồng thủy sản phát triển với diện tích nuôi tôm quảngcanh cải tiến là 30,6 ha, năng suất đạt 360 kg/ha; nuôi tôm quảng canh 90 ha vớinăng suất 250 kg/ha

Về lâm nghiệp, Khánh Tiến có 1.114 ha rừng, qua nhiều năm chăm sóc,

bảo vệ, đến nay rừng đã đủ tuổi khai thác, riêng trong năm 2015 khai thác được

55 ha, bình quân mỗi ha 50 triệu đồng, hiện tại đã trồng lại sau khai thác đảmbảo

Về thương mại, dịch vụ, trên địa bàn xã có 02 doanh nghiệp kinh doanh

vàng bạc đá quý, 03 cơ sở kinh doanh xăng, dầu, nhớt và gas, 02 cơ sở thu mua

và sơ chế sản phẩm thủy sản và 01 doanh nghiệp sản xuất nước đá Nhìn chung,các doanh nghiệp và cơ sở kinh doanh đều hoạt động có hiệu quả, góp phần vào

sự phát triển chung của kinh tế xã Khánh Tiến

Trang 21

1.1.3.2 Hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội xã Khánh Hội

Tình hình kinh tế - xã hội của xã Khánh Hội có sự phát triển, hạ tầng kinh

tế được quan tâm đầu tư, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày mộtnâng cao

Về nông nghiệp, năm 2015, diện tích canh tác lúa hè thu là 719 ha, năng

suất bình quân 4,6 tấn/ha Diện tích canh tác lúa mùa, lúa lấp vụ 2 là 2.150 ha

Xã đã tổ chức thực hiện mô hình cánh đồng mẫu ở ấp 5 có 107 hộ với diện tích

là 161,9 ha Diện tích trồng hoa màu, cây ăn trái đạt 31 ha Chăn nuôi khá pháttriển với tổng đàn gia súc là 3.950 con, đàn gia cầm là 32.500 con

Về thủy sản, toàn xã có 361 phương tiện khai thác biển, trong đó 134

phương tiện có công suất dưới 90 CV, 227 phương tiện từ 90 CV trở lên Sảnlượng khai thác ước đạt 21.500 tấn tôm, cá các loại Ngoài ra, trong năm 2015,thực hiện Nghị định 67 của Chính phủ, xã có 09 hồ sơ được UBND tỉnh phêduyệt đóng mới, có 01 tàu dịch vụ hậu cần Thành lập 13 tổ hợp tác có 87phương tiện tham gia và được hỗ trợ các dụng cụ an toàn về đánh bắt, đồng thờilập thủ tục hỗ trợ bảo hiểm thuyền viên cho 87 phương tiện

Về lâm nghiệp, công tác bảo vệ rừng phòng hộ luôn được quan tâm, xã

phối hợp chặt chẽ với hạt kiểm lâm thường xuyên tuyên truyền vận động nhândân thực hiện tốt công tác bảo vệ rừng

Về công nghiệp – TTCN, thương mại, trên địa bàn xã có 178 doanh

nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, hộ kinh doanh cá thể… đáp ứng được nhucầu cung ứng và tiêu thụ hàng hóa trên địa bàn Một số ngành nghề phát triển tạiđịa phương như: chế biến thủy sản, sửa chữa cơ khí, sản xuất nước đá, kinhdoanh vàng bạch, xăng dầu…

Có thể thấy, tại hai xã Khánh Tiến và Khánh Hội, phát triển nổi bật nhất lànông nghiệp và thủy sản Bên cạnh đó, là sự phát triển của các ngành thươngmại, dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp Sự phát triển đa dạng của các hoạt động

Trang 22

sinh kế sẽ đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, song việc sử dụng không giancho nhiều mục đích hoạt động sẽ gây ra xung đột, ảnh hưởng tiêu cực giữa cácngành, gây giảm hiệu quả kinh tế và suy thoái môi trường Quy hoạch tổng hợpkhông gian biển có quan tâm tới tất cả các ngành trong nền kinh tế Sự phát triểncủa các ngành kinh tế tại khu vực hai xã cũng như những tác động của cácngành này tới môi trường trong bối cảnh phát triển chung của tỉnh và vùng, sẽ là

cơ sở để phân vùng và lựa chọn ngành nghề ưu tiên phát triển

1.1.4 Tổng quan vùng biển huyện U Minh

1.1.4.1 Giới thiệu chung

Huyện U Minh có chiều dài bờ biển 31 km, bằng 11,2% chiều dài bờbiển của tỉnh Cà Mau, là huyện có bờ biển dài thứ ba ở tỉnh Cà Mau sau huyệnNgọc Hiển và huyện Trần Văn Thời

Vùng biển huyện U Minh thuộc vùng biển Tây Nam Bộ, theo Chiến lượcBiển Việt Nam đến năm 2020 thì các vùng biển và ven biển thường có điều kiện

tự nhiên, tài nguyên phong phú, có điều kiện phát triển kinh tế xã hội nhanh hơn.Hàng năm huyện có thể khai thác hơn 20.000 tấn hải sản các loại Ngoài ra,vùng biển của huyện U Minh (cũng như vùng biển của tỉnh Cà Mau) có thể nuôiđược hải sản ở mặt nước ven biển, vùng ven bờ có thể nuôi được nghêu, lụa, sòhuyết

Trang 23

Hình 1.2: Cửa biển Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà mau

Với chiều dài bờ biển trên 31 km và có các cửa biển Khánh Hội, HươngMai, Tiểu Dừa huyện U Minh là một trong những huyện trọng điểm về kinh tếbiển của tỉnh Cà Mau Khai thác có hiệu quả các tiềm năng lợi thế của vùngbiển, ven biển kết hợp với bảo vệ an ninh quốc phòng tạo thế và lực tốt hơn đểphát triển kinh tế - xã hội huyện, góp phần bảo vệ chủ quyền vùng biển phía TâyNam của Tổ quốc

1.1.4.2 Thực trạng nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ huyện U Minh.

Huyện U Minh có diện tích dải rừng ngập mặn (RNM) ven bờ biển khoảng1.540ha và bãi ương dưỡng nguồn giống thủy sản (tôm, cua, cá con) khoảng10.760 Theo các tài liệu điều tra, nghiên cứu 2005 – 2011 [9], tài nguyên,nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ phía Tây Cà Mau nói chung và ven bờ các

xã ven biển nói riêng được đánh giá như sau:

Trang 24

kích cở nhỏ Mật độ cá giống cao nhất vào tháng 4, thấp nhất vào tháng 1 hàngnăm

* Thành phần loài giáp xác:

Có 53 loài giáp xác thuộc 30 giống, 18 họ và 4 bộ Trong đó, ghi nhậnđược 24 loài tôm thuộc 05 họ, 02 bộ, 12 giống; nhóm cua ghẹ (Brachiura) xácđịnh được 6 loài có giá trị kinh tế thuộc 2 họ, 3 giống (trong số đó, các loài có

giá trị kinh tế và nguồn lợi giống phong phú - cua Xanh (Scylla paramamosain), ghẹ (Postunus pelagicus, Charybdis affinis, Varuna litterata) Thành phần tôm

chủ yếu là tôm Thẻ, Chì, Rây,

Tỷ lệ phần trăm (%) các loại tôm trong tổng sản lượng đánh bắt như sau:Tôm Thẻ chiếm 43% tổng số ngư cụ và 29% tổng sản lượng tôm; tôm Chì chiếm42% tổng số ngư cụ và 52% tổng sản lượng tôm; tôm Gậy chiếm 3% tổng sốngư cụ và 3% tổng sản lượng tôm;

Ngoài ra, còn có một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và đang ngàycàng cạn kiệt, cần được duy trì và bảo vệ như cá Mú, cá Hồng, cá Đù, TômTít,

Theo số liệu điều tra từ các hộ ngư dân tại xã Khánh Tiến và Khánh Hộivào năm 2015 và 6 tháng đầu năm 2016 cho thấy, sản lượng đánh bắt hải sảntrung bình của 1 tàu dưới 20cv là 6,6 tấn/tàu/năm, giảm khoảng 40% so với 5năm trước đây Các đối tượng khai thác giảm mạnh là các loài thủy sản có giá trị

Trang 25

kinh tế thuộc họ tôm He, cua ghẹ, sò Huyết, mực, cá Đù, cá Ba Thú

(Rastrelliger brachysoma),cá Lạc (Muraenesox), cá Ngát, cá Chét, cá Chẽm, cá

Khoai,

* Tình trạng bãi đẻ, bãi giống/ương nuôi ấu trùng thủy sản:

Bãi giống, bãi ương nuôi ấu trùng thủy sản có diện tích 10.760 ha, liền kềvới dải RNM ven bờ 1.540 ha và vùng nước ven bờ 7.300 ha tạo ra vùng nướcgiàu dinh dưỡng, thu hút và tập trung tôm, cá non và con giống thủy sản với mật

độ cao Trong vùng biển ven bờ của xã có các bãi Sò huyết giống với diện tíchkhoảng 1.500 ha với mật độ khoảng 50 – 1.000 cá thể/m2, trong đó diện tích Sòphân bố mật độ cao > 500 cá thể/m2 khoảng 600 ha kéo dài dọc theo dải RNMven biển

Theo khảo sát ngư dân 2 xã Khánh Tiến và Khánh Hội, nguồn lợi thủy sảnvùng ven biển huyện U Minh tính từ mép bờ ra phía biển như sau:

Bảng 1.1 Nguồn lợi thủy sản vùng ven biển huyện U Minh

Vùng biển Nguồn lợi thủy sản Đánh giá trữ lượng Mùa vụ khai

Trung bình thấpTương đối nhiềuTrung bình khá

Từ tháng 9 đếntháng 4

Cá chim, cá thu Trung bình thấp

Cá ngân Tương đối nhiềuMực ống Trung bình khá Từ tháng 9 đến

Trang 26

Trung bình khá

Trung bình khá

Cả năm

Bạch tuộc Trung bình khá Cả năm

Nguồn: Tổng hợp tham vấn ngư dân vùng ven biển U Minh

Trang 27

Hiện trạng nguồn lợi và đa dạng sinh học khu vực biển ven bờ huyện U Minhtheo kết quả tham vấn của người dân được mô tả chi tiết trong Hình 1.3.

Hình 1.3: Bản đồ hiện trạng nguồn lợi và đa dạng sinh học

Từ hình 1.3 có thể thấy khu vực 0-1 hải lý là nơi có đa dạng sinh học cao nhấtvới nhiều loài thủy hải sản có giá trị kinh tế như tôm, cua, mực Đặc biệt khuvực này có nguồn lợi sò huyết giống có giá trị kinh tế cao cần được bảo vệ vàkhai thác một cách bền vững nhằm duy trì sinh kế cho người dân địa phương

Trang 28

1.1.5 Tổng quan về ngành thuỷ sản huyện U Minh

1.1.5.1 Về khai thác thủy sản,

Tổng số tàu thuyền khai thác biển trên địa bàn huyện năm 2015 là 730chiếc với tổng công suất là 44.825 CV, trong đó có 127 chiếc trên 90 CV Tổngsản lượng khai thác biển đạt 23.420 tấn, gồm có tôm, cá, mực các loại, trong đótôm khai thác đạt 2.100 tấn

1.1.5.2 Về nuôi trồng Thủy sản

Tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2015 của huyện ước đạt 22.254tấn Diện tích thả tôm nuôi được 11.500 ha với sản lượng 4.673,4 tấn Trong đó:diện tích nuôi tôm quảng canh 10.790 ha, sản lượng 4.474,6 tấn (gồm 02 đợtnuôi), năng suất bình quân 207 kg/ha; diện tích tôm nuôi quảng canh cải tiến là

710 ha, năng suất 280 kg/ha với sản lượng đạt 198,8 tấn Ngoài ra, sản lượng cáđồng và cá hồ ao đạt 17.580 tấn, tăng 230 tấn so với cùng kỳ năm trước

1.2 Tổng quan nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước

1.2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2.1.1 Các nghiên cứu về quản lý khai thác để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản

Quản lý khai thác thủy sản là một bộ phận quan trọng trong khoa học nghề

cá, mục tiêu của quản lý nghề cá là hướng đến việc bảo vệ và khai thác nguồnlợi thủy sản ổn định và có hiệu quả trong thời gian dài Theo thống kê của FAO,khoảng 50% nguồn lợi thuỷ sản thế giới đã bị khai thác tới giới hạn và khôngcòn khả năng tăng sản lượng; 25% nguồn lợi đã bị khai thác quá mức cho phép.Như vậy, chỉ còn khoảng 25% nguồn lợi hải thủy sản trên thế giới còn khả năngtăng sản lượng khai thác [16] Tình trạng này thể hiện sự yếu kém trong quátrình quản lý nghề khai thác thủy sản nhằm hướng tới nghề cá có trách nhiệm và

có hiệu quả một cách ổn định Để cải thiện được tình hình này, công trìnhnghiên cứu đã chỉ ra rằng, cần phải có sự phối hợp giữa các bên trực tiếp hoặcgián tiếp tác động đến nghề khai thác và nguồn lợi thủy sản Cụ thể, cần có sựhợp tác giữa ngư dân, cơ quan quản lý nghề cá, các nhà khoa học thủy sản vànhững người có trách nhiệm đối với các hoạt động gián tiếp làm suy thoái môi

Trang 29

trường tác động đến môi trường sống và nguồn lợi thủy sản không tốt hiện nay.Các quốc gia phải có trách nhiệm bảo đảm áp dụng các biện pháp kết hợp nhằmđảo ngược xu thế này

Quan điểm quản lý theo hướng phát triển bền vững là cách tiếp cận mới đãđược ra đời vào năm 1972, thệ hiện qua Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường vàCon người tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) Sau đó là một loạt các Hội nghịquốc tế mà đỉnh cao là Hội nghị quốc tế về đánh cá có trách nhiệm, tháng5/1992; Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và Phát triển (UNCED- UnitedNations Conference on Environment and Development) tại Rio de Janeiro(Braxin), tháng 6/1992 và kết quả là Nghị quyết 4/95 của Liên Hợp quốc đãthông qua Bộ qui tắc ứng xử nghề cá có trách nhiệm (CoCRF - Code of Conductfor Responsible Fisheries) vào ngày 31/10/1995, đồng thời yêu cầu FAO cùngphối hợp với các thành viên và các tổ chức liên quan soạn thảo các văn bảnhướng dẫn kỹ thuật phù hợp để hỗ trợ thi hành Bộ qui tắc này

Bộ qui tắc ứng xử Nghề cá có trách nhiệm [20] được thực hiện theo nguyêntắc tự nguyện áp dụng Tuy nhiên, một số nội dung có liên quan mật thiết vớicác qui định quốc tế khác như: Công ước quốc tế của Liên hợp quốc về LuậtBiển năm 1982 (UNCLOS - United Nations Convention on the Law of the Sea)

và Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguycấpnăm 1973 (CITES - Convention on International Trade in Endangered Species

of Wild Fauna and Flora) Trên tinh thần của các qui định và luật pháp này, côngtác quản lý nghề khai thác thủy sản đã được FAO hướng dẫn trong tập 4 của bộtài liệu hướng dẫn kỹ thuật nghề cá nhằm thực hiện Bộ qui tắc ứng xử nghề cá

có trách nhiệm Cụ thể là hỗ trợ hướng dẫn thực hiện Điều 7 và Điều 12 củaCoCRF Thông qua chương trình hướng đến phân cấp quản lý vì sự phát triểnbền vững nghề cá tại khu vực ASEAN giai đoạn 2002-2005, Ban Thư ký củaSEAFDEC đã xây dựng tài liệu hướng dẫn khu vực về đồng quản lý áp dụngquyền sử dụng của cộng đồng đối với nghề cá quy mô nhỏ ở các nước ĐôngNam Á Mục tiêu của tài liệu này nhằm hướng dẫn cách tiếp cận quản lý nguồnlợi thủy sản dựa trên quyền sử dụng của cộng đồng Theo đó, cộng đồng ngư

Trang 30

dân phải có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương quản lý và khaithác tài nguyên có hiệu quả và ổn định Nếu có sự chia sẽ trách nhiệm quản lýđúng mức giữa chính quyền địa phương với ngư dân và giữa các ngư dân vớinhau thì mức độ tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ nguồn lợi thủy sản sẽđược cải thiện đáng kể

1.2.1.2 Các nghiên cứu về quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng

Xuất phát từ hiệu quả kinh tế lớn của ngành đánh bắt hải sản, nhiều nướctrên thế giới đã không ngừng tăng cường đầu tư và phát triển năng lực khai thác

cá biển về cả tàu thuyền, ngư cụ và các trang thiết bị, máy móc Cùng với sự giatăng cường lực khai thác thì nguồn lợi thủy sản, đặc biệt là vùng ven bờ ngàycàng bị suy giảm, nhiều hệ sinh thái biển và đất ngập nước quan trọng như: rạnsan hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn bị tàn phá, suy thoái nghiêm trọng

Vùng ven biển đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển nghề cá, được coi

là vùng tái sản xuất của nguồn lợi thủy sản và góp phần quyết định năng suấtsinh học của vùng biển xa bờ Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn lợithủy sản ở vùng ven bờ và đầm phá, nhiều nước trên thế giới đã phát triển nghề

cá với quy mô lớn có khả năng khai thác ở vùng xa bờ, đồng thời có nhữngchiến lược bảo vệ và phát triển nguồn lợi vùng ven bờ Hầu hết các quốc gia trênthế giới đã nhận thức rõ vai trò của nguồn lợi thủy sản và môi trường sống củachúng ở vùng ven bờ, nhưng không phải nước nào cũng tập trung ưu tiên giảiquyết vấn đề này Ở các quốc gia có nghề cá phát triển được đầu tư nghiên cứu

và tìm biện pháp giải quyết tốt hơn ở các nước kém phát triển Trên thế giới tồntại đồng thời 2 xu hướng quản lý nghề cá, không phụ thuộc vào ý thức hệ và hệthống chính trị Đại diện tiêu biểu cho một bên là các nước của phương Tây vàmột bên là Nhật Bản của phương Đông Các nước phương Tây tuân thủ theo cơchế “tiếp cận mở” hoặc “tiếp cận tự do”, theo đó nguồn lợi thủy sản được hiểu làcủa tất cả mọi người Theo cơ chế này, Chính phủ quản lý nguồn lợi thủy sản từtrên xuống bằng cách lập ra nhiều quy định như TAC cho toàn nghề cá (TAC -

Total Allowable Catch), hạn ngạch cho từng cá nhân và bắt buộc ngư dân tuân

thủ hạn ngạch cho phép khai thác Ngược lại, ngư dân bao giờ cũng muốn đánh

Trang 31

cá càng nhiều càng tốt nên thường vi phạm các quy định của Chính phủ Do đó,Chính phủ phải luôn kiểm soát, xử lý, ngăn chặn ngư dân đánh cá bất hợp phápnên chi phí quản lý thường rất tốn kém [1] Đối với Nhật Bản, kể từ đầu thế kỷ

20, đã luật hóa thành cơ chế “tiếp cận giới hạn” hay “tiếp cận đóng” đối vớinguồn lợi thủy sản ven bờ Theo cơ chế này, Chính phủ cấp ngư trường đánh cá,nguồn lợi thủy sản cho một lượng người giới hạn, bằng cách cấp “quyền đánhcá” cho tổ chức ngư dân và “giấy phép đánh cá giới hạn” thường chỉ cho ngưdân Cả hai được xem như là một loại “quyền sử dụng lãnh thổ trong nghề cá”

Do đó, ngư dân nhận thức nguồn lợi thủy sản là của chính mình, không ai khácđược phép đánh cá trong ngư trường (nơi tổ chức của họ được giao quyền đánhcá) Đây là động cơ để ngư dân cùng tham gia quản lý nghề cá với Chính phủ vàsáng tạo ra hệ thống để tự quản lý nghề cá của chính mình Cơ chế tiếp cận giớihạn này được tuân thủ nghiêm ngặt từ nhiều thế kỷ ở Nhật Bản, nó cũng đượctuân thủ rộng rãi tại Hàn Quốc và Đài Loan Cơ chế tiếp cận giới hạn xuất phát

từ Nhật Bản và chính sách quản lý nghề cá của họ được phát triển dần thànhphương thức Đồng quản lý nghề cá/Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng và đượcnhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển áp dụng một cách cóhiệu quả

Ở Nhật Bản, công tác bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản ở vùng nướcven bờ được quan tâm rất sớm Với sự nổ lực của chính phủ, các tổ chức phichính phủ và của ngư dân đã mang đến nhiều kết đáng khích lệ và được thể hiện

rõ nét ở các mặt sau:

- Quản lý chặt chẽ nghề khai thác hải sản ven bờ, bảo vệ vùng nước ven

bờ không bị ô nhiễm bằng các bộ luật quốc gia, các bộ luật và luật lệ cụ thể củatừng cộng đồng địa phương ven biển

- Tăng cường nhập khẩu các loài hải sản ở các nước để bảo vệ và duy trìphát triển các đặc hải sản trên vùng biển Nhật Bản

- Thực hiện việc duy trì và tạo cảnh quan môi trường sống thuận lợi chocác lòai thủy sản: duy trì tính đa dạng sinh học ở các vùng nước ven bờ, xây

Trang 32

dựng các rạn nhân tạo làm nơi cư sinh cho các loài thủy sản trú ngụ, sinh sản vàphát triển.

- Tái tạo và phục hồi nguồn lợi thủy sản có giá trị kinh tế như cá hồi, cábơn ở tỉnh Hiogo, cua biển ở đảo Hocaido bằng phương pháp sinh sản nhân tạo

và thả bổ sung vào môi trường sống tự nhiên hàng năm

1.2.1.3 Các nghiên cứu về thả rạn nhân tạo

Các công trình nghiên cứu về vai trò tác dụng của rạn nhân tạo [21, 22,23] đã chỉ ra rằng ở Nhật Bản, chà - rạn nhân tạo được sử dụng nhằm phát triểnnguồn lợi các loài thủy sản nhỏ hoặc chưa trưởng thành thông qua việc cải thiệnmôi trường nước và hạn chế các nghề đánh bắt mang tính hủy diệt cao (nhưxung điện, nghề te, nghề lưới kéo) Vì rằng, những khối rạn nhân tạo đã gây khókhăn cho sự hoạt động của các nghề mang tính hủy diệt khi khai thác trong khuvực có thả rạn Vì thế, rạn nhân tạo được coi là giải pháp hữu hiệu giúp bảo vệ

và phát triển nguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt là vùng biển ven bờ

Từ đó, Nhật Bản đã tiến hành thả rạn nhân tạo để hạn chế các loại ngư cụđánh bắt, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản ở vùng nước ven bờ Chính vì vậy,nghề khai thác thủy sản quy mô nhỏ hoạt động ở vùng nước ven bờ luôn pháttriển ổn định Kết quả, Nhật bản đã cấp 100% vùng nước ven bờ cho Hội hợptác nghề cá để tự quản lý vùng nước, giảm nhẹ chi phí cho nhà nước đồng thờităng hiệu quả quản lý Tổng số tổ chức quản lý nghề cá toàn Nhật Bản vào năm

1952 chỉ là 359, sau đó tăng dần theo thời gian, lên 1.339 vào năm 1988, 1.524vào năm 1993 và 1.734 vào năm 1998 So sánh với tổng số Hội Hợp tác Nghề cá

là 1.890 vào năm 1998, thì hầu như tổ chức quản lý nghề cá đã phát triển ở hầuhết mọi Hội Hợp tác Nghề cá

Để có được thành quả trên, hệ thống pháp lý của quốc gia này được quantâm và xây dựng sát với thực tế sản xuất, các văn bản pháp lý được quan tâmtrong nghề cá bao gồm:

- Quyết định sửa đổi Luật Nghề cá theo đường lối dân chủ sau chiếntranh thế giới lần 2;

Trang 33

- Ban hành Luật Nghề cá mới (Luật số 267 năm 1949) vào tháng12/1949, hủy bỏ tất cả các “quyền đánh cá” cũ bằng cách mua lại với giá trị bảođảm vào năm 1950;

- Lập “quy hoạch quản lý nghề cá ven bờ” ở mỗi một tỉnh, với việc thamkhảo công chúng, ban hành “giấy phép đánh cá giới hạn” và “quyền đánh cá”của chính quyền tỉnh dựa trên quy hoạch vào năm 1950

- Ban hành Luật bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản nhằm khai thác

và sử dụng hợp lý

1.2.1.4 Các nghiên cứu về xây dựng khu bảo tồn biển

Ở Thái Lan, để bảo vệ nguồn lợi ở vùng ven bờ quốc gia này thiết lập vàxây dựng những vùng cấm đánh bắt ven bờ, quy định mùa vụ khai thác, kíchthước mắt lưới và kích thước cá được phép khai thác, khuyến khích ngư dânđóng tàu có công suất lớn khai thác xa bờ, xây dựng nhiều khu bảo tồn biểnnhằm bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản Nhờ đó, nghề khai thác thủy sảnven bờ phát triển khá ổn định Ở Thái Lan đã thí điểm thực hiện hệ thống

“quyền đánh cá”, Cục Nghề cá ban "quyền đánh cá" trong một vùng biển xácđịnh đến các nhóm ngư dân Những ngư dân là thành viên của nhóm có quyềnđánh cá trong ngư trường xác định, nguồn lợi thủy sản là của chính họ, họ cótrách nhiệm quản lý, bảo vệ nên nguồn lợi thủy sản ngày càng được quản lý hữuhiệu Bên cạnh đó, việc thiết lập các khu bảo tồn biển, khu bảo vệ thủy sản vớiphương thức quản lý dựa vào cộng đồng là một trong những giải pháp mang lạihiệu quả lớn nhất trong quản lý nguồn lợi thủy sản ở Thái Lan

Ở Trung Quốc, với chủ trương cấm đóng tàu công suất nhỏ, cấm đánhbắt các loài có giá trị kinh tế kích thước nhỏ, khuyến khích đóng tàu công suấtlớn, cấm đánh bắt theo mùa vụ… để giảm bớt cường độ khai thác thủy sản ven

bờ nhằm mục đích nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợi thủy sản Tính đến năm

2013, Trung Quốc đã có 19 năm liên tiếp cấm đánh bắt cá theo mùa vụ ở vùngnước ven bờ Phương pháp quản lý khai thác theo mùa vụ, đặc biệt là cấm khaithác ở vùng ven bờ vào mùa sinh sản đặc biệt quan trọng để bảo vệ đàn cá bố

Trang 34

mẹ và cá chưa trưởng thành nhằm bổ sung nguồn lợi thủy sản cho vùng nước xabờ.

1.2.2 Các nghiên cứu ở trong nước

1.2.2.1 Nghiên cứu về giải pháp cắt giảm số lượng tàu thuyền

Trong công trình khoa học “Lĩnh vực thủy sản ở Việt Nam: Một phân tích

kinh tế chiến lược”, năm 2010 [15] đã chỉ ra rằng, đội tàu khai thác cá biển

nước ta đang ngày càng tăng về số lượng và cỡ loại Điều này đã gia tăng áp lựckhai thác lên vùng biển, đặc biệt là vùng nướcven bờ Vì vậy, muốn bảo vệnguồn lợi thuỷ sản tránh khỏi nguy cơ cạn kiệt thì một trong những giải phápcần làm là cắt giảm số lượng tàu một cách hợp lý Giải pháp để cắt giảm tàuthuyền (chuyển đổi nghề khai thác sang nuôi trồng, các ngành nghề không khaithác thủy sản); quản lý quản lý tổng hợp có tính đến yếu tố cộng đồng và quyền

sở hữu trong khai thác, coi NLTS là một tài sản sở hữu riêng của từng cá nhân.Nhóm tác giả cũng cảnh báo về việc triển khai các chương trình mua lại tàuthuyền được triển khai, điển hình ở Đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế, tàuthuyền mà ngư dân sinh sống và làm việc ngay trên chính tàu thuyền đó, hoạtđộng ở đầm phá được Chính phủ mua lại Ngư dân được cấp đất tái định cư trênđất liền Tuy nhiên, chưa đầy một năm, họ đã bán hết nhà cửa, mua lại tàuthuyền trở lại nghề khai thác Một trong những nguyên nhân chính gây ra tìnhtrạng này là do họ không được đào tạo sinh kế mới khi lên đất liền

Ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, chúng ta đã thấy việc cắt giảm sốlượng tàu thuyền là cần thiết, đặc biệt là những tầu thuyền có công suất nhỏ khaithác ở vùng biển gần bờ Để thực hiện giải pháp này, từ năm 1997, chính phủ

đã có đầu tư các tàu thuyền có Chương trình cho ngư dân vay vốn ưu đãi đóngtàu công suất lớn khai thác ở những vùng biển xa bờ Tuy nhiên với nhiều lý dokhác nhau mà chương trình chưa đưa lại hiệu quả mong muốn, cụ thể là sốlượng tàu thuyền nhỏ vẫn có xu hướng gia tăng và hiệu quả kinh tế của nhiềuđội tàu xa bờ còn thấp

Tiếp tục tạo điều kiện thực hiện giải pháp này, Chính phủ đã ban hànhNghị định 67/2014/NĐ-CP, [7] cho ngư dân vay vốn ưu đãi đóng tàu vỏ thép

Trang 35

hoạt động xa bờ Đến nay toàn quốc đã có trên 200 tàu vỏ thép và vỏ composite

cỡ lớn hoạt động trên vùng biển Trường Sa, Hoàng Sa

Để có cơ sở khoa học cho việc cắt giảm số lượng tàu thuyền khai thác

thuỷ sản, trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho

việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản” [8] của tác giả

Nguyễn Văn Kháng năm 2011 cho rằng xác lập mô hình sản xuất trên các vùngbiển, cần có cơ chế, chính sách nhằm kích thích thuyền viên tích cực sản xuấtbằng hình thức xây dựng quĩ khen thường đối với thuyền viên có những thànhtốt thông qua sản xuất bằng hình thức chấm công, điểm hoặc cho họ tham giagóp vốn cổ đông trên tàu; đồng thời điều chỉnh cơ cấu tàu thuyền theo các bước,gồm: bước 1 là cắt giảm các đội tàu có điểm tổng số về quản lý bằng 0, bước 2

là cắt giảm các đội tàu có điểm hiệu quả kinh tế bằng 0, bước 3 là cắt giảm cácđội tàu có điểm mức độ xâm hại NLTS bằng 0, hiệu quả kinh tế bằng 1 và tổngđiểm quản lý khác 0

1.2.2.2 Nghiên cứu về giải pháp phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản

Vấn đề phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản nói riêng và ngành Thuỷ sảnnói chung chỉ mới được đề cập trong một vài năm trở lại đây Phát triển bềnvững nói chung đã trở thành quan điểm và mục tiêu của Đảng và chính sách củaNhà nước Thể chế hóa phát triển bền vững bằng văn bản luật trong các chỉ thị,Nghị quyết; Quyết định của các cấp chính quyền nhà nước như: Chỉ thị số36/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường công tác bảo vệ môitrường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (1998), Nghị quyết

số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường (2004) Đặc biệt, ngày 17tháng 8 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 153/2004/QĐ -TTg ban hành Định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự

21 của Việt Nam) Trong đó, thuỷ sản là một trong những ngành kinh tế đượcxác định cần phải ưu tiên nhằm PTBV

Đã có một số nghiên cứu bước đầu về PTBV nghề khai thác và bảo vệnguồn lợi hải sản ở Việt Nam nói chung Một số mô hình quản lý nguồn lợi có

sự tham gia của cộng đồng cũng đã được tiến hành thí điểm tại một số địa

Trang 36

phương như: Dự án Bảo tồn biển Rạn Trào tại huyện Vạn Ninh do IMA tài trợ;

Dự án Bảo tồn sinh vật biển ở Hòn Mun tại Vịnh Nha Trang; Dự án quản lýnguồn lợi có sự tham gia của cộng đồng tại Phù Long - Cát Bà - Hải Phòng.Qua nhiều Hội thảo khoa học đều cho rằng mô hình đồng quản lý nghề cá tỏ rõ

có khả năng thực hiện mô hình quản lý nghề cá bền vững ở Việt Nam Thànhphố Nha Trang có mô hình quản lý Hòn Mun đang là điểm sáng trong cả nước

Mục đích của việc phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản là tạo cơ sở

quan trọng để phát triển bên vững nghề khai thác thuỷ sản Công trình khoa học

“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam” của Thái Ngọc Chiến năm 2010 [5],bằng phương pháp thu

thập các thông tin về khai thác ven bờ (thông tin thứ cấp và sơ cấp) trên phạm vi

cả nước bao gồm: số lượng tàu thuyền khai thác; cơ cấu tàu thuyền theo nghề vàcông suất; sản lượng đánh bắt theo loài và theo nghề; điều tra hiệu quả kinh tế

xã hội của các đội tàu thuộc các nhóm công suất khác nhau Tác giả sử dụng môhình Schaefer (1954) để xác định ngưỡng khai thác hợp lý (MSY) và cường lựckhai thác hợp lý (fMSY)

Kết quả nghiên cứu cho thấy: Sản lượng khai thác ven bờ ước tính trongnăm 2008 là 1.860.258 tấn Các nghề có năng suất đánh bắt cao là: nghề vây (ởNam Bộ), nghề kéo; nghề đăng, đáy (ở Bắc Bộ và Nam Bộ); vó mành ở BắcTrung Bộ và Nam Trung Bộ; nghề câu ở Nam Bộ Các nghề có năng suất khaithác thấp bao gồm lưới rê (ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ); nghềcâu vàng; cây tay và các nghề khác Cường lực và sản lượng đều vượt ngưỡngcho phép (mức bất hợp lý), vì vậy cần thiết phải có giải pháp khai thác hợp lý.Giải pháp được đưa ra ở đây đó là: hoặc vẫn giữ nguyên cường lực khaithác nhưng giảm số ngày hoạt động tàu; hoặc có thể cắt giảm một phần dư thừasang các nghề tiềm năng có sẵn tại các địa phương Đồng thời, công trìnhnghiên cứu cho thấy 3 mô hình khai thác hải sản ven bờ cho ba vùng Bắc,Trung, Nam có hiệu quả cụ thể là ở Nghệ An, Bình Định và Bến Tre

Công trình nghiên cứu “Xâydựng các giải pháp bảo vệ và phát triển

nguồn lợi thủy sản tại Đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định’" của Trần Văn Vinh năm

Trang 37

2013 [14], đã xây dựng các giải pháp bảo vệ NLTS, chủ yếu dựa trên mô hìnhđồng quản lý nghề cá với quy chế, qui định rõ ràng với hướng tiếp cận: i) đề caoyếu tố con người, dựa vào cộng đồng trong công tác quản lý nghề cá; ii) giảmđầu mối và chi phí trên cơ sở nhà nước (chính quyền, cơ quan chức năng) vàcộng đồng nhân dân (người khai thác sử dụng nguồn lợi) cùng tương tác, hợptác thực hiện các qui định của nhà nước trong lĩnh vực quản lý với số lượng 9

xã, phường ven đầm Thị Nại (mỗi xã, phường thành lập một Nhóm hạt nhânđòng quản lý); iii) các hình thức bảo vệ như qui định khu vực, vùng nước cầnbảo vệ, qui định nghề nghiệp, công cụ cấm, khu vực khai thác

Công trình nghiên cứu “Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp đới bờ cho

tỉnh Bình Định 2001 -T- 2003" của Viện Hải dương học thực hiện năm 2003

[13], mục đích chính của công trình là phục hồi hệ sinh thái rạn san hô để tạomôi trường sinh thái cho NLTS tại ven biển tỉnh Bình Định Nhóm tác giả đãtiến hành phương pháp thử nghiệm di trồng san hô sống trên giá thể cứng (rạnnhân tạo bằng bê tông) tại Hòn Ngang - Bình Định vào năm 2003

Nhìn chung, trong những giải pháp đang được các nhà khoa học cũng nhưnhà quản lý quan tâm thiết lập, xây dựng các vùng rạn nhân tạo chủ yếu nhằmphục hồi và phát triển hệ sinh thái rạn san hô, nguồn lợi thủy sản để hoạt độngkhai thác được hiệu quả hơn

1.2.3 Nhận xét chung về tổng quan nghiên cứu khoa học

1.2.3.1 Về nội dung và kết quả nghiên cứu

- Các công trình đều thực hiện các nội dung nhằm bảo vệ và phát triểnnguồn lợi thuỷ sản, đặc biệt chú trọng đến vùng biển ven bờ Bởi lẽ vùng biểnven bờ là nơi tập trung các bãi đẻ, nơi nuôi dưỡng ấu thể và sinh sống, cư trú ẩnnấp của các loài thuỷ sản Đồng thời vùng biển ven bờ cũng là nơi chịu áp lựckhai thác cao hơn nhiều so với các vùng biển khác (vùng lộng, vùng khơi)

- Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng muốn bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản vùngbiển ven bờ cần phải tiến hành các giải pháp quan trọng như sau:

+ Cắt giảm số lượng tàu thuyền nhằm giảm tải cho vùng biển;

Trang 38

+ Thả rạn nhân tạo để bổ sung nơi cư trú cho các loài hải sản, đồng thờingăn chặn những tàu cố tình xâm hại môi trường sinh thái của vùng biển ven bờnhư nghề lưới kéo, te, xiệp;

+ Cần phải nâng cao vai trò làm chủ nguồn lợi của người dân bằng các

mô hình đồng quản lý cho từng địa phương cấp xã, cấp thôn

1.2.3.2 Về phương pháp nghiên cứu

Các công trình sử dụng phương pháp chung là từ điều tra khảo sát; đánhgiá thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản tại vùng biển nghiên cứu Từ đó đềxuất giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót, tồn tại để bảo vệ và phát triểnnguồn lợi thuỷ sản cho vùng biển nghiên cứu

Do điều kiện quỹ thời gian, nhân lực và tài chính có hạn nên phương pháp

cụ thể chủ yếu là sử dụng phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm để khảo sátthu thập số liệu [5, 8, 9, 13, 14] Hạn chế của phương pháp này là chỉ dừng lại ởmức định hướng mà chưa trải nghiệm thực tế

1.2.3.3 Những vấn đề luận văn sẽ kế thừa

- Về phương pháp nghiên cứu

Do điều kiện thời gian và nguồn lực có hạn nên tôi xin kế thừa phươngpháp nghiên cứu phi thực nghiệm Tiến hành điều tra, khảo sát hiện trạng hoạtđộng khai thác thuỷ sản và công tác quản lý, bảo vệ nguồn lợi trên vùng biểnven bờ huyện U Minh Trên cơ sở phân tích đánh giá những nguyên nhân gâyhại nguồn lợi, những tồn tại khiếm khuyết trong công tác bảo vệ nguồn lợi để đềxuất giải pháp cần thiết

- Về nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng những giải pháp như các công trình nghiên cứu đã đềxuất như cắt giảm số lượng tàu thuyền, thả rạn nhân tạo, quản lý dựa vào cộngđồng vào vùng biển nghiên cứu

Bổ sung những giải pháp mới phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương nghiêncứu

Trang 39

- Đặc điểm ngư trường ven bờ huyện U Minh

- Cơ cấu nghề khai thác thuỷ sản tại vùng biển ven bờ huyện U Minh

- Thực trạng tàu thuyền khai thác thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện UMinh

- Thực trạng về ngư cụ khai thác ven bờ huyện Vạn Ninh

- Thực trạng về lao động khai thác ven bờ huyện U Minh

- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động khai thác thuỷ sản tại VBVBhuyện U Minh

2- Thực trạng hoạt động BVNL thủy sản tại vùng biển ven bờ huyện U Minh,tỉnh Cà Mau

- Thực trạng về bộ máy quản lý

- Thực trạng cơ sở vật chất cho công tác BVNLTS

- Các hoạt động phục hồi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thủy sản

- Công tác tuyên truyền hướng dẫn về khai thác và BVNLTS

Trang 40

- Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động nghề cá tại VBVB huyện U Minh.

- Phân tích đánh giá thực trạng công tác BVNLTS huyện U Minh

3- Đề xuất các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản vùng biển ven

bờ huyện U Minh, tỉnh Cà Mau

- Đặt vấn đề

- Nội dung giải pháp

- Các biện pháp thực hiện giải pháp

- Phân tích đánh giá kết quả của giải pháp mang lại

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp chung

Tiến hành thu thập, phân tích các số liệu về thực trạng hoạt động khai thácthuỷ sản tại vùng biển ven bờ huyện U Minh; các hoạt động công tác bảo vệnguồn lợi thủy sản tại địa phương nghiên cứu Từ đó thấy được những vấn đềbất cập trong cơ cấu nghề, những hoạt động khai thác gây hại nguồn lợi thủy sảntrong vùng biển ven bờ của huyện Phân tích đánh giá để phát hiện những tồn tại

và hiệu quả thấp trong công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại huyện U Minh.Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng nghề lưới kéo ven bờ huyện U Minh đểđưa ra một số giải pháp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả bảo vệ nguồn lợithủy sản tại địa phương

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Nghiên cứu và phân tích số liệu từ các tài liệu sẵn có về những vấn đềliên quan đến vùng biển nghiên cứu như nguồn lợi thủy sản, điều kiện tự nhiên,tình hình kinh tế-xã hội

Luận văn cũng sử dụng nguồn tài liệu, số liệu thống kê từ Cục Thống kê,Chi cục khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Trung Phòng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn huyện U Minh và Ủy ban nhân các xã có tàu thuyền hoạtđộng tại vùng biển Một số tài liệu chủ yếu:

Ngày đăng: 05/04/2022, 07:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Quang Vinh Bình (2008). Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án Tiến sĩ kỹ thuật, Trường Đại học Nha Trang, Nha Trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý dựavào cộng đồng cho nghề cá quy mô nhỏ tỉnh Thừa Thiên Huế
Tác giả: Nguyễn Quang Vinh Bình
Năm: 2008
2. Bộ Thuỷ sản (2006). Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006 của Bộ Thủy sản hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ - CP ngày 4 tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 02/2006/TT-BTS ngày 20 tháng 3 năm 2006của Bộ Thủy sản hướng dẫn thi hành Nghị định số 59/2005/NĐ - CP ngày 4tháng 5 năm 2005 của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một sốngành nghề thủy sản
Tác giả: Bộ Thuỷ sản
Năm: 2006
8. Nguyễn Văn Kháng (2011).”Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điều chỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Văn Kháng (2011)."”Nghiên cứu cơ sở khoa học phục vụ cho việc điềuchỉnh cơ cấu đội tàu và nghề nghiệp khai thác hải sản
Tác giả: Nguyễn Văn Kháng
Năm: 2011
9. Đỗ Chí sĩ (2007) “Điều tra hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ, khai thác hợp lý nguồn lợi Nghêu Lụa ven biển Tây tỉnh Cà Mau” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ, khai tháchợp lý nguồn lợi Nghêu Lụa ven biển Tây tỉnh Cà Mau
19. FAO (1999). Introduction to tropical fish stock assessment - Part 1:Estimation of Maximum Sustainable Yiled Using Surplus Production Models Sách, tạp chí
Tiêu đề: Introduction to tropical fish stock assessment - Part 1
Tác giả: FAO
Năm: 1999
4. Bộ Nông nghiệp và PTNT (2011). Thông tư số 89/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/12/2011 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về ban hành danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn trong năm Khác
5.Thái Ngọc Chiến (2009). Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển bền vững nghề khai thác hải sản ven bờ Việt Nam. Báo cáo tổng kết đề tài. Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản III, Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn Khác
6. Chính phủ (2010). Nghị định Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển. Nghị định số 33/2010/NĐ-CP ngày 31/3/2010, Hà Nội Khác
7. Chính phủ (2014). Nghị định Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản. Nghị định số 67/2014/NĐ-CP ngày 07/07/2014, Hà Nội Khác
11. UBND tỉnh Cà Mau (2013). Quyết định ban hành Quy định phân cấp quản lý vùng biển ven bờ cho UBND cấp huyện, cấp xã ven biển tỉnh Cà Mau. Quyết định số 20/2013/QĐ-UBND, ngày 27 tháng 11 năm 2013 Khác
12. UBND tỉnh Cà Mau (2015). Quyết định ban hành Quy định về quản lý các hoạt động khai thác thuỷ sản trên vùng biển ven bờ và vùng lộng tỉnh Cà Mau.Quyết định số 43/2015/QĐ-UBND tỉnh Cà Mau, ngày 15/12/2015 Khác
13. Viện Hải dương học thực hiện năm 2003“Xây dựng mô hình quản lý tổng hợp đới bờ cho tỉnh Bình Định 2001 -T- 2003&#34 Khác
14. Trần Văn Vinh (2013). Xây dựng các giải pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản tại đầm Thị Nại, tỉnh Bình Định. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Khai thác thủy sản Khác
15. DANIDA (2010). The Fisheries Sector in Vietnam: A Strategy Economic Analysis, University of Copenhagen and Ministry of Planning and Investment of Vietnam, Vietnam Khác
16. FAO (1999). Introduction to tropical fish stock assessment - Part 1:Estimation of Maximum Sustainable Yiled Using Surplus Production Models, Rome, Italia Khác
20. Kirkley, J.E.a.S., D.E, Measuring capacity and capacity utilization in fisheries. In: Greboval, D. (ed.) (1999). Managing Fishing Capacity. Selected papers on Underlying Concepts and Issues, FAO Fisheries Technical Paper No.386, FAO, Rome, Italy Khác
21. Hunter, W.R., and Sayer, M. D. J. (2009). The comparative effects of habitat complexity on faunal assemblages of northern temperate artificial and natural reefs, ICES Journal of Marine Science, 66: 691–698 Khác
22. Spieler, R.E. (2004). Artificial Reef Research in Broward County 1993- 2000: A summary report, Broward County Department of Planning and Environmental Protection, Fort Lauderdale Khác
23. Tokriska, C. (2009). Overview of small-scale fisheries in the Thailand Gulf, Thai Lan Khác
24.Yamane, Taro (1967). Statistics: An Introductory Analysis, 2nd Ed., New York: Harper and Row Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Bản đồ hành chính hu nU Minh tỉnh Cà Mau 1.1.1.2. Địa hình, địa chất - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 1.1 Bản đồ hành chính hu nU Minh tỉnh Cà Mau 1.1.1.2. Địa hình, địa chất (Trang 16)
Hình 1.2: Cửa biển Khánh Hội, huyệ nU Minh, tỉnh Cà mau - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 1.2 Cửa biển Khánh Hội, huyệ nU Minh, tỉnh Cà mau (Trang 23)
Bảng 1.1. Nguồn lợi thủy sản vùng ven biển huyệ nU Minh - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Bảng 1.1. Nguồn lợi thủy sản vùng ven biển huyệ nU Minh (Trang 25)
Hình 1.3: Bản đồ hiện trạng nguồn lợi và đa dạng sinh học - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 1.3 Bản đồ hiện trạng nguồn lợi và đa dạng sinh học (Trang 27)
Bảng 2.1: Phân bố mẫu điều tra theo nghề và địa phương năm 2016. - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Bảng 2.1 Phân bố mẫu điều tra theo nghề và địa phương năm 2016 (Trang 44)
Bảng 3.1. Cơ cấu tàu thuyền khai thác thuỷ sản theo nghề khai thác và năm - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Bảng 3.1. Cơ cấu tàu thuyền khai thác thuỷ sản theo nghề khai thác và năm (Trang 47)
Hình 3.1: Cơ cấu nghề khai thác tại VBVB huyệ nU Minh theo nghề - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.1 Cơ cấu nghề khai thác tại VBVB huyệ nU Minh theo nghề (Trang 48)
Từ bảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy: - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
b ảng 3.3 và hình 3.3 cho thấy: (Trang 51)
Hình 3.4: Tàu thuyền hoạt động nghề lưới kéo - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.4 Tàu thuyền hoạt động nghề lưới kéo (Trang 53)
Hình 3.5: Tàu thuyền hoạt động nghề bát quái - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.5 Tàu thuyền hoạt động nghề bát quái (Trang 55)
Hình 3.7. Tần suất về thời gian khai thác thủy sản của các nghề - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.7. Tần suất về thời gian khai thác thủy sản của các nghề (Trang 58)
Hình 3.8. Ngư trường đánh bắt nghề lưới kéo - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.8. Ngư trường đánh bắt nghề lưới kéo (Trang 59)
Hình 3.9. Ngư trường đánh bắt nghề lưới rê 3.1.4.3. Ngư trường nghề lưới bát quái - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.9. Ngư trường đánh bắt nghề lưới rê 3.1.4.3. Ngư trường nghề lưới bát quái (Trang 60)
Bảng 3.8. Kích thước mắt lưới của đụt lưới kéo - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Bảng 3.8. Kích thước mắt lưới của đụt lưới kéo (Trang 61)
Hình 3.10. Ngư trường đánh bắt nghề Te - GIẢI PHÁP BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI THỦY SẢN HUYỆN U MINH TỈNH CÀ MAU
Hình 3.10. Ngư trường đánh bắt nghề Te (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w