Tội phạm giết người xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên những hậu quả, tác hại vô cùng lớn về mọi mặt của đời sống xã hội. Gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân; trật tự an toàn xã hội bị đe dọa; uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật vì thế mà giảm sút. Những năm gần đây, tình hình tội phạm giết người, nhất là giết người do nguyên nhân xã hội diễn ra phức tạp. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, giai đoạn 2014 2018, trên toàn quốc xảy ra 5.763 vụ giết người, trong đó 95% là các vụ giết người do nguyên nhân xã hội. Hậu quả làm 5.139 người chết, 1.894 người bị thương. Trong 6 tháng đầu năm 2019, cả nước xảy ra 583 vụ giết người, tăng 9,8% so với cùng kì năm 2018. Phân tích các vụ án giết người cho thấy, 81% đối tượng gây án
Trang 1TỘI GIẾT NGƯỜI
Giảng viên: Phạm Thị Yến
Tội phạm giết người xảy ra do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên nhữnghậu quả, tác hại vô cùng lớn về mọi mặt của đời sống xã hội Gây tâm lý hoang mang,
lo sợ trong quần chúng nhân dân; trật tự an toàn xã hội bị đe dọa; uy tín của các cơquan bảo vệ pháp luật vì thế mà giảm sút
Những năm gần đây, tình hình tội phạm giết người, nhất là giết người donguyên nhân xã hội diễn ra phức tạp Theo thống kê của các cơ quan chức năng, giaiđoạn 2014- 2018, trên toàn quốc xảy ra 5.763 vụ giết người, trong đó 95% là các vụgiết người do nguyên nhân xã hội Hậu quả làm 5.139 người chết, 1.894 người bịthương Trong 6 tháng đầu năm 2019, cả nước xảy ra 583 vụ giết người, tăng 9,8% sovới cùng kì năm 2018 Phân tích các vụ án giết người cho thấy, 81% đối tượng gây ánchưa có tiền án, tiền sự và trên 68% số đối tượng không có nghề nghiệp ổn định.Khoảng 62% các trường hợp nạn nhân có mối quan hệ trước với đối tượng, trong đóđáng lưu ý trên 20% nạn nhân là người thân trong gia đình 55% các vụ án xảy ra ởnông thôn, 34% ở thành thị Khoảng 80% các vụ giết người có nguyên nhân trực tiếp
do mâu thuẫn thù tức, trong đó 40% là do mâu thuẫn trong sinh hoạt hằng ngày, 10%
do mâu thuẫn tình ái, 5,8% do mâu thuẫn về kinh tế Số vụ do mâu thuẫn bột phát nhấtthời chiếm 24% nhưng đang có chiều hướng gia tăng Đáng chú ý, tính chất, mức độ
và hậu quả thiệt hại của các vụ giết người ngày càng nghiêm trọng, có 588 vụ có từ 2nạn nhân trở lên, nhiều vụ có có tính chất dã man, tàn bạo như chặt xác, đốt xác…Bêncạnh đó, thời gian gần đây, tình trạng người bị bệnh tâm thần, đối tượng sử dụng matúy tổng hợp dẫn đến hoang tưởng (gọi là “ngáo đá”) gây án cũng có chiều hướng giatăng
Trước tình hình đó, đòi hỏi công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm giếtngười của các cấp, các ngành và toàn thể xã hội cần phải được nâng cao hơn nữa Córất nhiều các biện pháp góp phần tích cực vào công tác đấu tranh, phòng chống tội
Trang 2phạm giết người Trong đó, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế định
“Tội giết người” được quy định tại Điều 123 trong Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 làmột yêu cầu rất cấp thiết Vì vậy, việc tìm hiểu, nghiên cứu chi tiết nội dung của loạitội phạm này trong Bộ luật Hình sự là rất quan trọng Qua đó có thể giúp cho chúng tahiểu đúng quy định của pháp luật về tội giết người, đồng thời cũng có thể chỉ ra nhữnghạn chế, bất cập của điều luật so với tình hình thực trạng của tội phạm giết ngườitrong giai đoạn hiện nay
Tội giết người - Điều 123 BLHS 2015 quy định:
Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
Trang 3l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
3 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
4 Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.
Điều luật bao gồm 4 khoản: Khoản 1 quy định trường hợp giết người có tìnhtiết định khung tăng nặng hay còn được gọi là trường hợp giết người tăng nặng; khoản
2 quy định trường hợp giết người bình thường; khoản 3 quy định trường hợp chuẩn bịphạm tội giết người; khoản 4 quy định hình phạt bổ sung
Cấu trúc của điều luật này không được xây dựng theo nguyên tắc chung, CTTPtăng nặng được xếp trước CTTP cơ bản Về nguyên tắc, ở mỗi tội danh, điều luật phải
mô tả CTTP cơ bản trước, tiếp đó quy định các tình tiết định khung hình phạt giảmnhẹ, các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng Cách xây dựng này đã có từ BLHSnăm 1985 và tiếp tục giữ như vậy trong BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015 Hiệnnay cách xây dựng như vậy chưa có giải thích chính thức nào Điều luật cũng không
mô tả tội phạm mà chỉ nhắc lại lại tội danh giết người Điều này cũng giống ở 1 số tội
Trang 4danh khác, có thể là do hành vi phạm tội không khó hiểu hoặc khó hiểu sai nên khôngcần phải mô tả mà có thể xây dựng dưới dạng quy định giản đơn.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay thì việc nhầm lẫn giữa hành vi giết người với
1 số hành vi khác như: Cố ý gây thương tích, giết người trong trạng thái tinh thần bịkích động mạnh hay vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng…là một hạn chế còndiễn ra phổ biến trong quá trình tiến hành tố tụng của các cơ quan có thẩm quyền
Trước hết, Giết người được hiểu là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác.
sự phát triển Khi quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của conngười bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu của loài người sẽ trở nên vô nghĩa; động lựcphát triển của xã hội sẽ bị triệt tiêu Thêm vào đó, con người còn là chủ thể của quan
hệ xã hội Nếu quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người
bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ Chính vì những lý do trên mà mụctiêu bảo vệ quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người luônđược đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế độ.Cũng vì ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệtính mạng của con người mà trong các BLHS từ năm 1985 đến nay, ngay sau các tộixâm phạm an ninh quốc gia, nhà làm luật đều đã quy định Tội giết người Điều nàycàng khẳng định, quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của conngười thật sự thiêng liêng, cao quý, cần được bảo vệ một cách tuyệt đối Bất cứ ai xâm
Trang 5phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người đều phải
bị trừng trị nghiêm khắc
Tội giết người xâm phạm quyền sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tínhmạng của con người thông qua sự tác động làm biến đổi tình trạng bình thường củađối tượng tác động - con người đang sống Việc xác định đúng đối tượng tác động củaTội giết người có ý nghĩa vô cùng quan trọng Bởi lẽ, nếu hành vi nào đó tác động vàođối tượng không phải hay chưa phải là con người thì không xâm phạm đến quyềnsống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người Vì vậy, hành vi đókhông phạm tội giết người
Đối tượng của hành vi phạm tội này phải là người khác và là con người đangsống Như vậy hành vi tự tước đoạt tính mạng của mình (tự sát) hay tác động ngườikhác tự sát không phải là hành vi khách quan của tội giết người Thời điểm bắt đầucủa người đang sống được tính từ thời điểm được sinh ra (còn sống) và kết thúc khi sựsống thực sự chấm dứt Như vậy, bào thai và thi thể đều không phải là đối tượng củahành vi khách quan của tội giết người
- Mặt khách quan của tội phạm:
+ Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính
mạng người khác Hành vi tước đoạt tính mạng người khác là hành vi có khả năng gây
ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Những hành vi không có khảnăng này thì không phải là hành vi khách quan của tội giết người Ví dụ: hành vi cúngbái, khấn cầu cho ai đó chết; bỏ bùa ai đó với mong muốn cho họ chết đi…Hành vikhách quan của tội giết người có thể thực hiện dưới hình thức hành động: đấm, đá,bóp cổ, đâm, chém…cũng có thể thực hiện dưới hình thức không hành động – đây làtrường hợp mà người phạm tội không hành động mặc dù có nghĩa vụ phải hành động,phải làm những việc nhất định để đảm bảo an toàn về tính mạng cho người khác Vídụ: Người mẹ không cho con bú, không cho con ăn…dẫn đến làm cho đứa trẻ chết;bác sĩ không thực hiện việc cấp cứu cho bệnh nhân…
Trang 6Hành vi tước đoạt tính mạng người khác chỉ được coi là hành vi khách quan củatội giết người khi hành vi đó là trái pháp luật Hành vi gây ra cái chết cho người khácđược pháp luật cho phép không phải là hành vi khách quan của tội giết người Ví dụ:Hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trong trường hợp phòng vệ chính đáng(Điều 22 BLHS) hay trong trường hợp thi hành bản án tử hình
Trong thực tiễn còn gặp trường hợp tước đoạt tính mạng người khác do đượcnạn nhân yêu cầu Động cơ của những hành vi này có thể khác nhau Trong đó, cónhững động cơ mang tính nhân đạo như: tước đoạt tính mạng của người đang mắcbệnh hiểm nghèo nhằm tránh đau đớn kéo dài cho họ Theo quy định của Luật hình sựViệt Nam thì những trường hợp như vậy vẫn bị coi là trái pháp luật
+ Hậu quả của tội phạm: Hậu quả của tội giết người được xác định là hậu quả
chết người Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phảichịu trách nhiệm về hậu quả chết người đã xảy ra nếu hành vi mà họ đã thực hiện lànguyên nhân gây ra hậu quả chết người Tức là phải có mối quan hệ nhân quả giữahành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác với hậu quả chết người Việcxác định mối quan hệ nhân quả này trong nhiều trường hợp rất phức tạp, đòi hỏi phải
có sự hỗ trợ của giám định pháp y
- Mặt chủ quan của tội phạm:
+ Lỗi của người phạm tội được xác định là lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếphoặc lỗi cố ý gián tiếp
Trong trường hợp hậu quả giết người đã xảy ra, việc xác định lỗi cố ý trực tiếphay cố ý gián tiếp không có ý nghĩa trong việc định tội Tuy nhiên, trường hợp nếungười phạm tội thực hiện hành vi khách quan nhưng hậu quả chết người chưa xảy rathì việc xác định lỗi cố ý trực tiếp hay cố ý gián tiếp có ý nghĩa quan trọng trong việcđịnh tội Cụ thể như sau:
Thứ nhất, nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là cố ý
trực tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt
Trang 7Thứ hai, nếu hậu quả chết người chưa xảy ra và lỗi của người phạm tội là lỗi cố
ý gián tiếp thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thươngtích (nếu thương tích gây ra thỏa mãn đòi hỏi của CTTP này), không phải chịu tráchnhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt
Dấu hiệu lỗi cố ý đòi hỏi chủ thể phải nhận thức đối tượng hành vi hướng vào làngười đang sống Trong thực tế có thể xảy ra trường hợp chủ thể có sự nhầm lẫn vềtính chất của đối tượng mà hành vi của mình hướng tới Khả năng nhầm lẫn có thể là:
Thứ nhất, chủ thể cho rằng đối tượng của hành vi mà mình thực hiện là người
đang sống nhưng thực tế người đó đã chết hoặc đó không phải là người Trong trườnghợp này, về chủ quan chủ thể vẫn có lỗi cố ý Do vậy, đây vẫn là trường hợp phạm tộigiết người nhưng là giết người chưa đạt (Chưa đạt vô hiệu)
Thứ hai, chủ thể cho rằng đối tượng của hành vi mà mình thực hiện không phải
là người đang sống (có thể là người đã chết hoặc thú vật) nhưng thực tế lại là ngườiđang sống Trong trường hợp này, về chủ quan, chủ thể có sai lầm nên không thể cólỗi cố ý Do vậy không thể có tội giết người
Trong thực tế, hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác
có thể được thực hiện với nhiều động cơ khác nhau và với nhiều mục đích khác nhau.Tội giết người không đòi hỏi động cơ cũng như mục đích cụ thể Do đó, hành vi tướcđoạt trái pháp luật tính mạng của người khác vì 1 mục đích nhất định hoặc do động cơnhất định có thể cấu thành tội phạm khác mà không cấu thành tội giết người (Điều
113, 126, 299 BLHS) Ngoài ra có một số động cơ phạm tội được quy định là dấu hiệuđịnh khung hình phạt tăng nặng của tội giết người
- Chủ thể của tội phạm: là chủ thể bình thường, người đủ 14 tuổi trở lên
2 Tình tiết định khung tăng nặng của Tội giết người
Khoản 1 của điều luật quy định các tình tiết định khung hình phạt tăng nặng củatội giết người Theo đó, trường hợp phạm tội giết người có tình tiết tương ứng với 1trong các dấu hiệu sau thì bị coi là phạm tội giết người trong trường hợp tăng nặng và
Trang 8phải chịu trách nhiệm hình sự theo khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Cụ thểnhư sau:
- Giết 02 người trở lên (điểm a khoản 1 Điều 123)
Giết 02 người trở lên là trường hợp người phạm tội cố ý gây ra cái chết cho 02người khác trở lên một cách trái pháp luật Người phạm tội trong trường hợp này có ýđịnh giết từ 02 người trở lên hoặc có ý thức bỏ mặc, chấp nhận hậu quả 02 người chếttrở lên xảy ra Nếu người phạm tội có ý thức bỏ mặc, chấp nhận hậu quả chết ngườixảy ra (lỗi cố ý gián tiếp) thì phải có từ 02 người chết trở lên mới áp dụng tình tiếtđịnh khung tăng nặng này
Nếu có 02 người chết, nhưng lại có 02 người chết do lỗi vô ý của người phạmtội thì không coi là giết nhiều người mà thuộc trường hợp phạm hai tội: “Tội giếtngười” và “Tội vô ý làm chết người” Nếu có 02 người chết, nhưng chỉ có 01 ngườithuộc trường hợp quy định tại Điều 123 BLHS, còn người kia lại thuộc trường hợptrong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hoặc do vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng hoặc thuộc trường hợp làm chết người trong khi thi hành công vụ thì cũngkhông định tội giết 02 người trở lên mà tuỳ từng trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ
bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội giết người và một tội khác (giết người trongtrạng thái tinh thần bị kích động mạnh hoặc giết người do vượt quá giới hạn phòng vệchính đáng )
- Giết người dưới 16 tuổi (điểm b khoản 1 Điều 123)
Giết người dưới 16 tuổi được quy định là tình tiết định khung tăng nặng của Tộigiết người, vì hành vi này không những “phá vỡ” hạnh phúc của gia đình, làm “thuichột”, “lụi tàn” một “chủ nhân” là thế hệ tương lai của đất nước mà còn thể hiện bảntính hèn hạ và độc ác của can phạm Xuất phát từ quan điểm bảo vệ trẻ em là bảo vệtương lai của đất nước, bảo vệ lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
Trang 9quốc, bảo vệ những người không có khả năng tự vệ nên BLHS đã quy định tình tiếtnày là tình tiết định khung tăng nặng của tội phạm nói chung và Tội giết người nóiriêng.
Xuất phát từ cơ sở giết người dưới 16 tuổi có tính nguy hiểm cao hơn so vớigiết những đối tượng bình thường khác, BLHS năm 1999 đã bổ sung tình tiết địnhkhung tăng nặng giết trẻ em vào Tội giết người và BLHS năm 2015 đã kế thừa quyđịnh đó (chỉ thay cụm từ “trẻ em” bằng cụm từ “người dưới 16 tuổi”) Quy định nàykhông chỉ nhằm trừng trị nghiêm những người có hành vi giết trẻ em, góp phần ngănchặn tình trạng xâm phạm tính mạng của trẻ em đang có xu hướng gia tăng mà cònnhằm bảo đảm thực hiện các quy định trong Công ước quốc tế mà nhà nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia hoặc ký kết về bảo vệ và chăm sóc trẻ em
- Giết phụ nữ mà biết là có thai (điểm c khoản 1 Điều 123)
Giết phụ nữ mà biết là có thai là trường hợp người phạm tội biết rõ người mìnhgiết là phụ nữ đang có thai (không kể tháng thứ mấy) Nếu nạn nhân là người tình củangười phạm tội, người phạm tội giết nạn nhân để trốn tránh trách nhiệm thì còn có thể
bị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng giết người vì động cơ đê hèn
Nếu người bị giết có thai thật, nhưng có căn cứ để xác định người phạm tộikhông biết họ đang có thai thì không áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này.Ngược lại, trong trường hợp người phụ nữ bị giết không có thai, nhưng người phạmtội lại tưởng lầm là nạn nhân có thai và sự lầm tưởng này của người phạm tội là có căn
cứ, thì người phạm tội vẫn bị xét xử về Tội giết người với tình tiết định khung tăngnặng “giết phụ nữ mà biết là có thai”
- Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân (điểm d khoản 1 Điều 123)
Trang 10Giết người đang thi hành công vụ là cố ý gây ra cái chết cho người đang thựchiện một nhiệm vụ được cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội có thẩm quyền giaophó Nhiệm vụ được giao phó có thể là đương nhiệm do nghề nghiệp quy định như:Cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đang làm nhiệm vụ bảo vệ; thầy thuốc đang điềutrị tại bệnh viện; thầy giáo đang giảng bài hoặc hướng dẫn học sinh tham quan nghỉmát; Thẩm phán đang xét xử tại phiên toà; thanh niên cờ đỏ, dân quân tự vệ đang làmnhiệm vụ bảo vệ trật tự ở nơi công cộng Cũng có thể được coi là giết người đang thihành công vụ trong một số trường hợp nạn nhân là những công dân được huy độnglàm nhiệm vụ (như tuần tra, canh gác ) theo kế hoạch của cơ quan nhà nước có thẩmquyền, phục vụ lợi ích chung của nhà nước, của xã hội hoặc nạn nhân tuy không phải
là những công dân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền huy động, nhưng đã tựnguyện tham gia giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong một số lĩnh vựcnhất định như: Đuổi bắt người phạm tội bỏ trốn; can ngăn những vụ đánh nhau ở nơicông cộng
Khác với trường hợp giết người đang thi hành công vụ, giết người vì lý do công
vụ của nạn nhân là trường hợp giết nạn nhân không phải lúc họ đang thi hành công vụ
mà có thể trước hoặc sau đó Thông thường, nạn nhân là người đã thi hành một nhiệm
vụ và vì thế đã làm cho người phạm tội thù oán nên đã giết họ Tuy nhiên, có một sốtrường hợp người bị giết chưa kịp thi hành nhiệm vụ được giao, nhưng người có hành
vi giết người cho rằng nếu để người này sống, nhiệm vụ mà họ thực hiện sẽ gây rathiệt hại cho mình, nên đã giết nạn nhân trước
- Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình (điểm đ khoản 1 Điều 123)
Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình là trườnghợp người phạm tội đã cố ý gây ra cái chết cho những người mà họ phải kính trọng,phải biết ơn, đó là ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình