Tuy nhiên, qua kiểm tra, cơ quan Thuế phát hiện một số tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập vi phạm như: Kê khai thuế không đúng thời gian quy định; khấu trừ thuế TNCN không tương ứng với t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LÊ THỊ THẢO
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: GS TS TRƯƠNG BÁ THANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
LÊ THỊ THẢO
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 7
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ TNCN 7
1.1.1 Khái niệm thuế TNCN 7
1.1.2 Đặc điểm thuế TNCN 7
1.1.3 Vai trò thuế TNCN 8
1.2 QUẢN LÝ THUẾ TNCN 10
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế TNCN 10
1.2.2 Mục tiêu công tác quản lý thuế TNCN 11
1.2.3 Nội dung quản lý thuế TNCN 13
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN 28
1.3.1 Điều kiện kinh tế, xã hội 29
1.3.2 Nhân tố về cơ chế chính sách 29
1.3.3 Các nhân tố từ phía cơ quan Thuế 30
1.3.4 Các nhân tố từ phía người nộp Thuế 31
1.3.5 Các nhân tố khác 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN TẠI CỤC THUẾ
TP ĐÀ NẴNG 35
2.1 TỔNG QUAN VỀ CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 35
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành thuế TP Đà Nẵng 35
2.1.2 Kết quả thu NSNN tại Cục thuế TP Đà Nẵng 36
2.1.3 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Thuế TNCN tại Cục thuế TP Đà Nẵng 37
2.1.4 Hệ thống thông tin quản lý thuế 40
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 41 2.2.1 Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế TNCN 41
2.2.2 Quản lý hoạt động đăng ký thuế, cấp mã số thuế 42
2.2.3 Quản lý việc đăng ký giảm trừ gia cảnh 45
2.2.4 Quản lý công tác kê khai, nộp thuế 47
2.2.5 Quản lý quá trình quyết toán thuế 51
2.2.6 Quản lý việc thực hiện công tác hoàn thuế 53
2.2.7 Thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý các vi phạm pháp luật về thuế TNCN 55
2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 58
2.3.1 Những thành tựutrong công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế Tp Đà Nẵng 58
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Đà Nẵng 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 76
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 76
Trang 63.1.1 Mục tiêu của việc quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Đà Nẵng 76
3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý thu thuế tại Cục thuế TP Đà Nẵng76 3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ TNCN TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 77
3.2.1 Kiện toàn bộ máy quản lý thuế và nâng cao chất lượng cán bộ thuế 77
3.2.2 Tham mưu Tổng cục thuế nhằm hoàn thiện sắc thuế và cơ chế chính sách thuế TNCN 79
3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 85
3.2.4 Về tổ chức đăng ký cấp mã số thuế, quản lý kê khai giảm trừ gia cảnh và các chi phí khấu trừ 86
3.2.5 Về việc kê khai và nộp thuế TNCN 88
3.2.6 Hoàn thiện công tác quyết toán thuế và hoàn thuế 89
3.2.7 Tăng cường thanh tra, kiểm tra thuế, xử lý các vi phạm pháp luật về thuế TNCN và ngăn chặn các hành vi trốn thuế 90
3.2.8 Triển khai việc thanh toán và chi trả thu nhập qua tài khoản Sec 96
3.2.9 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế 98
3.2.10 Hoàn thiện hệ thống thông tin quản lý thuế 98
3.3 KIẾN NGHỊ NHẰM TẠO ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP 101 3.3.1 Đối với chính phủ và các cơ quan trung ương 101
3.3.2 Đối với Tổng cục thuế 102
3.3.3 Đối với chính quyền địa phương TP Đà Nẵng 103
KẾT LUẬN 106 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBNV Cán bộ nhân viên CMND Chứng minh nhân dân
ĐTNT Đối tượng nộp thuế
HĐLĐ Hợp đồng lao động HTKK Hỗ trợ kê khai
NPT Người phụ thuộc NSNN Ngân sách Nhà nước
TCCT Tổ chức chi trả TNCN Thu nhập cá nhân
UBND Ủy ban nhân dân
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua cùng với sự phát triển mạnh của nền kinh tế, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng tăng lên đáng kể, thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng Đối tượng nộp Thuế TNCN và hình thức thu nhập của các bộ phận dân cư và người lao động cũng đa dạng
Khi hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế cũng ngày càng gia tăng Thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến cơ cấu thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu ngân sách nhà nước Thuế thu nhập cá nhân cũng sẽ góp phần nâng cao tỷ trọng thu nội địa để ổn định thu cho ngân sách nhà nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng số thu ngân sách tại các nước trong khối ASEAN, như: Thái Lan, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin khoảng 12-16%, các nước đang phát triển khoảng 13-14%, các nước phát triển như: Mỹ, Nhật, Anh, Pháp, Đức khoảng 30-40%
Tỷ lệ thuế thu nhập của cá nhân (bao gồm cả 3 sắc thuế như đã nêu ở trên) tại Việt Nam hiện nay khoảng 4,1% trong tổng số thu ngân sách
Bên cạnh đó, một số người nước ngoài làm ăn sinh sống tại Việt Nam và
số người Việt Nam có thu nhập từ nước ngoài cũng tăng lên.Sự đa dạng và gia tăng thu nhập của các cá nhân trong Xã hội sẽ làm cho khoảng cách chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư ngày càng lớn Với tình hình đó, ta
có thể thấy Thuế Thu nhập cá nhân ngày càng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Trang 10Sau 5 năm thực hiện, hầu hết các cơ quan chi trả thu nhập, cá nhân nộp thuế đã chấp hành nghiêm túc chính sách thuế TNCN Tuy nhiên, qua kiểm tra, cơ quan Thuế phát hiện một số tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập vi phạm như: Kê khai thuế không đúng thời gian quy định; khấu trừ thuế TNCN không tương ứng với thu nhập thực nhận; không khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập… Mặt khác, người nộp thuế có biểu hiện vi phạm như: Không ủy quyền cho tổ chức chi trả quyết toán thuế thay nhưng bản thân cũng không quyết toán với cơ quan Thuế; có nhiều nguồn thu nhập nhưng khai ít hoặc không quyết toán thuế dẫn đến khai man để trốn thuế…
Xuất phát từ thực tế, trên giác độ quản lý để góp phần đẩy mạnh công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tác giả đã
chọn nghiên cứu đề tài:“Tăng cường quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế Thành phố Đà Nẵng”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở lý luận về công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân, luận văn
đi sâu vào nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế Thành phố Đà Nẵng Từ đó đưa ra giải pháp góp phần đẩy mạnh công tác quản lý thuế TNCN nhằm chống thất thu thuế và tăng ngân sách nhà nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế Tp Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu về công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân của Cục thuế Thành phố Đà Nẵng từ ngày 01/01/2012
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích định tính được minh hoạ bằng số liệu tổng hợp từ thực tế, kết hợp phương pháp phân tích và đánh giá công tác quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Đà Nẵng
Trang 115 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn sẽ được trình bày thành 3 chương như sau:
Chương 1:Lý luận cơ bản về quản lý thuế Thu nhập cá nhân
Chương 2:Thực trạng quản lý thuế TNCN tại Cục thuế TP Đà Nẵng Chương 3:Giải pháp tăngcường quản lý thuế TNCN tại cục Thuế TP Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay thuế TNCN đã trở thành loại thuế phổ biến trên Thế giới Có thể nói đối với hầu hết các quốc gia thuế thu nhập cá nhân được xem như là
“vua” của các loại thuế Không chỉ bởi nguồn thu khổng lồ của nó trong tổng ngân sách để phục vụ cho việc vận hành bộ máy hành chính nhà nước, đảm bảo an ninh quốc gia, chính sách xã hội, mà sự ra đời của sắc thuế TNCN còn góp phần quan trọng trong việc điều tiết phân phối lại thu nhập trong xã hội trên cơ sở xem xét đến hoàn cảnh cụ thể của người nộp thuế
Diện điều chỉnh của sắc thuế TNCN rất rộng, đối tượng điều chỉnh đa dạng và phức tạp Từ sự gánh vác các loại thuế một cách gián tiếp, nay gánh thêm thuế thu nhập cùng với lạm phát, “bão” giá… vô hình chung trở thành
“giọt nước tràn ly” khiến cho đời sống của người lao động thêm bấp bênh, mức trượt giá của đồng tiền cùng với giá trị thực tế của mức khởi điểm chịu thuế sẽ khiến thuế thu nhập cá nhân bộc lộ “tính tận thu” của nó mà hậu quả
là làm gia tăng động cơ trốn thuế Điều đó đặt ra cho các nhà quản lý hàng loạt các câu hỏi đó là: Theo dõi và quản lý thu nhập như thế nào? Quản lý đối tượng nộp thuế ra sao? Sửa đổi, bổ sung chính sách thuế TNCN như thế nào
để đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư? Làm thế nào để mọi tầng lớp dân cư trong xã hội có thể hiểu rõ chính sách thuế và thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế TNCN? Công tác kiểm tra, thanh tra được
Trang 12thực hiện thế nào vừa gọn nhẹ vừa hiệu quả?
Các vấn đề trên được nhiều tác giả quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm góp phần hoàn thiện chính sách thuế TNCN Tác giã
đã có điều kiện đọc và tham khảo rất nhiều công trình nghiên cứu, một số công trình nghiên cứu về thuế TNCN nổi bậc đó là:Công trình nghiên cứu với
đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Trà Vinh” của tác giả Trần Công Thành- Đại học Đà Nẵng; “Tăng cường công tác kiểm soát trong quá trình quản lý thuế thu nhập cá nhân tại Cục thuế tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Nguyễn Đình Trọng- Đại học Đà Nẵng; “Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Hoàng Mai Lương- Đại học quốc gia Hà Nội.Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra cái nhìn tổng quan về thuế TNCN, định hướng hoàn thiện về quy định pháp luật về căn cứ tính thuế TNCN, đi sâu phân tích, đánh giá công tác kiểm soát nguồn thu thuế TNCN Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu từ năm 2012 trở về trước, trong tình hình hiện nay không còn phù hợp do chính sách thuế TNCN sửa đổi, bổ sung liên tục Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu khác nhưng chỉ ở dạng những bài báo đăng trên các báo tạp chí, những báo cáo trong hội thảo khoa
học Trong số đó, đề tài“Cơ sở xây dựng Luật Thuế thu nhập cá nhân tối
ưu” của ThS Nguyễn Anh Phong- ĐH QG TP Hồ Chí Minh”, bài viết bàn
về vấn đề xây dựng mức khấu trừ hợp lý và làm sao để đánh thuế TNCN mang tính tối ưu, dựa trên Mô hìnhEdgeworth và mô hình hiện đại (Nghiên cứu của Stern), tác giả đã phân tích tính phù hợp của Luật thuế TNCN hiện hành tại Việt Nam và Hoa Kỳ theo tỷ lệ lạm phát, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng Luật Thuế TNCN mang tính hiệu quả và công bằng Hơn nữa, rất nhiều nghiên cứu thuế TNCN của các tác giả nước ngoài như Chung (2002); Eriksen và Fallan (1996); Harris và Associates (1988); Jackson và Milliron (1986) Bài nghiên cứu giải thích tính tuân thủ của người
Trang 13nộp thuế được quyết định đáng kể bởi hiểu biết người nộp thuế về hệ thống thuế và nhận thức của họ về sự công bằng thuế Hơn nữa, nó còn giải thích hiểu biết thuế như là một yếu tố xác định nhận thức thuế, được cho rằng sẽ nâng cao trình độ về kiến thức tài chính, cải thiện được tính tuân thủ vì có thêm nhiều nhận thức tích cực về hệ thống thuế (Richardson & Sawyer, 2001) Ngoài ra, Eriksen và Fallan (1996) đã khẳng định rằng có một tác động rất lớn của hiểu biết thuế lên nhận thức về tính công bằng của những người nộp thuế về hệ thống thuế, hiểu biết thuế càng nhiều thì nhận thức về
sự công bằng thuế sẽ được cải thiện Theo như Harris và Associates (1988),
có một nhóm người nộp thuế nhưng việc kê khai thuế của họ bị tác động chủ yếu do nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế Chung (2002) đã giải thích thêm rằng tầm quan trọng về sự tác động của trao đổi lợi ích hai bên trong việc kê khai thu nhập, điều này sẽ phụ thuộc vào mức độ những NNT nhậnthức về tính công bằng,từ đó ảnh hưởng đến những quyết định kê khai của họ Họ khằng định rằng do việc tăng trình độ hiểu biết tài chính nói chung, hiểu biết thuế nói riêng mà tính tuân thủ được cải thiện bởi lúc này nhận thức tích cực về hệ thống thuế Tuy nhiên, hiểu biết về trốn thuế tăng lên cũng chính là cơ hội cho những phần tử xấu, sẽ tác động ngược chiều đến tính tuân thủ thuế vì nó hổ trợ cho việc không tuân thủ những quy định về Thuế(Jackson & Milliron, 1986)
Nhìn chung các công trình này đã đề cập đến thuế TNCN, đưa ra tầm quan trọng và hướng hoàn thiện chính sách thuế TNCN nhưng do đã nghiên cứu trong thời gian trước, và nghiên cứu một phần nhỏ trong khâu quản lý thuế TNCN, trong khi năm 2014 chính sách thuế TNCN đã có những thay đổi đáng kể Cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu việc tăng cường quản lý thuế Thu nhập cá nhân tại Cục thuế TP Đà Nẵng
Qua những tài liệu tham khảo và trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tiễn,
Trang 14tác giả đã hệ thống việc quản lý thuế TNCN tại cục thuế tp Đà Nẵng nhằm đưa ra các biện pháp giảm thiểu những rủi ro, thất thoáttrong quản lý thuế đảm bảo động viên đúng mức thu nhập, tạo sự công bằng và bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế giữa mọi cá nhân trong xã hội
Trang 15CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN
1.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ TNCN
1.1.1 Khái niệm thuế TNCN
Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoản thu nhập từ kinh doanh, đầu tư, vv…
Thuế thu nhập cá nhân lần đầu tiên ra đời ở Anh (1841) sau đến Nhật (1887), Đức(1889), Mỹ (1913) và Mỹ trở thành quốc gia có tỷ suất thuế thu nhập cá nhân lớn nhất thế giới chiếm tới 35% - 60% tổng thu từ thuế vào ngân sách nhà nước Trung Quốc,thuế thu nhập cá nhân ra đời từ năm 1941 nhưng đến năm 1955 mới trở thành một sắcthuế độc lập ở Pháp, thuế thu nhập cá nhân ra đời năm 1961, Liên Xô năm 1922,Hàn Quốc năm 1974 và cho đến nay theo thống kê của ERNST& YOUNG tại “the global Excutive” hiện nay thế giới có hơn 136 nước áp dụng thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân trên thế giới thông thường đánh vào cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt
1.1.2 Đặc điểm thuế TNCN
Một là, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập
Trang 16nộp thuế đồng nhất với người chịu thuế nên khó có thể chuyển gánh nặng thuế sang cho người khác
Hai là, Thuế thu nhập cá nhân có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá
nhân có thu nhập bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao
Ba là, Việc đánh thuế thu nhập cá nhân thường áp dụng theo nguyên tắc
thuế suất lũy tiến từng phần Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế thu nhập cá nhân là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao
Bốn là, Xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn các
loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế
Năm là,Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế phức tạp Việc quản lý
thuế, thu thuế đòi hỏi trình độ, kỹ thuật cao, chi phí quản lý thuế lớn Cơ quan quản lý thuế phải nắm được các nguồn thu nhập của người chịu thuế,tình trạng cư trú của họ ở Việt Nam, vv…
Sáu là, thuế TNCN không bóp méo giá cả hàng hóa, dịch vụ Thuế
TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hóa, dịch vụ nên
nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hóa, dịch vụ
1.1.3 Vai trò thuế TNCN
a Đối với nền kinh tế- xã hội
Tạo lập nguồn tài chính cho Ngân sách nhà nước: Thuế là nguồn thu chủ
Trang 17yếu của ngân sách nhà nước, trong đó thuế thu nhập cá nhân làmột trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phầnquan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế thu nhập cá nhân được tính vớidiện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế thu nhập cánhân tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nàocũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế thu nhập cá nhân luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tănglên của thu nhập bình quân đầu người
Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Thực hiện công băng xã hội là
một trong nhưng vai trò quan trọng của thuế nói chung, ngoài ra với thuế thu nhập cá nhân vùng với việc thực hiện biểu thuế luỹ tiến từng phần, thuế thu nhập cá nhân đã thực hiện được việc điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội
Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế thu nhập cá nhân cũng
có tác dụng điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Loại thuế này điều tiết trực tiếp thu nhập cá nhân nên một mặt tác động trực tiếp đến tiết kiệm, mặt khác làm cho khả năng thanh toán của các cá nhân bị giảm.Từ đó cầu hàng hoá, dịch vụ giảm sẽ tác động đến sản xuất
Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực tế đã chứng minh
nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế , lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến
Trang 18vai trò của thuế thu nhập cá nhân
b Đối với hệ thống thuế
Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác: Một số thuế
gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là
có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp: Trong doanh
nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế thu nhập cá nhân còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông ðồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trýờng hợp doanh nghiệp kê khai cao hõn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân ðể làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp Tóm lại, Thuế thu nhập cá nhân đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Tuy nhiên, vì công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển
1.2 QUẢN LÝ THUẾ TNCN
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế TNCN
Quản lý thu thuế thu nhập cá nhân là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước với quá trình tính và thu thuế thu
Trang 19nhập cá nhân để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho Ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra
1.2.2 Mục tiêu công tác quản lý thuế TNCN
Tăng cường tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thuế
thu nhập cá nhân chiếm tỉ trọng chủ yếu trong số thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia trên thế giới Vì vậy, làm tốt công tác quản lý thuế thu nhập nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng sẽ có tác dụng lớn trong việc tập trung, huy động đầy đủ và kịp thời số thu cho ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, thuế thu nhập cá nhân tác động trực tiếp đến thu nhập của các cá nhân, có thể làm giảm nỗ lực làm việc và gây nên các phản ứng ngay lập tức
từ phía chịu thuế như hành vi trốn thuế
Góp phần tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho các tổ chức kinh
tế và dân cư:Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước thông qua công cụ luật
pháp để tác động vào nền kinh tế ở tầm vĩ mô ý thức chấp hành luật pháp của các tổ chức kinh tế và dân cư sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện những tác động này Qua công tác tổ chức thực hiện và thanh tra việc chấp hành các luật thuế nói chung và thuế thu nhập cá nhân nói riêng, cùng với việc tăng cường tính pháp chế của chính sách thuế này, ý thức chấp hành chính sách thuế sẽ được nâng cao, từ đó tạo thói quen “sống và làm việc theo pháp luật” Ở các nước phát triển, thu nhập trung bình của người dân cao nên thuế thu nhập cá nhân đã trở nên vô cùng quen thuộc Do là thuế trực thu nên tác động của thuế thu nhập cá nhân mang tính trực tiếp, đối tượng chịu thuế
có thể cảm nhận được ngay Họ biết mình phải nộp thuế và dần trở nên quen thuộc với việc này.Từ đó, người dân sẽ nhận thức được rõ hơn về nghĩa vụ nộp thuế của mình Chính vì vậy, họ sẽ có ý thức rõ ràng hơn về tính pháp chế của chính sách thuế, từ đó nâng cao ý thức chấp hành chính sách này Còn ở
Trang 20các nước đang phát triển, do thu nhập dân cư còn thấp nên thuế thu nhập cá nhân là vấn đề còn mới mẻ với khá nhiều người Người dân vẫn phải nộp thuế nhưng có cảm nhận ít hơn về tác động của thuế, thậm chí không biết gì đến thuế vì chủ yếu là thuế gián thu Người dân mua hàng hóa, dịch vụ với giá cả
đã có thuế trong đó Do đó, ý thức về nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước nhìn chung là thấp hơn
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN để đảm bảo mục tiêu công bằng xã hội: Thuế TNCN động viên trực tiếp vào thu nhập cá nhân, thể
hiện rõ nghĩa vụ của công dân đối với đất nước và được căn cứ trên các nguyên tắc "lợi ích", "công bằng" và "khả năng nộp thuế" Theo nguyên tắc lợi ích thì mọi người trong xã hội đều được hưởng những thành quả phát triển của đất nước về thể chế luật pháp, cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội, an ninh trật tự đồng thời cũng có nghĩa vụ đóng góp một phần thu nhập của mình cho xã hội thông qua việc nộp thuế Thời gian qua ở nước ta, khoảng cách chênh lệch
về thu nhập giữa nhóm người có thu nhập cao và nhóm người có thu nhập thấp cũng có xu hướng ngày càng tăng Như vậy, việc áp dụng thuế thu nhập
cá nhân sẽ góp phần đảm bảo tính hợp lý, công bằng, hiệu quả của hệ thống chính sách thuế và hạn chế sự gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời Nhà nước sẽ nắm được thông tin về thu nhập của cá nhân góp phần phòng, chống tham nhũng, lãngphí
Quản lý thuế của Nhà nước đối với thuế TNCN nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế: Trong những năm tới, thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội, các thị trường tài chính - tiền tệ, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ sẽ có sự phát triển mạnh mẽ hơn Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng nhanh tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đầu tư, sản xuất kinh doanh, có thêm nhiều nguồn thu nhập khác nhau: thu nhập từ kinh doanh, từ tiền lương, tiền công,
Trang 21từ dịch vụ và đầu tư tài chính… Bên cạnh đó, cùng với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, số người nước ngoài đến làm ăn sinh sống tại Việt Nam và số người Việt Nam có thu nhập từ nước ngoài cũng sẽ tăng lên Chính sách thuế hiện hành chưa phù hợp với thông lệ quốc tế: chưa có một chính sách thuế điều tiết thống nhất đối với thu nhập của cá nhân Việc duy trì các chính sách thuế hiện hành đối với thu nhập của cá nhân sẽ hạn chế việc khuyến khích cá nhân tích cực lao động, đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, làm giàu chính đáng Để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiếp tục hoàn thiện các chính sách tài chính trong đó
hệ thống chính sách thuế nói chung, thuế thu nhập cá nhân nói riêng là hết sức cần thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng với công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo
1.2.3 Nội dung quản lý thuế TNCN
Việc quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của quản lý Tài chính Nhà nước và cần được nhìn nhận ở cả tầm vi mô và vĩ mô, phải bao gồm toàn
bộ các công việc thuộc lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp về thu thuế Nội dung công tác quản lý thuế TNCN bao gồm
a Ban hành chính sách thuế TNCN
Việc ban hành chính sách thuế TNCN sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính, thu thuế TNCN và là căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu thuế này
- Những nội dung cơ bản của chính sách thuế TNCN:
+ Đối tượng nộp thuế, chịu thuế TNCN:
Một đặc điểm của thuế TNCN là đối tượng chịu thuế đồng thời là ĐTNT Xác định ĐTNT là một trong những nội dụng quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Thực tế
Trang 22thường dựa vào hai tiêu thức là “ nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”
để tiến hành xác định ĐTNT
Theo tiêu thức “nơi cư trú”, một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập phát sinh tai nước đó
Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập”,một cá nhân phải nộp thuế TNCN ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân sinh tại nước đó Hiện nay, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “nơi cư trú” Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một ĐTNT là rất quan trọng để xác định ĐTNT đó phải nộp thuế ở mức độ nào Như vậy, tại mỗi nước khái niệm cá nhân cư trú lại được định nghĩa khác nhau tùy vào chính sách và trình độ quản
lý của từng nước sao cho phù hợp với tình hình của đất nước mình Thông thường quy định cá nhân cư trú là người định cư tại nước đó hoặc những người đến nước đó thường xuyên nhưng tổng số ngày ở tại nước đó vượt quá
183 ngày trong một năm (năm dương lịch hay năm tài chính)
Luật thuế TNCNViệt Nam quy định, công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi lao động, công tác ở nước ngoài; cá nhân khác định cư không thời hạn
ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dượng lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam được coi là cư trú Việt Nam là ĐTNT thu nhập đối với mọi khoản thu nhập chịu thuế
Việc xác định ĐTNT căn cứ vào tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” được hầu hết các nước áp dụng để tính thuế thu nhập phát sinh tại nước đó của những cá nhân không cư trú Cách tính thuế theo nguồn phát sinh thu nhập chỉ thích hợp với những nước có nhiều người nước ngoài đến làm việc
và đầu tư, còn công dân ở nước đó ít đi làm hay đầu tư ở nước ngoài Có rất ít nước áp dụng duy nhất tiêu thức này khi xác định ĐTNT
Trang 23Ở Việt Nam, đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Theo đó, thì mọi cá nhân là người Việt Nam hay nước ngoài có thu nhập chịu thuế thuộc diện nộp thuế TNCN
+ Thu nhập chịu thuế TNCN:
Việc xác định TNCN có thể cho thấy loại thuế TNCN mà từng nước có thể áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho NSNN, đó là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu được đề cập trong chính sách thuế TNCN của các nước
TNCT là một số khoản nằm trong diện tính thuế TNCN theo quy định trong chính sách thuế TNCN của từng quốc gia Việc quy định khoản thu nhập nào phải tính thuế, khoản thu nhập nào không phải tính thuế, mức độ cao hay thấp phụ thuộc vào quan điểm của mỗi chính phủ, vào mục tiêu điều tiết thu nhập cũng như mục tiêu kinh tế, chính trị xã hội khác nhau của môi quốc gia trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Để tính được thuế TNCN phải nộp trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập là TNCN và tính toán thu nhập đó như thế nào Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khẩu trừ…cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế, kết hợp với thuế xuất sẽ xác định được thuế phải nộp nhiệm vụ của ngành thuế mỗi nước là phải xác định TNCT từ thu nhập sao cho NNT chấp nhận và để luật thuế có tính khả thi cao.Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinhtế, xã hội trong việc thu thuế TNCN
Luật thuế TNCN ở nước ta quy địnhthu nhập chịu thuế TNCN gồm:
- Thu nhập kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ (riêng đối với thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp,
Trang 24lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản (chỉ áp dụng đối với trường hợp không đủ điều kiện được miễn thuế); thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật
- Thu nhập từ tiền lương và tiền công: Là các khoản thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động dưới các hình thức bằng tiền hoặc không bằng tiền: tiền lương, tiền công, và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp, trợ cấp; tiền thù lao dưới các hình thức; tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; các khoản lợi ích khác mà ĐTNT nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền, tiền thưởng
- Thu nhập từ đầu tư: Lãi cổ tức, lãi cho vay, thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác
- Thu nhập khác: Lãi từ chuyển nhượng tài sản (chuyển nhượng vốn,
chuyển nhượng bất động sản), thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ nhượng quyền thương mại, thu nhập từ thừa kế, thu nhập
từ quà tặng
* Các khoản thu nhập không tính thuế TNCN: Luật thuế TNCN quy
định những khoản thu nhập không tính thuế TNCN gồm:
- Các khoản phụ cấp, trợ cấp:Phụ cấp đối với người có công với
cáchmạng; phụ cấp quốc phòng an ninh; phụ cấp độc hại, nguy hiểm, khó khăn, vùng xa xôi, hẻo lánh, khí hậu xấu; các khoản trợ cấp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và Bộ Luật lao động; trợ cấp để giải quyết tệ nạn xã hội theo quy định của pháp luật
- Các khoản tiền thưởng: Tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà
nước phong tặng; tiền thưởng kèm theo các giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, cải tiến kỹ thuật, sáng chế, về phát hiện khai báo hành vi vi phạm
Trang 25pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
+ Phương pháp tính thuế TNCN:
- Thông thường, thuế TNCN được chia làm 2 loại riêng biệt: thuế TNCN theo khoản và thuế TNCN tổng hợp
sự phân biệt thuế suất với các loại thu nhập khác nhau
số các khoản thu nhập cộng lại
+ Các căn cứ tính thuế TNCN:Căn cứ tính thuế TNCNlà thu nhập tính thuế nhân thuế suất
(1) Thu nhập tính thuế: thu nhập tính thuế TNCN ở Việt Nam kết hợp
áp dụng mức khởi điểm tính thuế và không áp dụng mức khởi điểm mà sử dụng suất miễn thu
Đối với cá nhân cư trú, thu nhập tính thuế được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ đi các khoản: các khoản đóng góp bảo hiểm thất nghiệp, các khoản giảm trừ gia cảnh (Mức giảm trừ gia cảnh mới nhất hiện nay được quy định tại Điều 12 Nghị định 65/2013/NĐ-CP, mức giảm trừ cho đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/ tháng; mức giảm trừ cho mỗi người phụ thuộc mà người nộp thuế có trách nhiệm nuôi dưỡng là 3,6triệu đồng/tháng/người), các khoản đóng góp vào quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học Còn với cá nhân không cư trú không quy định các khoản giảm trừ
Riêng thu nhập tính thuế từ trúng thưởng, thừa kế, thu nhập từ bản quyền, chuyển nhượng thương mại là phần giá trị nhận được vượt trên 9 triệu đồng mỗi lần nhận, áp dụng cho tất cả cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú TNCT cũng quy định khác nhau cho cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú TNCT của cá nhân cư trú bao gồm tổng thu nhập nhận được từ các khoản chi phí hợp lý liên quan trực tiếp đến việc tạo ra TNCT trong kỳ tính thuế
Trang 26Còn TNCT của cá nhân không cư trú là toàn bộ thu nhập nhận được, không được tính trừ các khoản chi phí Như vậy, thu nhập tính thuế được quy định riêng cho cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú, không phân biệt giữa người Việt Nam hay nước ngoài
(2) Thuế suất:
Đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh và thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú thì áp dụng theo thuế suất lũy tiến từng phần (theo quy định tại điều 22 Luật Thuế TNCN),còn các loại TNCT còn lại thì áp dụng thuế suấttheo tỷ lệ với mức thuế suất khác nhau (theo thông tư số 111/2013/TT-BTC)
+ Thuế thu nhập cá nhân và Hiệp định tránh đánh thuế hai lần: Hiệp
định tránh đánh thuế trùng mà Chính phủ Việt Nam ký với Chính phủ một số nước có tác dụng đối với việc nộp thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam của người nước ngoài như sau:
* Hiệp định tránh đánh thuế trùng mà Việt Nam ký với các nước có tác dụng tránh đánh thuế trùng thuế thu nhập cá nhân của người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam Trường hợp người nước ngoài đã nộp thuế thu nhập tại Việt Nam thì họ sẽ được cấp chứng từ để làm căn cứ miễn thuế hoặc giảm thuế ở nước họ
* Trường hợp cá nhânViệt Nam trong năm vừa làm việc trong nước vừa làm việc ở nước ngoài thì thu nhập chịu thuế và thuế thu nhập được tính như sau:
Trong trường hợp này, cá nhân phải thực hiện quyết toán thuế tại Việt Nam Cá nhân phải tổng hợp thu nhập phát sinh tại Việt Nam và ngoài Việt Nam để tính thu nhập bình quân tháng, trên cơ sở tổng thu nhập cả năm chia cho 12 tháng và xác định số thuế phải nộp theo biểu thức tương ứng, cụ thể là: thời gian ở Việt Nam tính theo biểu thuế quy định đối với công dân Việt Nam
Trang 27và cá nhân khác định cư tại Việt Nam; thời gian ở nước ngoài thì tính theo biểu thuế quy định đối với người nước ngoài cư trú tại Việt Nam và công dân Việt Nam lao động côngtác ở nước ngoài
* Trường hợp cá nhân đã nộp thuế cá nhân ở nước ngoài và có chứng từ nộp thuế thu nhập cá nhân tại nước đó thì được trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài, nhưng không vượt qúa số thuế phải nộp tính trên số thu nhập chịu thuế
từ nước ngoài theo biểu thuế của Việt Nam Nếu cá nhân có thu nhập ở các nước đã ký Hiệp định tránh đánh thuế trùng với Chính phủ Việt Nam thì thực hiện theo nội dung của Hiệp định
+ Đơn vị tính thuế:
Đơn vị tính thuế TNCN là cá nhân có thu nhập hoặc là hộ gia đình
+ Kỳ tính thuế:
(1) Đối với cá nhân cư trú: Kỳ tính thuế theo năm áp dụng đối với thu
nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương tiền công Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên th́ năm tính thuế được tính theo năm dương lịch
Trường hợp trong năm dương lịch, cá nhân có mặt tại Việt Nam dưới
183 ngày, nhưng tính trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam là từ 183 ngày trở lên thì năm tính thuế đầu tiên được xác định là
12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Từ năm thứ hai, năm tính thuế căn cứ theo năm dương lịch
Ví dụ: Ông A có quốc tịch Nhật đến Việt Nam từ ngày 15/5/2013 Trong năm 2013, ông A có mặt tại Việt Nam tổng cộng 140 ngày và trong năm
2014, tính đến 14/5/2014, ông A có mặt tại Việt Nam trên 43 ngày Năm tính thuế đầu tiên của ông X được xác định từ ngày 15/5/2013 đến hết ngày 14/5/2014 Năm tính thuế thứ hai được xác định từ ngày 01/01/2014 đến hết ngày 31/12/2014
Trang 28Kỳ tính thuế theo từng lần phát sinh thu nhập áp dụng đối với thu nhập
từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, trừ thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng quyền thương mại; thu nhập từ thừa kế; thu nhập từ quà tặng;
Kỳ tính thuế theo từng lần chuyển nhượng hoặc theo năm đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán Trường hợp cá nhân áp dụng kỳ tính thuế theo năm thì phải đăng ký từ đầu năm với cơ quan thuế
( 2) Đối với cá nhân không cư trú: được tính theo từng lần phát sinh thu
nhập áp dụng đối với tất cả thu nhập chịu thuế
Trường hợp cá nhân kinh doanh không cư trú có địa điểm kinh doanh cố định như cửa hàng, quầy hàng thì kỳ tính thuế áp dụng như đối với cá nhân cư trú có thu nhập từ kinh doanh
+ Miễn, giảm thuế TNCN:Các trường hợp miễn thuế, giảm thuế:
(1)Miễn thuế :
Căn cứ quy định tại Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân, các khoản thu nhập sau được miễn thuế:
- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản giữa vợ với chồng, giữa cha
đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa mẹ chồng, cha chồng với con dâu; giữa bố vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội; giữa ông bà ngoại với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau
- Thu nhập từ chuyển nhượng nhà ở, quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất ở của cá nhân trong trường hợp người chuyển nhượng chỉ có duy nhất một nhà ở, quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
- Thu nhập từ giá trị quyền sử dụng đất của cá nhân được nhà nước giao đất không phải trả tiền hoặc được giảm tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật:
Trang 29- Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ, giữa cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; giữa cha chồng, mẹ chồng với con dâu; giữa cha vợ, mẹ vợ với con rể; giữa ông nội, bà nội với cháu nội, giữa ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; giữa anh chị em ruột với nhau
- Thu nhập từ chuyển đổi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao để sản xuất
- Thu nhập của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản chưa qua chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường
- Thu nhập từ lãi tiền gửi tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ
- Thu nhập từ kiều hối
- Thu nhập từ phần tiền lương, tiền công làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc ban ngày, làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động
- Thu nhập từ tiền lương hưu do bảo hiểm xã hội trả theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội
- Thu nhập từ học bổng
- Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, tiền bồi thường tai nạn lao động, các khoản bồi thường nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật được miễn thuế thu nhập cá nhân
- Thu nhập nhận được từ các quỹ từ thiệnđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo, khuyến học không nhằm mục đích thu lợi nhuận
- Thu nhập nhận được từ các nguồn viện trợ của nước ngoàivì mục đích từ thiện, nhân đạo dưới hình thức Chính phủ và phi Chính phủ được cơ quan nhà
Trang 30nước có thẩm quyền phê duyệt
(2) Giảm thuế:
Theo quy định tại Điều 5 của Nghị định số 100/2008/NĐ-CP, đối tượng nộp thuế gặp khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, tai nạn, bệnh hiểm nghèo ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế thì được xét giảm thuế tương ứng với mức độ thiệt hại nhưng không vượt quá số thuế phải nộp
Với một số trường hợp đặc biệt, liên quan đến lợi ích kinh tế, chính trị,
xã hội quốc gia thì được xem xét miễn, giảm thuế
Nhìn chung, các khoản thu nhập được miễn thuế còn tương đối nhiều Liệu việc miễn thuế có đảm bảo được sự bình đẳng, công bằng trong nghĩa vụ thuế không? Về bản chất, thuế TNCN là thuế trực thu nên việc điều tiết thu nhập phải hợp lý, tránh tình trạng bao cấp cho những người giàu và trút gánh nặng lên những người có thu nhập trung bình Việc xác định thu nhập miễn thuế chính là thể hiện ưu đãi của Nhà nước đối với đối tượng nộp thuế và thường hướng tới mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định Nếu những mục tiêu này đặt ra và không khả thi thì cũng phải tính tới việc việc loại bỏ những thu nhập miễn thuế này và đưa vào diện chịu thuế
b Tổ chức công tác quản lý thuế TNCN
- Tổ chức bộ máy quản lý thuế TNCN:
Là một khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế, bao gồm việc xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế khoa học, phù hợp đảm bảo tính thống nhất và thực thi chính sách, pháp luật thuế một cách nghiêm chỉnh, đảm bảo thu đúng, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN
Bộ máy quản lý thuế phải được xây dựng tuỳ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế- xã hội của từng nước Nhìn tổng thể trong phạm vi nền kinh tế quốc dân, cơ quan thuế ở các nước trên thế giới đều được tổ chức thành hệ
Trang 31thống bao gồm nhiều cấp Tại Việt Nam, tổ chức bộ máy quản lý thuế nói chung và thuế TNCN nói riêng được thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ Tổ chức bộ máy quản lý thu thuế Nhà nước được tổ chức thống nhất từ trung ương đến cơ sở, cùng thực hiện nhiệm vụ tổ chức thực hiện các Luật thuế trong cả nước
Ở từng cấp, bộ máy quản lý cơ quan thuế có thể được tổ chức theo các
mô hình sau:
Mô hình tổ chức theo sắc thuế:Các phòng, ban riêng biệt được thành lập
để quản lý một số loại thuế cụ thể Mỗi phòng ban phải thực hiện tất cả các chức năng, nghiệp vụ quản lý các loại thuế được phân công Có thể nói đây
là mô hình “ quản lý khép kín đối với từng loại thuế”
Mô hình tổ chức theo chức năng:Cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận
thực hiện một hoặc một số chức năng nhất định trong quy trình quản lý thuế như : Phòng tuyên truyền và hỗ trợ đối tượng nộp thuế, phòng kê khai kế toán thuế, phòng cưỡng chế và quản lý thu nợ, phòng thanh tra thuế,
Mô hình tổ chức bộ máy theo nhóm đối tượng nộp thuế: Cơ cấu tổ chức
bao gồm các bộ phận (phòng) quản lý theo nhóm đối tượng nộp thuế ĐTNT được chia thành các nhóm dựa trên quy mô hoạt động, hình thức sở hữu hoặc ngành kinh tế….Mỗi phòng ban chịu trách nhiệm quản lý cung cấp những thông tin đầy đủ về từng nhóm ĐTNT
- Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế TNCN hỗ trợ người nộp thuế:
Sự thành công trong thực hiện chính sách thuế không chỉ phụ thuộc vào các văn bản pháp quy có hoàn hảo hay không mà còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như người nộp thuế
Để thành công trong tuyên truyền, phổ biến thuế TNCN thì các cơ quan
Trang 32thuế có thể sử dụng các phương pháp như thông qua việc tổ chức tập huấn, pano, áp phích, tờ rơi, tổ chức các buổi đối thoại, các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN
Đối với cán bộ thuế thì việc tập huấn về một chính sách thuế nào đó được thực hiện ngay sau khi Nhà nước ban hành một chính sách thuế mới hoặc sửa đổi, bổ sung một chính sách thuế đã có Qua đó cán bộ thuế có thể nắm chắc được nội dung và tuyên truyền hỗ trợ cho đối tượng nộp thuế tốt hơn
Đối với Đối tượng nộp thuế là người trực tiếp tính số thuế phải nộp vào NSNN, do đó phải có kiến thức cơ bản hiểu được các quy định, thông tư của luật thuế Cơ chế tự khai tự nộp đòi hỏi sự tự giác cao, ý thức tuân thủ pháp luật của Đối tượng nộp thuế Vì vậy, công tác tuyên truyền phổ biến về nghĩa
vụ thuế và chính sách thuế phải được thực hiện thường xuyên, kịp thời, luôn đổi mới và nâng cao hiệu quả
- Quản lý hoạt động đăng ký thuế, cấp MST:
Đây là một khâu quan trọng đối với công tác quản lý thuế TNCN Quản
lý tốt sẽ đảm bảo phần lớn hiệu quả công tác quản lý thuế TNCN Cần giám sát thu nhập của tất cả đối tượng lao động, từ đó cơ quan thuế có thể xác định được đối tượng nào phải nộp thuế và nộp thuế bao nhiêu Yêu cầu đặt ra là phải cấp MST cá nhân cho mọi công dân Mỗi ĐTNT được gắn với một MST duy nhất Mọi thông tin cần thiết về ĐTNT được lưu trữ vào cơ sở dữ liệu MST trên hệ thống, nhờ đó mà tránh được tình trạng bỏ sót các ĐTNT, đồng thời cũng đảm bảo được sự nhanh gọn cho cơ quan thuế trong công tác quản
lý thu thuế
Cơ quan thuế có trách nhiệm hướng dẫn người nộp thuế lập hồ sơ đăng
ký MST, cấp mẫu tờ khai đăng ký thuế Trên cơ sở kê khai đăng ký của người nộp thuế, cơ quan thuế tiến hành tiếp nhận hồ sơ và cấp MST theo trình tự
Trang 33thời gian được quy định Tất cả các thông tin về người nộp thuế như: Họ tên, địa chỉ, số CMND, nghề nghiệp, tổ chức chi trả thu nhập, …được lưu vào chương trình đăng ký thuế trên máy tính nối mạng toàn quốc để theo dõi và tra cứu phục vụ công tác quản lý
Đây là phương thức quản lý hiện đại được nhiều nước trên thế giới áp dụng Phương pháp này cho phép cơ quan thuế tiết kiệm thời gian, công sức
mà vẫn đảm bảo chính xác ngay cả trong trường hợp số lượng người nộp thuế rất lớn
- Quản lý việc đăng ký, giảm trừ gia cảnh :
Việc kê khai giảm trừ gia cảnh chủ yếu dựa vào ý thức của đối tượng nộp thuế Vì vậy kê khai người phụ thuộc trùng lắp là điều không thể tránh khỏi Điều này đã tạo ra khe hở trong việc kê khai số người phụ thuộc Việc cấp MST cho người phụ thuộc có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc kiểm soát chính xác vấn đề giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc
Ví dụ một ông bố hay bà mẹ, nhưng sẽ được tính trùng thành 2 bởi cả 2 người con ở 2 địa phương khác nhau đều cùng kê khai và chính quyền địa phương sở tại đều xác nhận Thực tế cho thấy, hiện nay nhiều địa phương khi nhận được một số đơn đề nghị xác nhận đối tượng cư trú có trách nhiệm nuôi dưỡng người phụ thuộc ở địa phương khác, họ không thể nào xác định được mối quan hệ của người phụ thuộc đang sống ở tỉnh khác và người dân đang cư trú trên địa bàn, càng không thể nào biết được có đúng là người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi dưỡng người đang sống ở tỉnh khác hay không, dẫn đến tình trạng nơi thì chứng nhận hết một cách dễ dàng, nơi thì từ chối chứng nhận gây khó khăn cho người dân Và một trong những khó khăn nhất mà người dân gặp phải là xin hồ sơ để xác định đối tượng phụ thuộc không có thu nhập
Trang 34- Quản lý công tác kê khai, nộp thuế:
Để cơ chế tự khai tự nộp phát huy hiệu quả cơ quan thuế cần phải làm tốt công tác quản lý đối tượng nộp thuế, cần tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức hệ thống thông tin dịch vụ kế toán, kê khai và tính thuế Đồng thời cần có lộ trình triển khai phù hợp, từng bước từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, chia theo từng nhóm để quản lý, nên có cơ chế khuyến khích các đối tượng nộp thuế tự nguyện áp dụng phương pháp tự khai tự nộp thuế, chẳng hạn như cho phép được giảm
Hiện nay, việc tính thuế khai thuế là do người nộp thuế tự thực hiện, có
sự hướng dẫn, kiểm tra của cơ quan thuế Căn cứ vào quy định của Luật quản
lý thuế, Luật thuế TNCN, người nộp thuế tự xác định số thuế phải nộp, lập tờ khai thuế theo biểu mẫu thống nhất và nộp thuế đúng thời gian quy định Trong thời hạn xử lý tờ khai, nếu phát hiện sai sót thì cơ quan thuế thông báo yêu cầu người nộp thuế chỉnh sửa Tờ khai đúng được nhập vào chương trình quản lý thuế của ngành thuế Trường hợp người nộp thuế không nộp tờ khai, không khai điều chỉnh thì sẽ bị xử lý phạt hành chính và bị ấn định thuế của
kỳ đó hoặc bị kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế
Trong quá trình kiểm tra tờ khai, cơ quan thuế phân tích các dữ liệu kê khai của người nộp thuế để phát hiện những trường hợp có dấu hiệu bất thường hoặc dấu hiệu vi phạm, thông qua đó có biện pháp ngăn chặn kịp thời
- Quản lý quá trình quyết toán thuế:
Quyết toán thuế phải ghi đầy đủ, rõ ràng các chỉ tiêu theo mẫu tờ khai
Cơ quan thuế có trách nhiệm kiểm tra quyết toán thuế, yêu cầu người nộp thuế điều chỉnh, thay thế quyết toán và xử lý nhập vào chương trình quản lý thuế, phân tích đánh giá và đối chiếu thông tin để đưa ra quyết định quản lý thuế cần thiết
Trang 35Việc quyết toán thuế sẽ giúp cơ quan thuế biết được tình hình thu nhập
và nộp thuế của từng đối tượng, qua đó có thể cung cấp cho cơ quan khác, các nhà lập chính sách hoặc chính cơ quan thuế cũng có thể sử dụng trong phân tích và đánh giá về chính sách thuế khả năng nộp thuế của dân cư Quyết toán thuế hàng năm sẽ giúp cơ quan thuế có thể phát hiện ra các trường hợp sai phạm thông qua so sánh mức thu nhập nộp giữa các năm với nhau
- Giải quyết hồ sơ hoàn thuế: Cá nhân được hoàn thuế trong các
trường hợp:
* Số tiền thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp trong kỳ tính thuế
* Cá nhân đã nộp thuế TNCN nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế
* Các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Việc hoàn thuế chỉ áp dụng đối với cá nhân đã đăng ký thuế và có mã số thuế.Để tạo thuận lợi cho công tác hoàn thuế, cần tăng cường phổ biến điều kiện được ủy quyền cho tổ chức chi trả quyết toán thuế thay, qua đó sẽ giảm đáng kể số lượng hồ sơ hoàn thuế gởi đến cơ quan thuế
c Tổ chứckiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Cán bộ ngành thuế cần tuân thủ đúng các quy trình quản lý thuế TNCN
Tổ chức thực hiện tốt hoạt động kiểm soát khai nộp thuế TNCN từ tiền lương, tiền công của các tổ chức, cá nhân từ khâu đăng ký mã số thuế, kê khai thu nhập, kê khai các khoản giảm trừ, nộp thuế, hoàn thuế nhằm giúp người nộp thuế chấn chỉnh các sai sót trong kê khai, nộp thuế Mặt khác, giúp cơ quan thuế phát hiện và xử lý nghiêm minh một số trường hợp kê khai không đúng với thu nhập thực tế hoặc kê khai gian dối về giảm trừ gia cảnh nhằm giảm bớt những tổn thất cho Nhà nước, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Đồng thời phát hiện ra những thiếu sót và bất cập trong văn bản pháp luật
Trang 36thuế, từ đó tìm ra những hướng giải quyết để hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN
(1) Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo thời gian tiến hành thanh tra, kiểm tra:
Hình thức thanh tra kiểm tra thường xuyên được thực hiện mang tính
chất định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các
ĐTNT và cơ quan quản lý thuế
Thanh tra, kiểm tra đột xuất là hình thức thanh tra, kiểm tra mang tính
bất thường và đối tượng thanh tra, kiểm tra không được biết Hình thức này được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía các ĐTNT hoặc trong các
cơ quan thuế để có biện pháp xử lý
(2) Các hình thức thanh tra, kiểm tra xét theo phạm vi và nội dung gồm:
Thanh tra, kiểm tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các nội dung
thanh tra, kiểm tra, hoặc với tất cả đối tượng thanh tra, kiểm tra Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế
Thanh tra, kiểm tra có trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội
dung, một số đối tượng Người ta thường chọn ra các đối tượng điển hình và
tổ chức thanh tra, kiểm tra từ đó rút ra kết luận chung cho toàn hệ thống Trên thực tế, cơ quan thuế cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này trong trường hợp cần thiết
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TNCN
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN Mỗi nhân
tố đều có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực tới công tác này tùy theo tính chất và trạng thái của các nhân tố đó Nhiệm vụ của các cơ quan chức năng
Trang 37trong bộ máy nhà nước là phải tìm cách hạn chế những ảnh tiêu cực cũng như phát huy những ảnh hưởng tích cực nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN Các nhân tố ảnh hưởng chủ yếu đó là:
1.3.1 Điều kiện kinh tế, xã hội
Hiệu quả của công tác quản lý thuế TNCN phụ thuộc rất lớn vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế TNCN nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng tiền thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng tiền thuế thu được sẽ cao
1.3.2 Nhân tố về cơ chế chính sách
Việc áp dụng cơ chế chính sách nào trong xây dựng Luật thuế TNCN cũng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế và thủ tục quản lư thuế TNCN Một nhà nước chú trọng công bằng hơn hiệu quả kinh tế sẽ có chính sách điều tiết mạnh vào người có thu nhập cao, mức thuế suất sẽ tăng rất nhanh theo lượng thu nhập tăng thêm Điều này thông thường sẽ làm giảm nỗ lực làm việc của
cá nhân có thu nhập cao Nhìn chung, hiệu quả kinh tế sẽ giảm Ngược lại, nhà nước chú trong hiệu quả kinh tế hơn thì Thuế thu nhập sẽ điều tiết ít vào những người có thu nhập cao, tạo điều kiện cho họ hăng háI làm việc, tạo thêm thu nhập cho xã hội Ví dụ, Trong khi cố gắng chuyển một phần thu nhập của cá nhân X có thu nhập cao sang cho cá nhân Y có thu nhập thấp hơn, hiệu quả kinh tế sẽ giảm sút do những lý do sau:
Cá nhân X đang tiến hành những hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế còn cá nhân Y thì không Khi cá nhân X phải nộp thuế thu nhập với thuế suất lũy tiến, anh ta sẽ lựa chọn giữa đi làm và nghỉ ngơi để tối đa hóa lợi ích của mình Thuế suất lũy tiến đối với thuế thu nhập đã làm cho lợi ích do một giờ
đi làm mang lại (có thể đo bằng tiền lương được trả cho giờ làm đó trừ đi thuế thu nhập phải nộp) ngày càng nhỏ đi còn lợi ích của một giờ nghỉ ngơi vẫn
Trang 38không đổi Vô hình chung, anh ta sẽ được giảm giờ làm, tăng nghỉ ngơi để tối
đa hóa lợi ích của mình
Bên cạnh đó, với thu nhập nhận được tăng thêm từ cá nhân X, cá nhân
Y sẽ không thực hiện được những hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cao như vậy
1.3.3 Các nhân tố từ phía cơ quan Thuế
a Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN Những quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế…phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành thuế Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế Cũng như vậy, một hệ thống thu thuế được kết nối bằng mạng nội bộ sẽ là một nhân tố rất hữu ích cho cơ quan thuế trong việc quản lý thu thuế hiệu quả, chính xác, kịp thời và tiết kiệm chi phí Việc xây dựng mạng thông tin nội bộ để quản lý cơ sở dữ liệu sẽ đòi hỏi những chi phí bước đầu tương đối lớn, nhưng xét về dài hạn thì điều này sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với việc quản lý dữ liệu theo kiểu thủ công
b Trình độ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cán bộ thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là thuế TNCN Nhân tố tác động vào tất cả các khâu của công tác quản lý thuế TNCN, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra, kiểm tra thuế và tổ chức bộ máy quản lý thuế
Để ban hành chính sách đúng đắn, đáp ứng yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế TNCN thì đội ngũ cán bộ thuế ở tầm hoạch định chính sách cần phải có trình
độ cao về vấn đề thực tế cũng như lý thuyết liên quan tới thuế, kinh tế vĩ mô
và quản lý nhà nước…và phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc
Trang 39Nếu hoạch định chính sách có trình độ thấp và phẩm chất đạo đức kém sẽ đưa
ra các chính sách chứa đựng nhiều sai sót không chỉ ảnh hưởng tiêu cực tới công tác quản lý thuế TNCN mà tới cả hệ thống thuế
Quá trình thực hiện chính sách thuế cũng phụ thuộc rất nhiều vào trình
độ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ thuế Nhân tố này ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả hoạt động của công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức thuế cũng như quản lý thu thuế Một đội ngũ có trình độ và phẩm chất đạo đức tốt mới
có đủ khả năng làm một tuyên truyền viên giỏi và nhiệt huyết về thuế, đồng thời không phạm phải sai lầm trong quá trình thực hiện công tác nghiệp vụ cụ thể về tính thuế, quyết toán thuế, … cũng như không có các hành vi tiêu cực thông đồng với ĐTNT khai man thuế hay cố tình tính sai tiền thuế phải nộp Ngược lại, đội ngũ cán bộ thuế thiếu trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức sẽ tạo nên những sai sót trong quá trình quản lý, làm giảm hiệu quả công tác quản lý thu thuế
Công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng cần một đội ngũ có trình độ cao
về phẩm chất đạo đức tốt đủ khả năng phát hiện những sai phạm và giữ thái
độ công minh, chính trực trong quá trình thanh tra, kiểm tra Nhờ đó thanh tra, kiểm tra mới đạt được hiệu quả mong muốn
Đội ngũ lãnh đạo làm công tác tổ chức thiết lập nên bộ máy quản lý thuế phải có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng bộ máy phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội và có hiệu quả cao
1.3.4 Các nhân tố từ phía người nộp Thuế
a Tình hình kinh tế và mức sống của người dân
Hiệu quả của công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân phụ thuộc không nhỏ vào mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư Cùng một đơn vị thu thuế trên một khu vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp
Trang 40thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một đồng thuế thu được sẽ cao Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng, khi cơ sở
hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn
b Ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận với ý thức và trách nhiệm nộp thuế Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy
ra Chính vì vậy, công tác quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Tóm lại ý thức chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế cũng ảnh hưởng một phần tới công tác quản lý thuế thu
nhập cá nhân
1.3.5 Các nhân tố khác
a Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư
Phương thức thanh toán chủ yếu trong dân cư ảnh hưởng lớn tới khâu quản
lý thu thuế Quản lý thuế TNCN khó khăn và phức tạp chủ yếu ở khâu quản lý thu nhập của các đối tượng Nếu như các khoản thu nhập được thanh toán qua hệ thống ngân hàng dưới hình thức tài khoản cá nhân thì sẽ thuận tiện cho cơ quan thuế trong việc giám sát, kê khai của ĐTNT Bên cạnh đó, nếu phương thức thanh toán trong dân cư chủ yếu thông qua ngân hàng thì nhà nước có thể áp dụng phương pháp thu thuếTNCN thông qua ngân hàng Điều này vừa giúp giảm bớt công việc và chi phí cho cơ quan thuế, vừa kiểm soát chặt chẽ hơn thu nhập của ĐTNT Chính vì vậy, sự phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với việc phát triển hình thức thanh toán qua tài khoản sẽ là một điều kiện tất yếu để có thể thực hiện tốt công tác quản lý thuế TNCN
b Tính nghiêm minh của luật pháp
Luật Thuế TNCN sửa đổi, Luật Thuế thu nhập DN và một loạt văn bản