Tội phạm theo quy định tại Điều 8 BLHS là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong BLHS và phải chịu hình phạt. Tuy nhiên, theo quy định tại Phần các tội phạm của BLHS đều quy định TP với các dấu hiệu của tội phạm hoàn thành. Nhưng trên thực tế tội phạm không phải luôn thực hiện được đến cùng, mà do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội mà nó dừng lại ở những bước sớm hơn. Hành vi phạm tội dừng lại sớm nên chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của tội phạm hoàn thành và có tính nguy hiểm hạn chế hơn so với tội phạm hoàn thành. Vì vậy, để có cơ sở thống nhất trong việc xác định TNHS cho hành vi PT xảy ra trước khi TPHT, Kh LHS VN đã xây dựng chế định các giai đoạn thực hiện TP
Trang 1GIÁO ÁN Bài: CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM
I KHÁI NIỆM CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM
1 Khái niệm:
Tội phạm theo quy định tại Điều 8 BLHS là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi,
được quy định trong BLHS và phải chịu hình phạt Tuy nhiên, theo quy định tại Phần các tội phạm của BLHS đều quy định TP với các dấu hiệu của tội phạm hoàn thành Nhưng trên thực tế tội phạm không phải luôn thực hiện được đến cùng, mà do những nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của người phạm tội mà nó dừng lại ở những bước sớm hơn Hành vi phạm tội dừng lại sớm nên chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu của tội phạm hoàn thành và có tính nguy hiểm hạn chế hơn so với tội phạm hoàn thành Vì vậy, để có cơ sở thống nhất trong việc xác định TNHS cho hành vi PT xảy ra trước khi TPHT, Kh LHS VN
đã xây dựng chế định các giai đoạn thực hiện TP
Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các bước trong quá trình cố ý hiện tội phạm bao gồm: chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, tội phạm hoàn thành.
- TP là 1 dạng hành vi của con người nên nó cũng diễn ra theo 1 quá trình tâm
lý chung xuất phát từ động cơ, mục đích đến việc hình thành ý định phạm tội Ý định
đó có thể được thực hiện ra bên ngoài bằng lời nói, chữ viết hoặc bằng cách nào khác gọi là biểu lộ ý định phạm tội Sau đó người phạm tội chuẩn bị công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm gọi là chuẩn bị phạm tội, tiếp đó người phạm tội thực hiện tội phạm nhưng chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu trong CTTP gọi là TP chưa đạt và khi hành vi của người phạm tội đã thỏa mãn hết các dấu hiệu của CTTP thì gọi là TPHT Trên thực tế 1 TP có thể được thực hiện với đầy đủ các bước nêu trên hoặc có thể bỏ qua 1 số bước của quá trình thực hiện tội phạm nêu trên
Xuất phát từ khái niệm của TP theo quy định tại Điều 8 BLHS thì tiêu chí để xác định 1 bước nào đó là giai đoạn thực hiện tội phạm thì tội phạm phải được thể
Trang 2hiện dưới dạng là hành vi có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội
+ Hình thành ý định phạm tội:
Ý định phạm tội chỉ là những gì còn tồn tại trong tư tưởng của con người chứ chưa phải là hành vi LHSVN ko đặt ra TNHS với những gì còn là trong tư tưởng, trong suy nghĩ của con người Vì không phải là hành vi nên ý định phạm tội không
có tính nguy hiểm cho xã hội vì nó không thể gây ra hay đe dọa gây ra thiệt hại cho các QHXH được LHS bảo vệ Vì vậy LHSVN ko đặt ra TNHS đối với bước hình thành ý định phạm tội và do vậy nó không phải là 1 giai đoạn thực hiện TP
+ Biểu lộ ý định phạm tội:
Đây là 1 bước trong quá trình thực hiện TP nhưng nó chưa có tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, vì nó chưa phải là sự bắt đầu thực hiện ý định PT, cũng không phải bất kì người nào có ý định PT thì đều thực hiện ý định ấy Nên việc biểu lộ ý định PT đứng 1 cách độc lập chưa thực sự đe dọa gây ra nguy hiểm đáng kể cho XH Chính vì vậy, biểu lộ ý định PT về nguyên tắc không phải chịu TNHS nên nó không phải là 1 giai đoạn thực hiện TP
+ Chuẩn bị phạm tội:
Hành vi chuẩn bị phạm tội là hành vi tìm kiếm,sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm Ở giai đoạn này, hành vi phạm tội đã hướng tới việc xâm phạm các QHXH Do vậy các QHXH đó đã đặt vào tình trạng nguy hiểm Có nghĩa là, hành vi chuân bị phạm tội có tính chất nguy hiểm đáng kể cho xã hội dù ở mức độ hạn chế Chính vì vậy đòi hỏi có sự can thiệp của PL ngay từ giai đoạn này và xác định TNHS cho người PT
+ Phạm tội chưa đạt:
Giai đoạn này, người PT đã trực tiếp bắt tay vào việc thực hiện TP nhưng chưa thực hiện được đến cùng, tức là hành vi của người PT chưa đáp ứng được đầy đủ các dấu hiệu thuộc mặt KQ của TP Các QHXH ở giai đoạn này đã bị đặt vào tình trạng nguy hiểm, tức là bị đặt vào tình trạng bị hành vi PT gây thiệt hại hoặc đe dọa gây
Trang 3thiệt hại Như vậy, hành vi PTCĐ đã mang tính nguy hiểm đáng kể cho XH và người thực hiện hành vi này phải chịu TNHS
+ Tội phạm hoàn thành:
Ở giai đoạn TPHT hành vi phạm tội đã thỏa mãn đày đủ các dấu hiệu của 1 CTTP và đã thể hiện được đầy đủ của bản chất nguy hiểm cho xh của loại TP đó Vì vậy TNHS ở giai đoạn này được đặt ra 1 cách đầy đủ
2 Đặc điểm
- Qúa trình thực hiện TP trong LHS VN chỉ xác định có 3 bước cuối: Chuẩn bị
PT, PTCĐ, TPHT là có ý nghĩa pháp lý hình sự và TNHS mới được đặt ra ở các bước này Vì vậy các bước này mới được coi là các giai đoạn thực hiện TP
- Ở các giai đoạn thực hiện tội phạm, người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo cùng một tội danh, cùng một điều luật trong cùng phạm vi chế tài
mà điều luật đó quy định Tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn thực hiện tội phạm khác nhau thì mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng khác nhau vì tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội ở các giai đoạn đó cũng khác nhau
- TPHT chỉ đặt ra đối với tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp Vì khi
1 người có ý định PT và mong muốn thực hiện nó thì họ mới có những hoạt động nhằm tạo ĐK cho việc thực hiện ý định TP và hành vi của họ mới có CBPT và PTCĐ
- CBPT và PTCĐ không được đặt ra với những tội phạm được thực hiện với lỗi
cố ý gián tiếp hay vô ý Vì vậy, với những TP thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hay vô
ý thì chỉ có thể là trường hợp có tội hay không có tội, không có CBPT hay PTCĐ Vì xét bản chất của lỗi, nếu tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý gián tiếp hoặc lỗi vô ý thì người phạm tội không không có ý định PT, không mong muốn cho hậu quả xảy
ra, thậm chí là loại trừ hậu quả (ở lỗi vô ý vì quá tự tin) hoặc không nhận thức được hậu quả (ở lỗi vô ý vì cẩu thả) cho nên không thể có việc “chuẩn bị phạm tội” hay
“phạm tội chưa đạt” để buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về điều chưa xảy ra và
họ cũng không mong muốn nó xảy ra
3 Ý nghĩa của các giai đoạn thực hiện tội phạm
Trang 4- Việc xác định các giai đoạn trong thực hiện tội phạm là cơ sở để truy cứu TNHS hay không truy cứu TNHS đối với người thực hiện tội phạm ở các giai đoạn khác nhau Ví dụ, người CBPT những tội phạm quy định tại Điều 14 BLHS thì mới phải chịu TNHS về tội định thực hiện, còn người CBPT không được quy định tại Điều 14 thì không phải chịu TNHS
- Xác định các giai đoạn thực hiện tội phạm trong từng trường hợp cụ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, làm cơ sở để xác định mức độ TNHS đối với người phạm tội Ví dụ: CBPT thì có mức độ TNHS thấp hơn so với PTCĐ và PTCĐ có mức độ TNHS thấp hơn TPHT
- Xây dựng chế định các giai đoạn thực hiện tội phạm giúp cho các cơ quan điều tra phát hiện sớm những hành vi phạm tội, kịp thời ngăn chặn tội phạm và thiệt hại cho xã hội góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
II CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN TỘI PHẠM
1 Chuẩn bị phạm tội
a, Khái niệm
Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm, trừ trường hợp thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm quy định tại Điều
109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của Bộ luật này (K1.
Điều 14 BLHS)
b, Đặc điểm
- Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tiên trong quá trình thực hiện tội phạm
- Thời điểm sớm nhất của giai đoạn này là khi người phạm tội bắt đầu có hành
vi tạo ra những điều kiện vật chất hoặc tinh thần giúp cho việc thực hiện hành vi phạm tội có thể được xảy ra và xảy ra một cách dễ dàng hơn Đây là ranh giới để chúng ta phân định giữa CBPT với thời điểm chưa bị coi là tội phạm (thời điểm có ý định PT hoặc biểu lộ ý định PT)
- Thời điểm kết thúc (hay còn gọi là thời điểm muộn nhất) của giai đoạn này là
Trang 5thời điểm trước lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi nguy hiểm được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể Đây chính là ranh giới để chúng
ta có thể phân biệt giữa giai đoạn chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt
- CBPT được thể hiện ở các dạng hành vi như: tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện TP hoặc thành lập, tham gia nhóm TP
* Tìm kiếm công cụ, phương tiện phạm tội được hiểu là dùng bất cứ biện pháp nào (hợp pháp hay bất hợp pháp) để có được công cụ, phương tiện với ý định sẽ sử dụng nó vào việc thực hiện TP Đây là dạng hành vi chuẩn bị phạm tội phổ biến nhất trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội Dạng hành vi chuẩn bị phạm tội này thường có ở nhóm các tội xâm phạm sở hữu hoặc các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người
* Sửa soạn công cụ, phương tiện thực hiện TP được hiểu là tự chế tạo ra công
cụ, phương tiện hoàn toàn mới hoặc chỉ sửa chữa, thay đổi kích thước, hình dạng công cụ phương tiện đã có sẵn cho phù hợp với việc thực hiện TP
* Tạo ra các đk cần thiết khác đê thực hiện TP như: Thăm dò địa hình nơi dự định sẽ thực hiện phạm tội, thăm dò làm quen với người bị hại, tìm kiếm đồng bọn, lên phương án thực hiện TP, loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện hành vi phạm tội được dễ dàng
* Thành lập nhóm TP được hiểu là hành vi hướng đến việc hình thành, tồn tại và phát triển của nhóm TP như: vận động, cưỡng bức, lôi kéo người khác vào nhóm TP, xây dựng cơ cấu nhóm TP…
* Tham gia nhóm TP được hiểu là hành vi tự nguyện gia nhập nhóm TP
Hành vi thành lập nhóm TP hoặc tham gia nhóm TP để thực hiện 1 TP cụ thể thì mới được coi là hành vi CBPT, trừ trường hợp quy định tại Điều 109, điểm a khoản 2 Điều 113 hoặc điểm a khoản 2 Điều 299 của BLHS do có tính chất nguy hiểm đáng
kể cho XH nên LHS đã quy định thành tội danh độc lập
- CBPT tồn tại dưới dạng hành vi, hành vi thường được thể hiện dưới dạng hành
Trang 6động, nhưng cũng có trường hợp được thực hiện dưới dạng không hành động
d, Trách nhiệm hình sự đối với giai đoạn CBPT
Ở giai đoạn CBPT, người phạm tội chưa thực hiện hành vi khách quan của cấu thành tội phạm, chưa trực tiếp xâm hại đến khách thể của tội định thực hiện Nhưng với tính chất là hành vi tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực hiện tội phạm, hành vi chuẩn bị phạm tội đe dọa gây thiệt hại cho khách thể Khách thể có bị gây thiệt hại hay không, mức độ thiệt hại như thế nào, rõ ràng có sự phụ thuộc nhất định vào hành vi chuẩn bị phạm tội Hành vi chuẩn bị càng chu đáo, cẩn thận, chi tiết thì mức độ gây thiệt hại càng cao Vì vậy, trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội mặc dù chưa thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng người phạm tội vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Tuy nhiên, nếu chỉ có hành vi CBPT mà không tiến thêm 1 bước nữa để trực tiếp thực hiện TP thì nó chưa đặt các quan hệ XH vào tình trạng nguy hiểm Chính vì vậy, tính nguy hiểm cho XH của giai đoạn CBPT có phần hạn chế hơn so với PTCĐ
và TPHT Sự hạn chế này được thể hiện trong phạm vi trách nhiệm hình sự và mức
độ trách nhiệm hình sự đối với hành vi CBPT
Theo Điều 14 BLHS thì không phải mọi hành vi CBPT đều bị truy cứu TNHS
mà chỉ CBPT các tội phạm quy định tại Khoản 2 và khoản 3 Điều 14 mới phải chịu TNHS:
+ Khoản 2 Điều 14: Người CBPT quy định tại 1 trong các Điều 108 (tội phản bội Tổ quốc); Điều 110 (tội gián điệp); Điều 111 (tội xâm phạm an ninh lãnh thổ); Điều 112 (tội bạo loạn); Điều 113 (tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân); Điều 114 (tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 117 (tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam); Điều 118 (tội phá rối an ninh); Điều 119 (tội chống phá trại giam); Điều 120 (tội tổ chức, cưỡng ép, xúi giục người khác trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính
Trang 7quyền nhân dân); Điều 121 (tội trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân);Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác);Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều
169 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 299 (tội khủng bố); Điều 300 (tội tài trợ khủng bố); Điều 301 (tội bắt cóc con tin); Điều 302 (tội cướp biển); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 324 (tội rửa tiền)
+ Khoản 3 Điều 14: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi CBPT quy định tại Điều
123 (tội giết người); Điều 168 (tội cướp tài sản) của BL này thì phải chịu TNHS
- Mức độ TNHS đối với giai đoạn CBPT được quy định tại khoản 2 Điều 57 BLHS
như sau: “ Đối với trường hợp CBPT, hình phạt được quyết định trong phạm vi khung hình
phạt được quy định trong các điều luật cụ thể”
- Nếu hành vi chuẩn bị phạm tội đã cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội còn phải chịu trách nhiệm hình sự cả về tội độc lập đó
2 Phạm tội chưa đạt
a, Khái niệm
Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội (Điều 15 BLHS)
b, Các đặc điểm của phạm tội chưa đạt
- Người phạm tội đã trực tiếp thực hiện tội phạm, nghĩa là người phạm tội đã trực tiếp bước vào thực hiện hành vi khách quan được mô tả trong cấu thành tội phạm hoặc hành vi đi liền trước hành vi khách quan Đây là dấu hiệu để phân biệt giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt Ở giai đoạn này hành vi phạm tội đã thực sự xâm hại các QHXH được LHS bảo vệ
Người phạm tội được coi là đã bắt đầu thực hiện tội phạm khi:
+ Người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể
Trang 8Ví dụ: Đối tượng giết người đã bắt đầu thực hiện hành vi tước đoạt trái pháp
luật tính mạng của người khác như đã đâm, đã chém, đã bắn
+ Người phạm tội đã thực hiện hành vi “đi liền trước” hành vi khách quan được
mô tả trong cấu thành tội phạm Hành vi “đi liền trước” hành vi khách quan là những
hành vi (xét về khách quan và chủ quan) thể hiện sự bắt đầu của hành vi khách quan
và kế tiếp ngay sau nó hành vi khách quan sẽ xảy ra Những hành vi “đi liền trước”
tuy thể hiện sự chuẩn bị nhưng nó lại rất gần với hành vi khách quan, không thể tách
ra được nên được coi là hành vi thực hiện tội phạm
Ví dụ: Người phạm tội đang vung dao lên để chém, đang rút súng ra để bắn
- Người phạm tội không thực hiện tội phạm được đến cùng (về mặt pháp lý) Nghĩa là hành vi của họ chưa thoả mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể Tuy nhiên, ở giai đoạn CBPT mặc dù TP chưa thực hiện được đến cùng là chưa hoàn thành về mặt pháp lý chứ không phải là so với mục đích hay kế hoạch được dự định trước của người PT
Để xác định 1 hành vi phạm tội đã thỏa mãn hay chưa thỏa mãn hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của CTTP thì chúng ta phải dựa vào cấu trúc của CTTP của loại tội phạm mà hành vi đó xâm hại Do đó TPCĐ được xác định như sau:
+ Đối với TP có cấu hình hình thức, có 2 trường hợp có thể xảy ra:
* Những TP có cấu thành hình thức mà MKQ chỉ bao gồm 1 hành vi khách quan thì không có giai đoạn PTCĐ, vì chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi khách quan hay hành vi đi liền trước hành vi khách quan thì TPHT
* Những TP có cấu thành hình thức mà hành vi khách quan bao gồm nhiều hành
vi Nếu người phạm tội chưa thực hiện hết tất cả các hành vi mà bị dừng lại do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn thì trường hợp này được coi là chưa thực hiện hết các hành vi khách quan được mô tả trong CTTP
Ví dụ: Ở tội hiếp dâm (Điều 141 BLHS), là TP có cấu thành hình thức và có hành
vi khách quan là: hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi
Trang 9quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân
Nếu người phạm tội mới chỉ dùng vũ lực vật ngã được nạn nhân nhưng chưa thực kịp hiện được hành vi giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái ý muốn của nạn nhân đã bị bắt giữ thì trường hợp này được doi là phạm tội hiếp dâm ở giai đoạn chưa đạt.
+ Đối với tội phạm có cấu thành vật chất, hành vi phạm tội được coi là thực hiện
hết các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm khi chưa có hậu quả xảy ra (hậu quả pháp lý) Tức là người phạm tội đã thực hiện hành vi khách quan hoặc hành vi đi liền trước hành vi khách quan nhưng chưa có hậu quả xảy ra
Ví dụ: Người phạm tội đã bỏ thuốc độc vào cốc nước của nạn nhân nhưng nạn
nhân không uống nên không chết hoặc Người phạm tội đã đâm được nạn nhân nhưng nạn nhân không chết mà chỉ bị thương).
- Người phạm tội không thực hiện tội phạm đến cùng là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, còn bản thân người phạm tội vẫn mong muốn thực hiện tội phạm đến cùng Đây là đặc điểm để phân biệt TPCĐ với tự ý nửa chừng chấm dứt việc PT Những trường hợp không thực hiện tội phạm đến cùng có thể do:
+ Nguyên nhân khách quan cản trở người phạm tội như: Nạn nhân đã chống lại được hoặc đã tránh được; người khác đã ngăn chặn được
+ Do sai lầm của người phạm tội: về đối tượng tác động hay công cụ, phương tiện phạm tội Ví dụ: bắn nhưng đạn không nổ, thuốc độc dùng đầu độc không đủ liều lượng
c, Phân loại các trường hợp phạm tội chưa đạt
- Căn cứ vào sự đánh giá của người phạm tội đối với mức độ hành vi mà họ đã thực hiện, phạm tội chưa đạt được chia thành hai trường hợp sau đây:
+ Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành: là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội vì những nguyên nhân khách quan mà chưa thực hiện hết được các hành
vi mà họ cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm và hậu quả của tội phạm chưa
Trang 10xảy ra Do vậy, phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp chưa hoàn thành về hành vi và chưa đạt về hậu quả
+ Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành: là trường hợp phạm tội chưa đạt, trong đó người phạm tội đã thực hiện được hết các hành vi cho là cần thiết để gây ra hậu quả của tội phạm nhưng do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn, hậu quả vẫn không xảy ra Do vậy, phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là đã hoàn thành về hành vi, chưa đạt về hậu quả
Việc phân chia PTCĐ CHT với PTCĐ ĐHT có ý nghĩa quan trọng Thông thường PTCĐ ĐHT nguy hiểm cao hơn so với PTCĐ CHT nên TNHS cũng thường cao hơn so với PTCĐ CHT Ngoài ra việc phân chia này còn có ý nghĩa cho việc xác định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội
- Căn cứ vào đặc điểm của nguyên nhân khách quan dẫn đến việc chưa đạt, LHS phân chia phạm tội chưa đạt thành phạm tội chưa đạt vô hiệu và phạm tội chưa đạt khác:
+ Phạm tội chưa đạt vô hiệu: Là trường hợp phạm tội chưa đạt mà nguyên nhân khách quan của việc chưa đạt gắn với công cụ, phương tiện và với đối tượng tác động của tội phạm
Phạm tội chưa đạt vô hiệu có thể xảy ra ở hai dạng sau:
* Phạm tội chưa đạt do không có đối tượng tác động hoặc đối tượng tác động không
có tính chất mà người phạm tội tưởng là có
Ví dụ: Mở trộm két của cơ quan để lấy tiền nhưng trong két không có tiền; Đưa
hối lộ cho người tưởng là có chức vụ, quyền hạn nhưng thực tế người đó không có chức vụ, quyền hạn; đâm nạn nhân để giết nhưng nạn nhân đã chết trước khi người phạm tội đâm )
* Phạm tội chưa đạt do người phạm tội đã sử dụng nhầm phương tiện mà người đó muốn sử dụng Đây là trường hợp người phạm tội muốn sử dụng công cụ, phương tiện
có khả năng gây ra hậu quả, nhưng thực tế công cụ, phương tiện mà người phạm tội
đã sử dụng không có khả năng đó Ví dụ: Sử dụng thuốc trừ sâu để đầu độc người