1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh

139 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề (Luận Văn Thạc Sĩ) Vận Dụng Chính Sách Kế Toán Ở Các Công Ty Xây Dựng Niêm Yết Trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Thành phố TP HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 6,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, người quản lý doanh nghiệp có thể vận dụng các chính sách kế toán nhằm đạt được mục tiêu quản trị về lợi nhuận, về thuế thu nhập doanh nghiệp…Từ đó, với mỗi phương pháp kế toá

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Câu hỏi nghiên cứu 2

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

7 Tổng quan tài liệu sử dụng trong đề tài 4

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 10

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN (CSKT) 10

1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KÊ TOÁN 11

1.3 VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 12

1.3.1 Các khía cạnh của việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp 12

1.3.2 Vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp 16

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp 38

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 42

CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 43

2.1 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU 43

2.2 CHỌN MẪU VÀ THU THẬP DỮ LIỆU 45

2.2.1 Đặc điểm các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh 45

2.2.2 Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 47

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 54

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55

3.1 ĐẶC ĐIỂM CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH TP HỒ CHÍ MINH 55

3.2 ĐÁNH GIÁ VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN Ở CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH 56

3.2.1 Đánh giá việc vận dụng chính sách kế toán về hàng tồn kho 56

3.2.2 Đánh giá việc vận dụng chính sách kế toán về TSCĐ 61

3.2.3 Đánh giá việc vận dụng chính sách kế toán về doanh thu 65

3.2.4 Đánh giá việc vận dụng chính sách kế toán về chi phí 68

3.3 XÁC ĐỊNH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN Ở CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN TP.HỒ CHÍ MINH 71

3.3.1 Đặc điểm các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CSKT ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch TP Hồ Chí Minh 71

3.3.2 Kết quả phân tích hồi quy về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CSKT ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh 72

3.4 CÁC KẾT LUẬN 81

3.4.1 Ưu điểm 82

3.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 82

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3……….84

CHƯƠNG 4 GỢI Ý CHÍNH SÁCH 85

Trang 6

CHỨNG KHOÁN TP HỒ CHÍ MINH 85

4.2 GỢI Ý CHÍNH SÁCH 87

4.2.1 Đối với doanh nghiệp 87

4.2.2 Đối với Nhà nước và cơ quan quản lý chức năng 94

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 97

KẾT LUẬN CHUNG 98 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

BCTC : Báo cáo tài chính

CSKT : Chính sách kế toán

FIFO : First – in, first – out

HTK : Hàng tồn kho

IAS : International Accounting Standard

IFRS : International Financial Reporting Standards LIFO : Last – in, first - out

NVL : Nguyên vật liệu

ROA : Return on total Assets

ROE : Return on Equity

SPDD : Sản phẩm dở dang

TSCĐ : Tài sản cố định

VAS : Viet Nam Accounting Standard

Trang 8

3.10 Bảng phân tích hiện tượng tự tương quan bằng phương pháp

3.11 Kết quả phân tích thực nghiệm sự ảnh hưởng của các nhân tố

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, để có thể tồn tại

và phát triển các doanh nghiệp phải có phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả kinh tế nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển và hội nhập với nền kinh tế thế giới, có nhiều cơ hội nhưng cũng có không ít những khó khăn thách thức vì vậy các doanh nghiệp luôn luôn phải có các biện pháp để đối phó kịp thời với mọi tình huống

Báo cáo tài chính là sản phẩm cuối cùng của kế toán, phản ánh trung thực nhất về tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp Với mỗi loại giao dịch, nghiệp vụ phát sinh thì chuẩn mực, chế độ kế toán có thể đưa ra hơn một lựa chọn nhằm mục đích là cho phép các doanh nghiệp cân nhắc chọn lựa một chính sách kế toán phù hợp nhất để phản ánh thông tin trung thực, hợp lý Tuy nhiên, người quản lý doanh nghiệp có thể vận dụng các chính sách kế toán nhằm đạt được mục tiêu quản trị về lợi nhuận, về thuế thu nhập doanh nghiệp…Từ đó, với mỗi phương pháp kế toán được lựa chọn thì thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính sẽ khác nhau Vấn đề đặt ra là các chính sách kế toán được vận dụng như thế nào và nhằm mục đích gì?

Chính vì vậy, nghiên cứu sự vận dụng chính sách kế toán tại doanh nghiệp sẽ giúp các đối tượng sử dụng thông tin kế toán có những đánh giá khách quan hơn về hành vi và mục đích của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến thông tin kế toán cung cấp; từ đó đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn Đồng thời giúp cho cơ quan quản lý Nhà nước có cái nhìn rõ nét hơn về tính hữu hiệu của các chuẩn mực và hành vi cơ hội của doanh nghiệp

Trang 10

Nhận thức được vai trò và vị trí của chính sách kế toán ở các doanh nghiệp nói chung, đồng thời nhận thấy chưa có nhiều nghiên cứu trong việc đánh giá các khía cạnh của việc vận dụng chính sách kế toán tại các doanh nghiệp ở phạm vi rộng, cụ thể ở đây là các công ty có niêm yết trên Sở giao

dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Đó là lý do tôi chọn đề tài: “ Vận dụng

chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ” làm đề tài luận văn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Trình bày kết quả thực trạng và đánh giá hành vi vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, từ đó nhận diện tính thích hợp của các chính sách kế toán được vận dụng ở các công ty Bên cạnh đó, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán ở các công ty trên

Đề xuất các giải pháp nhằm vận dụng chính sách kế toán hiệu quả hơn ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh

3 Câu hỏi nghiên cứu

Các chính sách kế toán được vận dụng ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh như thế nào? Dựa trên khía cạnh hiệu quả, cơ hội hay thói quen?

Những nhân tố nào ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh?

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chính sách kế toán, các khía cạnh của việc vận dụng chính sách kế toán và các nhân tố có liên quan đến việc vận

Trang 11

dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Dữ liệu nghiên cứu trong đề tài được thu thập từ các BCTC đã kiểm toán năm 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài sử dụng phương pháp khảo cứu dữ liệu từ thông tin cung cấp trong Báo cáo tài chính, kết hợp phân tích đánh giá dựa vào cách tiếp cận chuẩn tắc thông qua đối chiếu thực tế với quy định và cách tiếp cận chứng thực thông qua giải thích hành vi vận dụng chính sách kế toán của các công ty nghiên cứu Phương pháp khảo cứu tài liệu

kế toán được thực hiện thông qua các Báo cáo công bố chính sách kế toán trên thuyết minh Báo cáo tài chính của các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh Đồng thời kết hợp phỏng vấn qua email với các kế toán viên và xem xét cụ thể các Báo cáo tài chính đã kiểm toán ở các công ty nói trên để minh họa các chính sách kế toán đang vận dụng Ngoài ra, thu thập và phân tích dữ liệu thông qua phần mềm SPSS với mô hình hồi quy tuyến tính nhằm xác định xem các nhân tố nào ảnh hưởng đến

việc vận dụng các chính sách kế toán ở các công ty nghiên cứu

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Về mặt khoa học: Đề tài có những ý nghĩa nhất định trong việc đóng góp tài liệu tham khảo học tập cho các sinh viên khối ngành kinh tế nói chung và khoa kế toán nói riêng Giúp cho mọi người có cái nhìn rõ nét, sâu sắc hơn về việc vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh như thế nào; dựa trên khía cạnh cơ

Trang 12

hội, hiệu quả hay thói quen của các doanh nghiệp khi vận dụng chính sách kế toán

Về mặt thực tiễn: Những giải pháp, đề xuất kiến nghị đối với quản trị doanh nghiệp được nêu ra trong đề tài sẽ góp phần hoàn thiện công tác kế toán, chính sách quản trị ở các doanh nghiệp Đồng thời, giúp cho Nhà nước

có cái nhìn rõ nét hơn về tính hữu hiệu của các chuẩn mực, chế độ kế toán đã ban hành và hành vi cơ hội của doanh nghiệp khi vận dụng các chính sách kế toán Từ đó đảm bảo việc quản lý, theo dõi và kiểm tra công tác thực hiện chính sách kế toán ở các doanh nghiệp được kịp thời và đúng đắn Bên cạnh

đó, đóng góp các kiến nghị, gợi ý chính sách cho các nhà soạn thảo chế độ, chính sách kế toán nhằm hoàn thiện các văn bản, chuẩn mực, chế độ kế toán theo hướng hợp lý, thuận tiện cho cả doanh nghiệp và các cơ quan quản lý chức năng

7 Tổng quan tài liệu sử dụng trong đề tài

Trong xu thế nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, để đáp ứng nhu cầu cung cấp thông tin trung thực, hợp lý cho người sử dụng; kế toán tại các doanh nghiệp cần thực hiện đúng quy định của các chuẩn mực, chế độ kế toán được Bộ Tài Chính ban hành Liên quan đến vấn đề vận dụng chính sách kế toán đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước được thực hiện

7.1 Tài liệu nghiên cứu trong nước

Tác giả Ngô Lê Phương Thúy (2012) với đề tài “Nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại công ty cổ phần Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng” đã nghiên cứu việc vận dụng các chính sách kế toán tại công ty cổ phần Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng với hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tư vấn thiết kế Trong luận văn này đã đánh giá được rõ rệt thực trạng vận dụng chính sách kế toán tại công ty; đồng thời đưa ra một số giải pháp kiến

Trang 13

nghị nhằm hoàn thiện chính sách kế toán về khấu hao và sửa chữa tài sản cố định; hoàn thiện các chính sách kế toán liên quan đến nợ phải thu về trích lập

dự phòng; đề xuất giải pháp xóa sổ các khoản nợ thu khó đòi; hoàn thiện chính sách ghi nhận chi phí, ghi nhận doanh thu; bổ sung và hoàn thiện việc công bố thông tin trên Thuyết minh Báo cáo tài chính Mặt khác, luận văn đã chỉ ra rằng để quản trị lợi nhuận, công ty sử dụng một số chính sách kế toán như thay đổi thời gian phân bổ chi phí trả trước, hoàn nhập dự phòng nợ phải thu khó đòi Ở đây tác giả đã chỉ ra một số hạn chế tồn đọng ở công ty như kế toán viên chỉ sử dụng các chính sách kế toán đơn giản theo quy định bắt buộc của Cơ quan Thuế, chưa chú trọng hay tìm hiểu xem các chính sách kế toán

đó đã hợp lý và đem lại hiệu quả tối ưu nhất cho công ty chưa, có đáp ứng được các nhu cầu quản trị nội bộ công ty hay không Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách kế toán tại công ty; giúp cho công ty lựa chọn được các chính sách kế toán phù hợp với quy mô, đặc điểm hoạt động và trình độ của kế toán viên; mặt khác giúp cho việc cung cấp thông tin một cách hữu ích hơn cho người sử dụng Tuy nhiên, luận văn chỉ mới đề cập đến những chính sách kế toán áp dụng riêng tại công ty cổ phần Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng, chưa đi sâu vào các chính sách kế toán áp dụng cho đặc thù ngành [6]

Tác giả Phan Lê Hiển Li (2015) với đề tài “ Nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại nhà máy bia Dung Quất “ đã hệ thống hóa được lý luận chung về chính sách kế toán trong doanh nghiệp, cụ thể về khái niệm, đặc trưng, vai trò của các chính sách kế toán…đặt tiền đề lý luận để đánh giá thực trạng việc vận dụng chính sách kế toán tại nhà máy, từ đó chỉ ra những hạn chế tồn đọng và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại nhà máy Nhìn chung luận văn đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của mục tiêu nghiên cứu đề ra; tuy nhiên các giải pháp được rút ra từ nghiên cứu

Trang 14

lý luận trong điều kiện sự phát triển không ngừng của lý luận và thực tế luôn

có sự thay đổi Hơn nữa, trong luận văn chỉ mới đề cập đến những chính sách

kế toán áp dụng tại Nhà máy bia Dung Quất, do đó các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chỉ xuất phát từ đặc thù kinh doanh của đơn vị, chưa có giải pháp mang tính tổng quát, toàn diện cho đặc thù ngành sản xuất [7]

Đề tài “ Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng “ của Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015) đã thực hiện nghiên cứu định tính thông qua thảo luận nhóm kết hợp nghiên cứu định lượng mô hình dữ liệu sơ cấp thông qua bảng câu hỏi điều tra với các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố

Đà Nẵng có hệ thống kế toán tương đối hoàn chỉnh Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng theo quan điểm của các đối tượng được khảo sát thì có 4 nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp xây lắp

ở Đà Nẵng bao gồm: Chi phí Thuế, Mức vay nợ, Tình trạng niêm yết và Trình

độ kế toán viên Điều này có sự thống nhất khá cao trong quan điểm của kế toán viên và kiểm toán viên trong việc lựa chọn chính sách kế toán tại đơn vị

Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lựa chọn chính sách kế toán tại các doanh nghiệp; hơn nữa kiến nghị một số biện pháp đối với Nhà nước, Cơ quan Thuế nhằm tập trung nguồn lực kiểm tra vào những công ty có động cơ khai giảm thu nhập chịu thuế để giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; tăng cường các quy định về chế tài xử phạt đối với các công

ty có niêm yết trên sở giao dịch trong trường hợp công ty công bố thông tin sai lệch quá nhiều [3]

Với những cơ sở lý luận trên, ta nhận thấy các nghiên cứu ở trên chỉ mới

đi vào nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng chính sách kế toán nói chung trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ; chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào quy mô ngành, cụ thể như nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế

Trang 15

toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh Do vậy, đây cũng là một khoảng trống nghiên cứu để tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu cho mình

7.2 Tài liệu nghiên cứu nước ngoài

Một công trình nghiên cứu của J Rossouw (2010) với tựa đề “ Kết quả thực nghiệm về chính sách kế toán được lựa chọn bởi các công ty ở Nam Phi

” đã chỉ ra 16 chính sách kế toán được trình bày dưới dạng mô tả thống kê; liệt kê những chính sách kế toán được lựa chọn thực tế trong mẫu nghiên cứu gồm 157 công ty ở Nam Phi và xem xét xem liệu các chính sách kế toán được lựa chọn ở các công ty đó có tuân thủ theo quy định của chuẩn mực kế toán quốc tế về việc trình bày Báo cáo tài chính (IRFS) hay không Công trình nghiên cứu cũng tập trung nhấn mạnh việc trình bày các kết quả thực nghiệm

về phương pháp kế toán nào được lựa chọn phổ biến nhất trong mỗi chính sách kế toán, lý do mà các công ty trong mẫu nghiên cứu lựa chọn phương pháp đó, nó phục vụ mục tiêu quản trị của doanh nghiệp như thế nào Việc công bố các chính sách kế toán một cách công khai rất cần thiết cho các đối tượng sử dụng Báo cáo tài chính để so sánh thông tin tài chính từ các doanh nghiệp khác nhau, từ đó đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn Nghiên cứu này cũng cho chúng ta thấy được có một sự thiếu hụt trong việc công bố các chính sách kế toán trên Báo cáo tài chính cho một số trường hợp đặc biệt [11]

Nghiên cứu của tác giả Nelson M Waweru (2011) với chủ đề “ Các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn phương pháp kế toán khác nhau ở Tanzania ”

đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau ở các công ty ở Tanzania thuộc Châu Phi Nghiên cứu thu thập dữ liệu từ Báo cáo tài chính của 15 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Dar es Salaam, Tanzania Nghiên cứu kết hợp các phương pháp

Trang 16

mô tả thống kê, mô hình hồi quy tương quan với biến độc lập là chiến lược lợi nhuận và các biến phụ thuộc gồm: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính nội bộ, áp lực từ công đoàn lao động, tỷ lệ phần trăm các giám đốc không trực tiếp điều hành và sự phân chia quyền sở hữu cổ phần Kết quả bài báo đã chỉ ra các nhân tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc lựa chọn các phương pháp kế toán khác nhau ở Tanzania bao gồm: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, tình hình tài chính nội bộ, áp lực từ công đoàn lao động và

tỷ lệ phần trăm các cổ đông, giám đốc không trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh Trong các nhân tố đó, tác giả bài báo nhận định rằng quy mô doanh nghiệp và tình hình tài chính nội bộ là những nhân tố có ảnh hưởng tích cực nhất đến chiến lược lợi nhuận của doanh nghiệp Bài báo cũng

sử dụng các giả thuyết trong phân tích hồi quy tương quan để chứng minh rằng có một mối quan hệ mật thiết, hài hòa giữa các chính sách kế toán được lựa chọn với chiến lược lợi nhuận của các công ty ở Tanzania [13]

Công trình nghiên cứu được mang tên “ Lựa chọn chính sách kế toán hàng tồn kho ở các công ty Canada” của tác giả Jeffrey J Archambault và Marie E Archambault (1994) đã chỉ ra rằng những nhân tố thật sự ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách kế toán hàng tồn kho ở các công ty Canada bao gồm 2 nhân tố chính là Chi phí Thuế (Tax Savings) và Chi phí kế toán của doanh nghiệp (Agency); đồng thời đề cập một số điểm giống và khác nhau giữa chính sách kế toán ở các công ty Canada so với các chính sách kế toán ở các công ty Hoa Kì Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát điều tra 80 công ty sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO) và 45 công ty sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho theo phương pháp giá trị trung bình tháng (Average cost) ở Canada Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng sử dụng phương pháp tính giá hàng xuất kho theo phương pháp giá trị

Trang 17

trung bình tháng sẽ có các yếu tố về mức lạm phát biến đổi thấp hơn; tỉ lệ số vòng quay hàng tồn kho thấp hơn; sự biến đổi giá trị trong thu nhập và hàng tồn kho cao hơn; tác dụng của đòn bẩy cao hơn và các nguyên tắc trong phân chia cổ tức cho các cổ đông chặt chẽ hơn so với các công ty sử dụng phương pháp tính giá hàng tồn kho theo phương pháp nhập trước xuất trước Nghiên cứu này có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc cân nhắc, lựa chọn các chính sách kế toán hàng tồn kho đặc thù tại các công ty Canada, vốn có nhiều điểm khác biệt so với các công ty Hoa Kì trong cùng khu vực Bắc Mỹ Tuy nhiên, nghiên cứu chưa mang tính tổng quát, chưa đi sâu vào việc lựa chọn các chính sách kế toán hàng tồn kho ở các doanh nghiệp nói chung trong khu vực, mà cụ thể chỉ nêu lên việc lựa chọn chính sách kế toán hàng tồn kho cụ thể ở Canada [12]

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu trên, phần nào tác giả đã kế thừa cơ

sở lý luận về chính sách kế toán và có một cái nhìn toàn diện hơn về việc vận dụng chính sách kế toán ở các doanh nghiệp; từ đó làm nền tảng lý thuyết cho công trình nghiên cứu của mình, đó là đánh giá việc vận dụng các chính sách

kế toán cơ bản ở các công ty xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh

Trang 18

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH

KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN (CSKT)

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 29 [1] thì thuật ngữ "Chính sách

kế toán được định nghĩa là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được công ty áp dụng trong việc lập và trình bày Báo cáo tài chính" CSKT của doanh nghiệp được phân thành nhiều loại như CSKT về doanh thu,

về tài sản cố định (TSCĐ), về hàng tồn kho (HTK), về các khoản phải thu, về các khoản phải trả, về chi phí đi vay, về lợi thế thương mại, về giao dịch bằng ngoại tệ Khi doanh nghiệp (DN) tương ứng sử dụng chế độ kế toán nào thì

DN đó sẽ có CSKT quy định chi tiết việc ứng dụng chế độ kế toán như thế nào như việc lựa chọn hình thức kế toán áp dụng (Nhật ký chung, Chứng từ ghi số, Nhật ký -chứng từ ); lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho, phương pháp khấu hao tài sản cố định phù hợp với chế độ áp dụng Lựa chọn CSKT là việc chọn lựa có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp kế toán mà DN có thể áp dụng trong những trường hợp khác nhau nhằm phục vụ cho mục đích chủ quan của nhà quản trị CSKT áp dụng ở mỗi DN được chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán cho phép lựa chọn phù hợp với đặc điểm kinh doanh của DN đó Tuy nhiên, việc áp dụng các CSKT khác nhau sẽ mang lại các thông tin, số liệu khác nhau được trình bày trên Báo cáo tài chính (BCTC) Do đó, bên cạnh việc lựa chọn CSKT tuân thủ theo chuẩn mực, chế độ kế toán; DN còn phải lựa chọn CSKT có thể giúp họ quản trị lợi nhuận, mang lại những thông tin có lợi nhất cho mình, đặc biệt là ở các DN

cổ phần có niêm yết, khi mà thông tin BCTC của họ được công bố công khai

Trang 19

1.2 VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN

Trong nền kinh tế thị trường ngày càng đổi mới và xu thế cạnh tranh lành mạnh giữa các DN ngày càng gia tăng, giá cả đóng một vai trò quan trọng cốt lõi, quyết định “số phận” của sản phẩm, hàng hóa dịch vụ và lợi nhuận của DN Mỗi DN sẽ có nhiều chiến lược kinh doanh và các nguồn thông tin tài chính khác nhau nhằm thu hút vốn đầu tư bên ngoài, mà các thông tin tài chính này do kế toán cung cấp Chính vì vậy, thông tin kế toán ngày càng phát huy tính hữu hiệu trong việc ra quyết định của các đối tượng

có liên quan và BCTC là công cụ thể hiện rõ nhất thông tin này Việc áp dụng các CSKT khác nhau sẽ mang lại những thông tin khác nhau trình bày trên BCTC; do đó DN phải xem xét và cân nhắc kỹ lưỡng khi tiến hành lựa chọn một CSKT Mặt khác, CSKT đóng vai trò vô cùng quan trọng và thiết thực đối với công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh trong DN CSKT đúng đắn, hợp lý là cơ sở để kế toán viên thực hiện các công việc đo lường và công bố thông tin kế toán phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đơn vị và theo quy định của pháp luật Chẳng hạn như các CSKT về HTK, về TSCĐ hợp lý sẽ giúp cho công tác kế toán nắm bắt rõ ràng giá trị thực tế của HTK, TSCĐ; đảm bảo yêu cầu cung cấp chính xác số liệu HTK, TSCĐ mọi lúc mọi nơi phục vụ nhu cầu quản trị nội bộ DN và công tác thanh tra, kiểm tra kế toán của các cơ quan quản lý chức năng Bên cạnh đó, giúp cho ban lãnh đạo doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh giá cả phù hợp với nhu cầu giá thị trường và cạnh tranh về giá với các DN hoạt động trong ngành; có chính sách trích lập dự phòng giảm giá HTK đúng đắn, chính sách sửa chữa TSCĐ thích hợp; tránh những tổn thất cho DN do việc trích lập dự phòng giảm giá HTK hay chi phí sửa chữa TSCĐ quá ít hoặc quá nhiều; từ đó

có kế hoạch sản xuất, mua sắm hay dự trữ lượng HTK, TSCĐ thích hợp; đảm bảo cho hoạt động kinh doanh xảy ra liên tục, thường xuyên và ổn định Từ

Trang 20

đó mang lại lợi nhuận tốt, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao cho

DN Ngoài ra, CSKT là phương tiện để kiểm soát hoạt động của DN bằng những mong muốn điều chỉnh lợi nhuận Từ đó các nhà quản trị có thể định hướng hoạt động, đưa ra các phương thức nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, có chính sách tài trợ phù hợp, lập kế hoạch rõ ràng cho các hoạt động của DN CSKT là một trong những yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển

để từ đó DN tiến tới tối đa hóa lợi nhuận và khẳng định vị thế thương hiệu của mình trên thị trường Đối với cơ quan Thuế thì thông qua CSKT đã công

bố của DN; là cơ sở để kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý trong các quy định kế toán; đối chiếu với các quy định của Thuế để có những điều chỉnh, kiểm tra việc chấp hành các chế độ kế toán và xác định đúng đắn các khoản nghĩa vụ của DN phải thực hiện đối với Nhà nước

1.3 VẬN DỤNG CHÍNH SÁCH KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1.3.1 Các khía cạnh của việc vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp

Thứ nhất, việc vận dụng CSKT trong DN phải thể hiện tính hiệu quả

[10]; tức là phải phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của DN

và phản ánh được thực trạng kinh doanh, sản xuất của DN, từ đó phản ánh thực tế hiệu quả hoạt động kinh doanh Chẳng hạn như đối với các phương pháp tính giá hàng xuất kho, phương pháp giá thực tế đích danh cho kết quả chính xác nhất so với các phương pháp khác, đảm bảo giá trị HTK được đánh giá đúng theo giá trị thực tế của nó Tuy nhiên phương pháp này làm cho giá trị HTK không sát với giá cả biến động trên thị trường nên nó chỉ phù hợp với các DN kinh doanh ít mặt hàng, ít chủng loại vật tư, hàng hóa, có thể phân biệt, chia tách thành nhiều thứ riêng rẽ, có mặt hàng ổn định và nhận diện được, đơn giá HTK có giá trị cao Phương pháp bình quân gia quyền thì khá đơn giản, dễ làm, thuận tiện cho kế toán Tuy nhiên phương pháp này cho độ

Trang 21

chính xác không cao và khối lượng công việc dồn vào cuối kỳ Do đó, phương pháp này được áp dụng cho đa số các DN có quy mô nhỏ; ít chủng loại vật tư, hàng hóa; thời gian sử dụng ngắn và số lần nhập xuất mỗi danh điểm hàng hóa tương đối nhiều Còn phương pháp FIFO thì giúp chúng ta có thể tính được ngay trị giá vốn hàng xuất kho sau từng lần xuất hàng; đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cung cấp số liệu cho nhà quản lý DN Trị giá vốn HTK sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó Vì vậy chỉ tiêu HTK trên BCTC có ý nghĩa thực tế hơn Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là giá xuất kho được xác định theo đơn giá của lô vật tư, hàng hóa nhập sớm nhất nên không phản ánh

sự biến động của giá trị hàng hóa một cách kịp thời Phương pháp này làm cho doanh thu kỳ hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí trong kỳ hiện tại; do doanh thu kỳ hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu Đồng thời, nếu số lượng chủng loại hàng hóa nhiều, phát sinh nhập xuất liên tục dẫn đến những chi phí cho việc hạch toán cũng như khối lượng công việc sẽ tăng lên rất nhiều Vì vậy, phương pháp này chỉ ap dụng cho những DN có chủng loại vật tư, hàng hóa

có liên quan đến thời hạn sử dụng Phương pháp này thích hợp trong các trường hợp giá cả ổn định hoặc giá có xu hướng giảm (xu hướng giảm phát)

để xuất đi lượng vật tư, hàng hóa có giá trị lớn hơn và hàng tồn kho trong kì

có giá trị nhỏ nhất

Thứ hai, dựa trên khía cạnh cơ hội thì việc lựa chọn CSKT phải đáp ứng

được mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp trong chính sách quản trị của DN Lợi nhuận là đòn bẩy kinh tế có hiệu quả nhất, là chỉ tiêu phản ánh trình độ quản lý sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn, trình độ

tổ chức sản xuất sản phẩm Lợi nhuận tác động đến tất cả các mặt hoạt động của DN, quyết định sự tồn tại hay phá sản của DN Việc thực hiện được chỉ

Trang 22

tiêu lợi nhuận là điều kiện quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của DN được vững chắc, ổn định Do đó các CSKT phải đảm bảo đạt được mục tiêu lợi nhuận trong DN Bên cạnh đó, mục tiêu về thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng rất nhiều đến việc lựa chọn CSKT trong DN Nếu mức thuế suất của thuế thu nhập doanh nghiệp thay đổi thì các DN có xu hướng vận dụng các CSKT sao cho mức thuế suất phải nộp là ít nhất, hoặc nếu mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp không thay đổi thì các DN cũng sẽ lựa chọn các CSKT sao cho số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp hiện tại ít hơn so với tương lai để sử dụng khoản thuế chậm nộp đầu tư vào các nhu cầu khác của

DN Tùy thuộc vào mục tiêu điều chỉnh tăng hay giảm lợi nhuận, tăng hay giảm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp mà kế toán sẽ lựa chọn các CSKT thích hợp để điều chỉnh lợi nhuận, điều chỉnh mức thuế phải nộp cho Nhà nước theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp Chẳng hạn như khi kế toán lựa chọn các CSKT về HTK, chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho là nhập trước xuất trước (FIFO) thì lượng HTK trình bày trên Bảng cân đối kế toán sẽ có giá trị cao nhất so với áp dụng các phương pháp khác (bình quân gia quyền ) do số lượng hàng tồn tính theo giá của lần mua gần nhất, tức là phản ánh gần sát với giá thị trường Khi đó, giá vốn hàng bán trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lại có giá trị thấp nhất so với áp dụng các phương pháp khác (bình quân gia quyền ) do số lượng hàng bán tính theo giá mua ở trước đây Như vậy, giả sử không xem xét ảnh hưởng của các nhân tố khác, trong điều kiện giá cả có xu hướng tăng, việc lựa chọn phương pháp FIFO sẽ tạo ra một lợi nhuận kế toán lớn hơn dẫn đến dòng tiền ra nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ lớn hơn so với các phương pháp còn lại (bình quân gia quyền ) Ngược lại, trong điều kiện giá cả có xu hướng giảm, việc

áp dụng phương pháp FIFO sẽ tạo ra một lợi nhuận kế toán thấp hơn dẫn đến dòng tiền ra nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ thấp hơn so với việc áp dụng

Trang 23

các phương pháp tính giá HTK còn lại Khi nhà quản trị cần những thông tin của kế toán để cung cấp ra bên ngoài cho các đối tác thì cũng có thể yêu cầu

kế toán vận dụng các CSKT để “làm đẹp” các BCTC và thông tin cung cấp có lợi nhất cho DN Đơn cử như ta lấy trường hợp khi DN vận dụng các CSKT

về HTK Việc lựa chọn các chính sách kế toán HTK khác nhau như các phương pháp tính giá hàng xuất kho khác nhau, xây dựng các ước tính kế toán

về xác định chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ sẽ ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị hàng HTK trên BCTC và báo cáo lãi, lỗ của các hoạt động của DN Thông tin về HTK và kết quả lãi, lỗ theo từng loại hoạt động của DN là cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định quản lý HTK và quyết định kinh doanh của DN Một khi thông tin

kế toán cung cấp sai lệch, thiếu sót, bất hợp lý sẽ dẫn đến những sai lầm trong định hướng hoạt động kinh doanh; theo đó cũng dẫn đến những thay đổi về chi phí, doanh thu, lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ

Cuối cùng, có thể thấy việc vận dụng CSKT còn mang thuộc tính truyền

thống, tức chịu ảnh hưởng kế thừa các CSKT đã được vận dụng trước đây

trong DN Điều này thể hiện rằng các CSKT có thể được vận dụng theo thói quen của kế toán viên bởi họ đã quen thuộc, thông thạo với một phương pháp

kế toán nhất định trong các CSKT về HTK, TSCĐ, doanh thu, chi phí Do đó khi thay đổi sang các phương pháp kế toán khác sẽ có sự ngại ngùng, lúng túng và không dễ dàng chuyển đổi

Ta có thể thấy, các nghiên cứu về vận dụng CSKT trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh cơ hội, nhằm chỉ ra các DN vận dụng CSKT nhằm đạt được mục tiêu quản trị Trong luận văn này, bên cạnh việc bàn về khía cạnh

cơ hội, còn tập trung phân tích khía cạnh truyền thống và khía cạnh hiệu quả, tức là đánh giá việc vận dụng CSKT ở DN đem lại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào

Trang 24

1.3.2 Vận dụng chính sách kế toán trong doanh nghiệp

Trong phạm vi đề tài, luận văn chỉ đề cập các CSKT cơ bản nhất ở các

DN hiện nay, có ảnh hưởng lớn đến thông tin cung cấp trong BCTC, đó là CSKT về hàng tồn kho, CSKT về tài sản cố định, CSKT về doanh thu và CSKT về chi phí

a) Chính sách kế toán về hàng tồn kho (HTK)

a1) Nguyên tắc xác định giá trị hàng tồn kho

Theo VAS 02 [01], hàng tồn kho được tính theo nguyên tắc giá gốc, trường hợp giá trị thuần được thực hiện thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần có thể thực hiện được Giá trị thuần có thể thực hiện được là giá bán ước tính của hàng tồn kho trong kỳ sản xuất, kinh doanh bình thường trừ (-) chi phí ước tính để hoàn thành sản phẩm và chi phí ước tính cần thiết cho việc tiêu thụ chúng Giá gốc của hàng tồn kho bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được hàng tồn kho

ở địa điểm và trạng thái hiện tại Chi phí có liên quan trực tiếp khác tính vào giá gốc hàng tồn kho bao gồm các khoản chi phí khác ngoài chi phí thu mua

và chi phí chế biến hàng tồn kho Chi phí không được tính vào giá gốc hàng tồn kho gồm: chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo; chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

a2) Xác định giá trị hàng xuất kho

Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành, DN có thể sử dụng một trong các phương pháp tính giá sau để áp dụng cho việc tính giá thực tề xuất kho cho tất cả các loại HTK hoặc cho riêng từng loại

 Phương pháp tính giá thực tế đích danh

Theo phương pháp này, khi xuất lô hàng hóa, sản phẩm nào thì lấy giá nhập kho thực tế của lô hàng đó để tính

Trang 25

 Phương pháp giá bình quân gia quyền

Đây là phương pháp mà giá thực tế vật tư, hàng hóa xuất kho được tính trên cơ sở đơn giá thực tế bình quân của vật tư, hàng hóa Theo phương pháp này giá trị của từng loại HTK được tính theo giá trị trung bình của từng loại HTK đầu kỳ và giá trị từng loại HTK được mua hoặc sản xuất trong kỳ

Trị giá hàng tồn kho đầu kỳ + Trị giá hàng tồn kho

Số lượng hàng tồn kho đầu kỳ + Số lượng hàng tồn kho

Cách tính này được xác định sau khi kết thúc kỳ hạch toán, dựa trên số liệu đánh giá vật tư, hàng hóa cả kỳ dự trữ Các lần xuất vật tư, hàng hóa khi phát sinh chỉ phản ánh về mặt số lượng mà không phản ánh mặt giá trị Toàn

bộ giá trị xuất được phản ánh vào cuối kỳ khi có đầy đủ số liệu tổng nhập

 Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)

Theo phương pháp này giả thiết rằng số vật tư, hàng hóa nào nhập trước thì xuất trước, xuất hết số nhập trước mới đến số nhập sau theo giá thực tế của từng lô hàng xuất Do vậy giá thực tế của vật tư, hàng hóa mua trước sẽ được dùng làm giá để tính giá vật tư, hàng hóa xuất trước Vì vậy giá trị HTK cuối

kỳ sẽ là giá trị thực tế của số vật tư, hàng hóa nhập vào sau cùng trong kỳ Với phương pháp này kế toán phải theo dõi được đơn giá thực tế và số lượng của từng lô vật tư, hàng hóa nhập kho

 Riêng đối với phương pháp giá nhập sau xuất trước (LIFO) thì phương pháp này không được chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) chấp nhận sử dụng bởi theo phương pháp LIFO thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô vật tư, hàng hóa nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của HTK được tính

Trang 26

theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho Do đó, việc xác định giá trị HTK sẽ không đáng tin cậy bởi giá xuất kho được xác định theo đơn giá của lô vật tư, hàng hóa nhập sớm nhất nên không phản ánh sự biến động của giá trị hàng hóa một cách kịp thời trên thị trường Phương pháp này làm cho doanh thu kỳ hiện tại không phù hợp với những khoản chi phí trong kỳ hiện tại; do doanh thu kỳ hiện tại được tạo ra bởi giá trị sản phẩm, vật tư, hàng hóa đã có được từ cách đó rất lâu Chuẩn mực kế toán Việt Nam

về HTK cũng có sự hài hòa, thống nhất về điểm này cùng với IAS 2; do đó trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ giới thiệu về ba phương pháp tính giá hàng

xuất kho nêu trên theo VAS 02

* Về vận dụng các phương pháp tính giá hàng xuất kho

Xét theo khía cạnh hiệu quả, ta có thể thấy mỗi phương pháp tính giá thực tế xuất kho của vật tư, hàng hoá đều có những ưu, nhược điểm nhất định Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và năng lực nghiệp vụ của các kế toán viên và trang thiết bị xử lý thông tin của DN Với mỗi phương pháp mà DN áp dụng sẽ cho ra một giá trị hàng xuất kho khác nhau Tùy theo đặc điểm HTK, mục đích của DN mà có thể lựa chọn phương pháp phù hợp Việc lựa chọn phương pháp tính giá HTK khác nhau sẽ có ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý trong việc trình bày giá trị HTK trên BCTC và báo cáo kết quả lãi, lỗ của các hoạt động của một

DN Thông tin về HTK và kết quả lãi, lỗ theo từng loại hoạt động của DN là

cơ sở để phân tích, đánh giá và đưa ra các quyết định quản lý HTK và các quyết định kinh doanh Tất nhiên sẽ có những thiếu sót, sai lầm trong định hướng sản xuất kinh doanh một khi các thông tin kế toán cung cấp không đảm bảo kịp thời, trung thực và hợp lý Do đó, việc lựa chọn các phương pháp tính giá hàng xuất kho phải được công khai minh bạch trên BCTC và phải sử dụng

Trang 27

nhất quán trong niên độ kế toán, không được thay đổi tùy tiện để đảm bảo nguyên tắc nhất quán trong kế toán

Bên cạnh đó, đứng trên khía cạnh cơ hội, ta có thể thấy việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho khác nhau sẽ tác động đến chỉ tiêu lợi nhuận kế toán trong kỳ [8] Với phương pháp FIFO thì lượng HTK trình bày trên Bảng cân đối kế toán sẽ có giá trị cao nhất so với áp dụng các phương pháp khác (bình quân gia quyền, ) do số lượng hàng tồn tính theo giá của lần mua gần nhất, tức là phản ánh gần sát với giá thị trường Khi đó, giá vốn hàng bán trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh lại có giá trị thấp nhất so với áp dụng các phương pháp khác (bình quân gia quyền ) do số lượng hàng bán tính theo giá mua ở trước đây Như vậy, giả sử không xem xét ảnh hưởng của các nhân tố khác, trong điều kiện giá cả có xu hướng tăng, việc lựa chọn phương pháp FIFO sẽ tạo ra một lợi nhuận kế toán lớn hơn dẫn đến dòng tiền ra nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ lớn hơn so với các phương pháp còn lại (bình quân gia quyền ) Ngược lại, trong điều kiện giá

cả có xu hướng giảm, việc áp dụng phương pháp FIFO sẽ tạo ra một lợi nhuận

kế toán thấp hơn dẫn đến dòng tiền ra nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ thấp hơn so với việc áp dụng các phương pháp tính giá hàng xuất kho còn lại

a3) Ước tính kế toán về giá trị sản phẩm dở dang (SPDD)

Đánh giá SPDD trong các DN sản xuất, xây lắp được xem là một biểu hiện của ước tính kế toán Chuẩn mực kế toán Việt Nam về HTK không đưa

ra các nguyên tắc đánh giá SPDD, mặc dù chuẩn mực vẫn thừa nhận đây là một hình thức tồn kho của DN Do vậy, xuất phát từ bản chất của quá trình sản xuất thì SPDD là sự kết tinh của chi phí vật liệu với các chi phí chế biến còn đang làm dở cho những loại sản phẩm này Các phương pháp đánh giá SPDD cuối kỳ bao gồm:

 Đánh giá SPDD theo chi phí nguyên vật liệu (NVL) trực tiếp tiêu hao

Trang 28

Theo đó, toàn bộ chi phí chế biến giả định là không tính trong giá trị SPDD Mức độ chi phí NVL trực tiếp tính vào SPDD tùy thuộc vào các loại nguyên liệu đưa ngay từ đầu hay đưa liên tục vào quá trình sản xuất

+ Trường hợp toàn bộ NVL đưa ngay từ đầu vào quá trình sản xuất thì chi phí nguyên vật liệu tính cho SPDD như sau:

Chi phí NVL trực

tiếp tính cho

SPDD cuối kỳ

=

Chi phí NVL cho SPDD đầu kỳ +

Chi phí NVL trực tiếp phát sinh

x Số lượng

SPDD cuối kỳ

Số lượng sản phẩm hoàn thành

trong kỳ + Số lượng SPDD cuối kỳ

+ Trường hợp NVL đưa dần vào quá trình sản xuất thì cần ước tính mức

độ hoàn thành của sản phẩm đang chế dở để xác định SPDD

Chi phí NVL trực

tiếp cho SPDD

cuối kỳ

=

Chi phí NVL cho SPDD đầu kỳ +

Chi phí NVL trực tiếp phát sinh

x

Số lượng SPDD cuối kỳ

qui đổi

Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ + Số lượng SPDD cuối kỳ

Phần trăm hoàn thành tương

đương của từng loại sản phẩm

 Đánh giá SPDD theo khối lượng sản phẩm hoàn thành tương

đương

Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí sản xuất phải được tính vào trong giá trị sản phẩm đang chế dở dang Cách ước tính chi phí NVL trực tiếp tương tự như phương pháp đánh giá SPDD theo chi phí NVL trực tiếp Đối với chi phí chế biến, phải ước tính mức độ hoàn thành tương đương của SPDD cuối kỳ để qui đổi chi phí chế biến cho SPDD Do đó, ta có công thức:

Trang 29

Chi phí chế biến

tính cho SPDD

cuối kỳ

=

Chi phí chế biến SPDD đầu kỳ + Chi

phí chế biến phát sinh trong kỳ

x

Số lượng SPDD cuối kỳ

qui đổi

Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ + Số lượng SPDD cuối kỳ

 Đánh giá SPDD theo chi phí sản xuất định mức

Nếu hoạt động sản xuất có thiết lập hệ thống định mức cho từng chi tiết, kết cấu của sản phẩm thì SPDD có thể ước tính dựa trên cơ sở giá thành kế hoạch, đã lên định mức sẵn ở phòng kế hoạch của DN hoặc giá thành SPDD của kỳ sản xuất trước Khi đó, căn cứ vào mức độ hoàn thành của SPDD và giá thành định mức để xác định chi phí của SPDD

* Về vận dụng chính sách kế toán về đánh giá giá trị SPDD

Xét theo khía cạnh hiệu quả, ta có thể thấy phương pháp đánh giá theo chi phí NVL trực tiếp có ưu điểm là đơn giản nhưng mức độ chính xác không cao; chỉ thích hợp với những DN sản xuất mà chi phí vật liệu trực tiếp chiếm

tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm Phương pháp đánh giá theo khối lương sản phẩm hoàn thành tương đương thì cho kết quả hợp lý hơn so với phương pháp đánh giá SPDD theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Vấn đề khó khăn trong thực tiễn là bộ phận kỹ thuật phải xác định mức độ hoàn thành tương đương của SPDD; tốn nhiều công sức, thời gian Còn đối với phương pháp đánh giá theo chi phí sản xuất định mức thì ta có thể thấy ngay phương pháp này khá đơn giản, dễ tiến hành nhưng kết quả không chính xác do nó phản ảnh giá cả của các kỳ sản xuất trước, không thực tế hoặc giá định mức, giá lên

Trang 30

kế hoạch không hợp lý Nếu DN xác định phương pháp đánh giá SPDD không hợp lý thì sẽ ảnh hưởng đến chỉ tiêu về SPDD, thành phẩm, chi phí giá vốn trên BCTC, từ đó tác động đến chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp

Đứng trên khía cạnh cơ hội, ta có thể thấy nhà quản tri DN có thể lựa chọn thời điểm và cách thức ước tính giá trị SPDD cuối kỳ khác nhau để tác động đến chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ báo cáo [8] Tùy thuộc vào mục tiêu tăng hoặc giảm lợi nhuận mà nhà quản trị có thể đẩy lùi hay gia tăng thời điểm và cách thức ước tính giá trị SPDD cuối kỳ khác nhau, từ đó tác động đến tổng giá trị HTK và các chỉ tiêu doanh thu, chi phí, lợi nhuận trong kỳ báo cáo

a4) Trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho

Dự phòng giảm giá HTK được lập khi giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK nhỏ hơn giá gốc và được ghi nhận vào giá vốn hàng bán trong kỳ Việc lập dự phòng giảm giá HTK nhằm bù đắp những khoản thiệt hại thực tế xảy ra do vật tư, sản phẩm, hàng hóa tồn kho bị giảm giá; đồng thời cũng phản ánh đúng giá trị thuần có thể thực hiện được của HTK của DN khi lập BCTC cuối kỳ hạch toán DN phải căn cứ vào tình hình giảm giá, số lượng HTK thực tế theo từng loại vật tư, hàng hóa để xác định mức lập dự phòng theo công thức sau:

Mức dự phòng giảm

giá vật tư, hàng hóa

cho năm kế tiếp

=

Số lượng vật

tư, hàng hóa giảm giá

X Giá trị ghi trên sổ sách -

Giá trị thuần có thể thực hiện được Trường hợp mức dự phòng giảm giá HTK phải lập ở cuối kỳ kế toán này lớn hơn mức dự phòng giảm giá HTK đã lập ở cuối kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết thì số chênh lệch lớn hơn được ghi tăng dự phòng và ghi tăng giá vốn hàng bán Trường hợp mức dự phòng giảm giá HTK phải lập ở cuối kỳ

Trang 31

toán thì số chênh lệch nhỏ hơn được hoàn nhập ghi giảm dự phòng và ghi giảm giá vốn hàng bán

* Về vận dụng chính sách kế toán về trích lập dự phòng giảm giá HTK

Xét theo khía cạnh hiệu quả thì DN có thể lựa chọn việc trích lập dự phòng giảm giá HTK hoặc không trích lập dự phòng giảm giá HTK tùy theo đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh thực tế tại đơn vị Nếu số lượng HTK tại DN nhiều, đa dạng chủng loại, có giá trị lớn và giá cả đầu vào thường xuyên biến động mạnh trên thị trường (giá trị có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc của HTK và có bằng chứng đáng tin cậy về điều này) thì cần phải trích lập dự phòng giảm giá HTK và công bố thông tin này trên Thuyết minh BCTC Ngược lại nếu số lượng hàng hóa, vật tư ở DN tương đối ít, có giá trị thấp và giá cả đầu vào không thường xuyên biến động mạnh trên thị trường (giá trị có thể thực hiện được cao hoặc bằng với giá gốc của HTK và

có bằng chứng đáng tin cậy về điều này) thì không cần trích lập dự phòng giảm giá HTK Việc lập dự phòng giảm giá HTK sẽ làm cho chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ tăng lên, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo

Đứng trên khía cạnh cơ hội thì việc đưa ra các khoản chi phí tiêu thụ ước tính cho việc lập dự phòng giảm giá HTK là tùy thuộc vào ý kiến chủ quan, mang tính chất xét đoán của DN Lựa chọn thời điểm và mức trích lập dự phòng giảm giá HTK, lựa chọn thời điểm các khoản dự phòng được hoàn nhập hay xóa sổ và mức hoàn nhập nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến chỉ tiêu chi phí và tác động đến lợi nhuận của DN trình bày trên BCTC trong kỳ kế toán lập dự phòng [7]

Trang 32

b) Chính sách kế toán về tài sản cố định (TSCĐ)

b1) Nguyên tắc ghi nhận tài sản cố định

VAS 03 có quy định rõ ràng về các tài sản được ghi nhận là TSCĐ phải thỏa mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn ghi nhận sau:

+ Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

+ Có thời gian sử dụng trên 1 năm;

+ Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên

b2) Phương pháp khấu hao Tài sản cố định

Cả Chuẩn mực TSCĐ của Việt Nam hay chuẩn mực kế toán quốc tế đều đưa ra ba phương pháp khấu hao TSCĐ, bao gồm:

 Phương pháp khấu hao đường thẳng

Mức khấu hao hàng năm của một TSCĐ được tính theo công thức sau:

Mức khấu hao năm = Nguyên giá của TSCĐ X Tỷ lệ khấu hao năm Trong đó:

Tỷ lệ khấu hao năm = 1 / Số năm sử dụng dự kiến

Mức trích khấu hao trung bình tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi, DN phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của TSCĐ bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của TSCĐ Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng TSCĐ được xác định là hiệu số giữa nguyên giá TSCĐ và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của TSCĐ đó

Trang 33

 Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh

DN xác định thời gian sử dụng của TSCĐ theo quy định tại Chế độ quản

lý, sử dụng và trích khấu hao TSCĐ ban hành kèm theo thông tư số 45/2013/TT - BTC của Bộ tài chính Xác định mức trích khấu hao năm của TSCĐ trong các năm đầu theo công thức dưới đây:

Mức khấu hao năm = Giá trị còn lại của TSCĐ X Tỷ lệ khấu hao nhanh

Trong đó, Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau:

Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của TSCĐ quy định tạị bảng sau:

Thời gian sử dụng của TSCĐ Hệ số điều chỉnh (lần)

Trên 4 đến 6 năm ( 4 năm < t =< 6 năm) 2,0

Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số

dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của TSCĐ, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của TSCĐ chia cho số năm sử dụng còn lại của TSCĐ Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng

Trang 34

 Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm

Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, DN xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng của TSCĐ

Xác định mức trích khấu hao trong tháng của TSCĐ theo công thức dưới đây:

X

Mức trích khấu hao bình quân cho một đơn vị sản

phẩm Trong đó:

Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị

sản phẩm

* Về vận dụng các phương pháp khấu hao TSCĐ

Xét theo khía cạnh hiệu quả thì mỗi phương pháp khấu hao khác nhau sẽ dẫn đến giá trị còn lại của TSCĐ và giá trị hao mòn TSCĐ khác nhau, ảnh

hưởng đến thông tin về TSCĐ trình bày trên BCTC của DN Phương pháp

khấu hao theo đường thẳng có ưu điểm là đơn giản, dễ tính toán; tuy nhiên do tính bình quân nên khả năng thu hồi vốn chậm làm cho TSCĐ chịu bất lợi của hao mòn vô hình Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh

Nguyên giá của TSCĐSản lượng theo công suất thiết kế

Trang 35

thì lại đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu; góp phần tạo

sự ổn định trong mức chi phí phát sinh hàng năm vì thời gian sau này khi mức khấu hao thấp thì lúc đó chi phí sửa chữa, bảo trì TSCĐ cao hơn những năm đầu Cuối cùng, phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm là

sự phù hợp giữa chi phí và doanh thu Khi máy móc hoạt động nhiều thì phải khấu hao nhiều nên chi phí khấu hao tăng và khi máy móc hoạt động nhiều để tạo ra nhiều sản phẩm thì sẽ đem lại nhiều lợi nhuận cho DN Việc lựa chọn phương pháp khấu hao thích hợp cho từng loại TSCĐ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc tính hao mòn của TSCĐ và cách thức sử dụng TSCĐ để tạo ra lợi ích kinh tế Sự hao mòn TSCĐ ngày càng tăng có tác động đáng kể đến việc lựa chọn phương pháp khấu hao phù hợp, đặc biệt với các loại thiết bị, máy móc dây chuyền công nghệ kỹ thuật cao và các loại TSCĐ vô hình khác Bên cạnh đó, đặc điểm về cách thức sử dụng TSCĐ cũng là căn cứ để DN dự tính thời gian sử dụng hữu ích và áp dụng phương pháp khấu hao thích hợp cho từng loại TSCĐ Mức độ tận dụng công suất của máy móc thiết bị; chế độ sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ là các nhân tố chính dẫn đến mức độ hao mòn nhanh hay chậm, ảnh hưởng đến thời gian hữu dụng của TSCĐ

Đứng trên khía cạnh cơ hội, ta có thể thấy chuẩn mực kế toán hiện nay cho phép các DN có quyền nhất định trong việc lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ cũng như sự linh động trong việc dự tính thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ Theo đó, việc lựa chọn các phương pháp khấu hao TSCĐ khác nhau (đường thẳng, số dư giảm dần có điều chỉnh, theo số lượng, khối lượng sản phẩm ) sẽ dẫn đến chi phí khấu hao khác nhau, từ đó tác động đến giá trị hao mòn, giá trị còn lại của TSCĐ và ảnh hưởng đến chỉ tiêu chi phí, lợi nhuận trong kỳ báo cáo.Tuy nhiên, ta cần lưu ý phạm vi lựa chọn phương pháp khấu hao TSCĐ nhằm điều chỉnh lợi nhuận của DN khá hạn chế

Trang 36

b3) Chính sách sửa chữa Tài sản cố định

Trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn và hư hỏng từng bộ phận

Để đảm bảo cho TSCĐ hoạt động bình thường trong suốt quá trình sử dụng, các doanh nghiệp phải tiến hành thường xuyên việc bảo dưỡng và sửa chữa TSCĐ khi bị hư hỏng Căn cứ vào quy mô sửa chữa TSCĐ thì công việc sửa chữa gồm ba loại sau:

 Sửa chữa thường xuyên, bảo dưỡng: là hoạt động sửa chữa nhỏ, hoạt

động bảo trì, bảo dưỡng theo yêu cầu quản lý nhằm đảm bảo cho TSCĐ hoạt động bình thường Vì công việc tiến hành thường xuyên, thời gian ngắn, chi phí không lớn nên không phải lập dự toán Việc sửa chữa này nhằm giữ cho TSCĐ có trạng thái tốt, bình thường đảm bảo an toàn lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh Đặc điểm của loại hình sửa chữa này là thời gian tiến hành sửa chữa ngắn, chi phí sửa chữa chiếm một tỉ trọng nhỏ không đáng kể

so với tổng chi phí kinh doanh trong kỳ Vì vậy chi phí sửa chữa thường xuyên được tập hợp trực tiếp vào chi phí kinh doanh của kỳ hạch toán mà nghiệp vụ sửa chữa diễn ra Chi phí sửa chữa này được phản ánh trên báo cáo

kết quả kinh doanh của kỳ hiện hành

 Sửa chữa lớn mang tính phục hồi: là những chi phí liên quan đến

việc sửa chữa, thay thế những bộ phận, chi tiết bị hư hỏng trong quá trình sử dụng mà nếu không sửa chữa, thay thế thì TSCĐ đó sẽ không hoạt động được hoặc hoạt động không bình thường Chi phí sửa chữa lớn này là khá cao, thời gian sửa chữa thường kéo dài và công việc sửa chữa có thể tiến hành theo kế hoạch định sẵn hoặc ngoài kế hoạch Toàn bộ chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi được tập hợp riêng theo từng công trình hay từng TSCĐ và được đưa vào chi phí phải trả (nếu sửa chữa theo kế hoạch) hoặc tính vào chi phí trả trước (nếu sửa chữa ngoài kế hoạch)

Trang 37

 Sửa chữa lớn mang tính nâng cấp: là công việc sửa chữa nhằm kéo

dài tuổi thọ của TSCĐ hay nâng cao năng suất, tính năng, tác dụng của

TSCĐ; làm tăng thời gian sử dụng hữu ích hoặc làm tăng công suất sử dụng

của chúng Bên cạnh đó, cải tiến bộ phận của TSCĐ làm tăng đáng kể chất

lượng sản phẩm sản xuất ra Toàn bộ chi phí sửa chữa lớn mang tính phục hồi

được tập hợp riêng theo từng công trình hay từng TSCĐ và khi việc sửa chữa hoàn thành, bàn giao, toàn bộ chi phí sẽ được ghi tăng nguyên giá của TSCĐ

(không phân biệt sửa chữa theo kế hoạch hay ngoài kế hoạch)

* Về vận dụng việc trích trước và phân bổ chi phí sửa chữa TSCĐ

Xét theo khía cạnh hiệu quả, tùy thuộc vào đặc điểm từng loại TSCĐ, thời gian sử dụng TSCĐ, cách thức sử dụng TSCĐ và xét đoán mang tính nghề nghiệp mà kế toán sẽ xem xét, tính toán thời gian phân bổ chi phí sửa chữa TSCĐ một cách hợp lý, rõ ràng Cần tránh những trường hợp trích trước

và phân bổ chi phí quá nhiều hay không có kế hoạch trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ nên khi TSCĐ hư hỏng đột ngột làm gia tăng đột biến tổng chi phí, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của

DN

Đứng trên khía cạnh cơ hội, ta có thể thấy với mỗi loại sửa chữa TSCĐ

sẽ phát sinh các khoản chi phí sửa chữa khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận trong kỳ báo cáo Đối với các loại sửa chữa thường xuyên, bảo dưỡng

là loại sửa chữa nhỏ nên chi phí sửa chữa TSCĐ sẽ phát sinh ít, dẫn đến lợi nhuận kỳ báo cáo tăng Đối với các loại sửa chữa TSCĐ lớn mang tính chất phục hồi, nâng cấp thì chi phí sửa chữa phát sinh nhiều, phải phân bổ trong nhiều kỳ và DN có thể lựa chọn số kỳ phân bổ tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của họ Tuy nhiên, mức phân bổ chi phí sửa chữa trong từng kỳ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận kỳ báo cáo đó Ngoài ra, DN có thể ước tính trích trước chi phí sửa chữa lớn TSCĐ vào chi phí sản xuất kinh doanh trong

Trang 38

kỳ tại thời điểm chưa phát sinh chi phí sửa chữa lớn và mức chi phí trích trước này sẽ làm gia tăng chi phí trong kỳ, từ đó làm giảm lợi nhuận của kỳ báo cáo Đây là một trong những động thái mà các nhà quản trị DN rất hay sử dụng để điều chỉnh lợi nhuận trong CSKT về TSCĐ ở đơn vị

c) Chính sách kế toán về doanh thu

Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của DN ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh , khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt

đã thu tiền hay sẽ thu được tiền [1]

c1) Nguyên tắc ghi nhận doanh thu

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 15 về Hợp đồng xây dựng (VAS 15) thì doanh thu bao gồm doanh thu ban đầu được ghi trong hợp đồng xây dựng và các khoản tăng, giảm khi thực hiện hợp đồng; các khoản tiền thưởng

và các khoản thanh toán khác nếu các khoản này có khả năng làm thay đổi doanh thu, và có thể xác định được một cách đáng tin cậy

* Về vận dụng chính sách kế toán về ghi nhận doanh thu hoạt động xây lắp

Xét theo khía cạnh hiệu quả, DN cần phải đảm bảo các nguyên tắc ghi nhận doanh thu đã đề cập trong phần trước, tức là chỉ ghi nhận doanh thu khi chắc chắn thu được các lợi ích kinh tế từ giao dịch đã phát sinh Nếu lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không chắc chắn thì chưa được phép ghi nhận doanh thu và chỉ ghi nhận khi các yếu tố này được xử lý xong Trong trường hợp doanh thu được ghi nhận mà chưa thu được tiền thì xác định khoản tiền phải thu này là không thu được thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ, không được ghi giảm doanh thu Trường hợp xác định khoản phải thu là nợ phải thu khó đòi thì phải lập dự phòng nợ

Trang 39

phải thu khó đòi (sẽ được bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi) chứ không được ghi giảm doanh thu Tùy thuộc vào quan điểm và cách đánh giá của DN trong việc ghi nhận doanh thu mà sẽ quyết định có hay không ghi nhận doanh thu trong từng giao dịch kinh tế phát sinh; tuy nhiên phải dựa trên

cơ sở tuân thủ các chuẩn mực, chế độ kế toán đã ban hành Việc ghi nhận doanh thu khác nhau và tùy từng thời điểm ghi nhận sẽ ảnh hưởng đến tổng doanh thu và chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ báo cáo

Đứng trên khía cạnh cơ hội thì các nhà quản trị DN có thể lựa chọn thời điểm ghi nhận doanh thu hoạt động xây lắp khác nhau (chuyển dịch về sau hoặc ghi nhận sớm hơn) nhằm làm giảm hoặc gia tăng doanh thu, từ đó ảnh hưởng đến chỉ tiêu lợi nhuận trong kỳ báo cáo [8]

c2) Phương pháp xác định phần công việc đã hoàn thành (đối với các doanh nghiệp xây lắp)

Thông thường, hoạt động xây lắp có thời gian sản xuất sản phẩm kéo dài trong nhiều kỳ kế toán, doanh thu không ghi nhận tại thời điểm công trình hoàn thành, bàn giao cho khách hàng vì lợi ích kinh tế từ một công trình được tạo ra trong nhiều kỳ kế toán Để phục vụ cho việc xác định kết quả kinh doanh hàng kỳ, các DN xây lắp có thể ghi nhận doanh thu tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập BCTC Có hai trường hợp ghi nhận doanh thu trước thời điểm giao hàng theo chuẩn mực kế toán Việt Nam về Hợp đồng xây dựng (VAS 15), đó là:

 Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh

toán theo tiến độ kế hoạch: khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được

ước tính một cách đáng tin cậy thì doanh thu của hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào

ngày lập BCTC

Trang 40

 Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh

toán theo giá trị khối lượng thực hiện: khi kết quả hợp đồng xây dựng được

xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận thì doanh thu của hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ DN cần sử dụng phương pháp tính toán thích hợp để xác định phần công việc đã hoàn thành Tuỳ thuộc vào bản chất của hợp đồng xây dựng, dịch vụ mà các phương pháp xác định phần công việc đã hoàn thành bao gồm:

+ Đánh giá phần công việc đã hoàn thành: theo phương pháp này thì

bên DN cung cấp dịch vụ xây lắp và bên chủ đầu tư cùng tiến hành khảo sát, đánh giá mức độ phần công việc đã hoàn thành hoặc có thể căn cứ vào kết quả đánh giá của bên kiểm định thứ ba

+ Tỷ lệ phần trăm giữa chi phí đã phát sinh của phần công việc đã hoàn

thành tại một thời điểm so với tổng chi phí dự toán của hợp đồng: lúc này

doanh thu được xác định phù hợp với chi phí đã phát sinh của khối lượng công việc hoàn thành

+ Tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng công việc đã hoàn thành so với tổng

khối lượng công việc phải hoàn thành của hợp đồng: theo phương pháp này

bên DN cung cấp dịch vụ xây lắp phải so sánh khối lượng công việc đã hoàn thành với tổng khối lượng hợp đồng đã ký kết để xác định doanh thu

* Về việc vận dụng chính sách kế toán về ghi nhận doanh thu hoạt động xây dựng

Xét trên khía cạnh hiệu quả, ta có thể thấy tùy thuộc vào đặc điểm từng loại hợp đồng, quy mô và cách thức hoạt động mà các DN xây lắp sẽ tiến hành lựa chọn các phương pháp ghi nhận doanh thu theo tiến độ kế hoạch hoặc theo giá trị khối lượng thực hiện được Đối với các DN ghi nhận doanh thu theo tiến độ kế hoạch thì trường hợp này ít nhiều mang tính chủ quan, xét

Ngày đăng: 04/04/2022, 23:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Tài Chính (2001); Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 02 về Hàng tồn kho (VAS 02), số 03 và 04 về Tài sản cố định hữu hình và vô hình (VAS 03, VAS 04), số 14 về Doanh thu và thu nhập khác (VAS 14), số 16 về Chi phí đi vay (VAS 16), số 15 về Hợp đồng xây dựng (VAS 15), số 29 vê Chính sách kế toán (VAS 29) Khác
[2]. Bộ Tài Chính (2013), Thông tư 45/2013/TT - BTC về Chế độ quản lý sử dụng và trích khấu hao Tài sản cố định; Thông tư 200/2014/TT- BTC về Hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp Khác
[3]. Huỳnh Thị Cẩm Nhung (2015), Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến lựa chọn chính sách kế toán của các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Khác
[4]. International Accounting Standards Board (2006), Chuẩn mực kế toán quốc tế 02 (IAS 02) về Hàng tồn kho, số 16 và 38 về Tài sản cố định hữu hình và vô hình (IAS 16, IAS 38), số 18 về Doanh thu (IAS 18), số 23 về Chi phí đi vay (IAS 23) Khác
[5]. Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh Tế Đà Nẵng (2010), Giáo trình Kế toán tài chính I - II, Nhà xuất bản Giáo Dục Khác
[6]. Ngô Lê Phương Thúy (2012), Nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại công ty cổ phần Tư vấn thiết kế xây dựng Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Khác
[7]. Phan Lê Hiển Li (2015), Nghiên cứu việc vận dụng chính sách kế toán tại nhà máy bia Dung Quất, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Khác
[8]. TS. Nguyễn Công Phương (2009), Kế toán theo cơ sở dồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp, Tạp chí kế toán số 77, tr. 25- 29 Khác
[9]. Một số trang web tham khảo số liệu Báo cáo tài chính từ các công ty cổ phần có niêm yết: www.cafef.vn; www.cophieu68.com; www.stox.vn;www.hsx.vn.Tài liệu tiếng Anh Khác
[10]. Deegan C. (2006), Financial accounting theory, Second edition, McGraw-Hill, pp 232-234 Khác
[11]. J Rossouw (2010), Empirical results of the accounting policies chosen by South African listed companies, Meditari Accountancy Research, 18, pp 38-56 Khác
[12]. Jeffrey J. Archambault và Marie E. Archambault (1994), Inventory accounting policy choice among Canadian firms, Journal of International Accounting Auditing &amp; Taxation, 21, pp 22-28 Khác
[13]. Nelson M. Waweru (2011), Determinants of different accounting methods choice in Tanzania, Journal of Accounting in Emerging Economies, 2, pp 144-159 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

bảng Tên bảng Trang - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
b ảng Tên bảng Trang (Trang 8)
Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, DN xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng của TSCĐ - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
n cứ tình hình thực tế sản xuất, DN xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng của TSCĐ (Trang 34)
Bảng 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CSKT ở các công ty nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng 2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng CSKT ở các công ty nghiên cứu (Trang 58)
Bảng 2.3 Kết quả kiểm tra việc tuân theo quy luật phân phối chuẩn của các biến - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng 2.3 Kết quả kiểm tra việc tuân theo quy luật phân phối chuẩn của các biến (Trang 61)
Bảng 3.1 Đặc điểm thông tin của các công ty trong mẫu nghiên cứu  (Năm 2015) - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng 3.1 Đặc điểm thông tin của các công ty trong mẫu nghiên cứu (Năm 2015) (Trang 63)
Bảng số liệu sau được thu thập từ BCTC của các công ty nghiên cứu sẽ cho chúng ta một cái nhìn rõ nét hơn về thực trạng vận dụng CSKT HTK - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng s ố liệu sau được thu thập từ BCTC của các công ty nghiên cứu sẽ cho chúng ta một cái nhìn rõ nét hơn về thực trạng vận dụng CSKT HTK (Trang 65)
Bảng 3.4 Thực trạng vận dụng chính sách kế tốn về doanh thu ở các công ty nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng 3.4 Thực trạng vận dụng chính sách kế tốn về doanh thu ở các công ty nghiên cứu (Trang 74)
Bảng 3.5 Thực trạng vận dụng chính sách kế tốn về chi phí ở các công ty nghiên cứu - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng 3.5 Thực trạng vận dụng chính sách kế tốn về chi phí ở các công ty nghiên cứu (Trang 77)
Bảng 3.7 Hệ số tương quan r - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
Bảng 3.7 Hệ số tương quan r (Trang 80)
c2) Các thông số thống kê trong mơ hình - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
c2 Các thông số thống kê trong mơ hình (Trang 84)
Từ kết quả trên, có thể kết luận mơ hình khơng vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến. Kết hợp với R2  của mô hình 5 ở Bảng 3.10 cho thấy mơ hình xây  dựng phù hợp với tập dữ liệu của đề tài và có ý nghĩa thống kê - (luận văn thạc sĩ) vận dụng chính sách kế toán ở các công ty xây dựng niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP hồ chí minh
k ết quả trên, có thể kết luận mơ hình khơng vi phạm hiện tượng đa cộng tuyến. Kết hợp với R2 của mô hình 5 ở Bảng 3.10 cho thấy mơ hình xây dựng phù hợp với tập dữ liệu của đề tài và có ý nghĩa thống kê (Trang 86)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w