1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh quảng bình

99 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thu Hút Vốn Đầu Tư Vào Ngành Du Lịch Tỉnh Quảng Bình
Tác giả Hồ Thanh Việt
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Vũ
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 740,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, để phát triển ngành du lịch bền vững cần phải giải quyết hàng loạt vấn đề: Xây dựng các khu du lịch, các dự án trọng điểm, tạo nguồn nhân lực… Nhưng với nền kinh tế kém phát t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC VŨ

Đà Nẵng - Năm 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Hồ Thanh Việt

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa nghiên cứu 3

6 Bố cục của luận văn 3

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH 7

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VỐN ĐẦU TƯ VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH 7

1.1.1 Một số khái niệm 7

1.1.2 Phân loại đầu tư có thể thu hút 9

1.1.3 Các nguồn vốn đầu tư có thể thu hút 10

1.1.4 Tiết kiệm và vốn đầu tư 15

1.1.5 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch 16

1.2 NỘI DUNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ 18

1.2.1 Quy hoạch phát triển ngành 18

1.2.2 Lập danh mục đầu tư để thu hút vốn đầu tư 20

1.2.3 Thực hiện xúc tiến thu hút đầu tư 22

1.2.4 Thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư 31

1.2.5 Thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư 34

Trang 5

1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ CỦA

ĐỊA PHƯƠNG 37

1.3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 37

1.3.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 38

1.3.3 Hệ thống cơ sở vật chất hạ tầng và nguồn nhân lực 38

1.3.4 Sự thành công của các dự án đầu tư trước đó 39

1.4 KINH NGHIỆM THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NÀO NGÀNH DU LỊCH CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 40

1.4.1 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào du lịch khu vực Hà Tây của thành phố Hà Nội 40

1.4.2 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch khánh Hòa43 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH THỜI GIAN VỪA QUA 46

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỈNH QUẢNG BÌNH ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH 46

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 46

2.1.2 Tài nguyên thiên nhiên 47

2.1.3 Tiềm năng kinh tế 50

2.1.4 Đặc điểm kinh tế- xã hội 52

2.2 KẾT QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG THỜI GIAN QUA 53

2.2.1 Khối lượng vốn đầu tư và nguồn đầu tư 53

2.2.2 Quy mô vốn đầu tư bình quân trên một dự án 55

2.2.3 Cơ cấu vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình 56

2.3 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO DU LỊCH QUẢNG BÌNH 57

2.3.1 Công tác Quy hoạch phát triển du lịch 57

Trang 6

2.3.2 Danh mục đầu tư để thu hút vốn đầu tư vào du lịch 61

2.3.3 Thực hiện xúc tiến thu hút đầu tư 62

2.3.4 Thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư 64

2.3.5 Thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư vào du lịch 65

2.4 NGUYÊN NHÂN CỦA TÌNH HÌNH THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH TRONG THỜI GIAN VỪA QUA66 CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH 67

3.1 NHỮNG CĂN CỨ ĐỂ ĐƯA RA GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH 67

3.1.1 Phương hướng, nhiệm vụ phát triển – xã hội của tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2010-2020 67

3.1.2 Những cơ hội và thách thức của việc thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2010- 2020 68

3.1.3 Quan điểm có tính chất nguyên tắc khi thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình 68

3.2 NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO NGÀNH DU LỊCH TỈNH QUẢNG BÌNH GIAI ĐOẠN 68

3.2.1 Giải pháp về công tác quy hoạch 68

3.2.2 Bổ sung và thực hiện danh mục đầu tư để thu hút vốn đầu tư 70

3.2.3 Hoàn thiện chính sách xúc tiến đầu tư vào du lịch 72

3.2.4 Hoàn thiện chính sách ưu đãi đầu tư 84

3.2.5 Cải cách các thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư lành mạnh 85

KẾT LUẬN 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC TỪ VIẾT TẮT

CD-ROM : đĩa dữ liệu nhựa

CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa

GDP : Tổng sản phẩm trong nước

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

năm 2013

53

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Để thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa một nền kinh tế thì vốn đầu tư bao giờ cũng có ý nghĩa quan trọng Hiếm nơi nào trên đất nước Việt Nam lại tập trung nhiều lợi thế về du lịch như tại Quảng Bình Chỉ trong

rừng, đồi núi, đồng bằng cho đến dải cồn cát ven biển Mỗi loại hình đều hàm chứa giá trị to lớn, nơi hội tụ tiềm năng về phát triển du lịch trong tương lai Quảng Bình được thiên nhiên ưu đãi vừa có rừng, biển, sông và nhiều cảnh quan thiên nhiên Bờ biển có nhiều bãi tắm đẹp, có hệ thống núi đá đổ ra biển tạo nên nhiều cảng biển, bãi tắm và các điểm nghỉ ngơi giải trí kỳ thú như Nhật Lệ, Quang Phú, Vũng Chùa - Đảo Yến, bãi tắm Đá Nhảy, thuận lợi cho phát triển du lịch và nghĩ dưỡng Nhiều di tích lịch sử văn hóa và thắng cảnh đẹp như Đèo Ngang, Đèo Lý Hòa, con đường huyền thoại Hồ Chí Minh; đặc biệt là Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với hàng trăm hang động, có động Phong Nha, động Tiên Sơn, động Thiên Đường, với nhiều kỳ bí, trong đó, có động Sơn Đoòng là hang động lớn nhất thế giới Với 116 km bờ biển, Quảng Bình là nơi thích hợp để xây dựng các khu khách sạn, Resort Nhiều khách sạn có chất lượng cao đã được xây dựng như: Sài Gòn - Quảng Bình, Sun Spa Resort là điểm đến hấp dẫn cho du khách du lịch từ mọi miền đất nước và nhiều nơi trên thế giới Mặt khác người dân lao động kiên định, nhiệt tình cách mạng và có khả năng chịu đựng gian khổ, vượt khó khăn…

Tuy nhiên, thực tế phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Quảng Bình trong những năm qua chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của mình, những chỉ tiêu kinh tế đang thấp hơn và đang bị tụt hậu so với những địa phương khác

Trang 11

Do đó, việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Bình như một đòi hỏi khách quan Để phát triển kinh tế xã hội, Quảng Bình cần phải chọn được ngành làm khâu đột phá Với những tiềm năng thiên nhiên ưu đãi, việc đẩy mạnh phát triển du lịch sẽ đáp ứng được nhu cầu trên, giúp Quảng Bình trở thành một địa phương giàu mạnh Tuy nhiên, để phát triển ngành du lịch bền vững cần phải giải quyết hàng loạt vấn đề: Xây dựng các khu du lịch, các dự

án trọng điểm, tạo nguồn nhân lực… Nhưng với nền kinh tế kém phát triển, sản xuất công nghiệp nhỏ hẹp, cơ sở kỹ thuật kém, khả năng tích lũy vốn nội

bộ rất hạn chế, không thể tự đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư cho việc phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng Vì vậy, vấn đề thu hút vốn đầu tư

để khai thác hết những tiềm năng mà thiên nhiên ưu đãi cho tỉnh Quảng Bình

“Thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư

- Đánh giá được thực trạng thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình trong thời gian vừa qua

- Đề xuất một số biện pháp để đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào ngành

du lịch tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đề tài này nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến thu hút vốn đầu tư cho ngành du lịch

- Phạm vi nghiên cứu:

Trang 12

+Về không gian: Nghiên cứu thu hút vốn đầu tư cho ngành du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

+Về thời gian: Nghiên cứu tình hình thu hút vốn đầu tư từ năm 2008 đến nay và đề xuất biện pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư cho ngành

du lịch đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết mục đích, yêu cầu trên, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thu thập số liệu, xử lý số liệu

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

- Phương pháp quy nạp và diễn dịch

5 Ý nghĩa nghiên cứu

Vấn đề về phát triển ngành du lịch đã có nhiều nghiên cứu đề cập ở những góc độ khác nhau, nhưng chưa có nghiên cứu nào về vấn đề thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch ở tỉnh Quảng Bình Vì vậy đây sẽ là tài liệu tham khảo, đóng góp vào việc hệ thống hóa và làm rõ hơn về phương pháp luận đối với nội dung thu hút vốn vào việc phát triển ngành ở tỉnh Đề tài giúp cho tỉnh có cái nhìn một cách khách quan, toàn diện vào cũng như ứng dụng vào thực tiễn trong với việc thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch của tỉnh

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lí luận chung về thu hút vốn đầu tư cho

ngành du lịch

Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh

Quảng Bình trong thời gian vừa qua

Chương 3: Những giải pháp nhằm tăng cường thu hút vốn đầu tư vào

Trang 13

7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Thu hút vốn đầu tư nói chung, thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch nói riêng đã được chú ý nghiên cứu ở các nước trong khu vực, các nước trên thế giới và còn ở Việt Nam Dưới đây là một số nghiên cứu của một số tác giả:

Phát triển kinh tế trên cơ sở luận điểm của Torado (1992), muốn tăng trưởng kinh tế, có thể được suy ra từ nhiều nhân tố, nhưng quan trọng nhất, đầu tư để tăng chất lượng từ nguồn tài nguyên, chất lượng của cải, vật chất cũng như con người đang tồn tại, làm tăng chất lượng, số lượng của các nguồn sản xuất đó và làm tăng năng suất từ các nguồn cụ thể thông qua việc phát minh, đổi mới và tiến bộ công nghệ kỹ thuật, đã và sẽ tiếp tục là nhân tố hàng đầu trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế

Theo quan điểm của P.A Samuelson, đa số các nước đang phát triển đều thiếu vốn, mức thu nhập thấp chỉ đủ sống ở mức độ thiếu, do đó khả năng tích luỹ vốn hạng chế và phải có đầu tư của nước ngoài vào các nước đang phát triển

Roy Hadod – Evsey Domar (1940) muốn phát triển kinh tế (nói chung) đòi hỏi phải đầu tư vốn cho sản xuất nhưng cũng cần phải nâng cao hiệu quả

sử dụng vốn [41, 117] Hạn chế của Roy Hadod – Evsey Domar là không chỉ

ra hạn chế của việc đầu tư mà chỉ tạo sự tăng trưởng trong ngắn hạn Do vậy Robert Solow (1956) đã phát triển kết quả của Roy Hadod – Evsey Domar và lập luận rằng: “Việc tăng khối lượng vốn sản xuất qua đầu tư chỉ ảnh hưởng tới tăng trưởng cho lĩnh vực đầu tư trong ngắn hạn nhưng không ảnh hưởng trong dài hạn”

Gillis (1992) kết luận rằng tốc độ tăng trưởng trong thu nhập chỉ có thể được duy trì trong một thời gian dài chỉ khi xã hội có khả năng duy trì mức đầu tư ở một tỷ lệ đáng kể nào đó so với tổng sản phẩm quốc dân [38, 107]

Theo quan điểm của Ragnar Nurkse, mở cửa cho FDI có ý nghĩa đối

Trang 14

với các nước đang phát triển có thể vươn đến những thị trường mới, cũng như khuyến khích việc mở rộng kỹ thuật hiện đại và những phương pháp quản lý

có hiệu quả FDI giúp các nước đang phát triển tránh được những đòi hỏi về lãi suất chặt chẽ, về điều kiện thanh toán nợ và những điều hay tác động đến vay nợ quốc tế Ragnar Nurkse cho rằng, FDI đem lại lại lợi ích chung cho cả hai bên, dù chẳng bao giờ cân bằng tuyệt đối nhưng không thể làm khác được

vì nó là đòi hỏi tự nhiên, tất yếu của quá trình vận động thị trường Đầu tư trực tiếp là kết quả hoàn toàn tự nhiên bởi hoạt động tự do của các động cơ kiếm lợi nhuận.[40, 107]

Và có thể nói rằng, lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu của Moise Syrquin

là một bức tranh tổng thể về sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên thế giới thời kỳ hiện đại Thực tiễn phát triển kinh tế thế giới thời gian qua đã cho thấy tầm quan trọng của khu vực dịch vụ tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng tùy thuộc phần lớn vào giai đoạn phát triển đương thời [39, 107]

Có nhiều nghiên cứu khác nhau trên nhiều khía cạnh từ thu hút vốn đầu

tư và đây là một vấn đề rất rộng Tuy nhiên, trong phạm vi này, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình Dưới đây là phần trình bày một số nghiên cứu

- “Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam”, Nguyễn Huy Thám, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1999

- “Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Phan Minh Thành, Luận văn thạc sĩ Kinh

tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000

- “Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam”, Đề tài KH-CN cấp nhà nước KX01.05, GS.TS Nguyễn Bích Đạt, Hà Nội, 2004

Trang 15

- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải pháp”, Bùi Thị Dung, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2005

“Xu hướng Đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty đa quốc gia hiện nay”, Trung tâm Thông tin Kinh tế – Viện Nghiên cứu Phát triển Tp.Hồ

Chí Minh (2009): Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của một số nước khu vực Châu Á khi đã là thành viên của WTO và rút kinh nghiệm cho Việt Nam Kinh nghiệm quý báu này nhằm giúp cho thành phố biển có thể phát triển thành công thành một trong nhưng điểm đến lý tưởng cho du khách quốc tế và quốc nội

Điểm đột phá trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn 2030 của TS Hà Văn Siêu (2010) đã phân tích vị thế thực tại của ngành du lịch Việt Nam, những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, đồng thời đặt trong bối cảnh và xu thế chung của khu vực

và thế giới để xác định quan điểm, tầm nhìn, mục tiêu và những định hướng đột phá cho giai đoạn tới

Trang 16

Khái niệm về Đầu tư

Để hiểu rõ khái niệm thu hút vốn đầu tư đầu tiên cần hiểu rõ khái niệm đầu tư và vốn đầu tư Vì theo nghĩa thông thường và trong kinh tế học nội hàm của đầu tư khác nhau và do vậy vốn đầu tư cũng khác Trước hết hãy bắt đầu từ quan điểm của các nhà kinh tế học

Theo quan điểm cùa nhà kinh tế học P.A Samuelson (1989), thì Đầu tư

là hoạt động tạo ra vốn sản xuất của nền kinh tế như các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị và nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho Đầu tư cũng có thể dưới dạng vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nghiên cứu, phát minh… Trên góc độ làm tăng thu nhập cho tương lai, đầu tư được hiểu là việc từ bỏ tiêu dùng hôm nay để tăng sản lượng cho tương lai, với niềm tin, kỳ vọng thu nhập do đầu tư đem lại sẽ cao hơn các chi phí đầu tư

Theo quan điềm của Mankiw, NG (2000), Đầu tư là hoạt động mua sắm tài sản cố định để tiến hành sản xuất hoặc có thể là mua tài sản tài chính

để thu lợi nhuận Do đó, đầu tư theo cách dùng thông thường là việc cá nhân hoặc công ty mua sắm một tài sản nói chung hay mua một tài sản nói riêng Tuy nhiên, khái niệm này tập trung chủ yếu vào đầu tư tạo them tài sản vật chất mới (như máy móc, thiết bị, nhà xưởng…) và để thu về một khoản lợi

Trang 17

nhuận trong tương lai “Khi một người mua hay đầu tư một tài sản, người đó

có quyền mua để được hưởng các khoản lợi ích trong tương lai mà người đó

hy vọng có được qua việc bán sản phẩm mà tài sản đó tạo ra” Quan niệm của ông đã nói lên kết quả của đầu tư về hình thái vật chất là tăng them tài sản cố định, tạo ra tài sản mới về mặt giá trị, kết quả thu được lớn hơn chi phí bỏ ra

Còn theo luật đầu tư (2005), “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” Khái niệm này cho thấy đầu tư chỉ là việc bỏ vốn để hình thành tài sản mà không cho thấy được kết quả đầu tư sẽ thu được lợi ích kinh tế như thế nào nhằm thu hút đầu tư

Theo Bùi Quang Bình (2010), đầu tư là hoạt động mua sắm trang bị hàng hóa đầu tư để thức hiện các dự án nhằm hình thành vốn sản xuất của các tổ chức doanh nghiệp nhằm sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ cho nhu cầu xã hội

Khái niệm này về cơ bản đã thể hiện được bản chất của hoạt đọng đầu

tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư trong nền kinh tế, có thể áp dụng cho đầu tư của cá nhân, tổ chức và đầu tư của một quốc gia, vùng, miền Đồng thời dựa vào khái niệm này để nhận diện hoạt động đầu tư, tức là căn cứ vào đó để thấy hoạt động nào là đầu tư, hoạt động nào không phải đầu tư theo những phạm vi xem xét cụ thể

Từ khái niệm đầu tư ta có thể rút ra một số đặc điểm của đầu tư như sau:

- Hoạt động đầu tư thường sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và thường sử dụng đơn vị tiền tệ để biểu hiện Các nguồn lực để đầu tư có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc thiết bị, nhà xưởng, công trình xây dựng khác… thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau như sở hữu nhà nước, tư nhân, nước ngoài…

- Đầu tư cần phải xác định trong một khoảng thời gian nhất định (nhiều tháng, nhiều năm…) Tuy nhiên, thời gian càng dài thì mức độ rủi ro càng cao

Trang 18

bởi vì nền kinh tế luôn thay đổi, lạm phát có thể xảy ra… cũng như các nguyên nhân chủ quan khác có ảnh hưởng đến đầu tư

- Mục đích của đầu tư là sinh lời trên cả 2 mặt: Lợi ích về tài chính - thông qua lợi nhuận gắn liền với quyền lợi của chủ đầu tư, và lợi ích về mặt

xã hội – thông qua các chỉ tiêu kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội hay cộng đồng

Vốn đầu tư

Từ nghiên cứu đầu tư ở trên có thể thấy hoạt động đầu tư phải sử dụng nhiều nguồn lực khác nhau và do tính phức tạp nếu sử dụng nhiều đơn vị khác nhau để tính toán Đề giải quyết điều này người ta sử dụng tiền tệ để đo lường

và tính toán Từ đây có khái niệm về vốn đầu tư

Vốn đầu tư là giá trị bằng tiền của các nguồn lực được huy động và sử

dụng vào thực hiện đầu tư qua đó hình thành vốn sản xuất của nền kinh tế

Từ có thể thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa đầu tư và vốn đầu tư với nhau, mà thực chất là mối quan hệ giữa nguồn lực đầu tư hiện vật và giá trị

Do vậy nhiều khi người ta vẫn sử dụng khái niệm đầu tư và vốn đầu tư như

nhau nếu xét ở góc độ sản phẩm cuối cùng của chúng

Để thu hút đầu tư chúng ta sẽ xem xét kỹ những vấn đề dưới đây

1.1.2 Phân loại đầu tư có thể thu hút

Căn cứ vào tính chất đầu tư mà người ta chia đầu tư ra làm 2 loại, đó là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Ù Đầu tư trực tiếp

Theo Luật đầu tư (2005), đầu tư trực tiếp là hình thức do nhà đầu tư bỏ cốn đầu tư và tham gia hoạt động đầu tư

Nhà đầu tư có thể là Chính phủ thông qua các kênh khác nhau để đầu tư cho xã hội, điều này thể hiện chi tiêu của Chính phủ thông qua đầu tư các công trình, chính sách xã hội Ngoài ta, người đầu tư có thể là tư nhân, tập

Trang 19

thể… kể cả các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Tùy theo từng trường hợp cụ thể mà các chủ thể tham gia thể hiện quyền, nghĩa vụ

và trách nhiệm của mình trong quá trình đầu tư

Ù Đầu tư gián tiếp

Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư – Luật đầu tư (2005)

Như vậy, đầu tư gián tiếp là loại hình đầu tư mà trong đó người bỏ vốn

ra và sử dụng vốn không cùng một chủ thể Đầu tư gián tiếp thông thường thông qua kênh tín dụng hay kênh đầu tư trên thị trường chứng khoán

Giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp có quan hệ chặt chẽ trong quá trình thực hiện đầu tư Đầu tư trực tiếp là tiền đề phát triển đầu tư gián tiếp, điều này thể hiện thông qua nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp từ các tổ chức tín dụng hay các doanh nghiệp phát hành cổ phiếu trên thị trường sơ cấp

để huy động vốn Mặt khác, môi trường đầu tư gián tiếp được mở rộng sẽ thúc đẩy việc đầu tư trực tiếp với mong đợi tiếp cận với các nguồn vốn được dễ dàng Bởi vì một khi thị trường tài chính phát triển thì nhà đầu tư có nhiều cơ hội lựa chọn các nguồn vốn có chi phí sử dụng vốn thấp, và cũng có thể sử dụng lợi thế này làm gia tăng đòn bẩy tài chính để thực hiện ý đồ kinh doanh của mình

1.1.3 Các nguồn vốn đầu tư có thể thu hút

Muốn thực hiện công cuộc đầu tư cần có các nguồn lực đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động Khoản tiền cần có để trang trải cho các nguồn lực đầu vào gọi là vốn đầu tư Rõ ràng, vốn đầu tư phải lấy

từ trong số của cải mà cá nhân và tổ chức trong xã hội đã làm ra, sau khi đã trừ đi phần tiêu dùng của họ

Trang 20

Để có chính sách thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế bền vững, cần phân loại nguồn vốn đầu tư và đánh giá đúng tầm quan trọng của từng nguồn vốn Ở góc độ chung nhất trong phạm vi một quốc gia, nguồn vốn đầu

tư được chia là 2 nguồn: nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn đầu tư nước ngoài

a Nguồn vốn đầu tư trong nước

Nguồn vốn trong nước thể hiện sức mạnh nội lực của một quốc gia Nguồn vốn này có ưu điểm là bền vững, ổn định, chi phí thấp, giảm thiểu được rủi ro và tránh được hậu quả từ bên ngoài Nguồn vốn trong nước bao gồm vốn Nhà nước, vốn tín dụng, vốn của khu vực doanh nghiệp tư nhân và dân cư chủ yếu được hình thành từ các nguồn tiết kiệm trong nền kinh tế

Mặc dù trong thời đại này nay, các đồng vốn nước ngoài ngày càng trở nên đặc biệt không thể thiếu được đối với các nước đang phát triển, nhưng nguồn vốn tiết kiệm từ trong nước vẫn giữ vai trò quyết đinh Các nước Đông

Á trong những năm 1960 mức tiết kiệm đạt được chỉ 10% hoặc ít hơn và đã vay nhiều thị trường quốc tế, thế nhưng đến những năm 1990 tiết kiệm của các nước này cao hơn đáng kể, bình quân đạt 30% Có thể nói, tiết kiệm luôn ảnh hưởng tích cực đối với tăng trưởng, nhất là ở những nước đang phát triển

vì làm tăng vốn đầu tư Hơn nữa tiết kiệm đó là điều kiện cần thiết để hấp thụ vốn nước ngoài có hiệu quả, đồng thời giảm được sức ép về phía ngân hàng Trung ương trong việc hàng năm phải cung ứng thêm tiền để tiêu hóa ngoại

tệ Tiết kiệm trong nước được hình thành từ các khu vực sau:

Id = Sd = Sg + Se + Sh (2)

Ngân sách được chỉ tiêu cho các hoạt động: (1) Dự án phát triển sản xuất kinh doanh cho các Doanh nghiệp sở hữu Nhà nước, (2) Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, (3) Trả lương cho bộ máy hành chính, (4) Đầu tư mở

Trang 21

rộng các công trình văn hoá, (5) Hoạt động quốc phòng …

Các khoản chi cho hoạt động phát triển kinh tế (1 và 2) được xem

như là tiết kiệm từ ngân sách Chính phủ

Phần lợi nhuận còn lại mà các Doanh nghiệp dùng để tái đầu tư mở rộng sản xuất Phần lợi nhuận này có nguồn gốc như sau:

Lợi nhuận trước thuế của Doanh nghiệp là bộ phận giá trị còn lại của

Phần tiết kiệm của các Doanh nghiệp dành cho đầu tư tái sản xuất mở

các khoản phân phối lợi nhuận cho các cổ đông và để lại các quỹ của Doanh nghiệp

Phần thu nhập còn lại của thu nhập khả dụng trừ đi chỉ tiêu của các

hộ gia đình được gọi là tiết kiệm (Giả định toàn bộ nguồn này được huy

động vào tiết kiệm)

Tóm lại, tiết kiệm là quá trình nền kinh tế dành ra một phần thu nhập hiện tại để tạo ra nguồn vốn cung ứng cho đầu tư phát triển, qua đó nâng cao hơn nữa mức sống ngày càng cao của người dân trong tương lai Tuy vậy, đối với nền kinh tế đang chuyển đổi giai đoạn thực hiện công cuộc CNH-HĐH đất nước, do nguồn vốn tiết kiệm trong nước còn thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu vốn đầu tư phát triển nên cần phải thu hút nguồn vốn nước ngoài để tạo ra

cú hích cho sự đầu tư phát triển nền kinh tế

b Nguồn vốn đầu tư nước ngoài

So với nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài có ưu thế là bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, từ đó thúc đẩy sự chuyển

Trang 22

dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH-HĐH, là cầu nối quan trọng giữa kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới phương thức quản trị doanh nghiệp cũng như phương thức kinh doanh; nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn Tuy vậy, trong nó lại luôn chứa ẩn những nhân tố tiềm tàng gây bất lợi cho nền kinh tế, đó là sự lệ thuộc, nguy cơ khủng hoảng nợ, sự tháo chạy đầu tư, sự gia tăng tiêu dùng và giảm tiết kiệm trong nước… Như vậy, vấn đề thu hút vốn nước ngoài đặt ra những thử thách không nhỏ trong chính sách thu hút đầu tư của nền kinh tế đang chuyển đổi đó là một mặt phải ra sức huy động vốn nước ngoài để đáp ứng tối đa nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, mặt khác phải kiểm soát chặt chẽ sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài để ngăn chặn khủng hoảng tài chính Để vượt qua những thử thách đó đòi hỏi nhà nước phải tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi cho sự vận động của dòng vốn này, điều chỉnh và lựa chọn các hình thức thu hút đầu tư sao cho dòng vốn này đầu tư dài hạn trong nước một cách bền vững để có lợi cho nền kinh tế

Về bản chất, vốn đầu tư nước ngoài cũng được hình thành từ tiết kiệm của các chủ thể kinh tế nước ngoài và được huy động thông qua các hình thức

cơ bản:

- Viện trợ phát triển chính thức (ODA)

Đây là tất cả các khoản viện trợ của các đối tác viện trợ nước ngoài dành cho Chính phủ và nhân dân nước viện trợ

ODA một mặt nó là nguồn vốn bổ sung cho nguồn vốn trong nước để phát triển kinh tế, bên cạnh đó nó giúp các quốc gia nhận viện trợ tiếp cận nhanh chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại Ngoài

ra, nó tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội và đào tạo phát

Trang 23

triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, các nước tiếp nhận viện trợ thường xuyên phải đối mặt những thử thách rất lớn đó là gánh nặng nợ quốc gia trong tương lai, chấp nhận những điều kiện và ràng buộc khắt khe về thủ tục chuyển giao vốn, đôi khi còn gắn cả những điều kiện về chính trị

Ngoài ODA, Các tổ chức tài trợ có thể là WB (World Bank), IMF

(Internation Money Funds), NGO (None Government Organization) …

Trong các nguồn nhận được này có những nguồn hoàn lại hoặc không hoàn lại, hoặc được tài trợ với lãi suất thấp và kỳ hạn cho vay dài hạn Vốn từ nguồn ODA thường tập trung vào ngân sách, được chính phủ quản lý và phân phối cho các dự án Do đó, thực chất các đơn vị tài trợ này cũng không trực tiếp tham gia quản lý các dự án sản xuất kinh doanh mà có vốn tài trợ của họ, nên để đơn giản có thể gộp khoản vốn đầu tư từ nguồn này như đầu tư gián tiếp

- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Đây là nguồn vốn do các nhà đầu tư nước ngoài đem vốn vào một nước

để đầu tư trực tiếp bằng việc tạo lập những doanh nghiệp FDI đã và đang trở thành hình thức huy động vốn nước ngoài phổ biến của nhiều nước đang phát triển khi mà các luôn di chuyển vốn từ các nước phát triển đi tìm cơ hội đầu

tư ở nước ngoài để gia tăng thu nhập trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh giữa các quốc gia

Các hình thức chủ yếu của FDI ở nước ta như doanh nghiệp liên doanh, 100% vốn nước ngoài, hợp đồng kinh doanh các hình thức BOT, BTO, BT

Khác với ODA, FDI không chỉ đơn thuần đưa ngoại tệ vào nước sở tại,

mà còn kèm theo chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và khả năng tiếp cận thị trường thế giới, giải quyết việc làm, sử dụng tài nguyên trong nước… Song điều quan trọng đặt ra cho các nước tiếp nhận là khai thác triệt để các lợi thế có được của nguồn vốn này nhằm đạt được sự phát triển

Trang 24

tổng thể cao về kinh tế Tuy nhiên, FDI cũng có những mặt trái của nó Đó là nguồn vốn FDI về thực chất cũng là một khoản nợ trước sau nó vẫn không thuộc quyền sở hữu và chi phối của nước sở tại Bên cạnh đó, các nước nhận đầu tư còn phải gánh chịu nhiều thiệt thòi do phải áp dụng một số ưu đãi (như

ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, giá thuê đất, vị trí doanh nghiệp, quyền khai thác tài nguyên…) cho các nhà đầu tư hay bị các nhà đầu tư nước ngoài tính giá cao hơn mặt bằng quốc tế cho các yếu tố đầu vào, cũng như vẫn có thể bị chuyển giao những công, kỹ nghệ lạc hậu…

1.1.4 Tiết kiệm và vốn đầu tư

Để đo lường nguồn tiết kiệm trong và ngoài nước ảnh hưởng đến tốc

độ tăng trưởng GDP có thể mở rộng việc ứng dụng mô hình Harrod – Domar như sau:

s là tỷ lệ đầu tư (tiết kiệm) quốc gia

- Tốc độ tăng trưởng GDP do đầu tư trong nước đem lại:

Trang 25

S là tổng tiết kiệm quốc gia với S = I = Id + If

- Tốc độ tăng trưởng GDP do đầu tư nước ngoài đem lại:

1.1.5 Sự cần thiết phải thu hút vốn đầu tư để phát triển du lịch

Thu hút vốn đầu tư được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, được các Chính phủ các nước đẩy mạnh thực hiện, và quá trình này đang diễn

ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia, khu vực, vùng miền Cũng như đối với các ngành kinh tế khác Thu hút vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành du lịch Để đưa du khách đến với các địa điểm du lịch, trước hết cần phải đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng như hệ thống giao thông, phương tiện vận chuyển… Muốn giữ chân du khách phải đầu tư xây dựng tôn tạo các khu du lịch, xây dựng cơ sở lưu trú hoàn chỉnh hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, nước sạch cho các khu du lịch… Muốn gia tăng nguồn thu từ khách du lịch phải đầu tư vốn để tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, phong phú, hấp dẫn… Đo đó, việc xác định quy mô và định hướng đầu tư vốn đúng đắn sẽ tạo điều kiện cho du lịch phát triển bền bững, khai thác tốt các tiềm năng và bảo vệ cảnh quan môi trường

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, kinh doanh du lịch đang là một trong

những ngành kinh tế mũi nhọn Du lịch là “con gà đẻ trứng vàng” và kinh

doanh du lịch đang trở thành một trong những ngành công nghiệp hàng đầu trong tương lai Vì vậy, không ngừng tăng cường thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch là sự cần thiết khách quan, bởi một số lý do sau:

Trang 26

- Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tăng trưởng kinh

tế: Vì nhiều tác động (1) Gia tăng vốn sản xuất và trực tiếp đóng góp vào tăng

trưởng từ quá trình thực hiện các dự án đầu tư du lịch ; (2) Các dự án vào hoạt động sẽ tạo ra sản lượng và thu nhập ; (3) Kích thích các ngành cung ứng sản phẩm cho du lịch…

- Thu hút vồn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần chuyển dịch cơ

cấu kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó Đầu tư chính là phương tiện đảm bảo cho cơ cấu kinh tế được hình thành hợp lý Ngành du lịch là một bộ phận cấu thành nên nền kinh tế do đó thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch sẽ làm ảnh hưởng dến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cùng với những vai trò quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, hoạt động thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch còn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, hình thành và phát huy vai trò của vùng trọng điểm, đồng thơi tăng cường tiềm lực kinh tế cho các vùng khó khăn, thúc đẩy mối liên hệ, giao lưu kinh tế liên vùng, đảm bảo phát triển kinh tế bền vững

- Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tăng cường khoa

học kỹ thuật và nâng cao năng lực quản lý điều hành kinh doanh

Thu hút vốn đầu tư để phát triển ngành du lịch sẽ làm cho trình độ khoa học kỹ thuật của ngành du lịch được tăng lên thông qua các dự án đầu tư được triển khai, thay thế các thiết bị, công nghệ lạc hậu Đối với các nước đang phát triển, mặc dù tích lũy vốn và công nghệ thấp nhưng cũng có những lợi thế của người đi sau tiếp thu, thích nghi và làm chủ công nghệ có sẵn, do đó rút ngắn thời gian và giảm những rủi ro trong áp dụng công nghệ mới Đồng

Trang 27

thời thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch sẽ góp phần nâng cao được trình

độ quản lý, năng lực điều hành của một số nhà doanh nghiệp

- Thu hút vốn đầu tư vào phát triển du lịch góp phần tạo công ăn việc

làm cho địa phương và tăng nguồn thu cho NSNN

Thu hút vốn đầu tư còn góp phần tạo ra công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, làm cho nguồn nhân lực phát triển cả về số lượng và chất lượng; đồng thời tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên và góp phần tăng thu ngân sách nhà nước

1.2 NỘI DUNG VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ

1.2.1 Quy hoạch phát triển ngành

Quy hoạch tổng thể phát triển ngành là luận chứng phát triển kinh tế -

xã hội và tổ chức không gian các hoạt động của ngành hợp lý trên quốc gia và lãnh thổ đó trong một thời gian xác định

Nếu chiến lược phát triển ngành vạch ra phương hướng phát triển dài hạn thì quy hoạch thể hiện tầm nhìn và sự bố trí có tính chất dài hạn về thời gian và không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ động hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả cao và phát triển bền vững

Vai trò và chức năng của quy hoạch phát triển

Quy hoạch cụ thể hóa chiến lược phát triển cả về mục tiêu và giải pháp Nếu không có quy hoạch sẽ mất hướng và đổ vỡ trong phát triển vì nó định hướng dẫn dắt và hiệu chỉnh trong đó điều chỉnh cả thị trường

Quy hoạch là cầu nối giữa chiến lược, kế hoạch và quản lý thực hiện chiến lược, cung cấp các căn cứ khoa học cho các cấp để chỉ đạo vĩ mô nền kinh tế thông qua các kế hoạch, các chương trình dự án đầu tư, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững và có hiệu quả

Mối quan hệ giữa quy hoạch và chiến lược

Quy hoạch và chiến lược phát triển có điểm chung là định hướng sự

Trang 28

phát triển kinh tế xã hội Nhưng quy hoạch luôn là bản luận chứng có tính tất yếu và hợp lý cho sự phát triển, và tổ chức không gian kinh tế xã hội dài hạn dựa trên sự bố trí hợp lý bền vững kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và môi trường sinh thái

Như vậy, bản chất của chúng là giống nhau nhưng quy hoạch cụ thể hơn chiến lược Xây dựng quy hoạch trước hết là sự thể hiện tư duy, quan điểm ý tưởng đúng, nó thể hiện tầm nhìn, nhận thức, kiến thức và phương pháp đúng đắn Trong quy hoạch để có luận chứng phải dựa vào điều tra, phân tích, tính toán so sánh, chứng minh các phương án, các giải pháp và xem xét toàn diện các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội, môi trường…

Trên cơ sở chiến lược và quy hoạch các ngành và địa phương sẽ xây dựng quy hoạch phát triển của mình

Quy hoạch phát triển bao gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội và Quy hoạch ngành và quy hoạch vùng lãnh thổ

Quy hoạch tổng thể phát ngành sẽ bao trùm ngành lĩnh vực Nghĩa là các quy hoạch tổng thể vùng lãnh thổ và các ngành là những cấu thành của quy hoạch tổng thể Ngoài ra quy hoạch tổng thể còn bao gồm hệ thống Bản

đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Đây là bản đồ thể hiện phương án tổ chức không gian các hoạt động kinh tế - xã hội của một lãnh thổ nhất định cho thời kỳ quy hoạch Hệ thống bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội bao gồm: bản đồ hành chính; bản đồ quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu; bản đồ hiện trạng và quy hoạch phân bố các điểm dân cư và đô thị; bản đồ quy hoạch các khu công nghiệp và các công trình chủ yếu; bản đồ quy hoạch tổ chức không gian lãnh thổ; bản đồ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội

Chức năng của quy hoạch tổng thể

- Tổ chức không gian lãnh thổ:

Trang 29

- Luận chứng phát triển kinh tế - xã hội

Quy hoạch tổng thể của ngành có tầm nhìn sâu rộng hơn Nó vừa phải đảm bảo các phương án tối ưu liên ngành và liên vùng trên cùng một địa bàn lãnh thổ, vùa phải phát huy tiềm năng và đặc thù của vùng để phát triển Như vậy quy hoạch trên cơ sở kết quả phân tích điều kiện mọi mặt của vùng lãnh thổ để phát triển ngành giúp các nhà hoạch định trả lời câu hỏi nên phát triển ngành không ? ở đâu? Và thời gian nào? Qua đó góp phần định hướng phát triển ngành

1.2.2 Lập danh mục đầu tư để thu hút vốn đầu tư

a Khái niệm lập danh mục đầu tư

ưu tiên đầu tư vào địa phương dựa trên những điều kiện về nguồn lực cũng như các định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó

Sự cần thiết phải lập danh mục đầu tư

Một địa phương, một đất nước cụ thể muốn thu hút vốn đầu tư cần phải

có mục tiêu cụ thể, rõ ràng thì mới mong nhận được các cơ hội đầu tư và nguồn vốn cần thiết cho những định hướng phát triển của địa phương hay một quốc gia Những mục tiêu ấy được cụ thể hóa bằng 1 danh sách các danh mục cần thiết phải đầu tư, tư đó sẽ có kế hoạch cụ thể cho trong việc thu hút vốn đầu tư của từng dự án cụ thể

Vì sao cần quản lý danh mục đầu tư?

- Thứ nhất, đa dạng hoá danh mục đầu tư là nhu cầu của người đầu tư, những rủi ro có thể san sẻ thông qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư

- Thứ hai, việc lựa chọn danh mục đầu tư phải tính đến ảnh hưởng của thuế Nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường không muốn trong danh mục của mình có những dự án đầu tư giống như trong danh mục của những người chịu thuế thấp

Trang 30

- Thứ ba, quản lý danh mục đầu tư là cần thiết vì liên quan đến lứa tuổi của khách hàng đầu tư Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có nhu cầu riêng trong chính sách lựa chọn danh mục đầu tư và liên quan đến rủi ro

Quy trình quản lý danh mục đầu tư

Quản lý danh mục đầu tư là quá trình liên tục và có hệ thống gồm 4 bước:

- Thứ nhất, xác định mục tiêu đầu tư Trọng tâm của việc xác định mục tiêu là xác định rõ mức độ rủi ro có thể chấp nhận được của chủ đầu tư và mức độ lợi nhuận mong đợi tương thích với mức độ rủi ro đó

- Thứ hai, xây dựng các chiến lược phù hợp với mục tiêu bao gồm việc lập các tiêu chuẩn và phân bổ đầu tư

- Thứ ba, giám sát theo dõi việc thực hiện dự án đầu tư, cả mức độ rủi

ro và lợi nhuận mong đợi

- Thứ tư, điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp với diễn biến của thị trường và mục tiêu của người đầu tư

Một nguyên tắc nữa của danh mục là chính sách đầu tư được viết ra bằng văn bản và có sự cam kết của nhà đầu tư Điều này rất cần thiết vì nó đảm bảo tính nhất quán, không xét lại theo tính ngẫu hứng, không phụ thuộc vào quan điểm ngắn hạn của chủ đầu tư

Căn cứ lập danh mục đầu tư

Tùy thuộc vào mục tiêu thu hút đầu tư của từng địa phương cụ thể mà

cơ quan xúc tiến đầu tư của địa phương đó sẽ thành lập được danh mục đầu tư

cụ thể Mục tiêu thu hút đầu tư được chia làm 2 loại: mục tiêu định tính và mục tiêu định lượng

- Mục tiêu định tính bao gồm:

+ Mong muốn về hình ảnh đầu tư

+ Mong muốn về mối quan hệ giữa doanh nghiệp hai nước

Trang 31

- Mục tiêu định lượng bao gồm:

+ Số lượng doanh nghiệp thu hút; Số lượng vốn đầu tư thu hút;

+ Số lượng doanh nghiệp hai nước tiếp xúc với nhau

Dựa vào những mục tiêu thu hút vốn đầu tư trong từng thời kỳ khác nhau mà danh mục đầu tư cũng có sự thay đổi cho phù hợp

Việc xây dựng một danh mục đầu tư cũng ưu tiên dựa trên những đặc điểm về các ngành, lĩnh vực cụ thể và vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội cụ

thể của địa phương cần thu hút vốn đầu tư để có được lợi thế cạnh tranh nhất

Việc lập danh mục đầu tư cũng tuân theo các Quyết định của Chính phủ về việc lập các danh mục đầu tư theo chương trình đầu tư quốc gia như:

Quyết định 109/QĐ-TTG ngày 17/7/2007 của Thủ tướng chính phủ về Quy chế xây dựng và xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 - 2010

Quyết định 440/QĐ-BKH ngày 08/04/2009 của Bộ KHĐT về việc phê duyệt danh mục các hoạt động xúc tiến đầu tư theo chương trình xúc tiến đầu

tư quốc gia năm 2009;

Quyết định 26/2012/QĐ-TTg ngày 08/6/2012 của Thủ tướng chính phủ

về việc Ban hành quy chế xây dựng và thực hiện chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia

Từ đó, các địa phương cũng dựa vào điều kiện và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương mà có Danh mục đầu tư phù hợp

1.2.3 Thực hiện xúc tiến thu hút đầu tư

Khái niệm xúc tiến đầu tư

Xúc tiến đầu tư là các hoạt động nhằm giới thiệu, quảng cáo cơ hội đầu

tư và hỗ trợ đầu tư của nước chủ nhà Các hoạt động này do các cơ quan chính phủ, các nhà khoa học, các tổ chức, các doanh nghiệp, thực hiện dưới nhiều hình thức như các chuyến viếng thăm ngoại giao cấp chính phủ,

tổ chức các hội thảo khoa học, diễn đàn đầu tư, tham quan, khảo sát, và

Trang 32

thông qua các phương tiện thông tin, xây dựng các mạng lưới văn phòng đại diện ở nước ngoài

Xúc tiến đầu tư cũng có thể hiểu như là hoạt động tiếp thị cho hình ảnh của một đất nước Tiếp thị là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu và ước muốn thông qua quá trình trao đổi

Với người tiêu dùng, tiếp thị là tìm kiếm những sản phẩm họ cần với giá cả có thể chấp nhận được Với người bán, đó là các hoạt động kết nối giữa sản phẩm và người tiêu dùng được thực hiện để thu hút sự chú ý của khách hàng vào sản phẩm của mình

Đối với xúc tiến đầu tư, người bán là nước thu hút đầu tư, sản phẩm chính là môi trường đầu tư, và khách hàng (hay người tiêu dùng) là nhà đầu tư nước ngoài

Giá của sản phẩm chính là chi phí của nhà đầu tư Môi trường đầu tư càng tốt (tức chất lượng sản phẩm càng cao) chi phí đối với nhà đầu tư càng thấp

Kênh phân phối ở đây chính là kênh mà ta tìm tới nhà đầu tư để tiếp thị

và thu hút họ đến đầu tư

Quy trình xúc tiến đầu tư

Để cho hoạt động xúc tiến đầu tư đạt được hiệu quả cao như mong muốn thì cần phải tuân theo một quy trình rõ ràng Một quy trình xúc tiến đầu

tư bao gồm các khâu từ lập kế hoạch, xác định đối tác, chuẩn bị thông tin và cuối cùng là thực hiện việc xúc tiến

+ Lập kế hoạch xúc tiến đầu tư

Lập một kế hoạch rõ ràng là bước cuối cùng trong quá trình xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư - là bản đồ chỉ dẫn để các cơ quan xúc tiến đạt được mục tiêu Tài liệu này gồm khoảng 30 – 50 trang bao gồm các thông tin chi tiết về những điều tìm được trong các buổi lập kế hoạch chiến lược của cơ quan Tài liệu sẽ trả lời các câu hỏi sau:

Trang 33

- Lĩnh vực, ngành nghề nào sẽ được IPA hướng tới trong thời gian ngắn hạn (1 – 2 năm ) và trung hạn (3 – 5 năm )?

- Đâu là các khu vực địa lý quan trọng cần tập trung?

- Phương pháp xúc tiến đầu tư nào sẽ được sử dụng để tiếp cận các công ty này và tại sao chúng lại được lựa chọn?

- Những thay đổi trong cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của nhân viên trong cơ quan?

- Ảnh hưởng của chiến lược này đối với các mối quan hệ hiện tại của

Bản kế hoạch này sẽ trình bày rõ ràng các mục tiêu xúc tiến của cơ quan và bạn dự định làm thế nào để đạt được chúng Tài liệu cũng nên phác thảo các hoạt động dự kiến triển khai trong thời gian 3 năm tới Hết thời gian

đó, chiến lược sẽ được đánh giá lại trong bối cảnh có những thay đổi của đất nước và thị trường quốc tế

+ Xác định đối tác

Có những lý do để tìm kiếm các quan hệ đối tác xúc tiến đầu tư:

- Nguồn lực hạn chế: Hiếm khi một IPA có thể nói rằng họ đủ tiền để

thực hiện được tất cả các hoạt động trong chức năng của mình Ở nhiều nước,

Trang 34

các IPA dựa vào sự tài trợ bên ngoài, sự tài trợ này vừa hiếm lại vừa không

đủ Các đối tác bên ngoài có thể được mời cùng đi trên một con thuyền với bạn để cung cấp tài chính trực tiếp hoặc thực hiện các nhiệm vụ ngoài vượt quá khả năng của bạn

- Quyền lực hạn chế: Nhiệm vụ và quyền hạn của các IPA thường

chồng chéo với các Bộ, các cơ quan tư nhân hoặc các phòng thương mại Ở một số nước, quyền lực đáng ra nên thuộc về các IPA thì lại được chuyển giao hoặc nắm giữ bởi các thực thể khác Tình hình này đòi hỏi các IPA trao đổi với các thực thể này để làm rõ vai trò, trách nhiệm và thỏa thuận hợp tác

- Xây dựng năng lực của các IPA: Có thể khó để tuyển nhân viên với

tất cả các kỹ năng được yêu cầu IPA có thể tìm các tổ chức có thể giúp đào tạo và cung cấp kiến thức cho các chuyên viên xúc tiến và các nhân viên khác Ví dụ các thông tin về ngành cần thiết cho một chiến dịch xúc tiến trọng điểm có thể được thu thập nhờ vào sự hợp tác với các phòng thương mại chuyên ngành, thông qua các cuộc phỏng vấn các công tu trong nước hoặc thảo luận với các Bộ thuộc Chính phủ Trong một số trường hợp bạn có thể muốn trao đổi nhân viên với các tổ chức này trong thời gian vài tháng

- Thu thập thông tin: Ngoài các thông tin trên Internet, có rất nhiều

thông tin có sẵn giúp các IPA tìm hiểu về các nhà đầu tư và hoạt động của họ Tuy nhiên, các thông tin chỉ có sẵn ở dạng sơ khai, hoặc có thể được cung cấp

từ nhiều nguồn khác nhau và có thể đòi hỏi các nhân viên phải mất thời gian

để chế biến chúng một cách hiệu quả Nhờ vào các quan hệ đối tác với một số nhà cung cấp thông tin chuyên nghiệp, bạn có thể thu thập thông tin đã được thiết kế phù hợp hơn đối với các hoạt động của bạn hoặc có thể sử dụng tốt hơn các thông tin có sẵn

- Xây dựng quan hệ: Điểm đầu tiên để tiếp xúc với các nhà đầu tư tiềm

năng nhất là các công ty đã đầu tư Bạn nên cố gắng duy trì quan hệ tốt với

Trang 35

các nhà đầu tư đang hoạt động và bất kỳ thực thể nào sẽ được hỏi ý kiến về đất nước của bạn, kể cả các công ty tư vấn, các phòng thương mại, thành phần

tư nhân trong nước, phương tiện truyền thông trong nước và quốc tế và các cơ quan cấp quốc gia Duy trì mạng lưới các quan hệ hiệu quả là trách nhiệm quan trọng của bất kỳ IPA nào

Để hoạt động xúc tiến đầu tư thành công đòi hỏi sự hợp tác hiệu quả giữa cơ quan xúc tiến đầu tư với các tổ chức khác trong nước cũng như nước ngoài.Trong quá trình xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư, quan hệ với các

cơ quan Nhà nước và tư nhân có thể hỗ trợ trong việc xây dựng và truyển bá hình ảnh, tạo ra đầu tư, và phục vụ nhà đầu tư cũng được xem là các mối quan

hệ đối tác tiềm năng Không phải tất cả hoạt động đều có thể thu được lợi ích

từ các mối quan hệ này, do đó chúng ta cần xác định hoạt động nào thì nên phối hợp với cơ quan nào là tốt nhất, từ đó ta có thể tối đa hóa hiệu quả sử dụng các nguồn lực sẵn có và đảm bảo rằng các bên liên quan đang hoạt động

Chiến lược quản lý

đó, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan xúc tiến đầu tư thường chồng chéo với các Bộ, các cơ quan tư nhân hoặc các phòng thương mại.Chính bởi sự hạn

Trang 36

chế về quyền lực như vậy mà các cơ quan nên liên kết lại với nhau để làm rõ vai trò và nhiệm vụ cũng như ngĩa vụ của các bên

Thêm vào đó các thông tin mà ta lấy được thường chỉ ở dạng sơ khai và được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau đòi hỏi ta phải xác minh và tổng hợp lại nhưng nếu có quan hệ với các nhà cung cấp thông tin chuyên nghiệp cũng như các trung tâm tổng hợp, thống kê thì ta sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian và chi phí

Đặc biệt, để tiếp xúc với các nhà đầu tư tiềm năng thì trước tiên ta phải tiếp xúc với các nhà đầu tư trước đó Các cơ quan xúc tiến đầu tư cần duy trì mối quan hệ tốt với các nhà đầu tư đang hoạt động và bất kì thực thể nào vì đó sẽ là cầu nối cho các nhà đầu tư khác đến với địa phương

Ma trận đánh giá quan hệ đối tác

Các giai đoạn đầu Phát triển Trưởng thành Lâu dài

trình nghị sự rộng hơn

Bằng chứng của

sự thành công của một số mục tiêu đặt ra Các cuộc xem xét

thông báo và ảnh hưởng đến các hoạt động trong tương lai

thống nhất ở cam kết chung

để thực hiện mục tiêu Quan hệ đối tác nói cùng một tiếng nói

Trang 37

một số xử sự giữ kẽ vẫn còn

Tất cả các thành viên thừa nhận rằng xử sự của một số tổ chức đơn lẻ không có ích đối với kết quả tích cực của quan

hệ đối tác Những chuẩn mực văn hóa mà tất cả các thành viên chấp thuận đã được xác

xuyên tổ chức các cuộc xem xét lại tiến trình

Văn hóa khác biệt ở mọi nơi, được các thành viên củng cố và thể hiện Các thành viên nói chuyện cởi mở

và trung thực và đạt được lợi ích, bởi vì họ là một phần của quan

và một phần của quá trình Các đối tác cởi mở thừa nhận thực tế này

Kiến thức mới

và khả năng của các thành viên được tăng lên đáng kể, ở cả cấp độ tổ chức Môi trường học tập có tính xây dựng, an toàn khắp nơi đóng góp cho mục tiêu và kết quả của quan hệ đối tác

Trang 38

trách nhiệm, những quan

hệ đối tác vẫn

những thành viên đơn điệu

để điều khiển

Phân phối nhiệm

vụ giữa các thành viên chủ động, có trách nhiệm, tự nguyện

Tất cả các thành viên nhận thức được sâu sắc trách nhiệm đối với sự thành công của quan

hệ đối tác Bằng chứng về sự cam kết rõ ràng đối với các mục tiêu của quan hệ đối tác

và trao đổi các thông tin

nhưng những thành

vẫn bảo vệ lợi ích của

họ bằng việc

thông tin hạn chế khi được yêu cầu

Chia sẻ thông tin cởi mở và trung thực là điều vô cùng quan trọng dẫn đến thành công của quan hệ đối tác Các thành viên thoải mái chia sẻ hiểu biết với nhau

Chủ động chia

sẻ thông tin và trao đổi ý tưởng

ở những nơi công cộng Có lòng tin tưởng sâu sắc khi chia

sẻ thông tin bí mật và nhạy cảm

+ Chuẩn bị thông tin

Trong quá trình ra quyết định của nhà đầu tư, sự nhận thức của họ là quá trình gắn với thực tế Thực tế cho thấy các nhà đầu tư thường không có

đủ thông tin cần thiết do đó họ đưa ra các giả định và suy luận dựa trên những

Trang 39

thông tin đã có và lời khuyên của những người đi trước Với một thông tin không đầy đủ hoặc sai lệch nhà đầu tư có thể đưa ra một kết luận không chính xác về địa điểm đầu tư Do đó các trung tâm xúc tiến đầu tư phải làm sao để luồng thông tin tới các nhà đầu tư được nhanh nhất và chính xác nhất, đó cũng là lý do tại sao ta phải duy trì tốt và luôn mở rộng các mối quan hệ

Để đưa được những vấn đề, thông tin tới các nhà đầu tư, các trung tâm xúc tiến đầu tư cần lựa chọn những công cụ marketing phù hợp nhất để truyền thông điệp Việc lựa chọn công cụ phù hợp có vai trò quan trọng trong việc tối đa hóa khả năng tác động của các hoạt động xúc tiến

Hãy thiết kế thông điệp tiếp thị của bạn tác động trực tiếp lên nhận thức tiêu cực của nhà đầu tư Ví dụ nếu dữ liệu khảo sát cho thấy:

- Nếu các công ty có ý kiến không thiện chí đối với môi trường kinh tế

ở quốc gia bạn….hãy nhấn mạnh đến những cải cách kinh tế gần đây và nền kinh tế mới cởi mở và minh bạch

- Nếu các công ty cho rằng thị trường trong nước của bạn còn quá nhỏ bé….hãy nhấn mạnh tính cởi mở của chính sách thương mại và những ưu đãi trong việc tiếp cận thị trường nước ngoài

- Nếu các công ty tỏ ra nghi ngờ về sự ổn định kinh tế và chính trị của nước bạn….hãy đưa ra thông điệp có tính tổng quát như “ sự ổn định kinh tế

và chính trị của chúng tôi có nghĩa là tỷ lệ rủi ro thấp hơn” được minh chứng bằng việc trở thành thành viên của MIGA và các dịch vụ bảo hiểm rủi ro về chính trị cho các nhà đầu tư

- Nếu các công ty cho rằng cơ sở hạ tầng viễn thông của bạn còn yếu và thiếu… hãy nhấn mạnh rằng gần đây ngành viễn thông đã mở cửa cho cạnh tranh quốc tế và hiện đang được hiện đại hóa nhanh chóng

Một số công cụ xúc tiến nhằm cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư:

- Công cụ thông tin: Các công cụ thông tin bao gồm: cuốn sách mỏng

Trang 40

giới thiệu (brochure), báo cáo chuyên ngành, bản tin tức, thư ngỏ, CD-ROM, Internet, Video Việc sử dụng CD-ROM và Internet không thể thay thể những công cụ thông tin truyền thống như brochure giới thiệu

- Quảng cáo: Chiến dịch quảng cáo đã từng là công cụ rất thành công ở

một số nước Tuy nhiên, chi phí thực hiện quảng cáo thường tốn kém và vì vậy để đạt được hiệu quả chi phí, chiến dịch quảng cáo pahri tập trung có trọng điểm vào thị trường mục tiêu

- Quan hệ công chúng: Chiến dịch quan hệ công chúng thường ít tốn

kém nhưng vẫn truyền tải được thông tin trên các phương tiện truyền thông có

độ tin cậy cao Chiến dịch quan hệ công chúng nên tổ chức cả ở trong nước và trên phạm vi quốc tế

- Hội thảo và hội nghị: Nếu được chuẩn bị tốt, hội thảo và hội nghị sẽ

là dịp tốt giúp IPA tiếp cận trực tiếp với các nhà đầu tư có tiềm năng Công tác tổ chức hội thảo tốn nhiều thời gian và nếu tổ chức không tốt có thể dẫn tới hậu quả tạo nên ấn tượng tiêu cực

Thực hiện xúc tiến

Bước cuối cùng trong quy trình xúc tiến đầu tư chính là thực hiện việc xúc tiến đầu tư sau khi đã có những kế hoạch rõ ràng, xác định được đối tác

và tìm hiểu được các thông tin cần thiết

1.2.4 Thực hiện chính sách ưu đãi đầu tư

Ưu đãi đầu tư là những hoạt động của chủ thể thu hút đầu tư như chính quyền địa phương hay cộng đồng doanh nghiệp và người dân tạo ra những điều kiện khác biệt thuận lợi và những lợi ích kèm theo để giúp các nhà đầu

tư khi thực hiện các dự án đầu tư giảm được các chi phí liên quan tới đầu tư

Chi phí đầu tư của các nhà đầu tư bao gồm chi phí thực biểu hiện bằng tiền và chi phí cơ hội liên quan tới việc thực hiện dự án đầu tư như thời gian hoàn thành thủ tục đầu tư, tiếp nhận mặt bằng, triển khai dự án

Ngày đăng: 04/04/2022, 23:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] PGS. TS Bùi Quang Bình (2010) Giáo trình Kinh tế phát triển, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế phát triển
Nhà XB: NXB Giáo dục
[2] PGS. TS Bùi Quang Bình (2010) Giáo trình Kinh tế vĩ mô, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế vĩ mô
Nhà XB: NXB Giáo dục
[3] Lê Văn Châu (1995), Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn nước ngoài và chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam
Tác giả: Lê Văn Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Hà Nội
Năm: 1995
[4] GS.TS Nguyễn Bích Đạt (2004), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam,Đề tài KH-CN cấp nhà nước KX01.05, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Tác giả: GS.TS Nguyễn Bích Đạt
Năm: 2004
[5] Bùi Thị Dung (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Kinh doanh và quản lý, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bình Dương - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Bùi Thị Dung
Năm: 2005
[6] Nguyễn Khánh Duy (2006), “Triển vọng FDI vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 2006-2010”, Tạp chí phát triển kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Triển vọng FDI vào Việt Nam trong bối cảnh hội nhập 2006-2010”
Tác giả: Nguyễn Khánh Duy
Năm: 2006
[7] Lưu Đức Hải, Trần Thu Thủy (2010), Một số giải pháp thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 2 – 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp thu hút vốn FDI vào Việt Nam trong chiến lược phát triển đất nước đến năm 2020
Tác giả: Lưu Đức Hải, Trần Thu Thủy
Năm: 2010
[8] Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung (2008), Kinh tế phát triển, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Tác giả: Phạm Ngọc Linh và Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2008
[10] TS. Phạm Văn Năng, TS. Trần Hoàng Ngân, TS. Sử Đình Thành (2002), Sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng các công cụ tài chính để huy động vốn cho chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam đến năm 2020
Tác giả: TS. Phạm Văn Năng, TS. Trần Hoàng Ngân, TS. Sử Đình Thành
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2002
[11] PGS. TS Từ Quang Phương (2006), Giáo trình Kinh tế đầu tư, NXB Đại học kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế đầu tư
Tác giả: PGS. TS Từ Quang Phương
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2006
[13] TS. Hà Văn Siêu (2010), “Điểm đột phá trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Điểm đột phá trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030
Tác giả: TS. Hà Văn Siêu
Năm: 2010
[15] Nguyễn Huy Thám (1999), Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước ASEAN và vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Thám
Năm: 1999
[16] Phan Minh Thành (2000), Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai
Tác giả: Phan Minh Thành
Năm: 2000
[17] Đỗ Xuân Thủy (1998), Đầu tư trực tiếp nưuớc ngoài: tính hai mặt của một vấn đề, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 236 tháng 1/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư trực tiếp nưuớc ngoài: tính hai mặt của một vấn đề
Tác giả: Đỗ Xuân Thủy
Năm: 1998
[18] Nguyễn Khắc Thân, Chu Văn Cấp (1995), Những giải pháp kinh tế chính trị nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những giải pháp kinh tế chính trị nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Khắc Thân, Chu Văn Cấp
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Hà Nội
Năm: 1995
[19] Võ Thanh Thu (2000), Liên doanh đầu tư và chuyển giao công nghệ, Nhà xuất bản Thống kê - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên doanh đầu tư và chuyển giao công nghệ
Tác giả: Võ Thanh Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê - Hà Nội
Năm: 2000
[20] Võ Thanh Thu (1994), Quản trị dự án đầu tư quốc tế, Nhà xuất bản thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quản trị dự án đầu tư quốc tế
Tác giả: Võ Thanh Thu
Nhà XB: Nhà xuất bản thống kê Hà Nội
Năm: 1994
[9] Nguyễn Đình Liệu (2000) Tạo và sử dụng nguồn vốn trên địa bàn TP Hồ Chí Minh thời kỳ 1991 – 2000 Khác
[12] Hải Sơn (2008), Thu hút đầu tư ở Quảng Nam – cần một tư duy mới Khác
[14] Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Bình 2010, Báo cáo thu hút đầu tư tại Quảng Bình từ 2010 – 2014 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu - (luận văn thạc sĩ) thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh quảng bình
hi ệu (Trang 9)
Bảng 2.2. Đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình từ năm 2009 đến năm 2013 - (luận văn thạc sĩ) thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh quảng bình
Bảng 2.2. Đầu tư vào ngành du lịch tỉnh Quảng Bình từ năm 2009 đến năm 2013 (Trang 62)
sút cho dù số dự án vẫn tăng lên. Nhìn vào bảng 2.2, trong 5 năm, từ năm 2009 đến năm 2013 thì năm 2013 có số dự án đầu tư vào ngành du lịch tỉnh - (luận văn thạc sĩ) thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh quảng bình
s út cho dù số dự án vẫn tăng lên. Nhìn vào bảng 2.2, trong 5 năm, từ năm 2009 đến năm 2013 thì năm 2013 có số dự án đầu tư vào ngành du lịch tỉnh (Trang 63)
quy mô khá nhỏ nhưng chủ yếu là các dự án vừa và nhỏ. Bảng 2.3 dưới đây sẽ cho chúng ta thấy quy mô vốn bình quân một dự án qua các năm - (luận văn thạc sĩ) thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch tỉnh quảng bình
quy mô khá nhỏ nhưng chủ yếu là các dự án vừa và nhỏ. Bảng 2.3 dưới đây sẽ cho chúng ta thấy quy mô vốn bình quân một dự án qua các năm (Trang 64)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w