1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN lý luận của các mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động ở việt nam hiện nay

13 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 261,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ TÊN TIỂU LUẬN: Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN

KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

TIỂU LUẬN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

TÊN TIỂU LUẬN:

Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của

thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay

Họ và tên sinh viên: Phan Thị Ngọc Lệ

Mã số sinh viên: 3120550043

TP HỒ CHÍ MINH, 01 tháng 01 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Kết cấu của tiểu luận

NỘI DUNG

1

1

1

2

2

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Khái niệm

2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

3 Thuộc tính của hàng hóa sức lao động

3.1 Giá trị hàng hóa sức lao động

3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

4 Thị trường hàng hoá sức lao động

4.1 Cung hàng hoá sức lao động

4.2 Cầu hàng hoá sức lao động

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG

1.Thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam hiện nay

1.1 Thực trạng thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam

1.1.1 Thực trạng cung hàng hoá sức lao động

1.1.2 Thực trạng cầu hàng hoá sức lao động

1.2 Thị trường xuất khẩu lao động

2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng thị trường hàng hoá

sức lao động ở Việt Nam

2.1 Giải pháp đối với cung hàng hoá sức lao động

2.2 Giải pháp đối với cầu hàng hoá sức lao động

3 Trách nhiệm của bản thân đối với vấn đề hàng hoá

sức lao động của Việt Nam

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

2

2

3

3

3

4

4

4

5

5

5

5

5

7

7

8

8

8

9

10

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Bất kì hoạt động sản xuất nào đều có sự tham gia của con người, hay nói cách khác chính là sự tham gia của loại hàng hóa đặc biệt “Sức lao động” Máy móc, kỹ thuật, công nghệ phát triển đến mức nào cũng không thể phủ nhận đi vai trò thiết yếu của sức lao động, vì sức lao động là căn bản tạo nên chúng và tham gia trực tiếp vào lao động sản xuất Hàng hóa sức lao động được coi là đặc biệt vì nó bao hàm về thể lực và tinh thần của một cơ thể sống Bên cạnh đó, sức lao động chỉ hình thành khi có đủ hai điều kiện là người lao động phải được tự do về thân thể và bán đi sức lao động của mình Cùng ᴠới ѕự phát triển ᴠà hội nhập của nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đâу, vấn đề lao động càng ngày càng được quan tâm bởi các doanh nghiệp trong nước

và nước ngoài Hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao

động ở Việt Nam hiện nay một đề tài lý luận và thực tiễn rất cơ bản, quan trọng, nội

dung rất rộng lớn và phong phú, có nhiều cách tiếp cận khác nhau, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu nghiêm túc, tổng kết thực tiễn một cách khoa học, sâu sắc Hàng hóa sức lao động hay yếu tố con người là vô cũng cần thiết và quan trọng trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, Việt Nam là nước đang phát triển chưa có sự phát triển công nghệ trình độ cao nên nhân tố hàng hóa sức lao động càng trở nên có vai trò to lớn hơn Hàng hóa sức lao động có sự đặc biệt và góp phần lớn vào sự phát triển của đất nước Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động đã có những luận điểm khoa học, toàn diện và biện chứng Trên cơ sở đó tạo tiền đề vững chắc cho việc lí giải và

áp dụng vấn đề hàng hóa sức lao động vào thực tiễn sản xuất của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh vấn đề hàng hóa lao động trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết để vừa có thể chống dịch vừa phát triển kinh tế Do đó, bài luận chủ đề “Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay” mang tính thực tiễn và có vai trò tương đối với vấn đề hàng hóa sức lao động và sự phát triển của thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích

Rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu đối với thị trường sức lao động hiện nay và sự ảnh hưởng của nó lên các lĩnh vực khác Liên hệ với thị trường sức lao động hiện nay

Trang 4

của Việt Nam để có cách nhìn nhận khách quan về đặc điểm, thực trạng, hạn chế Từ

đó đề ra các phương pháp nâng cao và phát triển thị trường sức lao động Việt Nam trong thời kì Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước và dịch bệnh

2.2 Nhiệm vụ

- Bài tiểu luận sẽ giải thích, phân tích để từ đó làm rõ các khái niệm liên quan đến hàng hóa sức lao động dựa trên Lý luận của Các Mác về hàng hóa sức lao động

- Nghiên cức thực trạng, đặc điểm của thị trường sức lao động Việt Nam hiện nay

- Nêu lên các hạn chế, bất cập của thị trường hàng hóa sức lao động ở Việt Nam từ đó đưa ra giải pháp

- Nhiệm vụ của bản thân đối với đề tài “Thị trường hàng hóa sức Lao động ở Việt Nam”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Hàng hóa sức lao động của Các Mác và thị trường hàng hoá sức lao động

ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Từ khi thành lập lý luận của Các Mác về hàng hoá sức lao động đến nay

4 Kết cấu của tiểu luận

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Nội dung

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Khái niệm

Theo định nghĩa của Các Mác, hàng hóa là sản phẩm của lao động, thông qua trao đổi, mua bán có thể thỏa mãn một số nhu cầu nhất định của con người Hàng hóa có thể đáp ứng nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất

Các Mác định nghĩa sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất, trí tuệ và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem

ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó

Trang 5

Các Mác nói rằng: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”

Sức lao động là hàng hóa ở trạng thái đặc biệt Sức lao động hay nhân tố con người được coi là phần thiết yếu, căn bản trong hoạt động sản xuất

2 Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa

Một là, người lao động tự do về thân thể Sức lao động chỉ được chấp nhận khi

người lao động làm chủ được sức lao động của mình, đó không phải là người bị người khác chiếm hữu như nô lệ vì nô lệ thuộc sự chiếm hữu của chủ nô nên không thể bán sức lao động của mình

Hai là, người lao động không có đủ các tư liệu để sản xuất cần thiết để tự kết hợp

với sức lao động của mình tạo ra hàng hóa để bán, cho nên họ phải bán sức lao động Người làm các mặt hàng thủ công tự do có thể tự do bán sức lao động của mình nhưng không thể coi đó là hàng hóa sức lao động vì họ có thể kết hợp sức lao động của mình với các nguyên liệu để tạo ra hàng hóa thủ công để bán ra thị trường và nuôi sống bản thân Do đó, họ chưa cần bán sức lao động của mình nên đó không phải là hàng hóa Hàng hóa sức lao động chỉ xuất hiện khi có sự tồn tại đồng thời của hai điều kiện trên

3 Thuộc tính của hàng hóa sức lao động

Tuy đặc biệt, nhưng hàng hóa sức lao động cũng có hai thuộc tính giá trị và giá trị

sử dụng như các loại hàng hóa khác

3.1 Giá trị hàng hóa sức lao động

Giá trị của hàng hóa sức lao động cũng do số lượng lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động quyết định

Sức lao động chỉ tồn tại như năng lực con người sống, muốn tái sản xuất ra năng lực đó con người lao động phải tiêu dùng một lượng tư liệu sinh hoạt nhất định như ăn, ngủ, nghỉ,… Do đó, giá trị của hàng hoá sức lao động được đo lường gián tiếp thông qua lượng giá trị của các tư liệu sinh hoạt để tái sản xuất ra sức lao động

Khác với các loại hàng hoá thông thường khác, hàng hoá sức lao động đặc biệt vì

nó bao gồm cả yếu tố tinh thần và lịch sử của từng quốc gia, nó bao hàm từng phong tục tập quán theo từng thời kì, trình độ văn minh, điều kiện địa lí khí hậu hay quá trình hình thành giai cấp công nhân Các yếu tố đặc biệt của hàng hoá sức lao động nêu trên

Trang 6

được biểu hiện cụ thể qua các nhu cầu của con người trong tháp Maslow bao gồm vui chơi, học tập, tiếp thu thông tin, giao lưu văn hoá, được tôn trọng,…

Giá trị hàng hoá sức lao động do ba bộ phận hợp thành gồm có:

Một là, giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết (cả vật chất, tinh thần) để tái sản xuất ra

sức lao động

Hai là, phí tổn đào tạo người lao động

Ba là, giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết (vật chất và tinh thần) nuôi con của

người lao động

Nếu đúng theo nguyên tắc ngang giá trong nền kinh tế thị trường thì giá cả của hàng hoá sức lao động phải phản ánh lượng giá trị nêu trên

3.2 Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động

Người mua hàng hoá sức lao động mong muốn thoả mãn nhu cầu có được giá trị lớn hơn, giá trị tăng thêm Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động được thể hiện trong quá trình sử dụng sức lao động Bên cạnh đó, có một số đặc tính riêng của giá trị

sử dụng sức lao động như: Đặc điểm cơ bản nhất của giá trị sử dụng hàng hoá sức lao động so với những loại hàng hoá khác là khi tiêu thị nó tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân sức lao động, phần lớn đó là giá trị thặng dư Mặt khác, con người

là chủ thể của hàng hoá sức lao động, vì vậy các đặc điểm về tâm lý, kinh tế, chính trị

xã hội của người lao động quyết định việc cung ứng sức lao động ra ngoài thị trường

4 Thị trường hàng hoá sức lao động

Thị trường hàng hoá sức lao động về cơ bản có các đặc điểm giống như các thị trường trao đổi mua bán hàng hoá khác Thị trường này cũng chịu sự chi phối của quy luật cung cầu và thực hiện các nguyên tắc giá cả Khi có sự thoả thuận hợp lý giữa cung và cầu hàng hoá sức lao động, hai bên đồng ý trao đổi mua bán từ đó tạo ra thị trường hàng hoá sức lao động Bên cung có thể nhận được thù lao tương xứng, còn bên cầu có người giúp sức cho sản xuất phát triển

4.1 Cung hàng hoá sức lao động

Cung hàng hoá sức lao động là nơi tập hợp những người có khả năng và nhu cầu làm việc Trong đó sức lao động của họ đáp ứng đầy đủ hai điều kiện của hàng hoá sức lao động Những người đang có việc làm hoặc tạm thời không có việc làm đnag đi tìm việc cũng được xem là nguồn cung của hàng hoá sức lao động

Trang 7

Nguồn cung lao động được hình thành từ các cơ sở đào tạo các tay nghề lao động như các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, các doanh nghiệp,… Những người sở hữu hàng hoá sức lao động phải là người có năng lực theo đúng pháp luật và trong độ tuổi lao động hợp pháp Ở Việt Nam độ tuổi trong lao động quy định nam giới từ 15 đến 60 tuổi, nữ giới từ 15 đến 55 tuổi và người trên tuổi lao động đang làm việc Quy

mô cũng lao động phù thuộc vào từng đặc điểm cơ cấu dân số, chất lượng tay nghề, văn hoá, kĩ thuật, phong tục, tập quán, chính sách,… của từng nước khác nhau

4.2 Cầu hàng hoá sức lao động

Cầu lao động là lượng lao động mà người sử dụng lao động có thể thuê ở mỗi mức giá có thể chấp nhận được

Trong nền kinh tế thị trường cầu lao động là cầu dẫn xuất Cầu lao động lúc này cần thêm người cung cấp hàng hoá sức lao động để sản xuất ra một khối lượng hàng hoá, sản phẩm nhất định Tuỳ thuộc vào quy mô, nhu cầu sản xuất ra số lượng hàng hoá khác nhau sẽ cầu số lượng hàng hoá sức lao động khác nhau Cầu lao động đến từ

cá doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức,… hay do nhu cầu lao động nhập khẩu của nước ngoài

Cũng như cung hàng hoá sức lao động, cầu lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tài nguyên, quy mô, trình độ công nghệ, cơ cấu ngành nghề, mức tiền lương, phong tục, tập quán, chính sách của mỗi quốc gia

CHƯƠNG 2: NỘI DUNG

1 Thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam hiện nay

1.1 Thực trạng thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam

1.1.1 Thực trạng cung hàng hoá sức lao động

Cung lao động được xét trên hai phương diện là số lượng cung hàng hoá sức lao động và chất lượng của hàng hoá sức lao động Thị trường hàng hoá sức lao động Việt Nam hay thị trường lao động Việt Nam trong tình hình dịch bệnh Covid hiện tại có nhiều sự thay đổi phức tạp

Thứ nhất, xét về phương diện số lượng cung hàng hoá sức lao động

Trang 8

Theo thống kê của Tổng cục Thống kê Trong quý I năm 2021, thị trường lao động Việt Nam đã hứng chịu những tác động xấu do sự bùng phát lần thứ 3 của Đại dịch Covid 19 Kết quả điều tra lao động việc làm quý I năm 2021 ghi nhận số người tham gia thị trường lao động giảm so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2021 là 51,0 triệu người, giảm 1,1 triệu người so với quý trước và giảm 180,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước Tỷ

lệ tham gia lực lượng lao động của nữ là 62,6%, thấp hơn 12,7 điểm phần trăm so với nam (75,3%) Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của khu vực thành thị là 66,7%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 69,9% Xem xét theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở khu vực thành thị thấp hơn khu vực nông thôn ở hầu hết các nhóm tuổi, trong đó chênh lệch nhiều nhất được ghi nhận ở nhóm 15-24 tuổi (thành thị: 41,2%; nông thôn: 48,0%) và nhóm từ 55 tuổi trở lên (thành thị: 35,0%; nông thôn: 47,9%)

Từ các con số thống kê trên cho thấy lực lượng nước ta trong đại dịch có xu hưởng giảm nhưng vẫn chiếm số lượng khá đông đảo Tuy nhiên, lực lượng lao động ở nước ta có sự phân bố không đồng đều giữa các vùng kinh tế, giữa thành thị và nông thôn, giữa cơ cấu các ngành kinh tế Các con số trên phản ánh đến sự chênh lệch giữa

số lượng lao động nam và nữ với nhau Hiện nay, Việt Nam đang là quốc gia có lượng cung hàng hoá sức lao động “dư thừa” so với cầu hàng hoá sức lao động Đó là hệ quả của việc bùng nổ dân số trong những năm vừa qua Đây là bất cập về thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam và cần có các phương pháp giải quyết hợp lý

Thứ hai, xét về phương diện chất lượng hàng hoá sức lao động

Thống kê của Tổng cục Thống kê vào quý I năm 2021 cũng phản ánh rằng: Lực lượng lao động giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng, đạt 26,0% Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên quý I năm 2021 là 26,0%, cao hơn 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước Tỷ lệ qua đào tạo của lao động giữa khu vực thành thị và nông thôn vẫn có sự chênh lệch đáng kể Tỷ lệ này ở khu vực thành thị đạt 40,7%, cao hơn gấp 2,3 lần khu vực nông thôn (17,8%)

Trong tổng số 23,2 triệu người từ 15 tuổi trở lên không tham gia thị trường lao động (ngoài lực lượng lao động) của quý I năm 2021 có đến 60,8% ở khu vực nông thôn; họ chủ yếu ở độ tuổi đang đi học và nghỉ hưu Phần lớn trong số họ chưa tham

Trang 9

gia khóa đào tạo nào từ sơ cấp trở lên (chỉ có 10,8% lao động không tham gia thị trường lao động có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên)

Cơ cấu ngành của nước ta vẫn đang trên quá trình chuyển đổi tỉ trọng từ các ngành nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn hơn Do đó, vẫn còn tồn tại nhiều người lao động chân tay nhiều và trình độ thấp Lao động của nước ta được đánh giá là cần cù, chịu khó nhưng chưa đủ ở thời đại mới cần nhiều sự sáng tạo vượt bậc về kĩ thuật và khoa học Người lao động nước ta hầu hết chưa được trang bị các kiến thức và kĩ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác và ngại phát huy chia sẻ sáng kiến mới

1.1.2 Thực trạng cầu hàng hoá sức lao động

Trong thời gian đại dịch Covid đã và đang xảy ra gây nên nhiều biến cố về kinh

tế xã hội, điều đó dẫn đến cầu lao động giảm sút Bên cạnh đó, việc giảm cầu lao động đến từ các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp,… là do sự phát triển của khoa học công nghệ Việc tự động hoá các dây chuyền sản xuất đã đe doạ đến nhiều người lao động

có trình độ thấp hoặc tay nghề kém, thiếu tư duy sáng tạo Từ đó, kéo theo tỷ lệ thất nghiệp trong nước tăng theo Sự chênh lệch giữa cung và cầu hàng hoá sức lao động giữa thời kì đại dịch trở nên càng khó giải quyết hơn bao giờ hết Dân số càng ngày càng tăng và số dân tham gia vào thị trường lao động tăng, tuy nhiên lượng cầu hàng hoá sức lao động gảim sút hoặc đứng yên sẽ gây ra nhiều hệ luỵ phía sau Do đó, cần

có các phương hướng đề xuất giải quyết tăng lượng cầu sao cho gần với lượng cung hàng hoá sức lao động nhất có thể nhằm tạo thế cân bằng và giúp đất nước phát triển

1.2 Thị trường xuất khẩu lao động

Theo báo cáo của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động Thương binh

và Xã hội), tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong năm 2020 là 78,6 nghìn lao động, đạt 60,5% kế hoạch được giao (130 nghìn lao động), bằng 112,3% kế hoạch đã điều chỉnh của năm (70 nghìn lao động) do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 Trong đó, số lao động xuất cảnh tại một số thị trường chính, bao gồm: Nhật Bản: 38,8 nghìn lao động (15,9 nghìn nữ); Đài Loan: 34,5 nghìn lao động (12,4 nghìn lao động nữ); Hàn Quốc: 1,3 nghìn lao động; Rumani: 924 lao động; Trung Quốc: 596 lao động nam; Singapore: 537 lao động;…

Đầu năm 2021, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang ảnh hưởng tiêu cực đến việc xuất khẩu lao động Theo đó, tính chung 4 tháng đầu năm 2021, tổng số lao động Việt Nam

Trang 10

đi làm việc ở nước ngoài là 34,9 nghìn lao động (trong đó có 13,5 nghìn lao động nữ), đạt 38,79% kế hoạch năm 2021 Trong đó chủ yếu vẫn ở hai thị trường trọng điểm là Nhật Bản với 18,3 nghìn lao động (8,1 nghìn lao động nữ) và Đài Loan với 15,0 nghìn lao động (5,2 nghìn lao động nữ) Một số thị trường khác: Trung Quốc có 415; Hàn Quốc có 289 lao động nam; Hungary có 204; Rumania có 202; Singapore có 129 lao động nam; UAE có 43 lao động…

Ảnh hưởng của dịch bệnh trong vòng 2 năm qua gây ra nhiều thiệt hại không chỉ đối với Việt Nam mà đến tất cả các quốc gia trên toàn thế giới Việc xuất khẩu lao động cũng vì thế sẽ gặp nhiều khó khăn trở ngại hơn Các nước sẽ có các chính sách chặt chẽ hơn về của khẩu và về các lao động đến từ nước ngoài Lượng cung hàng hoá sức lao động đang dư thừa nhiều kết hợp với việc xuất khẩu lao động đình trệ sẽ giảm sút thu nhập cho người lao động và đất nước Có nhiều trường hợp trúng tuyển nhưng

vì tình hình dịch bệnh nên phải hoãn hoặc huỷ Những điều trên gây e ngại cho các người trong độ tuổi lao động đang có ý định đi xuất khẩu lao động Hệ luỵ cuối cùng

sẽ gâu ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả phía cung và cầu của hàng hoá sức lao động của đất nước

2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng thị trường hàng hoá sức lao động ở Việt Nam

2.1 Giải pháp đối với cung hàng hoá sức lao động

Hàng hoá sức lao động sẽ có cơ hội và phát triển hơn khi các lao động được nâng cao chất lượng đi kèm với số lượng Tức là cần có các chính sách, chương trình đào tạp nâng cao trình độ và chuyên nghiệp hoá cho các lao động Cần có các định hướng nghề nghiệp tương lai cần đến lượng lớn lao động và tập trung chuyên môn phát triển Bên cạnh đó, có các chính sách thu hút nhân tài, tăng lương, đãi ngộ và khuyến khích các lao động theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế của đất nước Tổ chức các chương trình đào tạo thường xuyên nâng cao tay nghề cho các lao động ở các

cơ quan và doanh nghiệp, khuyến khích nhân viên tham gia nâng cao nghiệp vụ Đưa

ra cá giải pháp ngăn chặn hiện tượng “Chảy máu chất xám” nhằm tránh mất đi nguồn cung lao động có trình độ, kĩ năng cao trong các ngành phát triển tương lai và phát triển đất nước theo hướng “Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá” đất nước

2.2 Giải pháp đối với cầu hàng hoá sức lao động

Để giải quyết vấn đề cầu hàng hoá sức lao động trước hết cần giải quyết vấn đề thất nghiệp cho người lao động Đảng và Nhà nước ta cần có các chính sách tạo điều kiện

Ngày đăng: 05/04/2022, 06:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w