1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) tư tưởng chính trị của arixtôt trong tác phẩm chính trị luậ

97 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Chính Trị Của Arixtôt Trong Tác Phẩm “Chính Trị Luận”
Tác giả Nguyễn Anh Tùng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Tấn Hùng
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Khoa học xã hội và nhân văn
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 725,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tác phẩm Chính trị luận, Arixtôt khái quát các hình thức thể chế chính trị đã tồn tại ở Hy Lạp, phê phán các lý thuyết về nhà nước, nhất là mô hình nhà nước lý tưởng của Platon –

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TẤN HÙNG

Đà Nẵng – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng

được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Anh Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3

5 Kết cấu của luận văn 3

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1: HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARIXTÔT 6

1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA Arixtôt 6

1.1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội 6

1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng chính trị của Arixtôt 8

1.2 TIỂU SỬ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTÔT 12

1.2.1 Cuộc đời Arixtôt 12

1.2.2 Sự nghiệp của Arixtôt 16

1.2.3 Về kết cấu của tác phẩm “Chính trị luận” 19

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTÔT TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” 22

2.1 QUAN NIỆM CỦA ARIXTÔT VỀ NGUỒN GỐC, MỤC ĐÍCH, HÌNH THỨC CỦA NHÀ NƯỚC 22

2.1.1 Quan điểm Arixtôt về nguồn gốc, mục đích của nhà nước 22

2.1.2 Quan điểm Arixtôt về các hình thức nhà nước trong lịch sử 25

Trang 5

2.1.3 Quan điểm của Arixtôt về con người và các quan hệ chính trị của con người 31 2.1.4 Quan điểm Arixtôt về xung đột chính trị trong các nhà nước 35 2.2 QUAN NIỆM CỦA ARIXTÔT VỀ NHÀ NƯỚC TỐT NHẤT 40 2.2.1 Quan điểm Arixtôt về hạnh phúc với tính cách là mục đích cao nhất của một nhà nước tốt nhất 40 2.2.2 Quan điểm Arixtôt mô hình nhà nước tốt nhất 44 2.2.3 Quan điểm Arixtôt về vai trò và mối quan hệ giữa Hiến pháp và Pháp luật trong một nhà nước tốt nhất 46 2.2.4 Quan điểm Arixtôt về tầng lớp cai trị và sự phân chia quyền lực chính trị trong một nhà nước tốt nhất 50 2.2.5 Quan điểm của Arixtôt về giáo dục và dân số trong nhà nước tốt nhất 56

CHƯƠNG 3: NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ ARIXTÔT TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” 68

3.1 NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ ARIXTÔT TRONG

TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” 68

3.1.1 Những giá trị 68 3.1.2 Sự vận dụng những giá trị trong tư tưởng chính trị Arixtôt qua các thời kỳ lịch sử 73 3.2 NHỮNG HẠN CHẾ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTÔT TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN” 79

KẾT LUẬN 87 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Triết học Hy Lạp là một di sản quý giá không chỉ của dân tộc Hy Lạp,

mà còn của cả nhân loại Với tư cách một hệ thống hoàn chỉnh, triết học Hy Lạp cổ đại ra đời vào khoảng cuối thế kỷ VII – đầu thế kỷ VI trước Công nguyên và tồn tại đến thế kỷ II – III sau Công nguyên, trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ

Với nền văn minh rực rỡ của mình, Hy Lạp luôn thu hút sự quan tâm tìm hiểu của không ít người nghiên cứu và cho đến nay, những thành tựu của nền văn minh ấy vẫn luôn khiến người ta phải ngưỡng mộ, khâm phục Mặc dù triết học Hy Lạp cổ đại là giai đoạn đầu tiên trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng phương Tây, nhưng những tư tưởng triết học, những thành tựu mà nó

đã đạt được thì không ai có thể phủ nhận Không chỉ thế, những thành tựu của triết học Hy Lạp còn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của hầu hết các trào lưu triết học phương Tây sau này

Arixtôt là nhà triết học, nhà giáo dục và nhà khoa học đã tạo nên ảnh hưởng hết sức lớn lao trong nền văn minh phương Tây Cùng với Platon, Arixtôt được coi là một trong các nhà triết học Hy Lạp quan trọng nhất Arixtôt hiểu rõ toàn thể học thuật Hy Lạp của các thời đại trước, đã cứu xét, tóm tắt, nhận xét và làm phát triển kiến thức của nhân loại, gây ảnh hưởng trong nhiều thế kỷ về sau

Là một nhà bác học, Arixtôt đã để lại cho hậu thế một kho tàng tư tưởng

đồ sộ về nhiều phương diện như triết học, khoa học, toán học, thiên văn học

và chính trị học Chính trị luận là một trong những tác phẩm kinh điển của

Arixtôt về triết lý và lý thuyết chính trị của Phương Tây và trên nền tảng những lý thuyết chính trị khác như của Cicero, St Augustine, Aquinas (cổ,

Trang 7

trung đại), Hobbes, Locke, Rousseau (thời Cận đại và Khai sáng) – đã được xây dựng và phát triển

Quan niệm của chúng ta từ xưa đến nay vẫn thường hiểu chính trị theo nghĩa xấu đó là những mưu đồ nhằm tranh chấp quyền lực, bất chấp những

chuẩn mực đạo đức nên thường giữ thái độ “kính nhi viễn chi” đối với chính trị, nhưng với câu nói bất hủ: “Con người là một sinh vật chính trị”, Arixtôt

đã lý giải con người không thể tách rời khỏi đời sống chính trị của cộng đồng

mà nó sinh sống Chính trị, tự bản thân nó không xấu, chỉ có những mô hình

và các chế độ chính trị do con người tạo ra mới có tốt, có xấu vì không nhận thức được rõ về bản chất của con người

Trong tác phẩm Chính trị luận, Arixtôt khái quát các hình thức thể chế

chính trị đã tồn tại ở Hy Lạp, phê phán các lý thuyết về nhà nước, nhất là mô hình nhà nước lý tưởng của Platon – người thầy của ông, đồng thời đưa ra nhiều tư tưởng có giá trị về mô hình thể chế chính trị được ông cho là tốt nhất Nhiều tư tưởng chính trị của Arixtôt vẫn còn nguyên giá trị và có thể được vận dụng một cách sáng tạo trong thời đại ngày nay

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng chính trị của Arixtôt trong tác

phẩm Chính trị luận” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài có mục đích phân tích những nội dung cơ bản về tư tưởng chính

trị trong tác phẩm Chính trị luận của Arixtôt, chỉ ra được những đóng góp

cũng như những hạn chế của chúng

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích đã đề ra, đề tài phải thực hiện những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu những điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề tư tưởng cho sự

ra đời tư tưởng chính trị của Arixtôt

Trang 8

- Phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị trong tác phẩm

“Chính trị luận” của Arixtôt

- Chỉ ra được những đóng góp cũng như những hạn chế của những nội dung đó

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu những tư tưởng chính trị trong

tác phẩm “Chính trị luận” của Arixtôt

3.2 Phạm vi nghiên cứu: Tư tưởng triết học của Arixtôt bao quát nhiều

lĩnh vực rộng lớn: siêu hình học, vật lý học, lôgic học, chính trị học, đạo đức học… trong nhiều tác phẩm Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu những tư

tưởng chính trị của ông trong tác phẩm “Chính trị luận”

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện

chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng kết hợp các phương pháp: phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, trừu tượng và cụ thể, lịch sử và lôgíc, đối chiếu, so sánh, v.v

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương, 6 tiết

Chương 1 Hoàn cảnh ra đời và kết cấu của tác phẩm “chính trị luận” của Arixtôt

Chương 2 Một số nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị Arixtôt trong

tác phẩm “Chính trị luận”

Chương 3 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng chính trị Arixtôt trong tác phẩm “Chính trị luận”

6 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Triết học Arixtôt nói chung và tư tưởng chính trị của ông nói riêng đã

Trang 9

được nghiên cứu, diễn giải ngay từ thời cổ đại cho đến tận ngày nay ở nhiều nước khác nhau Những đề tài liên quan đến vấn đề này luôn được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau

Thứ nhất: Các công trình dịch và giới thiệu về tác phẩm Chính trị luận

của Arixtôt:

Tác phẩm “Chính trị luận” đã được nhiều học giả Anh, Mỹ dịch sang

Anh ngữ với tiêu đề “Politics”, tiêu biểu như các bản dịch của Benjamin Jovett, Peter Simpson, Ernest Barker, W.E.Bolland và H Rackam

Ở Việt Nam, Arixtôt là một trong số những nhà triết học Hy Lạp cổ đại

được quan tâm hơn cả Tác phẩm “Chính trị luận” được dịch giả Nông Duy

Trường dịch sang tiếng Việt vào Mùa Xuân năm 2008, sau đó hoàn thành vào

cuối năm 2011 và xuất bản vào quý I, năm 2013

- Thư hai, Các công trình chuyên khảo về triết học Arixtôt gồm có các

sách và bài báo:

+ Ở phương Tây có nhiều sách nghiên cứu về Arixtôt như: The Public

and the Private in Aristotle's Political Philosophy của Judith wanson, Ithaca:

Cornell University Press, 1992; Introduction to The Politics, by Aristotle của

Carnes Lord, Chicago University Press1984 Tuy nhiên các sách này chưa được dịch ra tiếng Việt

+ Tư tưởng chính trị và tác phẩm “Chính trị luận” của Arixtôt được nghiên cứu và giới thiệu nhiều trên nhiều từ điển triết học và bách khoa thư ở phương Tây, như Bách khoa mở Wikipedia, Bách khoa triết học trên Internet, Bách khoa triết học Stanford, Bách khoa Britannica, v.v Trong các công trình này, tư tưởng chính trị và tác phẩm của Arixtôt được giới thiệu nhưng chỉ ở mức độ khái quát

Ở Việt Nam đã xuất bản một số tác phẩm và bài báo nghiên cứu chuyên khảo về Arixtôt như:

Trang 10

+ Sách: “Triết học Arixtôt” của Đặng Phùng Quân (Sài Gòn, 1972); + Sách: “Triết học Arixtôt” của Vũ Văn Viên (Nxb Khoa học xã hội, Hà

Nội, 1998)

+ Một số bài báo: bài: Arixtôt – con người - sự nghiệp (1996) của Nguyễn Văn Dũng, Tạp chí Triết học, số 1; bài: Về tư tưởng giáo dục Arixtôt

(2003) của Nguyễn Bá Thái, Tạp chí Triết học, số 3

Trong các sách và bài báo này, các tác giả dành một phần để đề cập tư tưởng chính trị của Arixtôt, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một tác phẩm nào

- Thứ ba, Các công trình nghiên cứu lịch sử triết học phương Tây, trong

đó có triết học Arixtôt và tư tưởng chính trị của ông như:

Triết học Hy Lạp cổ đại (1987) của Thái Ninh (Nxb Sách Giáo khoa

Mác-Lênin); Triết học Hy Lạp La Mã cổ đại (1998) của Hà Thúc Minh; Lịch

sử triết học cổ đại Hy Lạp (1991) của Nguyễn Quang Thông, Tống Văn

Chung; Lịch sử triết học phương Tây, Từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học

cổ điển Đức của Nguyễn Tấn Hùng (Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2012)

Tuy nhiên, các công trình này chỉ đề cập đến triết học Arixtôt và tác phẩm

Chính trị luận của ông một cách khái quát, chưa đi sâu vào nội dung chi tiết

của nó

Tóm lại, ở nước ta cho đến nay, chưa có một công trình nào đi sâu phân

tích những tư tưởng chính trị trong tác phẩm “Chính trị luận” của Arixtôt Do

đó, trong luận văn của mình, tôi sẽ phân tích những nội dung và ý nghĩa của tác phẩm quan trọng này, đồng thời kế thừa những thành quả nghiên cứu đã được công bố của những tác giả khác nữa để thấy được những giá trị trong tư tưởng chính trị của Arixtôt

Trang 11

CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU CỦA TÁC PHẨM

“CHÍNH TRỊ LUẬN” CỦA ARIXTÔT

1.1 NHỮNG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTÔT

1.1.1 Những điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội

Lịch sử nhà nước có giai cấp ở Hy Lạp cổ đại bắt đầu từ thời đại Kritô - Miken, xuất hiện vào cuối thế kỷ thứ ba Nền văn hóa Kritô - Miken do các

bộ lạc Akhây tạo ra, là nền văn hóa thuộc kỷ nguyên bạc

Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai, nhiều bộ lạc ở Bắc Hy Lạp đã di chuyển xuống phía Nam và tạo ra cuộc chinh phạt của người Đôriên Nó đã tiêu diệt các nhà nước Kritô - Akhây và mở ra một thời đại mới là thời đại Hôme Tính phát triển không đồng đều của lịch sử đã tăng lên ở thời đại này Nó được thiết định bởi việc xã hội chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp cổ đại bắt đầu sản xuất và

sử dụng các công cụ bằng sắt Đây là thứ công cụ có hiệu quả hơn nhiều so với thứ công cụ bằng bạc và đã mở ra các khả năng to lớn để phát triển nông nghiệp

Quá trình tan rã của chế độ bộ lạc nguyên thủy và hình thành xã hội có giai cấp và nhà nước ở Hy Lạp cổ đại kéo dài vài thế kỷ (khoảng các thế kỷ

XI - VIII TrCN) Hậu quả là sở hữu tư nhân tăng lên rõ rệt dẫn tới sự tan rã của công xã nông thôn Gắn với quá trình tan rã của lối sinh hoạt công xã là

quá trình hình thành vô số nhà nước thành thị ở Hy Lạp cổ đại Các thành phố

Hy Lạp cổ đại đã đi đến chỗ đối lập với nông thôn một cách gay gắt hơn nhiều so với các thành phố phương Đông cổ đại Nhiều thành phố ở Hy Lạp

cổ đại trở thành các trung tâm buôn bán lớn

Trang 12

Mức độ buôn bán và sản xuất hàng hóa sôi động là một bằng chứng có tầm quan trọng rất lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đối với sự xuất hiện của đồng tiền vào thế kỷ VII TrCN Đây là một bước tiến bộ lớn trong quá trình phát triển của xã hội Hy Lạp cổ đại

Lịch sử tư tưởng chính trị Hy Lạp cổ đại gắn bó hữu cơ với quá trình tiến hóa xã hội và nhà nước Hy Lạp chiếm hữu nô lệ Sự ra đời, củng cố và hưng thịnh, cuối cùng là suy tàn của nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp luôn gắn liền với cuộc đấu tranh giai cấp Chính trị đã xuất hiện với tư cách là một trong những lĩnh vực kiến thức nhằm định hướng cho việc điều hành những công việc phức tạp của quốc gia

Lãnh thổ của Hy Lạp được mở rộng thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế văn hóa với các dân tộc khác Sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến việc các quan hệ và tổ chức xã hội bị đảo lộn Nếu trước đây là hình thức tổ chức xã hội cũ như bộ tộc, bộ lạc thì giờ đây tư tưởng tư hữu và sau đó là chế độ tư hữu về của cải xuất hiện Phân công lao động phát triển, xã hội xuất hiện tầng lớp chuyên sống bằng trí óc tạo điều kiện nảy sinh những tư tưởng chính trị Mâu thuẫn giữa giới chủ nô dân chủ và giới chủ nô quí tộc xuất hiện trong nội

bộ giai cấp chủ nô Phái dân chủ cho rằng phải đập tan chế độ chuyên chế độc tài của tầng lớp quý tộc giải phóng khỏi sự nô dịch của giới quý tộc cũ Giới quí tộc muốn duy trì trật tự cũ và bằng mọi cách bảo vệ đặc quyền của mình Chế độ sở hữu cá nhân được thừa nhận và không thay đổi, chế độ nô lệ được coi là tự nhiên phải có Mâu thuẫn giai cấp cơ bản của xã hội chiếm hữu

nô lệ được hình thành là mâu thuẫn giữa nô lệ và chủ nô Trong quá trình đấu tranh đó nhiều quan niệm về sự bình đẳng, tự do đã nảy sinh

Lịch sử Hy Lạp cổ đại là một bộ phận không thể tách rời trong lịch sử các nước Cận Đông Địa Trung Hải không những về nguồn gốc mà cả sự phát triển của văn hóa vật chất và đặc biệt là văn hóa tinh thần Do đó, nền văn hóa

Trang 13

ở đây chịu ảnh hưởng to lớn của các nền văn hóa Ai Cập, Babilon, Phini và các nền văn hóa Cận Đông khác Phù hợp với cơ cấu xã hội của các nhà nước phương Đông cổ đại là đời sống tinh thần của họ, mà quan trọng nhất là các phương diện: thần thoại, khoa học và tiền triết học Và chính vì vậy, văn hóa

Hy Lạp cổ đại cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố này

Với những đặc trưng kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa như vậy, triết học Hy Lạp cổ đại đã ra đời và phát triển với một thành tựu rực rỡ Trên nền tảng chung đó, triết học Arixtôt đã ra đời Triết học của Arixtôt là sự kế thừa trên cơ sở sáng tạo những giá trị văn hóa của người Hy Lạp cổ đại nói chung Ngoài ra, nó còn là sự tổng kết tư tưởng triết học của nhiều nhà triết học trước

đó và khía cạnh này sẽ được trình bày trong phần dưới đây

1.1.2 Tiền đề tư tưởng cho sự ra đời tư tưởng chính trị của Arixtôt

Thời cổ đại mà đặc trưng là các tư tưởng và học thuyết chính trị Hy Lạp

- La Mã Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhà nước, các hình thức xã hội, thể chế nhà nước, thủ lĩnh chính trị…

Trước nhất, bàn về thủ lĩnh chính trị, đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến

của các học giả về vấn đề này:

- Xôcrat cho rằng: thủ lĩnh chính trị phải là người có đạo đức Nhưng

đạo đức phụ thuộc vào trí tuệ Tuy nhiên, do xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộc nên ông cho rằng chỉ có thiểu số tầng lớp quý tộc mới là người có trí tuệ, mới là những người sáng tạo đúng đắn “Quý tộc” (tiếng Hy Lạp: ἄ ριστος –

aristos, có nghĩa là những người ưu tú, tốt nhất, không phải là tầng lớp địa

chủ như trong thời phong kiến)

- Đêmôcrít thì yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải là người có tài năng, đạo đức Xuất phát từ lập trường duy vật và dân chủ nên ông cho rằng tầng lớp bình dân cũng có tài năng, có thể làm được chính trị

Trang 14

- Xênôphôn lại yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải có kỹ thuật giỏi, phải có sức thuyết phục cao, người thủ lĩnh phải biết vì lợi ích chung nghĩa là phải biết chăm sóc cho người bị trị, biết hợp lại và nhân sức mạnh của mọi người Ông là người đầu tiên đặt ra yêu cầu về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện như : phải có chuyên môn giỏi, có uy tín, vì dân… Ông cho rằng, việc làm chủ nghệ thuật chính trị là trình độ cao hơn mà con người có thể đạt tới Theo ông, ai là người nhận thức được các vấn đề chính trị sẽ trở thành người trung thực, người tốt Ai ngu dốt về điều đó sẽ trở thành hàng nô lệ Người thủ lĩnh được chỉ định không phải để chăm lo cho cá nhân người đó mà để phục vụ những người mà anh ta chỉ huy, vì rằng những người này đã chọn anh ta, do những phẩm chất của anh ta, để bảo vệ cái lợi ích của họ Đồng thời, người thủ lĩnh phải luôn rèn luyện, tu dưỡng bản thân

- Platon thì yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải thực sự có khoa học chính trị,

có tính khí phù hợp với nhiệm vụ đảm đương Ông xem tiêu chuẩn chính trị là tiêu chuẩn của mọi tiêu chuẩn Ông quan niệm người lãnh đạo trong xã hội không được có quyền tư hữu (sở hữu về tài sản), bởi vì tư hữu sẽ làm mất công tâm Lực lượng võ sĩ bảo vệ thì không được có gia đình riêng vì có gia đình riêng thì sẽ không thể chiến đấu dũng cảm được Theo ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hy sinh lợi ích cá nhân vì những giá trị chung Ông chia xã hội thành ba hạng người khác nhau: Ở địa vị cao nhất là các nhà triết học, những người này có vai trò quan trọng trong việc cai trị đất nước, họ nắm quyền bính trong tay và đảm nhận vai trò lãnh đạo Ở địa vị thấp hơn là những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh Thấp nhất là những người thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công Họ có nhiệm vụ làm ra của cải vật chất, đảm bảo cuộc sống cho nhà nước Theo Platon nhà nước xuất hiện từ sự

đa dạng hóa các nhu cầu con người và từ đó xuất hiện các dạng phân công lao động để thỏa mãn các nhu cầu ấy Vì vậy, trong xã hội phải duy trì các hạng

Trang 15

người khác nhau Do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người

Sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, nó phá hoại chỉnh thể và thống nhất của nhà nước Vì vậy nó phải được loại trừ ra khỏi xã hội Theo ông cho

dù nhà nước nào cũng tồn tại hai nhà nước thù định lẫn nhau: một là nhà nước của những người giàu có, còn nhà nước kia là của những người nghèo khó Vì vậy, cần phải có sự thống nhất về sở hữu Tuy có những quan điểm tiến bộ nhưng ông vẫn còn sai lầm khi cho rằng một thủ lĩnh chính trị như vậy chỉ có

ở tầng lớp chủ nô quý tộc Đây là lí do mà sau này Arixtôt – học trò của ông

đã phê phán cái mô hình chính trị tư tưởng mà Platon đề ra trong tác phẩm

Chính thể Cộng hòa

Thứ hai, bàn về nguồn gốc của quyền lực nhà nước, một số quan điểm

nổi bật của các học giả như sau:

- Hêraclít: là người thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, ông xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo, không có vấn đề công bằng hay không công bằng ở đó vì công bằng do con người tạo ra Xã hội con người là một trạng thái tự nhiên, tự nó, không ai sinh ra, không ai sắp đặt nó, tự nhiên sinh ra có kẻ trí và người ngu cho nên kẻ trí thống trị người ngu là lẽ tự nhiên,

kẻ trí là người quí tộc, nô lệ là người ngu Ông cho rằng quyền lực là quy luật vĩnh viễn Không bao giờ trong xã hội lại không có quyền lực Pháp luật nhằm thực hiện tính tất yếu của quyền lực, xã hội phải phục tùng ý chí của một cá nhân là điều tất yếu cho sự thống nhất Theo ông bất bình đẳng là tự nhiên, một quý tộc phải được trị giá bằng một nghìn dân thường

- Platon: xem quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực thống trị của kẻ trí đối với người ngu Đó là đặc tính của trí tuệ Chỉ có người có trí tuệ mới có quyền lực Trí tuệ chỉ có ở tầng lớp quý tộc (những người ưu tú nhất của xã hội)

Thứ ba, bàn về thể chế nhà nước, các quan điểm lớn bao gồm:

Trang 16

- Herôdốt: là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã phân biệt và so

sánh các thể chế của nhà nước khác nhau Theo ông có 3 hình thức cơ bản: + Quân chủ trị: Quyền lực nằm trong tay một người và theo ông đây là một chính phủ không được tổ chức tốt vì nó không để cho người khác phản kháng, cãi lại cái mà người đó muốn Nó làm bại hoại lương tri của những người ưu tú mà tôn sùng sự phỉnh nịnh, ghen ghét với những người cao quý

Do đó ông kịch liệt phê phán nền quân chủ

+ Quý tộc trị: là thể chế được thiết lập khi tuyển chọn được một hội đồng

có chủ quyền tối thượng để cầm quyền nhà nước, bao hàm những người ưu tú nhất của đất nước Có sự bàn bạc, cọ sát của hội đồng các nhà thông thái, tinh hoa về trí tuệ và phẩm chất, vừa tránh được độc tài quân chủ vừa tránh được đám đông không hiểu biết tham gia nắm chính quyền Nhưng cuối cùng lại có

sự tranh giành, tàn sát lẫn nhau, mưu toán quyền lực và lợi ích cá nhân, chia

bè phái và chế độ một ông vua lại tái phát

+ Dân chủ trị: Thể chế được thiết lập do số đông nhân dân nắm quyền lực Đó là con đường chống độc tài, qua bốc thăm để trao những chức vụ công cộng một cách đúng đắn và ngăn cản được sự lợi dụng quyền lực, quản

lý xã hội trên nguyên tắc “tất cả đều bình đẳng trước pháp luật và tự do phát biểu đề xuất” Nhưng dân chúng thường không hiểu biết nên dễ bầu ra những người thiếu hiểu biết nắm chính quyền, dễ lung lay kích động bởi các nhà cầm quyền, xã hội lại dễ rơi vào trạng thái bè phái vô chính phủ từ đó chế độ một vua lại tái phát

- Đêmôcrít: ông ủng hộ chế độ dân chủ cộng hoà chủ nô

- Xôcrat, Platon là những người ủng hộ chế độ chuyên chế quý tộc, cho rằng dân chủ là sai lầm; dân chủ là chính quyền của người ngu dốt và gọi đó

là chính quyền “bình dân”

Trang 17

Arixtôt đã tham khảo tất cả các lý luận về thể chế chính trị, cùng với việc khảo sát những hình thức, mô hình nhà nước đã tồn tại trên thực tế, từ đó đưa

ra quan điểm riêng của mình

1.2 TIỂU SỬ VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CỦA ARIXTÔT

1.2.1 Cuộc đời Arixtôt

Arixtôt chào đời tại Stagira thuộc miền Thrace năm 384 trước Tây Lịch

Stagira là một tỉnh nhỏ, là thuộc địa của Hy Lạp bên bờ phía bắc biển Aegean

mà ngày nay có lẽ là Stavro Cả hai cha và mẹ của Arixtôt đều gốc người Ionien Cha Arixtôt, ông Nichomachus, là một thầy thuốc danh tiếng tại triều đình Vua Amyntas II, cha của Vua Philip của Macedonia Mẹ của Arixtôt vốn người miền Chalcis Có lẽ trong 17 năm đầu, Arixtôt đã sống với cha mẹ và được cha dạy cho về Y khoa Năm 17 tuổi, Arixtôt tới thành Athens và theo

hoc nghề thầy thuốc

Năm 367 trước CN, Arixtôt vào học ở Hàn lâm viện (tiếng Hy Lạp:

Academos hay Academia) của Platon (tiếng Anh: Plato) Vào thời gian này, Platon 61 tuổi và đã liên quan tới nền chính trị của Syracuse Vì vậy, Hàn Lâm Viện Academos đặc biệt chú trọng về luật pháp, chính trị, thêm vào là Toán học và Thiên văn học Ngày nay, người ta chỉ hiểu biết rất mơ hồ về cuộc sống của Arixtôt trong 20 năm tại Hàn Lâm Viện

Arixtôt được coi là một trong số học viên chăm chỉ nhất và xuất sắc hơn các bạn về trí thông minh và lòng nhiệt thành Người ta còn kể rằng Platon đã phải gọi Arixtôt là “Trí tuệ của nhà trường” Theo như truyền thuyết, Arixtôt phụ trách giảng dạy môn Tu từ pháp Ông cũng soạn ra vài tập “đối thoại” theo khuôn mẫu của Thầy Platon Các tác phẩm này đều trở nên rất nổi danh

vì lối hành văn trôi chảy và trong sáng Có người cho rằng giữa Arixtôt và Platon có sự bất đồng ý kiến trầm trọng, nhưng không ai tìm ra được các dẫn

Trang 18

chứng đáng tin cậy Có lẽ đối với Platon, Arixtôt đã bất đồng ý về nhiều giáo điều song ông lúc nào cũng kính trọng Thầy và gìn giữ lòng biết ơn Khi Platon qua đời vào năm 347, Arixtôt viết một bài điếu văn trong đó ông đã ca tụng Thầy

Theo Diogene Laerce, Arixtôt mắc tật nói lắp (cà lăm) Ông có đôi mắt nhỏ, đôi chân gầy còm và rất ưa thích quần áo đẹp Khả năng làm việc của Arixtôt rất lớn lao và người ta kết luận như vậy căn cứ vào số tác phẩm do ông đã viết ra Muốn giảm bớt thời giờ ngủ và tăng thêm số giờ làm việc, Arixtôt đã nghĩ ra phương pháp sau: khi đọc sách hay lúc làm việc về khuya, ông cầm nơi tay trái một quả cầu bằng đồng ở phía trên một chiếc chậu Nếu

vì ngủ gật mà quả cầu rơi xuống thì tiếng động sẽ đánh thức ông dậy Arixtôt

bị đau dạ dầy và để làm giảm bớt nỗi đau đớn, ông thường đeo ở trước ngực một cái bị đựng dầu đun nóng

Vào năm 347 khi Platon qua đời, Speusippus trở thành người đứng đầu Hàn lâm viện (Academos) Arixtôt đã cùng với Xenocrates và một vài môn đệ của Platon, rời thành Athens tới Assos, sống với Hermias là một học trò cũ của Platon và cũng là bạo chúa của hai tỉnh Atarneus và Assos trong miền Tiểu Á Arixtôt có cảm tình rất nhiều với Hermias và đã kết hôn cùng Pithias, người con gái nuôi của bạo chúa Hermias cũng cảm thấy sung sướng khi được Arixtôt sống ở gần mình

Thời bấy giờ, Hermias đang điều khiển một lực lượng giữa hai xứ hùng mạnh là Macedonia và Ba Tư Luôn luôn bạo chúa thù nghịch với một trong hai phe kể trên, để rồi rơi vào cạm bẫy của Mentor, đại tướng người Hy Lạp

đi theo Ba Tư Hermias bị trao cho Artaxerxes và bị treo cổ Cái chết thảm thương của Hermias đã ảnh hưởng rất lớn tới Arixtôt

Vì không cảm thấy an toàn tại Atarneus, Arixtôt đã theo lời khuyên của Theophrastus, một môn đệ, dọn tới Mitylene thuộc miền Lebos vào năm 344

Trang 19

Chính tại nơi này, Arixtôt đã nghiên cứu trong hai năm môn Sinh học, đặc biệt là ngành Hải sinh học (marine biology)

Năm 342, Arixtôt được mời tới Macedonia để dạy dỗ Thái tử Alexander khi đó mới 13 tuổi Lời mời của Vua Philip II có thể là do lúc tuổi trẻ, Arixtôt

đã từng sống tại triều đình này, có thể là do danh tiếng của ông nhờ các tập Đối Thoại, nhưng cũng chính vì Arixtôt đã từng liên lạc chặt chẽ với Hermias

là người đã tỏ ra thiên về Macedonia và chống lại Ba Tư Arixtôt đã ở lại Macedonia trong 7 năm Theo như thông lệ, Arixtôt đã dạy cho Thái tử về Chính trị và Tu từ pháp, và Arixtôt cũng soạn một tác phẩm của Homer để giảng cho Alexander Arixtôt đã cố gắng làm phát triển nơi Thái Tử các đức tính về điều độ và lý trí mà đối với ông, rất cần thiết cho một vương quốc Có

lẽ chính vào dịp này, Arixtôt đã soạn ra cuốn “Khảo sát về Vương quyền” để

giáo huấn Thái tử nhưng tác phẩm này đã bị thất lạc hoàn toàn

Năm 340 khi vua Philip đi chinh chiến nơi xa, Thái tử Alexander nắm giữ quyền hành Vào thời gian này, Arixtôt lập ra một ngôi trường và ông cũng giành thời giờ cho riêng mình để học hỏi thêm Arixtôt cũng khuyên Alexander cho kiến thiết lại Stagira, nơi đã bị tàn phá vài năm trước và có lẽ cũng do ông, thành phố này có một hiến pháp

Alexander rất quyến luyến ông Thầy và khi đã thay cha lên ngôi vua, vẫn lưu giữ Arixtôt bên cạnh Thái Tử luôn luôn tỏ lòng biết ơn đối với Thầy cũ bằng cách biệt đãi nhà đại hiền triết trong mọi công việc Nhưng nếu Alexander rất mến yêu Thầy thì trái lại, ít khi nghe theo lời khuyên bảo của Thầy vì “một sự di truyền kỳ lạ hình như đã gieo vào tâm hồn Thái tử tính tự kiêu vô hạn, với một ý chí muốn ngồi ngang hàng cùng các thần linh”

Vào năm 335 TrsCN, khi Đại đế Alexander đi chinh phục châu Á thì Arixtôt tự thấy rằng nhiệm vụ của mình đã chấm dứt Ông đề nghị để người cháu tên là Callisthenes thay mình làm cố vấn cho Đại đế Alexander đã chấp

Trang 20

nhận lời đề nghị và còn dùng Callisthenes làm sử gia theo đoàn quân viễn chinh Arixtôt là người hiểu rõ tính tình của nhà vua học trò cũ, ông đã từng nhắc nhở cháu ông phải thận trọng trong lời nói, nhưng Callisthenes đã không cản được tấm lòng bảo vệ đường lối chính trị thuần Hy Lạp trong khi Đại Đế Alexander lại tỏ ra nhượng bộ trước ảnh hưởng của châu Á Chính vì sự bất cẩn này, Callisthenes đã bị kết án tử hình và theo lời Diogene Laerce, ông ta

bị quăng cho thú dữ phân thây

Sau khi từ biệt Alexander, Arixtôt trở lại thành Athens Tại nơi này, Xenocrates đang điều khiển Hàn lâm viện Academos Arixtôt liền lập ra trường Lyceum (Học viện), gần đền Apollon Lycien, vì vậy ngày nay mới có danh từ “Lycée” Trường Lyceum là nơi tôn thờ Thần Muse, vị nữ thần chủ

về Văn chương, Nghệ thuật và Khoa học Nhà trường có rất nhiều học cụ, kể

cả bản đồ, lại có một thư viện rất đầy đủ Tại ngôi trường này, Arixtôt trình bày các ý tưởng và giảng giải cho học viên trong các cuộc đi dạo ngoài vườn,

vì vậy ngôi trường của Arixtôt còn được gọi là “Trường đi dạo” (Peripatos)

Nền giáo dục do Arixtôt chủ trương gồm hai phần: phần truyền khẩu và phần công khai Arixtôt đề cập tới các câu hỏi hoàn toàn lý thuyết cho các học viên mới vào buổi sáng còn buổi chiều, Arixtôt giảng dạy những học viên cũ

về nhiều điều làm mở mang kiến thức trong đó môn Tu từ pháp chiếm phần lớn thời gian Trong 12 năm liền, Arixtôt vừa thuyết giảng, vừa viết sách và phổ biến nhiều tác phẩm đề cập tới hầu hết kiến thức của thời đại Trong các năm cuối cùng sống tại Lyceum, Arixtôt đã thiết lập bảng liệt kê các thế vận

kỳ, cũng như lập ra bảng niên biểu kịch nghệ của thành Athens mà về sau, bảng này đã được dùng làm căn bản để ấn định ngày tháng của các vở kịch

Hy Lạp

Arixtôt còn biên khảo về Hiến pháp tuy nhiên, ngày nay chỉ còn lại tác phẩm “Khảo sát về Hiến pháp của thành Athens” Khi Alexander chinh phục

Trang 21

xứ Ba Tư, Đại Đế đã cho người đem về tặng Thầy cũ các tài liệu và mẫu hải

sinh vật, nhờ vậy, Arixtôt hoàn thành cuốn sách “Tính chất của các sinh vật”

Năm 323, khi Đại Đế Alexander qua đời, cuộc sống của Arixtôt cũng bị ảnh hưởng Mặc dù Arixtôt chỉ còn rất ít liên lạc với Alexander, nhất là khi người cháu của ông bị tử hình, nhưng Arixtôt thường đi lại với Antipater và được viên tổng trấn này che chở Đảng Quốc gia thành Athens do Demosthenes lãnh đạo đã nổi dậy chống lại phe Macedonia sau khi Đại Đế Alexander không còn nữa Arixtôt nhận thấy đời sống và tài sản của mình bị

đe dọa Người ta đã tố cáo ông phạm tội bất kính vì 20 năm trước, ông đã sáng tác một bài thơ tưởng niệm Hermias trong khi danh dự này phải giành cho Thượng Đế Arixtôt nhớ lại số phận của Xôcrat, rồi không đợi tòa án xét

xử, vì chắc chắn ông sẽ bị kết án, Arixtôt rời bỏ thành Athens, trốn về quê mẹ

là miền Chalcis Ông tuyên bố: “Tôi sẽ không để người Athens vi phạm Triết học lần thứ hai” Sống tại Chalcis được vài tháng, Arixtôt qua đời vào năm

322 TrCN có lẽ do bệnh đau dạ dầy, một căn bệnh đã hành hạ ông trong nhiều năm Ông để lại hai người con, con trai cùng tên với ông nội là Nichomachus

và người con gái mang tên mẹ Pithias Theo như lời yêu cầu, nắm xương tàn của Arixtôt được chôn cất tại Stagira cùng với hài cốt của Pithias, vợ ông

1.2.2 Sự nghiệp của Arixtôt

Arixtôt – bộ óc bách khoa thư, ông đã để lại cho nhân loại một di sản khoa học đồ sộ lên tới vài trăm cuốn Tuy nhiên, cho tới nay hầu hết các tác phẩm của ông bị thất lạc và số còn lại không nhiều Chúng ta có thể phân chia

sự phát triển tư tưởng triết học của Arixtôt thành ba giai đoạn như sau:

a Giai đoạn ở Hàn lâm viện của Platon

Trong thời gian này, khoảng năm 367 – 347 Tr CN, lối suy tư của Arixtôt còn chịu ảnh hưởng rất rõ tư tưởng của Platon Nó được trình bày

trong các tác phẩm như: “Chính nghĩa”, “Chính trị”, “Các nhà ngụy biện”,

Trang 22

“Yến tiệc”, “Bàn về cái thiện”, “Bàn về các ý niệm”, “Bàn về sự cầu nguyện” Chỉ vào cuối thời kì này, Arixtôt mới có những quan điểm khác biệt

đầu tiên với người thầy của mình Tuy nhiên, những tác phẩm ở thời kì này còn lại đến ngày nay rất ít

b Giai đoạn giao thời

Giai đoạn này gồm các tác phẩm được Arixtôt viết ở Assos, Lesbos và

trong triều đình Maxêđoan Trong số đó phải kể đến hội thoại “Bàn về triết

học” Ở giai đoạn này đã manh nha những ấn phẩm giáo khoa của Arixtôt, mà

theo đánh giá của W.Jeager, được coi là siêu hình học đầu tiên, đạo đức học đầu tiên, chính trị học và vật lý học đầu tiên

c Giai đoạn Arixtôt sống ở Học viện Lyceum

Đây là giai đoạn Arixtôt sáng tác rất nhiều tác phẩm trên nhiều lĩnh vực Qua đó, Arixtôt đã trình bày những quan điểm chín muồi của mình Những ấn phẩm thời kì này còn lưu truyền tương đối nguyên vẹn tới ngày nay, có thể chia thành 8 nhóm như sau:

1 Nhóm tác phẩm về lôgic học của Arixtôt lần đầu tiên được Anđrônik Rôđôski cho xuất bản vào thế kỉ thứ I Tr CN dưới một tên gọi chung là

“Organon” (Công cụ học)

2 Nhóm tác phẩm về triết học hay theo cách gọi của Arixtôt là “Triết học thứ nhất” Các tác phẩm thuộc loại này bao gồm các cuốn sách của Arixtôt được người đời sau sắp xếp thành một tác phẩm lớn có tên là

Metaphysika mà chúng ta dịch là “Siêu hình học”

3 Nhóm tác phẩm về vật lý học hay “Triết học thứ 2” Các tác phẩm thuộc loại này gồm “Vật lý học”, “Về bầu trời”, “Về sự xuất hiện và diệt

vong”, “Khí tượng học”

4 Nhóm tác phẩm về sinh vật học bao gồm: “Lịch sử động vật”, “Về

các bộ phận của động vật”, “Về vận động của động vật”, “Về nguồn gốc của vận động”

Trang 23

5 Nhóm tác phẩm về tâm lý học Ông được coi là người đặt nền móng

cho khoa tâm lý học, thể hiện trong tác phẩm “Bàn về linh hồn” và 8 luận

văn khác liên quan đến vấn đề này

6 Nhóm tác phẩm về đạo đức gồm: “Đạo đức học Nicomachie”, “Đạo

đức học Eudemie”, “Đại đạo đức học”

7 Nhóm tác phẩm về kinh tế - chính trị gồm: “Các lý giải về chính trị

học”, “Thể chế chính trị của Athen”, “Kinh tế”

8 Nhóm tác phẩm về nghệ thuật gồm có các tác phẩm nghiên cứu về cái

đẹp và các hình thức của nghệ thuật, song hiện nay chỉ còn giữ được: “Nghệ

thuật hùng biện” và “Thi ca”

Những tác phẩm này của Arixtôt được lưu giữ trong các thư viện của những người học trò trong vài trăm năm, bị hư hỏng nhiều và cuối cùng được đem về Roma xuất bản dưới hình thức được sắp xếp lại do Andronicus ở Rhodes, người đứng đầu Học viện ở Roma, khoảng năm 58 TrCN [10, tr 145-146)

Các tác phẩm của Arixtôt được xuất bản theo những chuyên đề như sau:

- Những chuyên luận về lôgic học được gọi là Organon (tiếng Hy Lạp:

όργανον - công cụ) được biên soạn và xuất bản thành 6 tập (quyển)

- Những công trình về khoa học tự nhiên được gọi là Vật lý học (Phusika), gồm những công trình của Arixtôt về cơ học, vật lý học, thiên văn học, khí tượng học, thảo mộc và động vật học và được xuất bản thành 8 tập

- Những công trình về “Triết học thứ nhất” được gọi là Siêu hình học (tiếng Hy Lạp: Metaphusika) được xuất bản thành 14 tập

Tác phẩm Chính trị học hay Chính trị luận được xuất bản thành 8 tập

- Tác phẩm viết về đạo đức học có tiêu đề Đạo đức học Nicomachus (Ethika Nikomacheia), gồm 10 tập

Trang 24

Ngoài ra còn có những công trình về Thuật hùng biện, Thi học (không

còn đầy đủ)

1.2.3 Về kết cấu của tác phẩm “Chính trị luận”

“Chính trị luận” của Arixtôt là một tác phẩm nổi tiếng nhất nói về các

khái niệm mà từ đó các quốc gia và chính phủ định hình Mặc dù chỉ thảo luận về nhà nước và các định chế thời Hy Lạp cổ đại nhưng tác phẩm của Arix tôt đã đặt nền tảng cho khoa học chính trị hiện đại Trong tác phẩm, ông viết những suy nghĩ của bản thân một cách rõ ràng, với độ chính xác cao Dịch giả Nông Duy Trường nhận định rằng: theo Arixtôt, một người tốt không thôi chưa đủ; nếu người dân tốt mà không tích cực tham gia vào đời sống chính trị của chế độ thì chế độ đó có cơ nguy trở nên thoái hóa và trở

thành một chế độ xấu

Arixtôt viết “Chính trị luận” khoảng vào năm 350 trước Công nguyên

Cuốn sách này được xem một trong những cuốn sách kinh điển, và được coi

là cuốn sách căn bản cho chính trị học phương Tây; cuốn sách có ảnh hưởng sâu rộng tới các tư tưởng gia đời sau như Cicero, St Augustine, Aquinas, và các lý thuyết gia khác thời Trung Cổ Các lý thuyết gia hiện đại như Machiavelli, Hobbes, và các nhà tư tưởng thời Khai Sáng đều dựa trên nền tảng này mà phê phán lý thuyết và mô hình chính trị kiểu Arixtôt Nhờ vậy,

họ đã phát triển nên các hệ tư tưởng mới Vì thế, dù ta đồng ý hay không với lập luận và lý thuyết của Arixtôt, hiểu rõ các nguyên lý căn bản mà Arixtôt đã

đề ra vẫn là điều cần thiết để có thể hiểu được các nhà tư tưởng thời Khai sáng và Hậu hiện đại

Trong “Chính Trị Luận”, Arixtôt đã sử dụng phương pháp quy nạp, đi từ

những đơn vị xã hội nhỏ nhất là gia đình tới làng mạc và cuối cùng là quốc gia, để tìm ra những đặc điểm cần thiết mà một nhà nước phải có để trở thành một nhà nước tốt nhất Ngoài phương pháp quy nạp, Arixtôt cũng dùng

Trang 25

phương pháp so sánh một số mô hình nhà nước được coi là “lý tưởng” và những

mô hình nhà nước trong thực tế nhằm tìm ra những nguyên lý xây dựng một nền chính trị mang lại những điều kiện tốt nhất cho con người sinh sống

Chính Trị Luận gồm có 8 quyển Quyển I với tiêu đề “Lý thuyết về Gia

đình” được Arixtôt chia thành 13 chương

Trong Quyển I, Arixtôt dùng phương pháp phân tích và truy nguyên các hình thức quần tụ của con người từ đơn vị nhỏ nhất là gia đình, đến làng mạc, rồi đến quốc gia

Quyển II được Arixtôt chia thành 12 chương Trong Quyển II Arixtôt đã chia thành hai phần; phần thứ nhất từ Chương 1 đến 8, Arixtôt luận bàn về các mô hình nhà nước lý tưởng trên lý thuyết Phần thứ hai từ chương 9 đến chương 12, Arixtôt luận bàn các nhà nước mà theo ông đã tiến gần đến mô hình nhà nước lý tưởng như Sparta, Crete và Carthage cùng với những khuyết điểm mà các nhà nước này mắc phải và đã đưa đến sự suy vong của các quốc gia đó về sau này Từ những lập luận trong hai phần của quyển II, Arixtôt đi đến kết luận là chẳng khi nào con người có thể đạt được một nhà nước lý tưởng, nhưng theo ông con người có thể xây dựng được cho mình một chế độ tốt nhất có thể được Và theo quan điểm của Arixtôt là một chế độ kết hợp giữa chế độ Dân chủ và chế độ Quả đầu

Quyển III được Arixtôt chia thành 18 chương với chue đề là khảo sát về bản chất công dân và các mô hình hiến pháp Quyển III được coi là trọng tâm

của sách “Chính Trị Luận”

Quyển IV được Arixtôt chia thành 16 chương Trong Quyển IV, Arixtôt luận bàn về các mô hình hiến pháp và các dạng khác nhau của từng mô hình trong thực tế

Quyển V được Arixtôt chia thành 12 chương, với tựa đề “Nguyên nhân

của cách mạng và sự thay đổi chế độ” Mười hai chương của Quyển V được

Arixtôt chia thành 2 phần Phần thứ nhất, từ Chương 1 đến chương 4, nêu lên

Trang 26

các nguyên nhân tổng quát tạo ra cách mạng Phần thứ hai, từ Chương 5 đến chương 12, Arixtôt nêu lên các nguyên nhân đặc thù tạo ra cách mạng và thay đổi chế độ chính trị, cùng những phương thức để bảo vệ chế độ Để bảo vệ một chế độ, theo Arixtôt phải giáo dục quần chúng sao cho người dân sống và hành động theo đúng tinh thần của hiến pháp tạo dựng nên chế độ đó

Quyển VI được Arixtôt chia thành 8 chương, trong quyển VI Arixtốt bàn

về các phương thức thiết lập chế độ Dân chủ và Quả đầu.trong quyển VI Arixtôt bàn đến ba ngành của chính quyền là: hành pháp, tư pháp và lập pháp Quyển VII được Arixtôt chia thành 17 chương, trong quyển VII Arixtôt bàn về các lý tưởng chính trị và các nguyên tác giáo dục trong Quyển VII được chia làm 3 phần Phần thứ nhất, Arixtôt luận bàn về lý tưởng chính trị và bản chất của đời sống hạnh phúc nhất và tốt nhất Phần thứ hai, Arixtốt luận bàn về các điều kiện cần thiết cho một quốc gia, được coi là lý tưởng, gồm các điều kiện như: dân số, bản chất của dân chúng, cấu trúc xã hội, và lãnh thổ cùng vị thế địa lý của quốc gia Phần thứ ba Arixtốt luận bàn về các nguyên tắc tổng quát của giáo dục

Quyển VIII được Arixtôt chia thành 7 chương, quyển VIII được Arixtôt dành riêng để bàn về giáo dục Theo Arixtôt giáo dục là nhiệm vụ của quốc gia và nhà nước phải xây dựng một hệ thống giáo dục đồng nhất và tốt nhất cho mọi công dân, đảm bảo cho công dân của mình được học tập những kiến thức tốt nhất

Mặc dù “Chính Trị Luận” được Arixtôt viết đã trên hai ngàn năm, với một số quan điểm không còn hợp thời nữa, nhưng “Chính Trị Luận” vẫn là

một trong những pho sách kinh điển nêu lên những câu hỏi căn bản của đời sống chính trị của mọi quốc gia mà ngày nay chúng ta cần nghiên cứu

“Chính Trị Luận” là một trong những tác phẩm kinh điển của khoa Chính trị

học Tây phương

Trang 27

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA ARIXTÔT TRONG TÁC PHẨM “CHÍNH TRỊ LUẬN”

2.1 QUAN NIỆM CỦA ARIXTÔT VỀ NGUỒN GỐC, MỤC ĐÍCH, HÌNH THỨC CỦA NHÀ NƯỚC

2.1.1 Quan điểm Arixtôt về nguồn gốc, mục đích của nhà nước

Theo Arixtôt, nhà nước ra đời trên cơ sở sự liên kết tự nhiên và tự nguyện giữa mọi người vì lợi ích của mỗi người và vì lợi ích chung Sở dĩ con người có thể liên kết với nhau thành các cộng đồng, các xã hội như gia đình, làng xóm và thành bang là vì họ có khả năng giao tiếp cao hơn các động vật

khác và vì họ là động vật có tính xã hội

Arixtôt luận giải rằng con người sẽ không thể tồn tại được nếu không kết hợp lại với nhau giống như sự kết hợp giữa giống đực và giống cái để duy trì nòi giống trong các sinh vật khác, điều đó không thông qua một sự lựa chọn mà chỉ do sự thôi thúc có tính chất bản năng Do đó, xã hội đầu tiên là

xã hội giữa đàn ông với đàn bà trong một gia đình và sau đó là xã hội của nhiều gia đình được tạo nên do sự thuận lợi lẫn nhau và sự bền vững của chúng, được gọi là cái làng và cái làng một cách tự nhiên nhất là gồm có tổ tiên và các con cháu của một gia đình Sau đó, mỗi gia đình lại trở thành một cái nhánh của gia đình lớn, được chỉ huy bởi một người già nhất, vì thế mà các tổ chức xã hội đầu tiên đã được cai trị bởi các nhà vua Và khi nhiều làng như vậy hoàn toàn hợp nhất với nhau ở mọi khía cạnh thì tạo thành một xã hội, xã hội ấy chính là một thành bang bao gồm trong bản thân nó, mục đích

và sự hoàn hảo của chính quyền: trước tiên có thể đặt nền móng cho cuộc sống của chúng ta, tiếp đó chúng ta có thể có cuộc sống hạnh phúc Vì lý do

đó, mỗi thành bang về nguồn gốc phải là sản phẩm của tự nhiên Ông viết:

Trang 28

“Và như thế, nếu các hình thức ban đầu của xã hội là tự nhiên, thì nhà nước cũng vậy, vì nhà nước là kết quả cuối cùng của mọi xã hội, và tính

tự nhiên của sự vật chính là chung cục của nó…Từ những nhận định trên, nhà nước hiển nhiên nằm trong họ những vật hiện hữu tự nhiên, và con người, là một động vật mà do bản tính tự nhiên phải sống trong một nhà nước (con người là một động vật chính trị)” [2, tr.46 - 47]

Arixtôt còn luận giải thêm rằng do sự thúc đẩy tự nhiên mà con người liên kết với nhau một cách tự nguyện trong các thành bang, vì theo cách đó mỗi người có thể tìm thấy những lợi ích lớn nhất Mỗi thành bang là một xã hội và mỗi xã hội đều được tạo thành bởi một số lợi ích nhất định, vì điều không thể chối cãi được là động cơ của tất cả các hoạt động của con người là

vì lợi ích Nhờ có khả năng nói mà con người là động vật có tính xã hội, có khả năng giao tiếp cao hơn các động vật khác Ngoài ra, con người còn khác với tất cả các động vật khác là họ có khả năng nhận thức điều tốt và điều xấu, công bằng và bất công và những quan điểm chung về vấn đề đó đã tham gia vào việc làm hình thành nên gia đình và thành bang, cho nên điều tồi tệ nhất đối với tất cả mọi người là không có luật pháp và công lý Do phải tìm sinh kế

mà hình thành nên việc quản lý gia đình vì nếu không có sự quản lý đó thì không thể sống và sống tốt được, thành bang cũng tương tự như vậy nên sẽ có người quản lý và người bị quản lý, người cai trị và người bị cai trị

Như vậy, theo Arixtôt, nhà nước ra đời trên cơ sở sự liên kết tự nhiên

và tự nguyện giữa mọi người vì lợi ích của mỗi người và vì lợi ích chung Ngoài ra còn vì con người có khả năng nhận thức điều tốt và điều xấu, công bằng và bất công và có quan điểm chung về những điều đó Sự xuất hiện của nhà nước là trực tiếp từ nhu cầu quản lý cộng đồng, quản lý xã hội, vì nếu không có sự quản lý thì con người không thể sống và sống tốt được, không có

sự an toàn cho mọi người, do đó, sự xuất hiện của nhu cầu quản lý cũng là tự

Trang 29

nhiên, là lẽ đương nhiên Trong quan hệ quản lý thì bao giờ cũng phải có người quản lý và người bị quản lý, người ra lệnh và người phục tùng mệnh lệnh Trong gia đình thì chủ gia đình là người quản lý, còn trong thành bang thì những người được phú cho khả năng trí tuệ ưu tú hơn người phải được đặt cao hơn, là người cai trị và những người khác sẽ là người bị cai trị, là nô lệ và chính quyền chỉ là của những người tự do và bình đẳng

Quan điểm này của Arixtôt, về sau được kế thừa bởi nhiều học giả như Ciceron, Jean Bodin… Điểm hợp lý của quan điểm này là cho rằng nhà nước xuất hiện từ nhu cầu quản lý xã hội, bảo vệ an toàn cho mọi người và bảo vệ lợi ích chung Song nếu dựa vào quan điểm của Học thuyết chính trị Mác –

Lênin thì quan điểm của Arixtôt chưa phải là cách nhìn đầy đủ về nguồn gốc

của nhà nước Điểm hạn chế lớn nhất của quan điểm này là nó đã được sử

dụng để biện minh cho sự bất bình đẳng, sự nô dịch và thống trị con người trong xã hội, coi đó như một điều tự nhiên, tất yếu

Mở đầu Chính trị luận, Arixtôt đã bàn ngay đến bản chất và mục đích

của nhà nước Về bản chất của nhà nước, theo Arixtôt là một cộng đồng chính trị mà ở trong đó con người sinh sống với nhau để nhằm đến một mục đích tốt đẹp là thỏa mãn mọi nhu cầu như: sinh lý, giao tiếp, trí tuệ, văn hóa v.v., con người phải sống cuộc đời của mình bên trong khuôn khổ xã hội Hơn nữa, do được hình thành từ một ý tưởng tốt lành, hướng đến mục đích đạo đức và nền tảng luân lý, nhà nước chính là chỗ dựa cần thiết cho mỗi cá nhân trong quá trình hoàn thiện bản thân và hạnh phúc trong đời Mục tiêu cơ bản của nhà nước là tạo điều kiện cho mỗi công dân được hưởng một cuộc sống thư nhàn,

có cơ hội nhận thức được giá trị tối thượng của con người Đó là cuộc sống hướng đến các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị, khoa học và trên tất cả, triết học Ông viết:

Trang 30

“Mỗi một nhà nước là một hình thức quần tụ nào đó của con người - một cộng đồng, và mỗi một cộng đồng được thiết lập nhằm đạt tới một cái tốt nào đó; vì hoạt động của con người luôn luôn nhằm đạt được cái mà nó nghĩ là tốt Nhưng, nếu tất cả các cộng đồng đều nhằm đến một cái tốt, thì nhà nước hay cộng đồng chính trị - cộng đồng cao nhất và bao trùm tất cả các cộng đồng - phải nhắm tới cái tốt cao cả hơn mọi cái tốt khác,

và phải là cái tốt ở mức độ cao nhất” [2, tr 42]

2.1.2 Quan điểm Arixtôt về các hình thức nhà nước trong lịch sử

Quá trình phát sinh, phát triển của triết học Hy Lạp nói chung của tư tưởng chính trị Arixtôt nói riêng là sự phản ánh điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội Hy Lạp cổ đại, đó là chế độ nô lệ Ph Ăngghen nói về nét tích cực của chế độ nô lệ như sau:

“Chỉ có chế độ nô lệ mới làm cho sự phân công lao động có thể thực hiện được trên một quy mô rộng lớn hơn giữa nông nghiệp và công nghiệp, và do đó, mới có thể có thời ký hưng thịnh nhất của thế giới cổ đại, tức là nền văn minh Hy Lạp Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp; không có chế độ nô lệ thì không có Đế chế La Mã Mà không có cái cơ sở của nền văn minh Hy Lạp và Đế chế La Mã thì không có châu Âu hiện đại” [15,

tr 254]

Vì vậy, khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của Arixtôt cần phải đặt trong điều kiện lịch sử hình thành nên nó Người Hy Lạp thời cổ đại sống trong các thị quốc được cai trị theo những cách thức khác nhau Giữa các thị quốc thường xuyên xảy ra những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau dẫn đến sự liên tục xuất hiện và tàn lụi của các thị quốc

Chính điều kiện địa lý, sự tồn tại, phát triển và thay thế nhau của các thị quốc, sự đan xen giữa các hình thức cai trị, sự mở rộng lãnh thổ, giao lưu văn

Trang 31

hóa… đã tạo nên tính đa dạng và phức tạp của đời sống chính trị Điều đó được Arixtôt thể hiện trong tư tưởng chính trị của ông Cùng với sự phát triển

về kinh tế, văn hóa là sự ra đời của chính thể dân chủ Nền dân chủ Athens được coi là hình thức hoàn thiện, đầy đủ nhất của tổ chức cai trị dân chủ trong nhà nước chiếm hữu nô lệ Dẫu sao các cải cách chính trị này đã đi vào lịch

sử như nét chấm phá đầu tiên, đầy ý nghĩa trong quá trình hoàn thiện cách thức tổ chức đời sống con người Nhưng sau nửa thế kỷ tồn tại và phát triển, nền dân chủ Athens, ngay vào thời điểm chín muồi, đã bộc lộ dần những mặt trái của mình Thực tiễn của những cuộc đấu tranh giữa các lực lượng, các nhóm xã hội đã làm xuất hiện nhu cầu tìm kiếm phương án để giải quyết mâu thuẫn, điều hòa sự phân cực Điều đó đã tác động đến quan điểm chính trị mang tính “trung dung” của Arixtôt

Thế kỷ V-IV trước công nguyên là thời kỳ “cổ điển” của nền văn hóa Hy Lạp mà trung tâm là Athens với tính đa dạng, muôn vẻ, xu hướng nhân bản và

tự do, thể hiện trong văn chương, nghệ thuật, triết học, khoa học… Sống trong thời đại mà tất cả các thành tựu của các lĩnh vực đều phát triển đạt đến đỉnh cao, Arixtôt đã hội tụ tất cả những tinh hoa ấy và là người tổng kết lịch

sử Hy Lạp thời “cổ điển” Ông đã quan sát, trải nghiệm rút ra những bài học

từ các sự kiện lịch sử diễn ra trước mắt Chính điều này đã làm cho tư tưởng chính trị của ông giàu tính thực tế hơn so với tư tưởng chính trị của Platon Là người chứng kiến lịch sử Hy Lạp thời kỳ Alexander xứ Macedon, đồng thời vừa là bạn và vừa là quân sư của vị vua trẻ này, Arixtôt quan tâm đến những cuộc viễn chinh và sự phổ biến văn minh Hy Lạp ra toàn vùng Ông chẳng hề giấu giếm sự ủng hộ và tán dương của mình đối với việc chinh phục thế giới của Alexander Việc hướng đến “nhà nước toàn thế giới” dành cho người Hy Lạp theo phương án của Alexander đã tác động đến Arixtôt, hình thành nên ý tưởng về một Đại Hy Lạp bao trùm khắp khu vực, thống trị các dân tộc khác

Trang 32

Việc nêu ra điều kiện lịch sử-xã hội và đời sống chính trị của Hy Lạp cổ đại qua những bước thăng trầm của nền dân chủ chủ nô, cùng với sự trỗi dậy và lụi tàn của đế quốc Macedon, đã giúp chúng ta hiểu được nguồn gốc và bản chất của tư tưởng chính trị Arixtôt, được thể hiện sâu sắc và có hệ thống trong chính trị

Tiền đề lý luận sâu xa của tư tưởng chính trị Arixtôt là những tư tưởng chính trị hình thành từ thời sơ khai, phát triển mạnh mẽ vào thời kỳ nền dân chủ chủ nô Còn tiền đề lý luận trực tiếp của tư tưởng chính trị Arixtôt chính

là những tư tưởng của Platon, dù sau này tư tưởng của Arixtôt có phần tương phản với Platon trên bình diện triết học Dựa vào những dữ liệu hết sức quý giá của các bậc tiền bối, ông đã tổng hợp, so sánh, đối chiếu và cải biến cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới; đồng thời, ông còn thể hiện sự “phá cách” khi là người đầu tiên công khai chống lại những tư tưởng của thầy Platon để đưa ra những tư tưởng chính trị độc đáo cho riêng mình

Trong hệ thống triết học Arixtôt, tư tưởng chính trị chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Bắt đầu từ sự nghiên cứu, tập hợp rộng rãi mô hình của 158 nhà nước thành bang của Hy Lạp cổ đại, Arixtôt chỉ rõ các chế độ chính trị thường rất khác với cái mà hình thức bề ngoài của nó cho thấy Việc phân loại các hình thức cai trị là cơ sở để Arixtôt đưa ra mô hình nhà nước lý tưởng của mình

Từ quan điểm cho rằng, hình thức cai trị tốt nhất không phải tất yếu là một đối với tất cả các thời đại và tất cả các nước; điều đó đã dẫn ông đến một

sự nghiên cứu đầy đủ về các hình thức khác nhau của nền cai trị, vừa bởi tính hiếu kỳ bác học vừa bởi tính chân thật của nhà cải cách

Trong Chính trị luận, Arixtôt tiến hành phân loại các hình thức cai trị

Ông cho rằng, chính trị cũng giống như nghệ thuật và khoa học cần được xem xét không chỉ dưới lăng kính lý tưởng, mà còn trong bản chất thực tế bởi

Trang 33

những gì tốt nhất thường khó đạt được Theo ông, nhà lập pháp và nhà lãnh

đạo chân chính cần chú ý tới bốn yêu cầu: Thứ nhất, không chỉ là những mô hình trên lý thuyết mà còn những mô hình tốt nhất trên thực tế Thứ hai, cần

phải biết một nhà nước được thành lập như thế nào, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, không những trong thời kỳ lập quốc mà còn cần hiểu rõ cách thức để bảo

tồn quốc gia lâu bền nhất Thứ ba, là những nước không có được một hiến

pháp tuyệt hảo hay thiếu những điều kiện cần thiết để tạo ra một cơ cấu chính trị tốt nhất, hay những nước vì điều kiện thực tế của họ mà có một cơ cấu

chính trị dở hơn những nước khác Thứ tư, nhà lập pháp còn cần phải biết cơ

cấu chính trị nào là thích hợp nhất cho những nước nói chung Arixtôt cho rằng: “Ta phải xem xét, không phải chỉ cơ cấu chính trị nào là tốt nhất, mà còn xem loại nào là loại có thể thực hiện được và nước nào cũng xây dựng được một cách dễ dàng” [2, tr 209]

Theo Arixtôt thì quyền uy tối thượng trong một nước có thể nằm trong

tay của một người, hay của một số người, hay thuộc về nhiều người Ông đã

chia chúng thành ba hình thức đúng đắn đó là những hình thức phục vụ cho lợi ích chung Ông nói:

“Trong loại hình chính quyền do một người cai trị, theo cách gọi thông thường là quân chủ; loại hình một thiếu số cai trị là quý tộc; gọi như vậy

là vì hoặc những người cai trị thuộc thành phân ưu tú, hoặc là họ chuyên tâm đến những quyền lợi tốt đẹp nhất của quốc gia và công dân Nhưng khi mà đa số công dân tham gia chính sự và quan tâm đến lợi ích chung, thì chính thể đó được gọi bằng một cái tên chung là “chính quyền” “hay chính thể” [2, tr 167]

Còn những chính quyền được thiết lập nhằm phục vụ quyền lợi riêng tư

của một người, một nhóm người, hay của cả nhiều người đề là hình thức hủ

bại (hay chệch hướng, biến chất):

Trang 34

“Trong các loại hình kể trên, loại hình hủ bại của quân chủ là bạo chúa, loại hình hủ bại của quý tộc là quả đầu, và của loại thứ ba là dân chủ Bạo chúa hủ bại là vì nhà vua chỉ chăm lo quyền lợi của vương thất; quả đầu chỉ lo cho quyền lợi của kẻ giàu; và dân chủ chỉ lo cho quyền lợi của dân nghèo Không có loại nào lo cho quyền lợi chung của quốc gia” [2,

cổ, những nước nào dùng kỵ binh làm sức mạnh, thường theo chế độ quả đầu…” [2, tr 213]

Để phân biệt và xếp loại các hình thức cai trị, Arixtôt dựa vào hai tiêu

chí sau: Tiêu chuẩn phân biệt đầu tiên được đề xuất là số lượng trong thành

phần cai trị – gồm một cá nhân, một nhóm người hay một số đông người Một

tiêu chuẩn thứ hai là chất lượng: chính quyền đúng đắn hay chệch hướng Chính quyền là đúng đắn khi người cai trị là một ông vua duy nhất, một nhóm người hay đa số cai trị theo lợi ích chung (hoạt động theo pháp luật) Ngược lại, một chính quyền chệch hướng hay hủ bại khi một người, một nhóm người

hay số đông người cai trị không còn vì lợi ích chung nữa mà vì lợi ích riêng của những người cai trị

Trang 35

Như toàn bộ triết lý của ông, tất cả chính trị của Arixtôt bị chi phối bởi

khái niệm cứu cánh: Khi cứu cánh của chính phủ là lợi ích chung thì hình thức là chân chính, khi lợi ích riêng của những người cai trị chiếm ưu thế thì

đó là hình thức biến chất Ba hình thức cai trị kiểu mẫu là: chế độ quân chủ -

quyền lực của một người, nhưng không bị lạm dụng, là hình thức đầu tiên, xưa nhất và cũng thánh thiện nhất, vì nhà vua luôn luôn đóng vai trò “thần

giữa muôn dân”; chế độ quý tộc: quyền lực nhà nước nằm trong tay một số người tốt nhất, cai trị vì lợi ích chung, được xã hội thừa nhận; chế độ cộng

hòa (Arixtôt gọi là politeia), là quyền lực của số đông Ba hình thức cai trị

lệch lạc gồm: chế độ độc tài – quyền lực của bạo chúa, đây là quyền lực không nhất trí với bản chất tự nhiên của con người; chế độ quả đầu - quyền

lực của một tập đoàn, là quyền lực của những người giàu có hay những tướng

lĩnh thiếu tư cách, trọng sức mạnh và tiền bạc hơn nhân cách; chế độ dân chủ

– quyền lực của số đông, nhưng đó là số đông dốt nát, nghèo khổ hoặc những người xiểm nịnh, những kẻ mị dân

Theo Arixtôt, hình thức cai trị lệch lạc chẳng qua chỉ là sự biến chất của hình thức cai trị chân chính Bạo chính là biến chất của quân chủ, quả đầu

là biến chất của quý tộc, dân chủ là biến chất của cộng hoà (politeia) Và rằng

là hình thức biến thái nào là đầu tiên và thiêng liêng nhất thì là tồi tệ nhất

“Như thế, chế độ bạo chúa phải là chế độ tệ hại nhất; kế đến là chế độ quả đầu thoái hoá từ chế độ quý tộc, và chế độ dân chủ là chế độ tốt hơn hai chế độ vừa kể” [2, tr 211]

Quan điểm về các hình thức cai trị của Arixtôt có những điểm tương đồng với Platon Trong quan điểm về nhà nước của mình, Platon phân biệt các kiểu nhà nước theo thang bậc của sự hoàn thiện Cả Platon và Arixtôt đều cho rằng chế độ chuyên chế, độc tài là hình thức cai trị tồi tệ nhất, chế độ cộng hoà là hình thức tốt nhất Hai thầy trò đều thể hiện thái độ phê phán đối

Trang 36

với nền dân chủ, xem đó là sự pha tạp hỗn độn mọi thứ bát nháo vào trong một, khiến vàng thau lẫn lộn

Điểm giống nhau giữa Platon và Arixtôt là ở chỗ hai ông phân loại hình thức nhà nước ra hai nhóm: tích cực và tiêu cực, để từ đó lựa chọn cái phù hợp nhất Arixtôt lựa chọn cái phù hợp dựa trên các thông số hiện thực, còn Platon thì hướng đến cái lý tưởng Cả hai ông đều nhận ra những mặt trái của thể chế chính trị đang tồn tại, và từ đó đưa ra mô hình tốt đẹp hơn, hay phù hợp hơn Nền cai trị được Arixtôt yêu thích và ca ngợi là chế độ cộng hòa Nó được xây dựng trên cơ sở một nhóm người ưu tú về trí tuệ và phẩm chất, thay mặt cho cả quốc gia để cầm quyền vì lợi ích của quốc gia và toàn thể công dân Về phương pháp để hình thành nên thể chế này, Arixtôt chủ trương vừa tuyển cử vừa bốc thăm Do đó, khác với quan niệm của Platon về nền cộng hòa chuyên chính của một hay một số ít những nhà thông thái, nhà nước cộng hòa của Arixtôt là chính phủ của một đội ngũ những người ưu tú uyên bác và

mở rộng tới các công dân sung túc về cả của cải, vật chất và tinh thần Người

ta coi nó là chế độ trung bình trị Tuy nhiên theo triết lý và xã hội học của Arixtôt thì chế độ trung bình trị không phải là cái gì khác hơn bản thân quý tộc trị

2.1.3 Quan điểm của Arixtôt về con người và các quan hệ chính trị của con người

a Quan điểm của Arixtôt về con người

Có thể nói, Arixtốt là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên sớm nhận

ra tính xã hội của hoạt động con người Với câu nói: “con người là một động

vật chính trị” Arixtôt đã làm nổi bật lên quan điểm này của mình về con

người Đây là tư tưởng có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận thức vấn đề con người cho đến tận sau này

Theo Arixtôt con người do bản tính tự nhiên phải sống trong cộng đồng

Trang 37

chính trị nên con người phải là một sinh vật chính trị và vì là một sinh vật chính trị được ban cho tiếng nói nên con người phải có ý thức hơn các loại động vật khác Ông nói:

“Con người là một sinh vật chính trị, và là một sinh vật chính trị ở mức

độ cao hơn loài ong hay các loài thú sống bầy đàn khác Thiên nhiên, như ta thường nói, không lầm điều gì vô ích, và con người là sinh vật duy nhất được ban cho tiếng nói” [2, tr 47]

Với việc được ban cho tiếng nói con người có thể giao tiếp với nhau và thực hiện những điều mà những động vật khác không thể làm được Chính nhờ có tiếng nói và giao tiếp với nhau cũng như được sống trong cộng đồng con người đã sáng tạo ra nhiều lại công cụ để hỗ trợ việc sản xuất cũng như việc giải trí Chính nhờ thông qua những việc như vậy con người đã xây dựng cho mình một nền văn minh Nhờ được ban cho tiếng nói mà con người có thể diễn tả được cảm xúc của mình như đau đớn hay sảng khoái và có thể chỉ ra những điều tốt, xấu Và nhờ có tiếng nói con người có thể truyền đạt được

những điều này đến những người xung quanh Arixtôt nói về tính hai mặt của

con người như sau:

“Con người, khi toàn hảo, là động vật tốt đẹp nhất, nhưng nếu hắn bị cách ly khỏi luật pháp và công chính, thì lại trở nên một động vật xấu xa nhất Bất công trở nên tệ hại hơn khi đó là sự bất công được vũ trang, vì con người sinh ra có được đôi tay [cũng như ngôn ngữ] để làm cho con người tốt hơn về đạo đức, nhưng đôi tay cũng có thể được dùng để làm những chuyện xấu xa Đó là lý do tại sao nếu con người không có đức hạnh, hắn sẽ trở thành kẻ dã man nhất, đê tiện nhất, chỉ biết chiều theo nhục dục Sự công chính [chính là sự cứu rỗi của con người] thuộc về nhà nưóc; vì công chính - sự phân biệt thế nào là công bằng, là lẽ phải -

là trật tự của một xã hội chính trị.” [2, tr 49]

Trang 38

b Quan điểm của Arixtôt về các quan hệ xã hội của con người trong nhà nước

Trong Chính trị luận, Arixtôt chỉ ra ba loại quan hệ cơ bản của con người

đó là quan hệ giữa chủ nhân và nô lệ, quan hệ vợ chồng và quan hệ giữa cha

mẹ và con cái

Đầu tiên chúng ta đi tìm hiểu về quan niệm giữa chủ nhân và nô lệ:

Arixtôt coi nô lệ không phải là con người mà chỉ là một tài sản sống của người chủ nhân Ông coi nô lệ là một công cụ sống dùng để sử dụng các công

cụ lao động vô tri khác Ông viết:

“Trong sự xếp đặt của một gia đình, người nô lệ là một tài sản sống; và tài sản, một cách tổng quát, là tổng sổ của tất cả các dụng cụ Những người thuộc hạ, do đó, có thể được coi như là những dụng cụ sống hiện hữu trước các dụng cụ vô tri [để sử dụng các dụng cụ này]” [2, tr 51] Arixtôt đưa ra ra những ví dụ về các vật dụng vô tri, những vật dụng chết không thể tự làm việc hay vâng lời, đoán ý của chủ nhân mà có thể làm việc được để nêu bật lên quan điểm này của mình Thông qua đó, Arixtôt cũng muốn làm bật lên một quan điểm nữa đó là nếu những vật dụng vô tri, những vật dụng chết có thể tự làm việc thì “chủ nhân đâu còn cần nô lệ làm gì nữa” [2, tr 52]

Arixtôt phân tích sản xuất và hoạt động Theo ông, sản xuất và hoạt động đều cần đến công cụ, tuy nhiên sản xuất và hoạt động theo ông thuộc hai lĩnh vực khác nhau Theo Arixtôt, sản xuất sử dụng những công cụ chết và hoạt động được tạo nên bởi công cụ sống đó chính là người nô lệ Ông coi người

nô lệ là một tài sản của người chủ giống như một phần tử của vật chất Vì thế, người nô lệ không những là một phần của người chủ mà còn phụ thuộc hoàn toàn vào chủ nhân của họ Arixtôt luận giải điều này để chứng minh cho quan điểm “kẻ nào mà từ bản chất không thuộc về mình mà thuộc về kẻ khác, thì từ

Trang 39

bản chất kẻ đó là nô lệ; và ta có thể nói hắn thuộc về và thuộc quyền sở hữu của người khác” [2, tr 53]

Arixtôt nêu lên một câu hỏi nữa đó là “liệu có ai mà trời sinh ra đã là

nô lệ và số kiếp nô lệ lại thích hợp và chính đáng cho y không, hay nô lệ là một sự vi phạm luật thiên nhiên?” [2, tr 53] Để luận giải cho vấn đề này Arixtôt đưa vấn đề này về xuất phát điểm tự nhiên con người là một sinh vật với thể xác và linh hồn Theo ông trong các sinh vật đều có hai loại quyền lực chi phối thể xác đó là quyền lực của phần hồn và quyền lực của lý trí Quyền lực của phần hồn chi phối phần xác một cách độc đoán còn lý trí chi phối thể xác bằng quyền lực của một nhà cai trị Ông nói:

“Thế nên, ở những nơi mà có sự khác biệt rõ rệt như giữa hồn và xác,

hay giữa người và thú (như trường hợp của những kẻ mà khả năng chỉ là làm những việc chân tay), thì những kẻ ở đẳng cấp thấp tự nhiên phải là

nô lệ Có chủ nhân cai trị là lợi ích cho chúng cũng như cho những loài

hạ đẳng khác” [2, tr 55]

Theo Arixtôt trong sự phân loại của thiên nhiên đã hình thành nên sự khác biệt giữa người tự do và người nô lệ, “những kẻ thể chất khoẻ mạnh thích hợp cho những việc lao động hạ tiện, và những người cao quý dù thể chất không đủ khỏe mạnh để làm những công việc nhọc nhằn, nhưng lại hữu dụng cho đời sống chính trị trong nghệ thuật điều hành quốc gia trong chiến tranh cũng như khi hoà bình” [2, tr 55] Tuy nhiên theo ông thì đôi khi cũng

có sự ngược lại đó là người nô lệ mang thể chất của người tự do và người tự

do mang thể chất của người nô lệ

Qua sự phân tích mối quan hệ giữa chủ nhân và nô lệ, Arixtôt đi đến kết luận “nếu có người do bẩm sinh là người tự do, thì cũng có người do bẩm sinh

là nô lệ; và đối với những kẻ này thì việc trở thành nô lệ vừa tốt vừa có lợi hơn cho chính họ” [2, tr 56]

Trang 40

Tiếp đến Arixtôt bàn đến các mối quan hệ trong gia đình Trong quan hệ gia đình Arixtôt cũng dựa trên sự quan sát các sự vật hiện tượng của tự nhiên Theo ông “giống đực, về bản chất tự nhiên khoẻ hơn giống cái, và do vậy, giống đực làm chủ, còn giống cái phục tùng Nguyên tắc tổng quát này đúng cho cả nhân loại” [2, tr 55] Vì dựa trên sự quan sát nên có thể thấy đây là một quan điểm chủ quan của Arixtôt

Theo Arixtôt, trong gia đình người chồng, người cha có một vai trò to lớn trên cả vợ con Đây là quan điểm giống với quan điểm của phương Đông khi xem trọng quyền lực của người đàn ông, người đàn ông được xem như trụ cột của gia đình Tuy nhiên theo Arixtôt, có sự khác biệt giữa thẩm quyền của người cha đối với con và người chồng đối với vợ “đối với con cái, người cha

có quyền như nhà vua đối với thần dân; còn đối với vợ, người chồng có quyền như người lãnh đạo đối với công dân” [2, tr 76] Như vậy nếu xét về nguồn gốc nhà nước theo quan điểm của Arixtôt thì gia đình giống như một nhà nước thu nhỏ và người đàn ông trong gia đình giống như một vị vua không ngai Theo Arixtôt thì “người nam thì do bản chất thiên nhiên vẫn thích hợp hơn người nữ trong cương vị chỉ huy, cũng như người lớn tuổi và trưởng thành (cả về thể chất và tinh thần) phải khá hơn người trẻ tuổi còn non nớt” [2, tr 76]

Arixtôt luận giải vấn đề này để chứng minh cho quan điểm của mình về người lãnh đạo Qua các phân tích trên thì người lãnh đạo phải là người đàn ông vì người đàn ông là người nắm quyền lực trong gia đình, nô lệ và người phụ nữ chỉ là những công cụ giúp đỡ người đàn ông mà thôi

2.1.4 Quan điểm Arixtôt về xung đột chính trị trong các nhà nước

Trong quyển V, Arixtôt bàn về cách mạng và chỉ ra nguyên nhân của sự thay đổi chế độ Quan điểm hiện đại về cách mạng thường mang theo ý nghĩa tích cực, đổi cái cũ thay bằng cái mới, tích cực hơn, tiến bộ hơn Tuy nhiên,

Ngày đăng: 04/04/2022, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng (2012), Triết học. Dùng cho đào tạo sau đại học không thuộc chuyên ngành triết học, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học. Dùng cho đào tạo sau đại học không thuộc chuyên ngành triết học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2012
[2] Aristotle (Nông Duy Trường dịch, 2013), Chính trị luận, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính trị luận
Nhà XB: Nxb Thế giới
[3] C. Bowen (Trung tâm dịch thuật, 2004), Khoa học và triết học cổ đại Hy Lạp, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và triết học cổ đại Hy Lạp
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
[4] Nguyễn Văn Dũng (1996): Arixtôt – con người - sự nghiệp, Tạp chí Triết học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Arixtôt – con người - sự nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Dũng
Năm: 1996
[5] Nguyễn Tiến Dũng (2006): Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Nguyễn Tiến Dũng
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2006
[6] Forrest – E.Bard (2005): Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida, Nxb Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập danh tác triết học từ Platon đến Derrida
Tác giả: Forrest – E.Bard
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
[7] Nguyên Nguyễn Hóa (2004): Triết học cổ Hy Lạp giản yếu, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học cổ Hy Lạp giản yếu
Tác giả: Nguyên Nguyễn Hóa
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2004
[9] Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2006), Đại cương lịch sử triết học phương Tây, Nxb Tổng Hợp, Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học phương Tây
Tác giả: Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh
Nhà XB: Nxb Tổng Hợp
Năm: 2006
[10] Nguyễn Tấn Hùng (2012), Lịch sử triết học phương Tây. Từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây. Từ triết học Hy Lạp cổ đại đến triết học cổ điển Đức
Tác giả: Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
[11] Nguyễn Tấn Hùng (2013), Bài giảng Giới thiệu một số tác phẩm triết học trước Mác, Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Giới thiệu một số tác phẩm triết học trước Mác
Tác giả: Nguyễn Tấn Hùng
Năm: 2013
[12] Johannes Hirschberger (Nguyễn Quang Hưng dịch, 1991): Lịch sử triết học tập 1. Triết học Hy Lạp Và La Mã cổ đại. Triết học trung cổ, Phòng tư liệu khoa Triết học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học tập 1. Triết học Hy Lạp Và La Mã cổ đại. Triết học trung cổ
[13] Phạm Minh Lăng (2003), Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những chủ đề cơ bản của triết học phương Tây
Tác giả: Phạm Minh Lăng
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2003
[14] Nguyễn Hiến Lê (1994), Lịch sử Thế giới, Nxb Văn Nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Thế giới
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê
Nhà XB: Nxb Văn Nghệ
Năm: 1994
[15] C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
[16] Hà Thúc Minh (1998): Triết học cổ đại Hy Lạp – La Mã, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn tại tp Hồ Chí Minh, Nxb Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học cổ đại Hy Lạp – La Mã
Tác giả: Hà Thúc Minh
Nhà XB: Nxb Mũi Cà Mau
Năm: 1998
[17] Mortimer J. Adler (Phạm Viêm Phương và Mai Sơn dịch, 2008), Những tư tuởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tư tuởng lớn từ những tác phẩm vĩ đại
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
[18] Nguyễn Thế Nghĩa – Doãn Chính (2002), Lịch sử triết học, Tập 1, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học, Tập 1
Tác giả: Nguyễn Thế Nghĩa – Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
[19] Lê Tôn Nghiêm (2000), Lịch sử triết học Tây phương, bộ 3 tập, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học Tây phương
Tác giả: Lê Tôn Nghiêm
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
[20] Thái Ninh, (1987), Triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb Giáo khoa Mác - LêNin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Hy Lạp cổ đại
Tác giả: Thái Ninh
Nhà XB: Nxb Giáo khoa Mác - LêNin
Năm: 1987
[21] Trần Văn Phòng, Dương Minh Đức (2003), Lịch sử triết học phương Tây trước Mác, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử triết học phương Tây trước "Mác
Tác giả: Trần Văn Phòng, Dương Minh Đức
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w