1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) tư tưởng pháp quyền hồ chí minh với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam của dân, do dân, vì dân

118 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Pháp Quyền Hồ Chí Minh Với Việc Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Của Dân, Do Dân, Vì Dân
Tác giả Phạm Thị Ngọc Liên
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Ánh
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Triết học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 847,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém, đặc biệt là một số tồn tại trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp cần được hoàn thiện, giải quyết thỏa đáng như: chất lư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

PHẠM THỊ NGỌC LIÊN

TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Ngọc Ánh

Đà Nẵng - Năm 2015

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Người cam đoan

Phạm Thị Ngọc Liên

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài 3

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH 6

1.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH 6

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội của sự xuất hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh 6

1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự xuất hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh 9

1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH 32

1.2.1 Quá trình hình thành tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh 32

1.2.2 Nội dung tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh 39

CHƯƠNG 2 : QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM 55

2.1 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI 55

2.1.1 Nhà nước dân chủ nhân dân (1945-1954) 55

2.1.2 Nhà nước chuyên chính vô sản (1954-1986) 57

Trang 4

2.2 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 60

2.2.1 Quá trình hình thành tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền 60

2.2.2 Quan niệm về bản chất và đặc trưng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 67 2.3 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 71

2.3.1 Những thành tựu trong xây dựng nhà nước pháp quyền 71 2.3.2 Những hạn chế trong xây dựng nhà nước pháp quyền 74

CHƯƠNG 3 : VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN 77

3.1 XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG PHÁP LUẬT THEO TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN NHÂN NGHĨA HỒ CHÍ MINH 77 3.2 XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN THỂ HIỆN QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN 83 3.3 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 88

3.3.1 Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân 88

3.3.2 Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước, xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh 92

Trang 5

3.3.3 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; gắn liền xây dựng, chỉnh đốn Đảng với việc nâng cao hiệu lực quản lí của nhà nước .95 3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 102

KẾT LUẬN 105 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước xã hội chủ nghĩa gồm nhiều nội dung, trong đó chứa đựng những tư tưởng sâu sắc về xây dựng nhà nước kiểu mới - nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã trải qua một quá trình tìm tòi, nghiên cứu, phân tích tổng kết một cách toàn diện, sâu sắc những kinh nghiệm và bài học về xây dựng nhà nước, không phải chỉ trong lịch sử dân tộc mà còn của nhiều quốc gia khác trên thế giới Hơn nữa, tư tưởng pháp quyền của Người không chỉ dừng lại ở các quyền con người được ghi trong các văn bản pháp luật mà còn thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam, là pháp quyền gắn liền với đạo lý làm người Vì thế, pháp quyền

Hồ Chí Minh là pháp quyền đặc biệt, pháp quyền nhân nghĩa - một thứ nhân nghĩa có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc Vận dụng

tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp thu các giá trị tư tưởng hiện đại của loài người, trước nhu cầu thực tiễn phát triển đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta

Quá trình xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta trong suốt mấy chục năm qua đã đưa lại nhiều kết quả tích cực Nghị quyết Hội nghị lần thứ III khoá VIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các Văn kiện Đại hội Đảng khoá IX, X, XI đã khẳng định công cuộc xây dựng và hoàn thiện nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có những tiến bộ quan trọng, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có những hạn chế còn tiếp tục tồn tại như là: Bộ máy nhà nước ta chưa thật trong sạch, vững mạnh; tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn nghiêm trọng, chưa được ngăn chặn; hiệu lực quản lý, điều hành chưa cao; Tổ chức bộ máy nhà nước còn nặng nề, sự phân

Trang 7

công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Kỷ cương xã hội còn bị buông lỏng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước ta…

Đảng Cộng sản Việt Nam đang chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa nhằm mục đích xây dựng một chế độ dân chủ triệt để, thực sự cho nhân dân Phấn đấu vì tự do và hạnh phúc của con người, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển tự do và hoàn thiện Nhưng vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, yếu kém, đặc biệt là một số tồn tại trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp cần được hoàn thiện, giải quyết thỏa đáng như: chất lượng của hệ thống pháp luật, hiệu lực thực tế của các văn bản pháp luật, việc đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong các hoạt động tư pháp, vấn đề bồi thường thiệt hại trong hoạt động tư pháp và hoạt động quản lý hành chính nhà nước; vấn đề cải cách thủ tục hành chính và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức; thực hiện pháp luật và tăng cường pháp chế

Từ sự phân tích trên, việc nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống về những vấn đề cấp bách và giải pháp trong xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân có ý nghĩa thời sự cả về mặt lý luận và thực tiễn Cho nên, đây là lý do thôi thúc tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở làm rõ tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh, luận văn đề xuất những kiến nghị về sự vận dụng tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân hiện nay

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nội dung cơ bản của tư tưởng pháp quyền

của Hồ Chí Minh; Sự vận dụng tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh vào trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn đi sâu vào tìm hiểu, làm rõ tư tưởng

pháp quyền Hồ Chí Minh để vận dụng vào trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân,vì dân trong thời kỳ đổi mới hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở CNDV biện

chứng, CNDV lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam…

4.2 Phương pháp: Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật,

Đề tài sử dụng phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, quy nạp và diễn dịch, hệ thống hóa…

5 Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm có 3 chương 9 tiết

6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Nhiều năm qua ở nước ta đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân Tư tưởng nhà nước pháp quyền đã có

bề dày lịch sử hình thành và phát triển ở trong và ngoài nước, cho đến nay,

Trang 9

nhiều học giả hiện đại tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, việc nghiên cứu về các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam với những đặc trưng riêng của một quốc gia độc lập lại chủ yếu là đề tài nghiên cứu của các học giả trong nước Có thể kể đến các công

trình nghiên cứu tiêu biểu, đề cập như cuốn: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí

Minh về Nhà nước và pháp luật của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Bộ

Tư Pháp, 1993 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới – Quá trình

hình thành và phát triển của Hoàng Văn Hảo, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội, 1995 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân, vì dân Nguyễn Đình Lộc (chủ biên), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998 Tìm

hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật của Nguyễn Xuân Tế,

Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999 Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh của Vũ Đình Hòe, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001 T.S Phạm Ngọc Anh và PGS TS Bùi Đình Phong: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003;

Đào Tri Úc, Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H, 2005; Xây dựng Nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh

đạo của Đảng của Nguyễn Văn Thảo, Nxb Tư pháp, 2006; Xây dựng Nhà nước pháp quyền trong bối cảnh văn hoá Việt Nam, Nxb Tư pháp năm 2006

của Bùi Ngọc Sơn, Cải cách hành chính và công cuộc xây dựng nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Tư pháp, 2006 của Đoàn Trọng

Truyến Hoàng Thị Kim Quế (chủ biên), Giáo trình Lý luận chung về nhà

nước và pháp luật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2007…và một số

bài viết trên các báo, tạp chí như bài: “Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng

xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam” của Song Thành, tạp chí Người

đại biểu nhân dân, số 39, 1991; “Nghĩ về Hồ Chí Minh và những điều kiện

nâng cao hiệu lực của pháp luật” của Phạm Ngọc Anh, Báo pháp luật ngày

Trang 10

3/6/1997 “Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho sự ra đời một Nhà

nước pháp quyền Việt Nam” của Nguyễn Thị Kim Dung trong cuốn “Việt

Nam trong thế kỉ XX”, Nxb Thế giới, Hà Nội,2000 “Một số đặc điểm cơ bản

của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số

4/2002 của Hoàng Thị Kim Quế; “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng - những thành

tựu chủ yếu của 60 năm xây dựng và phát triển”, Tạp chí Nhà nước và pháp

luật, số 9/2005 của Đào Trí Úc; “Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp

quyền XHCN của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền

thông, số 9/2007 của Hoàng Đình Cúc, “Tư tưởng trị nước của Pháp gia và

vai trò của nó trong lịch sử”, tạp chí Khoa học và công nghệ, Đại học Đà

Nẵng, tập 26, số 3/2008 của Nguyễn Thị Kim Bình…Tuy nhiên, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền từ đó vận dụng xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay còn là vấn đề mới Các công trình khoa học mới công bố chỉ dừng lại ở việc khảo sát các nội dung riêng lẻ, chưa đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống quan điểm của Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền Đề tài này tổng kết những quan điểm cơ bản về Nhà nước pháp quyền trong lịch sử, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về nhà nước pháp quyền và có ý nghĩa tham khảo trong thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận và lịch sử

về Nhà nước và pháp luật

Trang 11

a Điều kiện lịch sử – xã hội Việt Nam

Vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chính quyền nhà Nguyễn đã thi hành chính sách đối nội, đối ngoại bảo thủ, không mở ra cho Việt Nam cơ hội tiếp xúc và bắt nhịp với sự phát triển của thế giới Không phát huy được những thế mạnh của truyền thống dân tộc và đất nước, không tạo ra tiềm lực vật chất và tinh thần đủ sức bảo vệ Tổ quốc, chống lại âm mưu xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây

Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858) và hiệp định Patơnốt (1884) được ký kết, xã hội Việt Nam bước sang giai đoạn mới và trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Trong lòng xã hội thuộc địa có sự phân hóa giai cấp - xã hội sâu sắc, mâu thuẫn mới bao trùm lên mâu thuẫn cũ, làm cho xã hội Việt Nam càng thêm đen tối Có thể kể ra các mâu thuẫn chính như: Mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp; Mâu thuẫn giữa người dân lao động và triều đình phong kiến; Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân Việt Nam

và giai cấp tư sản

Trong suốt quá trình thực dân Pháp cai trị, từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống thực dân Pháp Các cuộc khởi nghĩa vũ trang dưới khẩu hiệu “Cần vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo cuối cùng cũng thất bại Rồi các phong trào yêu nước theo khuynh hướng cách mạng dân chủ tư sản cũng đều bị dìm trong bể máu Cách mạng Việt Nam lâm vào cuộc khủng khoảng sâu sắc về đường lối cứu nước, điều đó

Trang 12

cho thấy sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến và hệ tư tưởng tư sản trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc

Nguyễn Tất Thành sinh ra trong bối cảnh nước mất nhà tan và lớn lên trong phong trào cứu nước của dân tộc, Người đã sớm tìm ra nguyên nhân thất bại của các phong trào giải phóng dân tộc và quyết định ra đi tìm đường cứu nước - tìm một con đường đáp ứng nhu cầu lịch sử của cách mạng Việt Nam Đó chính là con đường cách mạng vô sản

b Bối cảnh thời đại

Hồ Chí Minh bước vào vũ đài chính trị vào đầu thế kỷ XX khi chủ nghĩa

tư bản tự do cạnh tranh đã bước sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và bành trướng thế lực ở thuộc địa Theo Lênin, thế giới phân chia đa số (70%) các dân tộc bị áp bức, số ít (30%) các dân tộc đi áp bức Khi chủ nghĩa tư bản tự

do cạnh tranh chuyển sang độc quyền hình thành hệ thống thuộc địa làm nảy sinh mâu thuẫn mới của thời đại là mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với các dân tộc thuộc địa, bao trùm lên mâu thuẫn vốn có của thời đại: mâu thuẫn giữa tư bản và vô sản ở các nước phát triển, mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ ở các nước lạc hậu

Năm 1917, Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, giành chính quyền về tay nhân dân, mở ra thời đại mới - thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới Chủ nghĩa Mác-Lênin phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, thâm nhập vào phong trào cách mạng thế giới, trở thành hệ tư tưởng tiên tiến của thời đại Quốc tế III được thành lập (1919) Năm 1922 Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời, đánh dấu sự liên minh vô sản trong nhiều quốc gia Sự xuất hiện của Quốc tế Cộng sản làm nảy sinh mâu thuẫn thời đại giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Vai trò định hướng của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đem lại những thành quả lớn lao cho sự nghiệp vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Quốc tế Cộng sản là

Trang 13

trung tâm tập hợp lực lượng cách mạng và chỉ đạo cách mạng thế giới

Bên cạnh đó, trên thế giới kể từ khi nhà nước tư sản ra đời, với sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản, nhà nước pháp quyền ban đầu từ nhà nước ý tưởng dần trở nên một nhà nước hiện thực Do vậy, trên thực tế tồn tại khái niệm nhà nước pháp quyền tư sản và về thực chất nhà nước pháp quyền đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển

Nhà nước pháp quyền tư sản coi thuyết "tam quyền phân lập" là học thuyết cơ bản trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp hoàn toàn độc lập với nhau trong việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, đây là nguyên tắc chính của chủ nghĩa lập hiến tư sản, tự do, dân chủ

Những tư tưởng và mô hình về Nhà nước pháp quyền kiểu phương Tây chứa đựng trong mình những thành tựu của các quan điểm dân chủ, tự do tiến

bộ của cách mạng tư sản trên thế giới, pháp quyền thực chất là xây dựng tinh thần thượng tôn pháp luật Vì những lẽ đó, Nhà nước pháp quyền được xem như một yếu tố của nền văn minh nhân loại

Sống trong bối cảnh lịch sử thời đại này, từ thực tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, Hồ Chí Minh đã tìm ra những quy luật, đúc kết thành lí luận Trong những năm bôn ba ở các nước tư bản phát triển, Hồ Chí Minh đã nghiên cứu cách tổ chức Nhà nước ở đó, phê phán những mặt tiêu cực, tiếp thu những hợp nhân hợp lí trong nhà nước pháp quyền ở các nước tư sản trên thế giới Hồ Chí Minh cũng không ngừng học hỏi, tiếp thu những thành tựu về xây dựng một chế độ ưu việt ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa để phát triển trong quan điểm của mình về một hình thức Nhà nước phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam Cụ thể là sự chuyển biến trong tư tưởng của Người từ một Nhà nước công - nông - binh sang Nhà nước cộng hòa dân chủ nhân dân

Trang 14

1.1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự xuất hiện tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh

a Cơ sở lý luận

- Tư tưởng pháp trị phương Đông

Hàn Phi (281 TCN - 233 TCN) là học giả nổi tiếng Trung Quốc cuối thời Chiến Quốc, là học trò xuất sắc của Tuân Tử Tư tưởng chính trị cơ bản của Hàn Phi là tư tưởng pháp trị, ông không phải là người sáng lập Pháp gia nhưng Hàn Phi thành vĩ đại là vì ông đã nâng các tư tưởng pháp trị lên thành một hệ tư tưởng Ông nhìn thấy thực trạng chính trị đương thời, Hàn Phi đau xót: các vua chúa, mà trước hết là ở nước Hàn, chẳng lo soi sáng pháp chế, nắm lấy cái thế để chế ngự bầy tôi, lo nước giàu dân mạnh, dùng những người tài giỏi; trái lại, họ nghe theo bọn sâu mọt làm hại nước Hàn Phi có sẵn học vấn vô cùng uyên bác tiếp thu của Tuân Tử, ông kiểm soát lại tình hình chính trị của các thời đại, lý giải tại sao nước này mạnh, nước kia yếu, thời kỳ này cường thịnh, thời kỳ kia suy đồi Ông thấy lý do rất đơn giản, những người nhà vua cần dựa vào để bảo vệ nước là người tài giỏi, binh sĩ, người cày thì bị vứt bỏ; trái lại nhà vua lo nuôi bọn lừa dối, làm hại đến nước Không ai chịu xây dựng một kỷ cương, pháp luật để làm cho dân giàu nước mạnh mà chỉ vâng theo ham thích nhất thời, càng hiểu được sự thực ông càng thất vọng Ông đã dốc hết tâm trí, gửi tất cả tâm hồn và tinh lực vào việc viết tác phẩm

Hàn Phi tử để mong để lại đời sau cái học thuyết mà ông tin là sẽ làm cho dân

yên, nước mạnh

Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi tử là sự tổng hợp ba trường phái: trọng

pháp; trọng thế và trọng thuật của Pháp gia Ông khẳng định tầm quan trọng

của pháp luật và cho rằng, pháp luật phải công khai - pháp là cái chép để ở trong sách vỡ, đặt nơi cửa công, ban bố cho trăm họ Đã lập pháp luật thì cả nước, trên dưới đều biết, không ai được tự ý thay đổi

Trang 15

Hàn Phi cho rằng, chỉ cần duy trì hiệu lực của pháp luật thì sẽ có thể giữ vững được trật tự chính trị bình thường và thu được những hiệu quả lớn Cho nên việc làm cho pháp luật không bị hỏng nát là tiền đề và mục đích tối cao của chính trị Theo ông, chính trị tất cả đều xoay quanh tinh thần có phù hợp với pháp luật hay không Tất cả cứ đúng mực thước, đúng pháp luật mà làm thì xã hội sẽ ổn định

Tư tưởng của Hàn Phi Tử đối nghịch lại với tư tưởng của Nho giáo (đức trị), ông cho rằng cách tốt nhất để quản lý xã hội là dùng pháp luật, ông rất đề cao pháp luật trong đường lối trị nước và khẳng định sự tất yếu phải trị nước bằng pháp luật Ông đã đề xuất tư tưởng “trị nước bằng pháp luật” (dĩ pháp trị quốc) Ông khẳng định vai trò của pháp luật trong sự phù với điều kiện xã hội, tính nghiêm minh và công khai của pháp luật, nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật, Với ông, thưởng và phạt là hai cái cán, giúp cho kẻ thống trị kiểm soát, thậm chí nô dịch nhân dân…Người cai trị phải có tinh thần thượng tôn pháp luật Vua phải dùng phép nước chứ không được theo ý mình.Vua dùng phép nghiêm minh thì bề tôi không thể lấn át được Muốn cai trị giỏi thì vua phải áp dụng lý thuyết pháp trị Theo Hàn Phi, bậc minh quân khiến pháp luật chọn người chứ không tự mình tiến cử, khiến pháp luật đo lường công lao chứ không tự mình tính toán Người cai trị phải biết dẹp bỏ riêng tư tôn trọng sự công bằng; biết suy xét, biết tôn trọng bề tôi, biết thuyết phục và lắng nghe Bậc vua chúa cần nói năng cẩn thận, làm việc thận trọng, lấy tỉnh để khống chế động, lựa người để giao cho chức vụ thích hợp; tùy theo công việc mà thưởng phạt cho nghiêm minh Chính sách cai trị phải dựa vào ý dân, dân muốn gì thì phải cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cho cái đó Hàn phi

tử đưa ra quan điểm; bản chất con người là ác, muốn quản lý xã hội phải khởi xướng ra lễ nghĩa và chế định ra pháp luật để uốn nắn tính xấu của con người Pháp phải hợp thời, pháp luật phải soạn sao cho dân dễ biết dễ thi hành; pháp

Trang 16

luật phải công bằng bênh vực kẻ thiểu số; thường phải có trọng hậu, phạt phải nặng Đó là tư tưởng về chính trị xã hội: Ông hết sức coi trọng tác dụng của pháp luật, xây dựng một lý tưởng pháp trịhoàn chỉnh, trong đó lấy “pháp” làm hạt nhân, kết hợp chặt chẽ “pháp”, “thuật”, “thế” Nội dung chủ yếu của

“pháp” có thể quy về hai khái niệm chủ yếu là “thưởng”và “phạt”: thưởng hậu

và phạt nặng

Nói chung, học thuyết pháp trị của Hàn Phi lấy pháp luật làm công cụ trị nước là phù hợp với xu hướng thống nhất trên cơ sở thiết lập chế độ phong kiến chuyên chế trung ương tập quyền của giai cấp địa chủ phong kiến mới Nhưng nhìn chung, học thuyết chính trị Hàn Phi có những hạn chế nhất định

đó là: Lý luận về quyền lực nhà nước chỉ là cái đặt ra để bảo vệ người giàu

có, để che đậy bản chất bóc lột của giai cấp địa chủ mới Ông quá tuyệt đối hóa pháp luật ở những khía cạnh biểu hiện cụ thể của nó mà không thấy được còn có những công cụ khác kết hợp để trị nước Hơn nữa, lý thuyết pháp trị chắc chắn không thể thực hiện được với đúng nghĩa của nó khi mà xã hội còn

tổ chức theo kiểu quân chủ chuyên chế, vì theo Hàn Phi hình phạt không áp dụng đối với vua…

- Tư tưởng chính trị truyền thống Việt Nam

Tư tưởng chính trị Việt Nam gắn liền với lịch sử cách mạng Việt Nam, được kết tinh từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Lịch sử đó đã hình thành nên những giá trị văn hóa chính trị truyền thống tiêu biểu Việt Nam mà trước hết có thể nói đến đó là một nền chính trị yêu nước, thương dân, dân là gốc; là tư tưởng đấu tranh cho độc lập dân tộc,

tự do, tự lực tự cường; là tinh thần tự hào dân tộc, tự tôn nền văn hiến quốc gia; là nền chính trị đạo lý, tôn trọng chính nghĩa, bảo vệ công lý, tư tưởng và hành vi chính trị khoan dung, độ lượng, vị tha; vừa đề cao đức trị vừa đề cao pháp trị, hình thành tư tưởng về một nền chính trị pháp quyền…Tất cả những

Trang 17

giá trị, phẩm chất, năng lực đó hợp thành một nền chính trị nhân đạo, nhân văn, tất cả vì con người của văn hóa chính trị Việt Nam

Dân là gốc (của nước) - tư tưởng chính trị xuyên suốt trong lịch sử dân

tộc Việt Nam đã được lịch sử dân tộc kiểm chứng: Chỉ khi nào chính quyền

an dân, vì dân, trọng dân thì nước thịnh, khi nào chính quyền xa dân, xem thường dân thì nước suy Ở Đại Việt thời Lý, tư tưởng dân bản, thân dân được thể hiện khá đậm nét trong đời sống xã hội Các vua Lý đều nói tới người dân qua những cách diễn đạt khác nhau, như “thuận lòng dân” của Lý Thái Tổ hay

“yêu dân như con” của Lý Thánh Tông Quan hệ vua quan – thần dân khá gần gũi Với vương triều Lý, nền chính trị nhân đạo thân dân được biểu hiện trên nhiều khía cạnh, song nổi bật nhất biểu hiện ở quan điểm đức trị của các vua triều Lý Trong 20 năm trị vì đất nước, Lý Công Uẩn đã coi “vua lấy dân làm trời” là quan điểm nền tảng để xây dựng vương triều Năm 1012, ông đã cho xây dựng cung Long Đức ở ngoài thành cho hoàng thái tử Phật Mã ở với ý muốn thái tử hiểu biết mọi việc của dân Noi gương Lý Thái Tổ, các đời vua sau của triều Lý tiếp tục thực hiện chính sách đức trị Năm 1052 vua Lý Thái Tông cho đúc chuông lớn đặt ở Long Trì để “dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy tau lên” [30; 103] Lý Thánh Tông đã từng tha bổng cho một phạm nhân chỉ vì không hiểu luật Nhân sự kiện này, vua xuống chiếu quy định rằng: “Từ nay các tội bất kỳ nặng, nhẹ đều phải răn dạy kỹ lưỡng và nhất nhất đều phải khoan giảm” [9; 87] Lý Thường Kiệt, một trong những anh hùng kiệt xuất của vương triều Lý cho rằng: “Trời sinh ra dân chúng, vua hiền ắt hòa mục, đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân” [60; 171]

Do ảnh hưởng của tư tưởng không phân chia đẳng cấp của Phật giáo, tư tưởng “Dân vi bản”, “Dân vi quý” của Nho giáo buổi đầu, nên trong chính sự các vua Lý – Trần đã thể hiện được tinh thần coi trọng dân, đề cao dân, lấy dân làm gốc Mỗi khi quyết định những việc lớn, có tầm quốc gia, vua thường

Trang 18

tham khảo ý kiến của dân, như vua Lý Thái Tổ với việc dời đô năm 1010, Trần Thánh Tông với Hội nghị Diên Hồng năm 1285 để hỏi ý kiến các bô lão, tức hỏi

ý kiến dân chứ không phải hỏi ý kiến những người đứng đầu các điền trang, thái

ấp vốn là người của hoàng tộc Các vua Lý hết sức coi trọng quyền tố cáo, khiếu nại của dân Ngay khi vừa lên ngôi, Lý Thái Tổ đã xuống chiếu: “Từ nay ai có việc oan ức, cho đến triều tâu, vua thân xét quyết” [30; 239] Trong các năm

1029, 1033, 1052 các vua lần lượt cho đúc chuông lớn đặt ở điện Long Trì để ai

có chuyện oan ức đánh chuông lên, vua sẽ đích thân minh xét Năm 1076, Lý Nhân Tông ban chiếu cầu “những lời nói thẳng”, muốn nghe lời tấu bày trung thành để hiểu thấu nguyện vọng, mong ước của muôn dân

Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử hang nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, hầu hết các nhà cầm quyềN đều rất chú trọng tới việc xây dựng pháp luật, duy trì xã hội bằng sự nghiêm minh của pháp luật Kết hợp đức trị với pháp trị trong đường lối trị nước của các triều đại Nhiều bộ luật lớn đã ra đời và đóng vai trò quan trọng trong việc trị nước, an dân Những bộ luật đó không chỉ có ýnghĩa trong lịch sử mà còn có giá trị to lớn trong thời đại

ngày nay như: Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), bộ luật

Hồng Đức (đời Lê),…mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luật nổi

tiếng ở phương Đông

Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa và phát triển những yếu tố tích cực của các Nhà nước thân dân những thời kỳ phong kiến hưng thịnh trong lịch sử dân tộc như kế thừa, phát triển truyền thống đoàn kết, tư tưởng lấy dân làm gốc thời Lý-Trần; Ở thời Trần, giai cấp thống trị mặc dù giương cao ngọn cờ và kiên trì nguyên tắc “đức trị”, coi “đức trị” là đường lối chủ đạo trong cách trị dân trị nước, nhưng đó không phải là đường lối đức trị thuần túy So với thời

Lý thì thời Trần có bước phát triển hơn cả về việc biên soạn luật lẫn việc kiện toàn bộ máy pháp luật Ở trung ương, nhà Trần có cơ quan chuyên xét việc

Trang 19

kiện tụng gọi là viện Thẩm hình, ngoài ra còn có viện Đăng văn Kiểm pháp làm nhiệm vụ xét hỏi của các cơ quan xét xử Cùng với việc làm đó là sự tuyển chọn và bổ nhiệm những quan lại thanh liêm vào các cơ quan pháp luật Những người được lựa chọn vào làm việc ở các cơ quan luật pháp phải thông qua thi cử, trong đó có thi về hình luật (thi thủ phân, hỏi về phép đối án); Hay chú trọng luật pháp và đạo đức trong xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê trung hưng, cùng với tinh thần đề cao pháp luật, Lê Thánh Tông đã từng nhấn mạnh đến chức năng cơ bản của nhà nước là “lễ nghĩa để sửa tốt lòng dân”

Bộ Quốc triều hình luật nổi tiếng được hoàn thành dưới triều đại của ông và được sử dụng, kế thừa trong nhiều triều đại sau này với nội dung chủ yếu là bảo vệ vương quyền, chế độ quan liêu, trật tự đẳng cấp và gia đình phụ hệ gia trưởng thông qua cơ chế pháp luật Bộ Quốc triều hình luật ra đời có tính nghiêm khắc lẫn tính thực tiễn của nó Tuy nhiên, bộ luật vẫn chứa đựng những yếu tố đạo đức được vận dụng khi xử lý một số đối tượng, như phụ nữ, người già, trẻ em, người tàn tật

Ở hương thôn, làng Việt Nam là một cộng đồng tự quản, các chức sắc trong làng, như Hội đồng tộc biểu đều do dân cử ra Để xử lý các quan hệ cộng đồng, ngoài pháp luật, chế độ phong kiến Việt Nam còn cho phép các

làng được lập ra khoán lệ, hương ước như là các chế định, luật tục, mỗi người

dân phải coi đó là những chuẩn mực buộc phải tuân theo trong quan hệ làng

xã Dân tộc Việt Nam là một dân tộc trọng trí thức, hiền tài, cha ông ta từ xưa

đã quan niệm: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí vững thì thế nước mạnh và thịnh, nguyên khí yếu thì thế nước kém và suy” (Lời Thân Nhân Trung, Văn bia số 1 ở Văn Miếu, dựng năm 1442) Vậy nên, việc bồi dưỡng nhân tài, tin dùng kẻ sĩ, vun đắp nguyên khí là việc cần làm trước tiên Văn Miếu – Quốc Tử Giám của nước ta được dựng khá sớm, chế độ khoa cử ngày

càng được hoàn thiện, nhà nước đặt ra chức Đốc học để đôn đốc việc học, cứ

Trang 20

ba năm lại mở một kỳ đại khoa Thi cử nghiêm túc đã mở đường cho các nho

sĩ có tài đức được tiến thân Để khuyến khích việc học, Lê Thánh Tông có sáng kiến cho khắc tên các tiến sĩ lên bia đá để “lưu danh muôn thuở” Chính nhờ đường lối trọng hiền, cầu hiền, chiêu hiền đãi sĩ coi đó là yếu tố quết định

sự hưng thịnh của đất nước nên khi bước vào kỉ nguyên độc lập, các triều đại

Lý – Trần – Lê…đã đào tạo rất nhiều nhân vật tên tuổi có đóng góp to lớn vào xây dựng nền văn hóa dân tộc, làm rạng danh đất nước

Tóm lại, Tư tưởng về đường lối trị nước là sự phản ánh ý chí, chủ trương của các triều đại phong kiến trong lịch sử Trong lịch sử Việt Nam, tư tưởng

về đường lối trị nước được hình thành và phát triển cùng với sự hoàn thiện của bộ máy nhà nước phong kiến Có thể khẳng định rằng, sự kết hợp giữa tư tưởng “đức trị” với “pháp trị” trong đường lối trị nước luôn gắn với các triều đại phong kiến Việt Nam

- Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại

Ở mỗi quốc gia, chế độ pháp quyền đều có sự điều chỉnh, thích ứng nhất định cho phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước mình Tuy nhiên, các tư

tưởng, học thuyết pháp quyền đều có chung một điểm hội tụ, đó chính là tinh

thần thượng tôn pháp luật của toàn xã hội và mục tiêu tối thượng vẫn là tạo

dựng và đảm bảo dân chủ

Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 Tr.CN), Arixtốt (384-322 Tr.CN), Xixêrôn (l06-43 Tr.CN) Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.Rousseau (1712 - 1778), Denis Diderot(1713

- 1784), I Kant (1724 - 1804), G W F Hegel; (1770 - 1831)… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới Tư tưởng pháp quyền phương Tây cận đại là

Trang 21

thời kỳ triết học khai sáng, những tư tưởng chính trị phát triển rực rỡ, phong phú và đa dạng với những tư tưởng tiêu biểu như sau:

John Locke (1632 - 1704): Ông cho rằng bản chất của con người là tự

do, xã hội loài người là tự do, cho nên tự do là cao quý nhất của xã hội của con người, là tối cao và bất khả xâm phạm Nhà nước phải đảm bảo sự tự do của con người, bảo đảm sự tồn tại hợp lý của nhà nước

Locke chia quyền lực nhà nước thành ba cơ quan với ba quyền khác nhau: Quyền lập pháp: Là sự biểu hiện ý chí chung của quốc gia và thuộc về toàn dân, nếu những quốc gia lớn thì cử ra đại biểu nhân dân do nhân dân bầu

ra và phải là là những người hiểu rõ về luật

Quyền hành pháp: Là quyền thực hiện pháp luật đã được bầu ra bởi cơ quan lập pháp phải có cơ quan riêng và tách khỏi quốc hội

Quyền tư pháp: Là quyền xét xử tội phạm và giải quyết tranh chấp giữa các cá nhân được thực hiện bới thẩm phán do nhân dân bầu ra

Montesqiueu (1698 – 1755): Phê phán chế độ chuyên chế phong kiến và

cho rằng chuyên chế về bản chất là đối lập với tự do Ông là người đã xây dựng học thuyết phân quyền (tam quyền phân lập) với mục đích tạo dựng các thể chế chính trị đảm bảo tự do chính trị cho các công dân Tự do chính trị cho mỗi công dân là quyền làm mọi cái mà pháp luật không cấm Do vậy tự

do chính trị chỉ có được ở các quốc gia mà tất cả các mối quan hệ đều được điều chỉnh bằng luật pháp, pháp luật trở thành thước đo của tự do, mặt khác ông lại cho rằng kinh nghiệm lịch sử bao đời cho thấy người nắm quyền lực thường có khuynh hướng lạm quyền Do vậy cách tốt nhất để chống lạm quyền là phải chống độc quyền, là phải phân chia sao cho quyền lực kiềm chế quyền lực, từ đó ông đưa ra học thuyết phân lập một cách có hệ thống và là đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên chế phong kiến

J.J Rousseau (1712 - 1778): Là nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp, là đại

Trang 22

biểu của tầng lớp dân chủ thị dân, ông phê phán gay gắt quan hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ chuyên chế “Khế ước xã hội” là tác phẩm nỗi tiếng của ông về chính trị

Ông đề cao tư tưởng chủ quyền nhân dân, đòi bác bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến Ông cho rằng trong xã hội mọi người phải được tự do bình đẳng

đó là trạng thái tự nhiên vốn có, là phúc lợi cao nhất của con người, quyền lực trong xã hội phải thuộc về nhân dân, nhà nước lập ra qua các khế ước xã hội phải thể hiện ý chí quyền lực của nhân dân

Về quyền lực nhà nước ông phê phán quan điểm phân quyền của Montesquieu và cho rằng quyền lực là sự thể hiện ý chí của đại đa số, bản thân các quyền lập pháp hành pháp và tư pháp là thống nhất, đó chỉ là biểu hiện bề ngoài của quyền lực tối cao, quyền lực tối thượng của nhân dân Quyền lập pháp là ý chí của nhân dân gắn liền với quyền lực quốc gia

I.Kant (1724 - 1804): Tên tuổi của ông gắn với học thuyết pháp quyền

Theo Kant, nhà nước là tập hợp của nhiều người, là bảo đảm của sự thắng lợi của pháp luật và triệt để áp dụng thuyết phân quyền trong tổ chức nhà nước Theo ông thì ở đâu áp dụng nguyên tắc phân quyền thì ở đó có Nhà nước pháp quyền; Nhà nước pháp quyền không phải là một hiện tượng kinh nghiệm

mà là mô hình lý luận, lý tưởng cần phải tuân thủ Nhà nước đó phải là nhà nước cộng hòa thuần túy, chân chính, nơi có pháp luật ngự trị, mọi cá nhân, mọi chủ thể mang quyền lực nhà nước phải phụ thuộc vào pháp luật Quyền lập pháp có mục đích tạo ra tự do, còn quyền hành pháp không có mục đích pháp lí chung mà chỉ tác động đến công dân

Denis Diderot (1713 - 1784): Theo ông nguồn gốc của nhà nước ra đời

do khuế ước xã hội, nhà nước phải đảm bảo bình đẳng và tự do Nhà nước nào vi phạm điều đó thì không còn tư cách để tồn tại

Về tư cách lãnh đạo ông cho rằng mọi chức vụ của người nắm quyền

Trang 23

phải được thực hiện bằng thi cử, dòng đầu tiên của một bộ luật là hạn chế quyền lực của người nắm quyền

G W.F Hegel (1770 - 1831): Ông là người có công rất lớn đóng góp cho

lí thuyết Nhà nước pháp quyền Theo ông, Nhà nước pháp quyền là sự thể hiện trong thực tế những ý niệm dưới hình thức nhất định của tồn tại thực tế con người Pháp luật là sự thể hiện của tư tưởng tự do Pháp luật trong Nhà nước pháp quyền là hiện thực của tự do và tồn tại thực tế của ý chí tự do Trong xã hội, nhà nước ở vị trí cao nhất và cao hơn cả con người Pháp quyền vừa là sự sáng tạo vừa là sản phẩm của nhà nước Con người không thể tồn tại thiếu nhà nước Sự phân quyền trong nhà nước là nhằm đảm bảo sự tự do công cộng, chống lạm quyền, chuyên chế, vũ lực và phi pháp.Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, sự phân chia tuyệt đối quyền lực lại là nguy cơ dẫn đến thù địch và chống đối Ông tập trung vào việc chống sự tùy tiện, vô pháp luật của cá nhân con người Nhưng Nhà nước pháp quyền của Hegel luôn gắn với duy tâm

Tóm lại, trong thời kì cận đại, tư tưởng về Nhà nước pháp quyền thực sự

có bước phát triển mới Nó đã trở thành một học thuyết và đã trở thành hiện thực, được vận dụng ở một số quốc gia phương Tây, mà ta gọi là Nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa hay Nhà nước pháp quyền tư sản

- Tư tưởng pháp quyền trong các cuộc cách mạng tư sản phương Tây

+ Yếu tố pháp quyền Dân tộc và ảnh hưởng của Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Mỹ:

Mỹ là một quốc gia trẻ xuất hiện trên bản đồ thể giới chỉ khoảng hơn 300 năm nay Vương quốc Anh được coi chung là mẫu quốc của mười ba thuộc địa Anh trên đất Mỹ Nhưng trên một lục địa mới bao la đã mở ra rất nhiều cơ hội phát triển mạnh mẽ cho con người thì các thuộc địa Mỹ mặc nhiên nằm ngoài sự giám sát của Vương triều Anh quốc, các đội dân quân của các thuộc địa xuất hiện công khai Cuối cùng, chỉ chưa đầy hai tháng, cách mạng của

Trang 24

các thuộc đia Mỹ với Vương triều Anh quốc đã giành được thắng lợi, đáp ứng lòng mong muốn khao khát được li khai của toàn dân thuộc địa

Ngày 4 tháng năm 1776, Bản Tuyên ngôn độc lập được thông qua không

những tuyên bố sự ra đời của một quốc gia mới mà còn trình bày một triết lý

về tự do của con người (dựa trên luận thuyết của Locke):

“Chúng ta nắm giữ những sự thật này để tự thấy rõ rằng tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được Chúa ban phú cho những quyền nhất định không thể chối cãi được, rằng trong những quyền này có quyền sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [28; 217]

Đấy là đạo lý con người và pháp lý tự nhiên, hợp với lòng người Đạo lý, pháp lý này đã soi sáng và dẫn đường cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Mỹ khỏi cường quyền áp bức của Vương triều Anh, phân tích cặn kẽ rằng đòi

ly khai với Vương triều ấy tức là đòi quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của từng con người trong cộng đồng Mỹ Sự ly khai của họ đối với chính quốc là hợp lẽ tất nhiên của Trời Đất Hồ Chí Minh đã có cảm tình đậm đà với cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Mỹ.Chính vì vậy, khi cách mạng Tháng 8 năm 1945 ở nước ta thành công Ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thì dòng chữ đầu Người đọc như ta biết là câu Người trích ở đoạn

đầu bảnTuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ:

Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

Trên hành trình ra đi tìm đường cứu nước của Người, Nguyễn Tất Thành mới tới Pháp ít lâu thì qua mấy bến cảng thuộc địa của Pháp tại Châu Phi, rồi Nguyễn Tất Thành sang các cảng nước Mỹ Chắc rằng, Người hy vọng được

Trang 25

nhìn thấy tận mắt một đất nước xuất hiện rực rỡ với cuộc cuộc cách mạng đòi độc lập – tự do, một đất nước đã nêu cao những lý luận đanh thép trong bản

Tuyên ngôn Độc lập của mình Người đến thăm New York, Boston mấy lần,

sống ở đây, cùng ăn ở, giải trí, sinh hoạt chính trị với dân nghèo

Nguyễn Tất Thành hồi mới 13 tuổi đã thấy lóe lên ánh sáng pháp quyền nhân nghĩa, quyền sống và quyền tự do, bình đẳng bác ái của mọi dân tộc đã được nêu cao trong tác phẩm Khế ước xã hội của văn hào người Pháp Rousseou cũng như nhà tư tưởng người Anh Locke ở thế kỷ XVII Khi đến đất Mỹ, Người đã đứng lặng người ngắm tượng Nữ thần tự do Người thấm thía khi đọc mấy câu thơ của thi hào Emma Lazarut được khắc dưới chân

tượng đài: “Hãy trao vào tay tôi cả muôn ngàn người mệt nhọc, nghèo khổ

chồng chất, tới đây mong được hít thở tự do…” Ấy vậy mà ngây từ khi từ

New York xuống đến Georgia, Bác đã thấy Tự do và Công lý được áp dụng một trời một vực đối với những người có màu da khác nhau,những cuộc xung đột đẩm máu trong lịch sử với giữa người da trắng và người da đỏ Lại còn có

cả những chính sách, chủ trương, kế hoạch quy mô quốc gia công nhiên lợi dụng, bóc lột lao động một cách phi nghĩa, phi pháp người da đen, da màu Tuy nhiên, không vì thế mà Nguyễn Tất Thành phủ nhận sạch trơn những mặt

hay của bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ với những lý luận đanh thép

như: “Chân lý hiển nhiên rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng tạo hóa

đã ban cho họ những quyền: “BẤT KHẢ XÂM PHẠM, trong đó có quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”

+ Yếu tố Nhân quyền, Dân quyền của Đại Cách mạng Pháp:

Cách mạng Pháp nổ ra, lúc đầu là những yêu sách đòi hỏi cải cách chế

độ chính trị Đến ngày 14-7-1789, dân chúng biểu tình kéo đến phá ngục Bastille là nơi từ lâu giam hãm tù đày, ngược đãi triền miên các chiến sỹ canh tân phản đối triều đình Đêm 4-5 Hội nghị dân chúng tuyên bố xóa bỏ chế độ

Trang 26

thần dân thay bằng chế độ công dân: Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp

luật; xóa bỏ mọi đặc quyền đặc lợi của các giai tầng bên trên là: Quý tộc và Nhà thờ Năm 1790, nhân lễ kỷ niệm ngày phá ngục Bastille, Hội nghị yêu

cầu Nhà Vua phải cùng với dân chúng thề trung thành với chế độ mới: Tự do,

Bình đẳng Năm 1971, Dự thảo Hiến pháp được Quốc hội thảo luận thông

qua Quốc hội ban hành Hiến pháp gắn với bản Tuyên ngôn Nhân quyền – Dân quyền (1789) Chế độ quân chủ chuyên chế, chế độ phong kiến quý tộc, nhà thờ hoàn toàn bị thủ tiêu, thay bằng chế độ quân chủ lập hiến với một hiến pháp dân định do Quốc hội quyết định và Nhà Vua ký phê chuẩn rồi công bố để toàn dân cùng với Nhà Vua tuân theo chấp hành

Đất nước Pháp đã làm cách mạng suốt 86 năm (1789 – 1870) oanh liệt

Để tiến hành cuộc Đại Cách mạng nhân dân, ba lần kiên trì (1789, 1848, 1870), đứng lên, rồi đổ, rồi lại đứng lên, cuối cùng khéo léo lái con thuyền Cộng hòa tới bến: Cộng hòa lần thứ III, với các luật Hiến 1875, Cộng hòa III tồn tại cho đến 1940 Nguyễn Ái Quốc bôn ba hơn chục năm trên quê hương

xứ sở của cuộc Đại Cách mạng Pháp - Á để tìm hiểu, tìm học truyền thống kinh nghiệm Cách mạng Dân quyền, nghiên cứu cuộc đấu tranh của nhân dân Pháp trải qua mấy thế kỷ để dựng nên nền Cộng hòa III (Pháp quyền chuyên chính tư sản) Cuộc Cách mạng đã biến đổi mãi mãi hệ tư duy Thần quyền, Quân quyền sang tư duy Nhân, Dân quyền Đặc biệt, để huy động thức tỉnh quần chúng lao khổ và tạo ra công luận rộng rãi ủng hộ quyền dân, quyền người, quyền xã hội, quyền dân tộc họ đã thêu bằng chữ vàng ba khẩu hiệu:

Tự do - Bình đẳng - Bác ái, đây có thể ví như ba tư tưởng gốc của tất cả cuộc Cách mạng đương thời và mãi mãi sau này

Công lao của các lý luận gia tư sản là họ đã biết giương cao khẩu hiệu

“Tự do – Bình đẳng – Bác ái” trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến toàn bạo, lập nên chế độ cộng hòa; đã nâng cao các quyền con người lên

Trang 27

thành các nguyên tắc pháp lý, coi đó là những quyền tự nhiên, thiêng liêng mà pháp luật phải bảo vệ Nhưng giai cấp tư sản cầm quyền, xuất phát từ lợi ích giai cấp của họ, đã tuyệt đối hóa vai trò của tự do cá nhân, của quyền tư hữu

“thiêng liêng bất khả xâm phạm”; đã nhấn mạnh cực đoan, một chiều yếu tố

cá nhân, đi tới đối lập cá nhân với cộng đồng, tách rời quyền của mỗi con người với quyền của tập thể, xã hội và dân tộc Dưới chế độ tư bản, bất công

xã hội và áp bức bóc lột vẫn không ngừng tăng lên, đặc biệt ở các nước thuộc địa thì chiêu bài về quyền con người chỉ còn là một trò bịp lớn Người viết:

“Các tập đoàn thống trị ở các nước đế quốc lớn đang bóp nghẹt những quyền

tự do căn bản của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc; trong lúc đó thì ở nhà tù

và nơi tra khảo, chúng lại nêu khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” Trong điều kiện của chế độ tư bản và thực dân áp bức, khẩu hiệu đó vang lên thật mỉa mai” [41; 566]

- Tư tưởng pháp chế xã hội chủ nghĩa trong nhà nước vô sản

Pháp chế xã hội chủ nghĩa là chế độ đặc biệt của đời sống chính trị – xã hội, trong đó mọi cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, nhân viên nhà nước, nhân viên của các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để, chính xác

Học thuyết Nhà nước pháp quyền không chỉ có những tư tưởng của các triết gia tư sản mà còn có cả sự đóng góp của những nhà kinh điển chủ nghĩa

xã hội Marx, Engels và Lênin dù không chính thức nói đến Nhà nước pháp quyền như là nội dung chính yếu trong học thuyết của mình nhưng các ông luôn quan tâm đến Nhà nước và cách mạng, Nhà nước và pháp luật Trong các bài viết, bài nói ít nhiều họ đã thể hiện tư tưởng về pháp quyền Đó là những tư tưởng đầu tiên về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Quan điểm của Marx và Engels được thể hiện trong các tác phẩm như: “Sự khốn cùng của triết học”, “Phê phán triết học pháp quyền Hegel,…” Lênin tiếp thu

Trang 28

và phát triển tư tưởng của Marx và Engels và đã đưa học thuyết của các ông đến mức độ hoàn bị hơn Lênin hướng đến một xã hội dân chủ rộng rãi, giải phóng con người và phát triển toàn diện con người Trong việc xây dựng Nhà nước Xô Viết, Lênin đã nhiều lần đòi hỏi bộ máy chính quyền phải thật sự là của nhân dân lao động, phải thật sự bảo đảm dân chủ, phải dùng pháp luật (pháp luật Xô viết) để đấu tranh chống sự lề mề, quan liêu, hối lộ

Những tư tưởng cốt lõi về nhà nước pháp quyền đã được các nhà kinh điển đề cập sâu sắc trong các chủ trương xây dựng nhà nước kiểu mới, chế độ dân chủ mới, chế độ dân chủ vô sản Đó là chủ trương xây dựng nhà nước hợp hiến, hợp pháp; là nhà nước dân chủ cao nhất, triệt để nhất, là bước chuyển từ xã hội thần dân sang xã hội công dân, từ nhân dân của nhà nước sang nhà nước của nhân dân Đó là chế độ dân chủ xuất phát từ con người và pháp luật cũng vì con người Đó là nhà nước đảm bảo cho tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người

V.I.Lênin cho rằng chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột mà mặt cơ bản của nó là tổ chức, xây dựng toàn diện xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.Lênin đã kế thừa và phát triển một cách xuất sắc học thuyết của Mác - Ăngghen về chuyên chính vô

sản Nhà nước và cách mạng là tác phẩm thể hiện xuất sắc về học thuyết này,

V.I.Lênin vận dụng và phát triển trong sự phân tích, đánh giá nhà nước tư sản, chế độ cộng hoà dân chủ tư sản, cũng như trong thực tiễn lãnh đạo nhân dân Nga xây dựng nền pháp luật kiểu mới, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga năm 1918 – là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa đầu tiên được ban hành, tuyên bố chính quyền nhà nước của nhân dân lao động, hủy bỏ quyền của bọn bóc lột, làm nền tảng cho chế độ pháp quyền mới, thật sự dân chủ, nền pháp chế xã hội chủ nghĩa Hiến pháp gồm 17 chương, 6 phần và 90 điều, được mở đầu bằng

Trang 29

Tuyên ngôn về các quyền của nhân dân lao động bị áp bức Hiến pháp ghi nhận sự củng cố nền chuyên chính của giai cấp vô sản

Theo mô hình của Hiến pháp này, các nước Cộng hòa Xô Viết khác cũng lần lượt thông qua Hiến pháp của mình trong những năm 1919 – 1922 Năm

1924 bản Hiến pháp Liên Xô đầu tiên được thông qua, vạch ra con đường phát triển hơn nữa của các dân tộc ở Liên Xô tiến lên chủ nghĩa xã hội Bản Hiến pháp thứ ba của Liên Xô được thông qua năm 1936, đây là bản Hiến pháp ghi nhận thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, ghi nhận quyền lực thuộc về nhân dân lao động thông qua các Xô viết đại biểu công nhân, binh sĩ

và nông dân

Hiến pháp xã hội chủ nghĩa thiết lập một chính thể mới – chính thể xã hội chủ nghĩa, xác định một cơ cấu tổ chức nhà nước dựa trên nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa và tập trung dân chủ

Tư tưởng cốt lõi của nhà nước pháp quyền trong học thuyết Mác-Lênin tập trung vào một số điểm chính sau:

+ Thứ nhất, Bản chất dân chủ trong nhà nước: Ở nhiều tác phẩm,

C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận bàn về dân chủ, về xã hội công dân với tư cách

là những tiêu chí của nhà nước, xã hội tiến bộ Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, hai ông đã viết: “…bước thứ nhất trong cuộc cách mạng công nhân là giai cấp vô sản biến thành giai cấp thống trị, là giành lấy dân chủ…” [6; 626] và “Mục đích trước mắt của những người cộng sản là… lật

đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản giành lấy chính quyền” [6; 626]

Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Ghôta, C.Mác đã chỉ rõ: Từ “dân chủ” nếu chuyển qua tiếng Đức thì có nghĩa là “nhân dân nắm chính quyền” Mác đã viết: Chế độ dân chủ xuất phát từ con người và biến nhà nước thành con người được khách thể hóa Cũng giống như tôn giáo không tạo ra con

Trang 30

người mà con người tạo ra tôn giáo, ở đây cũng vậy: không phải chế độ nhà nước tạo ra nhân dân mà nhân dân tạo ra nhà nước

Sự khác biệt giữa chế độ dân chủ với chế độ chuyên chế, theo C.Mác chính còn là do chế độ dân chủ có đặc trưng cơ bản là luật pháp tồn tại vì con người: Dưới chế độ dân chủ, không phải con người tồn tại vì pháp luật, mà pháp luật tồn tại vì con người; ở đây sự tồn tại của con người là pháp luật, trong khi đó thì ở những hình thức khác nhau của chế độ nhà nước, con người lại là tồn tại được bởi quy định của luật pháp Dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chế độ dân chủ là như vậy

+ Thứ hai, Chủ thể quyền lực nhà nước phải thuộc về đa số: C.Mác

khẳng định dân chủ chính là chế độ nhà nước do dân nắm quyền lực Để thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản trong điều kiện chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, C.Mác cho rằng, phải thông qua chế độ cộng hòa dân chủ Điều này đã được Lênin nhắc lại sau này trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng: “Tư tưởng xuyên suốt trong các tác phẩm của Mác là chế độ cộng hòa dân chủ là con đường ngắn nhất đưa đến chuyên chính vô sản” [65; 98-99].Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác, Lênin đã cho rằng, chỉ có nhà nước mà quyền lực thuộc về nhân dân thì nhà nước mới có thể quản lý được xã hội phù hợp

với quy luật, phục vụ lợi ích nhân dân

Theo Lênin, nhà nước vô sản trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội mang một bản chất duy nhất - bản chất giai cấp công nhân, là chuyên chính vô sản, nhà nước đó do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, thực hiện dân chủ thực sự với nhân dân, bảo vệ quyền lợi thực sự của nhân dân, chuyên chính với kẻ thù của nhân dân Bản chất này do cơ sở kinh tế và chế độ chính trị xã hội của chủ nghĩa xã hội quy định

Thứ ba, Bản chất giai cấp công nhân và tính nhân dân rộng rãi trong

Trang 31

nhà nước pháp quyền: Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, một mặt

đã khẳng định bản chất giai cấp công nhân trong nhà nước chuyên chính vô sản, mặt khác, do bản chất dân chủ vô sản đòi hỏi, nhà nước xã hội chủ nghĩa phải mang tính nhân dân rộng rãi, lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia quản

lý nhà nước Sau khi giành được chính quyền, giai cấp vô sản trở thành giai cấp thống trị duy nhất trong xã hội phải tập trung xây dựng nhà nước vô sản

mà mục tiêu cao nhất là phục vụ lợi ích cho đa số

Chủ nghĩa Mác, đặc biệt là Lênin đã dự đoán rằng trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không tránh khỏi có những cán bộ, công chức nhà nước lạm dụng quyền lực, thoái hoá biến chất, xa rời quần chúng làm xuất hiện chủ nghĩa quan liêu trong nhà nước vô sản Lênin rất quan tâm đến công tác kiểm tra, kiểm soát bộ máy nhà nước, giám sát các thành viên của Chính phủ trên

cơ sở xây dựng chế độ trách nhiệm cá nhân công chức, viên chức trong những việc mà họ đang đảm nhận; thực hành dân chủ hoá trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, lôi cuốn đông đảo công nhân và nông dân tham gia công việc quản lý nhà nước…

b Cơ sở thực tiễn

- Thực tiễn hoạt động của nhà nước pháp quyền tư sản phương Tây

Trong lịch sử của nhân loại, nhà nước được hình thành cách đây khoảng hơn hơn 5.000 năm, nhưng bộ máy nhà nước được phân quyền mới chỉ được thiết lập cách đây khoảng gần 300 năm, kể từ khi có cách mạng tư sản

Nền Dân chủ Tư sản là nền dân chủ dành cho Giai cấp Tư sản, tức là các

nhà giàu trong xã hội

Nền Dân chủ Tư sản có ba thiết chế cơ bản: 1/ Nhà nước dân chủ phải

được tổ chức theo quy chế phân lập tam quyền, theo đó nhà nước này phải

được phân chia thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện độc lập ba loại quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan

Trang 32

hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp; sự phân chia quyền lực như vậy làm cho quan chức nhà nước không thể lạm dụng được quyền lực nhà nước; 2/ Nhà nước dân chủ phải

được làm chủ theo nguyên tắc đa nguyên bình đẳng bởi toàn thể công dân, 3/ Nhà nước dân chủ phải được bảo tồn theo chế độ bầu cử tự do hoặc phải hoạt động theo nhiệm kỳ; mọi công dân đều phải được tham gia lựa chọn những

người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác

nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp

Tuy nhiên, qua các khảo sát kinh nghiệm xây dựng nhà nước pháp quyền tại các nước Cộng hoà Liên bang Đức, Cộng hoà Pháp, Vương quốc Anh, Cộng hoà Ý đã cho thấy ở các nước này, mô hình tổ chức nhà nước pháp quyền được tổ chức vừa thống nhất vừa đa dạng, phản ánh các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền, đồng thời các giá trị đặc thù của từng quốc gia

Nhà nước Anh thiên về xu hướng hợp nhất quyền lực hơn là phân chia quyền lực rạch ròi Ví dụ Chánh án Tòa án tối cao của Anh có thể vừa là người đứng đầu tư pháp, vừa là thành viên của Thượng viện, lại đồng thời là thành viên của Hành pháp Khác với Anh, bộ máy nhà nước Pháp đảm bảo sự phân lập giữa các nhánh quyền lực và luôn có sự kiềm chế, đối trọng, ràng buộc lẫn nhau Tuy nhiên thực tế quyền lực có xu hướng ngả về phía hành pháp và tổng thống luôn nắm nhiều ưu thế hơn so với nghị viện, đặc biệt là khi đảng của tổng thống chiếm đa số ghế trong nghị viện So với Anh và Pháp, nhà nước Hoa Kỳ áp dụng học thuyết phân quyền một cách cứng rắn và mạnh mẽ hơn nhiều Tuy nhiên trong mọi thời điểm, tổng thống vẫn luôn là nhân vật trung tâm của Bộ máy nhà nước với thực quyền to lớn

Tại Pháp cũng như Đức, từ đầu thế kỉ 20, Nhà nước pháp quyền được quan niệm như một hình thức tổ chức quyền lực nhà nước đặc biệt Trung tâm

Trang 33

của học thuyết nhà nước pháp quyền, là nguyên tắc theo đó các cơ quan nhà nước chỉ có thể hành động dựa trên các quy phạm pháp luật Việc thực thi quyền lực nhà nước được căn cứ bởi thẩm quyền, được thiết lập và đóng khung bằng luật pháp Cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tuân thủ các quy phạm pháp luật Nhà nước pháp quyền tư sản trong quá trình ra đời, tồn tại và phát triển đã đạt được nhiều thành tựu nhất định mà ta có thể kể đến như sau:

+ Pháp luật tư sản có nhiều điểm tiến bộ hơn so với pháp luật phong kiến Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật nhân loại, nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật được thiết lập Nó được ghi nhận trong Hiến pháp

tư sản Để thực hiện quyền bình đẳng của pháp luật, luật bầu cử của hầu hết các Nhà nước tư sản đều quy định mọi công dân đến tuổi quy định đều có thể tham gia bầu cử hoặc ứng cử vào Nghị viện – cơ quan lập pháp và các hội đồng địa phương Mọi công dân vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật không phụ thuộc đó là ai

+ Nguyên tắc “Tam quyền phân lập”, quyền lực được phân chia trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước đương đại Đây là một tư tưởng dân chủ, nhân đạo và tiến bộ vì nó phục vụ đắc lực cho cuộc đấu tranh chống chế

độ độc tài, chuyên chế, sự lạm quyền Phân quyền là để đảm bảo cho quyền lực nhà nước không những không tập trung trong tay một tổ chức hay cá nhân nào mà còn bị kiềm chế, kiểm soát và khống chế lẫn nhau giữa các hệ thống

cơ quan nhà nước khác nhau

+ Pháp luật tư sản qui định và bảo vệ quyền công dân và quyền con người Khác với pháp luật phong kiến nơi mà các quyền công dân và quyền con người không được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

+ Pháp luật tư sản cũng qui định về các nghĩa vụ của công dân Nghĩa vụ phục vụ quân đội trong một thời gian và theo cách thức mà pháp luật quy định Nghĩa vụ trung thành với tổ quốc, tôn trọng và tuân thủ Hiến pháp, pháp

Trang 34

luật; nghĩa vụ đóng thuế Nghĩa vụ của công chức thực hiện tròn bổn phận của mình với danh dự một công chức

Bên cạnh đó, Nhà nước pháp quyền tư sản cũng có những mặt hạn chế nhất định:

+ Hiến pháp và pháp luật tư sản chỉ thừa nhận quyền lực của cá nhân Tổng thống hoặc cá nhân Thủ tướng có quyền giải tán Nghị viện (Quốc hội) hoặc giải tán Chính phủ

+ Pháp luật tư sản không phải là pháp luật của toàn dân, không thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của toàn dân mà chỉ phản ánh ý chí, nguyện vọng của một bộ phận nhân dân, đó là những người giàu, là giai cấp tư sản Nói cách khác, luật pháp của Nhà nước pháp quyền tư sản chỉ bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản và gạt ra ngoài lề quyền lợi của người lao động - những người

- Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoạt động của nhà nước vô sản

V.I Lênin đã phát triển lý luận cách mạng vô sản của C Mác, Ph Ăngghen cùng Đảng Bônsêvich Nga lãnh đạo quần chúng lao động tiến hành cuộc cách mạng vô sản thắng lợi, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Chỉ sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, dân nghèo đứng lên cầm quyền, lập Cộng hòa Xô viết công – nông thì mới thật có Tự do – Bình đẳng – Bác ái Cách mạng Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ, pháp quyền vô sản xóa bỏ hoàn toàn nạn bóc lột giai cấp, bảo vệ quyền sống, các quyền tự do,

Trang 35

bình đẳng cho mọi công dân, ai ai cũng làm theo khả năng, hưởng theo lao động Hiến pháp Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga 1918 đã được lãnh

tụ vĩ đại Lênin chuẩn bị trong bão táp cách mạng, làm nền tảng cho chế độ pháp quyền mới, thật sự dân chủ

Sau sự kiện này, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế phát triển mạnh mẽ Đầu năm 1919, Quốc tế thứ ba được thành lập, đánh dấu sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với khuynh hướng cơ hội hữu khuynh và chủ nghĩa sô-vanh của Quốc tế thứ hai

Năm 1922, Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô Viết ra đời Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nhân dân lao động Nga từ những người nô lệ, làm thuê trở thành người làm chủ đất nước, với khí thế lao động của những con người được giải phóng, thông qua chính sách Kinh tế mới (NEP), thông qua con đường hợp tác hóa nông nghiệp, công nghiệp hóa đất nước đã đưa nước Nga trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có nền kinh tế phát triển cao, nhiều ngành khoa học tiên tiến, có một xã hội luôn quan tâm đến đời sống của

nhân dân lao động

Nhân dân Liên Xô đã cùng với lực lượng dân chủ tiến bộ đập tan chủ nghĩa phát xít, giải phóng hàng loạt các nước Đông Âu, tạo điều kiện cho các nước này đi lên chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội trở thành một hệ thống thế giới với tiềm lực mọi mặt được tăng cường và có vị thế quan trọng trong quan

hệ quốc tế, tồn tại song song với hệ thống tư bản chủ nghĩa

Đi cùng với việc xây dựng một xã hội tốt đẹp, chủ nghĩa xã hội còn thiết lập ra quan hệ quốc tế bình đẳng giữa các quốc gia dân tộc, tạo điều kiện giúp

đỡ lẫn nhau để cùng phát triển Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa mang bản chất của giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi, tính dân tộc sâu sắc nên nhà nước xã hội chủ nghĩa không phải là công cụ để đàn áp một giai cấp nào đó, mà là công cụ thực hiện lợi ích cho những người lao động và chuyên

Trang 36

chính trấn áp đối với thiểu số những kẻ bóc lột, đi ngược lại lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhà nước xã hội chủ nghĩa luôn giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng Cộng sản, đặc biệt nhà nước luôn coi trọng mặt tổ chức xây dựng xã hội mới tốt đẹp Liên Xô và hệ thống các nước Đông Âu đã có một thời kỳ phát triển rực rỡ và đạt được nhiều thành tựu to lớn sau đây:

Về kinh tế: Nhà nước xã hội chủ nghĩa đã đạt những thành tựu to lớn

trong kinh tế Năm 1938, sản lượng công nghiệp của Liên Xô tăng hơn 9 lần

so với năm 1913, trong khi đó Mỹ, Anh, Pháp chỉ tăng khoảng 1,3 lần Liên

Xô chỉ qua 3 kế hoạch 5 năm thực hiện công nghiệp hóa, điện khí hóa, tập thể hóa và cơ giới hóa nông nghiệp đã trở thành một nước công nghiệp tiên tiến

Sự lớn mạnh về kinh tế tạo điều kiện phát triển công nghiệp quốc phòng, đảm bảo cho Liên Xô có điều kiện bảo vệ vững chắc tổ quốc xã hội chủ nghĩa và góp phần quyết định vào chiến thắng chủ nghĩa phát xít sau chiến tranh thế giới thứ 2 Từ chỗ là những nước nghèo, các nước Đông Âu đã trở thành những quốc gia công – nông nghiệp Sản lượng công nghiệp tăng lên gấp hàng chục lần, nông nghiệp phát triển nhanh chóng,

Về chính trị: Chế độ người bóc lột người đã bị xóa bỏ, trên phạm vi toàn

xã hội không còn tồn tại giai cấp bóc lột, chế độ xã hội chủ nghĩa từng bước được xây dựng, nhân dân lao động trở thành người làm chủ đất nước Chế độ

xã hội chủ nghĩa đã tạo nên sự thống nhất trong cộng đồng xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý điều hành của Nhà nước đã tập trung được mọi nguồn lực, sự đồng thuận của xã hội để vượt quá khó khăn thử thách

Sự ra đời chế độ xã hội chủ nghĩa cũng có nghĩa là chế độ dân chủ tiến

bộ được xác lập, một chế độ dân chủ chủ nghĩa, chế độ dân chủ cho tuyệt đại

đa số nhân dân lao động; ngăn ngừa và trấn áp những hành vi xâm phạm quyền tự do dân chủ của nhân dân Chế độ xã hội chủ nghĩa còn thúc đẩy trào

Trang 37

lưu đấu tranh cho quyền tự do dân chủ ở các nước tư bản chủ nghĩa và trên toàn thế giới

Về văn hóa, khoa học – kĩ thuật: Các nước xã hội chủ nghĩa cũng đạt

được những thành tựu rực rỡ: nâng cao trình độ học vấn cho người lao động, trình độ khoa học – kĩ thuật được nâng lên rõ rệt, dẫn đầu thế giới về nhiều lĩnh vực, nhất là lĩnh vực nghiên cứu vũ trụ…

Tuy nhiên, quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội của Liên Xô và các nước Đông Âu cũng có những hạn chế nhất định như xây dựng một nền kinh tế khép kín, không hoà nhập với đời sống kinh tế thế giới; chưa coi trọng đầy đủ việc áp dụng những tiến bộ của khoa học và công nghệ; sự hợp tác gặp nhiều trở ngại do cơ chế quan liêu, bao cấp

1.2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG PHÁP QUYỀN HỒ CHÍ MINH

1.2.1 Quá trình hình thành tư tưởng pháp quyền Hồ Chí Minh

Nguyễn Tất Thành sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, Người đã tận mắt chứng kiến một cảnh ngộ đối lập, giữa một bên là cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột của nhân dân mình với một bên là cuộc sống xa hoa, những tội ác dã man, tàn bạo của thực dân, đế quốc và phong kiến Chính những điều đó đã nuôi dưỡng lý tưởng yêu nước cách mạng của Người và thôi thúc Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân, tìm kiếm mô hình xã hội mới, mô hình nhà nước mới

Phong trào yêu nước chống Pháp vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đang khủng hoảng trầm trọng vì thiếu một đường lối đúng, chưa có một giai cấp tiên tiến lãnh đạo Mâu thuẫn giữa cuộc đấu tranh mạnh mẽ, liên tục của nhân dân với sự khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo đã làm cho phong trào chống Pháp lần lượt thất bại

Nhìn lại các con đường cứu nước, chống Pháp đã qua, Nguyễn Tất Thành rất khâm phục các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Châu Trinh

Trang 38

và Phan Bội Châu nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào vì: Cụ Phan Châu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương, Người nhận thấy điều đó là sai lầm, chẳng khác gì xin giặc rủ lòng thường; Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, điều đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau”; Cụ Hoàng Hoa Thám thì trực tiếp đấu tranh chống Pháp nhưng còn nặng cốt cách phong kiến

Như vậy, con đường cứu nước kiểu cũ không thể đưa đến thành công, Nguyễn Tất Thành quyết định tự mình ra đi tìm đường cứu nước Người từ chối con đường Đông Du không phải vì Người đã hiểu được bản chất giai cấp cầm quyền Nhật Bản khi nước này đang trên con đường chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Người mới chỉ cảm thấy rằng, từ chối sang Nhật không phải là khước từ lòng ưu ái, niềm tin của cụ Phan Bội Châu mà là từ chối con đường cứu nước không thể đưa đến thành công

Vào năm 13 tuổi, Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu làm quen với các từ tự

do, bình đẳng, bác ái, Người đã bị các từ này hấp dẫn, nhưng khi đối chiếu

với tình cảnh của đất nước dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Người chẳng

thấy tự do, bình đẳng, bác ái ở đâu mà chỉ thấy sự áp bức, bóc lột Người

nhận ra giữa chữ nghĩa trong sách vở, với sự tuyên truyền, dạy dỗ ở nhà trường Pháp với cuộc sống của nhân dân Việt Nam đang bị nô lệ có một khoảng cách quá lớn, một sự trái ngược, mâu thuẫn tột bậc Nhân dân Việt Nam đâu có được tự do, bình đẳng, bác ái mà chỉ có cuộc sống đói khổ, lầm than Người nói: “Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem xét nước Pháp và các nước khác Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào ta” Người quyết định sang Pháp bởi nguồn gốc của những đau khổ và áp bức bóc lột là ngay tại “chính quốc”, ở nước đế quốc thống trị dân tộc mình Quyết định này mở ra bước ngoặt lớn trong cuộc đời cách mạng của Người

Mùa hè năm 1911, Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc sang phương Tây tìm

Trang 39

đường cứu nước.Trong những năm bôn ba ở hải ngoại, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy và tố cáo bộ mặt thật của thựcdân Pháp ở Việt Nam, trong đó thể hiện sự phản đối chính quyền cự quyền, một chính quyền phi pháp quyền của thực dân Pháp ở Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã bóc lột trần cái gọi là “khai hóa văn minh” của chế độ cai trị thực dân Pháp, tố cáo bộ măt tàn bạo, lố lăng, giả nhân giả nghĩa của những cá nhân đại diện thực hành chế độ thực dân Người chỉ ra âm mưu và thủ đoạn che dấu tội ác của chúng: “để che đậy

sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lý tưởng: Bác ái – Bình đẳng…” [35; 75]

Trên hành trình cứu nước và hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã đi đến nhiều nước thuộc địa và phụ thuộc ở khắp các châu lục, song

có ba nước đáng chú ý là Mỹ, Anh và Pháp Trong những năm tháng ấy, Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng chiếm lĩnh được vốn tri thức của thời đại; tiếp thu được nền văn hóa dân chủ và cách mạng của phương Tây; tiếp thu được tư tưởng chính trị nhân văn dân chủ tư sản của các nhà khai sáng Pháp

thoát thai từ thời phục hưng, được thể hiện trong Tuyên ngôn về nhân quyền

và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp (1789), nhất là tư tưởng Dân chủ -

Tự do – Bình đẳng – Bác ái, tư tưởng giải phóng con người khỏi thần quyền

và sự thống trị của những quan hệ phong kiến và phong cách làm việc dân chủ trong các sinh hoạt khoa học ở các câu lạc bộ và sinh hoạt chính trị trong Đảng Xã hội Pháp

Ở Mỹ, (khoảng cuối năm 1912 đến cuối năm 1913), Người đến Bruclin thăm khu da đen Hacslem, đã chiêm ngưỡng tượng Thần Tự do, đã đọc bản

Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mỹ, trong đó, đề cập đến “Quyền bình

đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người,…” Người đã tiếp thu được tư tưởng đề cao quyền lực của nhân dân trong cách

Trang 40

mạng Mỹ nhưng Người cũng đã phát hiện ra những nghịch lý: đằng sau những lời hoa mỹ về tự do, bình đẳng kia là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động, là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen – nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc,…

Trong quá trình khảo sát thực tế, nghiên cứu và phát triển lý luận, Hồ Chí Minh đã đúc kết được những bài học hết sức quý báu về xây dựng chính quyền nhà nước Hồ Chí Minh cũng đã thấy rõ sức mạnh quật khởi của nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ đứng lên dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản chống lại ách chuyên chế phong kiến, nhưng Người cũng đã chỉ: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì, nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa Cách mệnh đã 4 lần rồi mà nay công nông Pháp hẵng còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức Cách mệnh Việt Nam nên nhớ những điều ấy” [36; 274]

Hồ Chí Minh cho rằng, sau khi cách mạng thành công, phải lập một chính quyền của số đông người, Người viết: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người” [36; 270]

Cách mạng Tháng 10 Nga thành công, thành lập nhà nước Xô viết Người viết: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công,

và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc chủ nghĩa Pháp khoe khang bên An Nam” [36; 280]

Tháng 7-1920, Người đã đọc được Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin Luận cương đã vạch

ra đường lối cơ bản cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc, giải đáp cho Người về con đường giành độc lập dân tộc và tự do cho

Ngày đăng: 04/04/2022, 23:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2003
[2] Nguyễn Thị Kim Bình (2008), “Tư tưởng trị nước của Pháp gia và vai trò của nó trong lịch sử”, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẵng, tập 26 (3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng trị nước của Pháp gia và vai trò của nó trong lịch sử”, "Tạp chí khoa học và công nghệ
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Bình
Năm: 2008
[3] Bộ Tư Pháp (1993) Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật của Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật
[4] Bùi Văn Bồng (2012), “Đảng tăng cường đối thoại với dân ” , Tạp chí Xây dựng Đảng, 29/2/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng tăng cường đối thoại với dân”, "Tạp chí Xây dựng Đảng
Tác giả: Bùi Văn Bồng
Năm: 2012
[5] C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 1, (1995), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 1
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[6] C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 4, (1995), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 4
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[7] C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 19, (1995), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăngghen: Toàn tập, Tập 19
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1995
[8] Hoàng Đình Cúc (2007), “Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân”, Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (số 9) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân”, "Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Năm: 2007
[9] Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, NXB. Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: NXB. Thanh Niên
Năm: 2001
[10] Ngô Huy Cương (2006), Dân chủ và pháp luật dân chủ, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và pháp luật dân chủ
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
[11] Nguyễn Đăng Dung (2005), Sự hạn chế quyền lực Nhà nước, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hạn chế quyền lực Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
[12] Nguyễn Đăng Dung (chủ biên), Bùi Ngọc Sơn và Nguyễn Mạnh Tường (2007), Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung (chủ biên), Bùi Ngọc Sơn và Nguyễn Mạnh Tường
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia
Năm: 2007
[13] Nguyễn Thị Kim Dung (2000), “Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho sự ra đời một Nhà nước pháp quyền Việt Nam” trong cuốn Việt Nam trong thế kỉ XX, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh người đặt nền móng cho sự ra đời một Nhà nước pháp quyền Việt Nam” trong cuốn "Việt Nam trong thế kỉ XX
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2000
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam (1977), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1977
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB" Sự thật
Năm: 1987
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1991
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện toàn Đảng Toàn tập, tập 47, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện toàn Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện toàn Đảng Toàn tập, tập 51, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện toàn Đảng Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2007
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm