1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

GIÁO ÁN CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TNHS

22 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 36,83 KB
File đính kèm GIÁO ÁN CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TNHS.rar (35 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, người thực hiện có thể bị những động cơ khác nhau thúc đẩy. Tính chất khác nhau của những động cơ này có ảnh hưởng khác nhau đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện – có thể làm tăng lên hoặc có thể làm giảm đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Đặc biệt có những trường hợp vì gắn với động cơ nhất định mà hành vi đã thực hiện trở thành hành vi cần thiết cho xã hội và do vậy cần được pháp luật cho phép. Từ thực tế này, PLHS VN cũng như PLHS các quốc gia khác có chế định trong đó xác định những trường hợp được phép hay nói cách khác chế định này xác định những căn cứ cho phép mọi người thực hiện hành vi mà trong trường hợp bình thường hành vi này bị coi là TP. Hành vi đã thực hiện do được pháp luật cho phép nên không bị coi là TP và vấn đề TNHS không được đặt ra.

Trang 1

GIÁO ÁNBÀI: CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ

I KHÁI NIỆM CHUNG

1 Cơ sở lý luận về các trường hợp loại trừ TNHS

Theo LHS Việt Nam, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy địnhtrong BLHS Người có đủ điều kiện chủ thể của tp thực hiện hành vi được mô tảtrong BLHS là tội phạm, bị coi là người phạm tội và phải chịu TNHS

Khi thực hiện hành vi được mô tả trong BLHS, người thực hiện có thể bị nhữngđộng cơ khác nhau thúc đẩy Tính chất khác nhau của những động cơ này có ảnhhưởng khác nhau đến tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã thực hiện – có thểlàm tăng lên hoặc có thể làm giảm đi tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạmtội Đặc biệt có những trường hợp vì gắn với động cơ nhất định mà hành vi đã thựchiện trở thành hành vi cần thiết cho xã hội và do vậy cần được pháp luật cho phép

Từ thực tế này, PLHS VN cũng như PLHS các quốc gia khác có chế định trong đóxác định những trường hợp được phép hay nói cách khác chế định này xác địnhnhững căn cứ cho phép mọi người thực hiện hành vi mà trong trường hợp bìnhthường hành vi này bị coi là TP Hành vi đã thực hiện do được pháp luật cho phépnên không bị coi là TP và vấn đề TNHS không được đặt ra

Những căn cứ cho phép người thực hiện các hành vi có tính ngoại lệ nói trên cótên gọi khác nhau trong LHS cũng như trong nghiên cứu BLHS VN các năm 1985

và 1999 đều không có tên gọi chung cho các căn cứ này mà chỉ có tên gọi cho từngcăn cứ như: PVCĐ, TTCT Tới BLHS năm 2015 đã ghép các căn cứ này với 1 sốtrường hợp khác không phải chịu TNHS vào chung 1 chương có tên gọi là:

Trang 2

tình tiết loại trừ TNHS” Giao trình LHS phần chung của ĐHLHN hiện nay gọi cáccăn cứ này là “Các căn cứ hợp pháp của hành vi gây thiệt hại”

Tương tự như vậy, trong KH LHS cũng như trong BLHS của các nước kháccũng có nhiều cách gọi khác nhau về các căn cứ này như được gọi là: “Các căn cứloại trừ tính trái PL”, “Các căn cứ loại trừ TNHS” hoặc “Các căn cứ loại trừ hìnhphạt”

BLHS năm 2015 hiện nay quy định các căn cứ này tại Chương IV: “NHỮNGTRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TNHS” Bao gồm:

- Điều 20 Sự kiện bất ngờ

- Điều 21 Tình trạng không có NLTNHS

- Điều 22 Phòng vệ chính đáng

- Điều 23 Tình thế cấp thiết

- Điều 24 Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

- Điều 25 Rủi ro trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹthuật và công nghệ

- Điều 26 Thi hành mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc của cấp trên

2 Ý nghĩa của các quy định về các trường hợp loại trừ TNHS

- Cơ sở pháp lý để phân định giữa TP với các hành vi không phải là TP

- Bảo đảm pháp lý cho người dân tích cực tham gia vào việc tự bảo vệ quyền lợichính đáng của mình cũng như lợi ích của XH

II CÁC TRƯỜNG HỢP LOẠI TRỪ TNHS CỤ THỂ

1 Phòng vệ chính đáng.

a Khái niệm

Theo khoản 1, Điều 12 Bộ luật Hình sự quy định:

“ Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm hại các lợi ích nói trên.

Trang 3

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm”.

Từ khái niệm phòng vệ chính đáng, chúng ta cần nắm một số vấn đề sau:

- Nguồn gốc để làm phát sinh quyền phòng vệ chính đáng: Là do hành vi

xâm hại trái pháp luật của con người xâm hại vào các quan hệ xã hội được pháp luậtbảo vệ

Những hành vi xâm hại do xúc vật gây nên như: Trâu, Bò húc, Chó cắn…Chế định phòng vệ chính đáng không đặt ra Chúng ta sẽ xem xét những trường hợpnày theo chế định của Tình thế cấp thiết

- Lợi ích cần bảo vệ trong phòng vệ chính đáng là: Những lợi ích của Nhà

nước, của tổ chức, của chính bản thân người phòng vệ và của người khác Những lợiích này phải là những lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ

- Phòng vệ chính đáng là hành vi của con người, nhằm chống lại những hành vi xâm hại trái pháp luật, khi người này đang đứng trước sự tấn công bất hợp pháp của người khác Có hành vi chống trả cần thiết người đang có hành vi xâm hại các

lợi ích nói trên Như thế nào là cần thiết, chúng ta sẽ nghiên cứu ở phần sau

- Phòng vệ chính đáng là quyền của mỗi công dân, không phải là nghĩa vụ pháp

lý của công dân Nhưng đối với những người có trách nhiệm theo luật định, thì

phòng vệ chính đáng không những là quyền mà nó còn là một nghĩa vụ pháp lý

VD 1: C thấy A đang đuổi đánh B, C sợ bỏ chạy C ko có lỗi Bảo vệ B ko phảinghĩa vụ của C Trường hợp này hoàn toàn khác với trường hợp bỏ mặc người khác

Trang 4

trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng mà ko cứu giúp dẫn đến hậu quả người đóchết thì vẫn bị truy cứu TNHS theo điều 132 BLHS.

VD: Trường hợp khác, một nhóm cướp đang dùng súng để khống chế nhân viên

Ngân hàng để cướp tài sản Người chiến sỹ Cảnh sát bảo vệ Ngân hàng đó, phải có trách nhiệm chống trả lại hành vi xâm hại nói trên, nhằm ngăn chặn hành vi tấn công Đó không những là quyền mà còn là trách nhiệm và là nghĩa vụ của người

chiến sỹ đó

- Phòng vệ chính đáng không có nghĩa là tự xử lý: Công dân không có quyền

tự xử lý các hành vi xâm hại trái pháp luật, mà công dân chỉ có quyền ngăn chặn,đẩy lùi hành vi xâm hại trái pháp luật Chỉ có Nhà nước mới có quyền xử ly cáchành vi vi phạm pháp luật

Thế nhưng, phòng vệ chính đáng phải nằm trong một khuôn khổ và có nhữngđiều kiện nhất định, để tránh những trường hợp lạm dụng quyền phòng vệ chínhđáng xâm hại vào các lợi ích hợp pháp

Vì vậy, một hành vi để được công nhận là phòng vệ chính đáng phải thỏa mãnnhững điều kiện nhất định

b Điều kiện của phòng vệ chính đáng

Theo tinh thần của chỉ thị số 07 ngày 22/12/1983 và nghị quyết số 02, ngày5/1/1986 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thì một hành vi đượccông nhận là phòng vệ chính đáng phải thỏa mãn các điều kiện sau:

- Nhóm 1: Các điều kiện về cơ sở làm phát sinh quyền phòng vệ

Thứ nhất: Đang có hành4 vi xâm hại những lợi ích cần bảo vệ, phải là những hành vi phạm tội hoặc rõ ràng có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội;

Thứ hai : Hành vi nguy hiểm cho xã hội đang gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại thực sự và ngay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ;

Thứ ba: Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công,

mà còn có thể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người có hành

Trang 5

vi xâm hại;

Thứ tư: Hành vi phòng vệ phải được xác định là cần thiết với hành vi xâm hại, tức là ko có sự chênh lệch quá đáng giữa hành vi phòng vệ với tính chất và mức

độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Cần thiết ko có nghĩa là thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại

phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe doạ gây ra hoặc đã gây

ra cho người phòng vệ

Để xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay ko, có rõ ràng là quá đáng hay

ko, thì phải xem xét toàn diện những tình tiết có liên quan đến hành vi xâm hại và

Sau khi đã xem xét một cách đầy đủ, khách quan tất cả các mặt nói trên mànhận thấy rõ ràng là trong hoàn cảnh sự việc xảy ra, người phòng vệ đã sử dụngnhững phương tiện, phương pháp rõ ràng quá đáng và đã gây thiệt hại rõ ràng quámức đối với hành vi xâm hại thì coi hành vi chống trả là ko cần thiết và là vượt quágiới hạn PVCĐ Ngược lại, nếu hành vi chống trả là cần thiết thì đó là PVCĐ

Như vậy: Một hành vi khi thỏa mãn các điều kiện trên thì được công nhận là phòng vệ chính đáng.

a Có hành vi xâm hại lợi ích của Nhà nước, của tổ chức quyền và lợi ích chính đáng của công dân

- Phải có hành vi xâm hại đến lợi ích cần bảo vệ, đối tượng bị xâm hại ở đây

Trang 6

không nhất thiết là người phòng vệ mà có thể là lợi ích của Nhà nước, tổ chức, côngdân khác Quyền bị xâm hại ở đây có thể là xâm hại về quyền nhân thân và quyền sởhữu và thường được thực hiện dưới dạng hành động (cá biệt có trường hợp xâm hạidưới hình thức không hành động như bác sĩ cố tình ko cấp cứu nạn nhân)

- Hành vi xâm hại có thể là tội phạm hoặc những VPPL: khi xem xét phải

quan tâm đến sự tương quan giữa hành vi vi phạm và hành vi chống trả cũng nhưquan hệ mà hành vi vi phạm xâm phạm đến Trong thực tế có hành vi tuy không cấuthành tội phạm, nhưng vẫn đòi hỏi phải được ngăn chặn kịp thời để tránh thiệt hạicho xã hội, nếu thấy rõ ràng có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội, hơn nữa khiđứng trước sự tấn công, người công dân bình thường khó có thể khẳng định đượcngay là tội phạm hay không là tội phạm, thì chúng ta vẫn được quyền phòng vệ vàhành vi phòng vệ là chính đáng

Đặc biệt, trong trường hợp người bị tâm thần tấn công thì pháp luật vẫn chophép phòng vệ trong trường hợp không thể bỏ chạy được Nếu vẫn có thể bỏ chạy

mà lại gây thiệt hại cho người tâm thần thì ko được xem là phòng vệ Tuy nhiênhành vi ngăn chặn vào những đối tượng này, thì thiệt hại gây ra cho họ phải là nhỏnhất và biện pháp gây thiệt hại phải là biện pháp cuối cùng

Qua đó chúng ta thấy rằng, nếu còn có thể tránh được sự xâm hại của ngườiđiên bằng một biện pháp nhẹ nhàng hơn như: Lừa nhốt người điên đó lại…Thì phảidùng biện pháp đó không được dùng biện pháp mạnh nhất Đây là một quy kết củanguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, một trong những nguyên tắc lớn chỉ đạo xâydựng lý luận pháp lý xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nếu say rượu tấn công thì đượcphòng vệ bình thường

b Hành vi xâm hại phải đang diễn ra, chưa chấm dứt hoặc có nguy cơ xảy

ra ngay tức khắc.

Đang có hành vi xâm phạm có nghĩa là hành vi đã bắt đầu va chưa kết thúc

- Hành vi xâm hại được coi là đang diễn ra, chưa chấm dứt: Hành vi đó đã bắt

Trang 7

đầu đang gây thiệt hại cho lợi ích cần được bảo vệ và chưa kết thúc Hành vi đóđang hiện hữu xâm hại, là hành vi có thật, người thực hiện hành vi xâm hại đangtrong giai đoạn thực hiện hành vi phạm tội, đang trực tiếp và tiếp tục xâm hại đếncác lợi ích được pháp luật bảo vệ

Như hành vi đang dùng dao chém người khác, hay hành vi dùng hung khínguy hiểm để tấn công người khác…

Sự xâm hại có hiện thời thì hành vi phòng vệ bằng cách gây thiệt hại mới có

lý do tồn tại Người phòng vệ phải phản ứng nhạy bén, để đối phó cho kịp thời,tránh thiệt hại có thể xảy ra

VD Nguyễn Văn Thành, Tô văn Thạch và Bùi Văn Dũng, rủ nhau đi xúc cát

thuê, được tiền cả 3 cùng rủ nhau đi ăn nhậu, sau khi nhậu xong, cả 3 cùng say chếnh choáng Thành rủ Thạch đấu võ, Thạch từ chối, nói có đấu thì đấu với anh Dũng, Thành không nghe, cứ một mực đòi đấu với Thạch Dũng can ngăn không được bỏ về trước Ngay sau đó, Thành đã dùng chiếc xẻng, nhằm vào đầu Thạch phang liên tiếp, Thạch đều tránh được, đã giằng chiếc xẻng khỏi tay Thành và đã dùng chính chiếc xẻng đó đánh lại Thành, làm Thành bị gẫy tay

Hành vi của Thạch trong trường hợp này là cần thiết để ngăn chặn hành vi

nguy hiểm đang diễn ra Hành vi cầm xẻng của Thành phang liên tiếp vào đầuThạch đang đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của Thành, vì vậy để tránh sựthiệt đó, buộc Thành phải có hành vi ngăn chặn đó Vì vậy hành vi nhằm ngăn chặnhành vi đó là chính đáng

- Hành vi xâm hại tuy chưa diễn ra, nhưng có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc:

Nghĩa là, người thực hiện hành vi xâm hại có một số động tác, hành vi, cử chỉ tiếntới sẽ thực hiện hành vi tấn công ngay lập tức, nếu không có sự ngăn chặn kịp thờithì sự xâm hại sẽ xảy ra Dấu hiệu ngay tức khắc dùng để chỉ sự nhanh chóng về mặtthời gian( sẽ xảy ra ngay lập tức) và dùng để chỉ sự mãnh liệt của hành vi

Như : Hành vi cầm dao dí vào người bị hại yêu cầu đưa tài sản hoặc hành vi dơ

Trang 8

súng lên để bắn…

+ Khi hành vi xâm hại chưa diễn ra, thì không đòi hỏi phải có hành vi ngănchặn, sự phòng vệ lúc này không đạt được mục đích của chế định phòng vệ chínhđáng Khoa học luật Hình sự gọi là phòng vệ quá sớm và người thực hiện hành vitrong trường hợp này phải chịu trách nhiệm hình sự Sở dĩ người có hành vi phòng

vệ quá sớm phải chịu trách nhiệm hình sự, bởi vì trong hoàn cảnh đó, có thể áp dụngbiện pháp khắc phục khác có lợi hơn

VD: Nguyễn Văn Dũng ( là đối tượng đã có tiền án về hành vi cố ý gây

thương tích), thấy Hoàng Văn Quân đi chơi với người yêu của mình, nên Dũng đã nói với Quân “ Tao sẽ giết mày” , mới nghe Dũng nói vậy, Quân đã lấy dao đâm

Dũng, làm Dũng gục xuống

Hành vi của Quân là không cần thiết, Dũng mới chỉ có lời lẽ, chưa có hành động

cụ thể nào cho thấy Dũng sẽ thực hiện hành vi tấn công ngay Vì vậy Quân phải chịutrách nhiệm về hành vi mà mình đã thực hiện

+ Nếu hành vi xâm hại đã thực sự chấm dứt, người thực hiện hành vi xâm hại đãngừng các hoạt động của mình, hành vi của họ đã bị người khác đẩy lùi hoặc donhững thực tế khách quan khác mà người thực hiện hành vi tấn công đã không tiếptục thực hiện hành vi của mình nữa, người có hành vi xâm hại đã tự ý nửa trừngchấm dứt hành vi tấn công nếu trong trường hợp này lại có hành vi phòng vệ, thìhành vi đó không được thừa nhận là phòng vệ chính đáng, khoa học luật Hình sự gọi

là phòng vệ quá muộn và người thực hiện hành vi này phải chịu trách nhiệm về hành

vi đã thực hiện của mình

VD: Nguyễn văn Anh đánh Nguyễn Văn Bình bị thương vào đầu, được mọi

người can ngăn nên Anh đã bỏ đi Nhưng do bực tức với hành vi của Anh, đã vô cớ đánh mình, nên Bình đã về nhà lấy dao đâm Anh, làm Anh bị thương nặng

Lưu ý:

- Có thể những hành vi phòng vệ xảy ra sau khi sự tấn công đã kết thúc, vẫn

Trang 9

được coi là phòng vệ chính đáng, nếu sự phòng vệ đi liền ngay sau sự tấn công và cóthể khắc phục được sự thiệt hại do sự tấn công đó gây ra Như: hành vi đuổi bắt đốitượng cướp giật tài sản, nhằm khắc phục hậu quả, để thu hồi lại tài sản…

Như vậy, hành vi xâm hại phải đang diễn ra, chưa chấm dứt hoặc có nguy cơxảy ra ngay tức khắc là điều kiện tiếp theo của chế định phòng vệ chính đáng

c Thiệt hại chỉ được gây ra cho chính người có hành vi xâm hại.

Phòng vệ chính đáng không chỉ gạt bỏ sự đe dọa, đẩy lùi sự tấn công, mà còn cóthể tích cực chống lại sự xâm hại, gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại Khi hành vi xâm hại đang diễn ra, đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hạingay tức khắc cho những lợi ích cần bảo vệ Để ngăn chặn sự xâm hại một cách cóhiệu quả và kịp thời, thì cần phải gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại.Tại sao lại như vậy?

- Vì mục đích của hành vi phòng vệ là nhằm gạt bỏ sự đe dọa, làm tê liệt, đẩy lùi sự tấn công, không cho hậu quả nguy hiểm xảy ra.

Để đạt được mục đích nói trên, cần thiết phải gây thiệt hại cho chính người

có hành vi xâm hại và chỉ có gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại mớingăn chặn và đẩy lùi được sự tấn công, hành vi phòng vệ mới có ý nghĩa

- Nếu gây thiệt hại cho người thứ ba, thì không những không đẩy lùi được sự tấn công, mà hậu quả vẫn xảy ra, dẫn đến không đạt được mục đích của chế định phòng vệ chính đáng là nhằm đẩy lùi, ngăn chặn sự tấn công.

Vì:

Nguồn gốc của hành vi tấn công không được triệt tiêu thì:

* Hành vi xâm hại vẫn diễn ra;

* Hậu quả không ngăn chặn được;

* Mục đích của chế định không đạt được

- Thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho chính người có hành vi xâm hại có thể là về: Tính mạng, sức khỏe hoặc nhằm vào công cụ, phương tiện mà người đó sử

Trang 10

dụng để thực hiện hành vi tấn công Nhưng dù bằng hình thức nào, thì cũng chỉdược gây thiệt hại cho chính người có hành vi xâm hại, chứ không được gây thiệthại cho người thứ ba.

+ Khi người có hành vi phòng vệ gây thiệt hại về tài sản cho người có hành

vi xâm hại, thì tài sản thiệt hại phải là công cụ, phương tiện mà người có hành vixâm hại sử dụng

Như: Người có hành vi tấn công sử dụng xe máy để thực hiện hành vi cướpgiật tài sản hoặc dùng làm phương tiện để tẩu thoát Trong trường hợp này phải tácđộng vào tài sản là chiếc xe máy, có như vậy mới ngăn chặn được thiệt hại

+ Cũng không được coi là phòng vệ chính đáng trong trường hợp người cóhành vi xâm hại gây thiệt hại đến tài sản của mình, rồi mình cũng gây thiệt hại về tàisản cho chính người có hành vi xâm hại

VD: Nguyễn Văn Kiên ra thăm đồng thấy Bùi Văn Tuấn đang nhổ lúa trên

thửa ruộng nhà mình ( hai bên có tranh chấp về thửa ruộng này) Kiên liền chạy về nhà lấy dao chặt phá cây trong khu vườn gia đình Tuấn.

Những lợi ích cần bảo vệ trong phòng vệ chính đáng tuy luật không kể ra cụ thể,nhưng trong thực tế thường là của một quốc thể, sở hữu của Nhà nước, của các tổchức, tính mạng, sức khỏe, danh dự, tự do, nhân phẩm và sở hữu của công dân Đây

là những lợi ích chính đáng, vì vậy hành động để bảo vệ những lợi ích này cũngđược coi là chính đáng

Nếu hành vi phòng vệ không phải gây thiệt hại cho chính người có hành vixâm hại, mà gây thiệt hại cho người khác, thì tùy từng trường hợp cụ thể, người cóhành vi xâm hại phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã thực hiện

d Hành vi phòng vệ được xác định là cần thiết.

Bộ luật Hình sự năm 2015 đã không dùng thuật ngữ tương xứng, mà thay vào

đó là thuật ngữ cần thiết Sự thay đổi thuật ngữ này, không làm thay đổi mục đích

của chế định phòng vệ chính đáng, mà còn làm cho cuộc đấu tranh phòng chống tội

Trang 11

phạm có hiệu quả hơn.

Sự cần thiết phải chống trả lại hành vi xâm hại là điều kiện không thể thiếuđược của chế định phòng vệ chính đáng

- Khi có cơ sở của phòng vệ thì sẽ được phép phòng vệ kể cả trong trường hợp

có sự lựa chọn khác.(trừ trường hợp người tấn công là trẻ em, người tâm thần)

- Cần thiết không có nghĩa là bên xâm hại gây thiệt hại như thế nào thì bên phòng vệ cũng phải gây thiệt hại như thế Sự cần thiết không đòi hỏi hai bên phải

ngang bằng, mà có thể nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn, miễn là đừng quá đáng

+ Sự cần thiết được hiểu là không có sự chênh lệch quá đáng giữa tính chất,mức độ của hành vi phòng vệ với tính chất và mức độ của hành vi xâm hại

- Để xác định tính cần thiết cần dựa vào các căn cứ sau:

+ Trước hết phải căn cứ vào tính chất của các lợi ích bị xâm phạm, tính chất

của hành vi xâm phạm và các mối tương quan khác giữa hành vi xâm phạm vớihành vi phòng vệ

Lợi ích bị xâm phạm càng quan trọng bao nhiêu, thì hành vi chống trả càngcần thiết bấy nhiêu

Như: Hành vi của một người đang dùng dao chém người khác, hành vi này đã

và đang xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của con người Vì vậy phải có biện phápngăn chặn ngay và kịp thời Nhưng nếu hành vi trong trường hợp đánh chết đốitượng trộm cắp tài sản thì không được coi là cần thiết, vì lợi ích bị xâm phạm trongtrường hợp này là tài sản

Vì vậy khi xem xét hành vi chống trả có cần thiết hay không, phải đặt nótrong hoàn cảnh cụ thể, trong mối quan hệ giữa lợi ích được bảo vệ với hành vichống trả

+ Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi xâm hại:

Hành vi xâm hại càng nguy hiểm và nghiêm trọng bao nhiêu, thì hành vichống trả càng cần thiết bấy nhiêu

Ngày đăng: 05/04/2022, 02:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w