1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) yếu tố con người trong lực lượng sản xuất với việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố đà nẵng hiện nay

108 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu Tố Con Người Trong Lực Lượng Sản Xuất Với Việc Xây Dựng Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao Ở Thành Phố Đà Nẵng Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo
Người hướng dẫn TS. Dương Anh Hoàng
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, hơn bất cứ địa phương nào trong khu vực, Thành phố Đà Nẵng cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

YẾU TỐ CON NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI VIỆC XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THẢO

YẾU TỐ CON NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VỚI VIỆC XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

HIỆN NAY

Chuyên ngành: TRIẾT HỌC

Mã số: 60.22.80

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn: TS DƯƠNG ANH HOÀNG

Đà Nẵng, 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN



Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng … năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Bố cục đề tài 3

6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ YẾU TỐ CON NGƯỜI TRONG LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT 5

1.1 LÝ LUẬN LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 5

1.1.1 Khái niệm về lực lượng sản xuất 5

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất 5

1.2 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 6

1.2.1 Khái niệm về nguồn lực con người 6

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực chất lượng cao 19

1.3 VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY 26

1.3.1 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao 26

1.3.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao 26

1.3.3 Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực nước ta 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 36

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CHẤT

LƯỢNG CAO CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 38

2.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ VỊ TRÍ ĐỊA LÝ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 38

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của thành phố Đà Nẵng 38

2.1.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội thành phố Đà Nẵng 52

2.2 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 54

2.2.1 Về kinh tế - xã hội 54

2.2.2 Nguồn nhân lực thành phố Đà Nẵng 56

2.2.3 Thực trạng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao 57

2.2.4 Những vấn đề đặt ra trong công tác phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Đà Nẵng 59

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 64

CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66

3.1 ĐẶC THÙ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 66

3.1.1 Những thế mạnh của Thành Phố Đà Nẵng 66

3.1.2 Những hạn chế của Thành Phố Đà Nẵng 68

3.2 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG THỜI KỲ ĐẾN NĂM 2020 69

3.2.1 Những quan điểm chủ yếu về tạo lập nguồn nhân lực chất lượng cao qua giáo dục và đào tạo để phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Đà Nẵng đến 2020 69

Trang 6

3.2.2 Các chính sách về thu hút nhân tài, bố trí công việc và môi trường làm việc hợp lý Đồng thời tôn trọng và tạo cơ hội phát triển để xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Đà Nẵng hiện nay 73 3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 77

3.3.1 Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội dựa trên thế mạnh vốn có của Đà Nẵng 78

3.3.2 Xây dựng môi trường xã hội thuận lợi, phục vụ cho việc khai thác, sử dụng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 84

3.3.3 Tập trung các nguồn lực để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo 85 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 94

KẾT LUẬN 96 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

2.1 Tốc độ tăng GDP của Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2012 55

2.2 GDP Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2011 (theo GCĐ

2.4 Biến đổi cơ cấu dân số, lao động và việc làm Thành

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thành phố Đà Nẵng là một trong những đô thị lớn của đất nước, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển vùng kinh tế trọng điểm miền Trung

và cả nước Trong những năm đổi mới, Đà Nẵng đã đạt được những thành tựu quan trọng và tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, sự phát triển đó chưa xứng với tiềm năng, thế mạnh của Thành phố và chưa đảm bảo vững chắc cho sự phát triển bền vững trong tương lai Tình trạng này do nhiều nguyên nhân, song nguyên nhân chủ yếu là: Nguồn nhân lực của Đà Nẵng đang nhiều về số lượng, thấp về chất lượng và hiệu quả

sử dụng chưa cao Do đó chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói riêng và các tỉnh miền Trung nói chung

Vì vậy, hơn bất cứ địa phương nào trong khu vực, Thành phố Đà Nẵng cần phải có nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh sáng tạo, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, được đào tạo thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp, về năng lực sản xuất kinh doanh, về điều hành vĩ mô nền kinh tế và toàn xã hội, có trình độ khoa học -

kỹ thuật cao Đó phải là nguồn nhân lực của một nền văn hóa công nghiệp hiện đại Hơn nữa, trong xu hướng phát triển nền kinh tế tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, nguồn nhân lực có chất lượng cao được coi là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh

Chính vì lẽ đó phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Thành phố Đà Nẵng trở thành nhiệm vụ cấp thiết

Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài “ Yếu tố con người trong lực lượng sản xuất với việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Đà Nẵng hiện nay ” làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 9

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

+ Làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn nhân lực, chất lượng nguồn

nhân lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

+ Khảo sát, nghiên cứu thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ở Thành phố Đà Nẵng, làm rõ những điểm mạnh, chỉ ra điểm yếu của chất lượng nguồn nhân lực, đưa ra những giải pháp khả thi nhằm khắc phục những hạn chế về mặt chất lượng nguồn nhân lực, đề xuất một số phương hướng, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự phát triển kinh tế,

xã hội ở Thành phố Đà Nẵng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề của yếu tố con người trong lực lượng sản xuất, lý luận nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam nói chung và Thành phố Đà Nẵng nói riêng

Tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng số lượng, chất lượng nguồn nhân lực, yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để từ đó tìm ra các phương hướng và giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở Thành phố Đà Nẵng

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, cùng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, các quan

điểm khoa học hiện đại về nguồn nhân lực

Trang 10

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp logic – lịch sử

+ Phương pháp thống kê, điều tra, khảo sát thực tiễn

+ Phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá

+ Phương pháp kế thừa, nghiên cứu các tư liệu, tài liệu và kết quả của các công trình khoa học

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn gồm 3 chương và 9 tiết

6 Tổng quan về tài liệu nghiên cứu

Trong giai đoạn hiện nay, cả nước đang đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề nguồn nhân lực chất lượng cao đã và đang được nhiều tác giả quan tâm và nghiên cứu Cho đến nay đã có nhiều công trình được công bố với những mức độ thể hiện khác nhau trong đó có

những công trình có liên quan trực tiếp đến đề tài như: “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở thành phố Đà Nẵng” của

TS Dương Anh Hoàng (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012);“Vấn đề xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam” (TS Hà Văn Ánh, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (1) - 2007);

“Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiên đại hóa ở nước ta” của Trần Kim Hải (Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999); “Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam” (Đoàn Văn Khái, luận án tiến sĩ triết học, bảo

vệ năm 2000); “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá về hội nhập quốc tế” tại Hội thảo khoa học - thực tiễn đăng trên Tạp chí Cộng sản số (9) 2012) “Đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh quảng Nam” (Nguyễn Văn Sỹ,

Trang 11

tạp chí cộng sản số (10) 2011 ); “Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay” của PGS, TS Trần Ngọc Nam (Học viện Chính trị - Hành chính khu vực III, Đà Nẵng, 2012)“Vai trò của nhân tố chủ quan trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay” (Nguyễn Thị Bích Thuỷ, luận án tiến

sĩ triết học, bảo vệ năm 2006) “Lại bàn về phát triển nhân lực” (Lê Bách, Tạp chí phát triển nhân lực, số (2) - 2007); “Nguồn lực và động lực cho phát triển phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020” của

PGS TS, Ngô Doãn Vịnh chủ biên, (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011)

“Đào tạo, bồi dưỡng và tái bồi dưỡng cán bộ, công chức là một công cụ phát triển nhân lực” (Nguyễn Thanh Bình, Tạp chí Phát triển nhân lực, số (6) - 2008; “Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam” của Bộ kế

hoạch và đầu tư, trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, PGS.TS.Nguyễn Văn Phúc, Th.S Mai Thị Thu đồng chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012) và các công trình khác Các luận án nói trên đã đi sâu phân tích đặc điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn vùng (hoặc tỉnh, thành); làm rõ thực trạng nguồn nhân lực ở các địa phương; và trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục

vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở các địa phương đó

Tuy nhiên, để kế thừa và vận dụng sáng tạo những thành tựu của các công trình khoa học đã nêu trên, tác giả mong muốn đóng góp một phần công sức của mình cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Đà Nẵng trong thời kỳ hiện nay Trên cơ sở đó, làm sáng tỏ thực trạng nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Đà Nẵng trong những năm qua Từ đó

đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố Đà Nẵng hiện nay

Trang 12

1.1.1 Khái niệm về lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá trình sản xuất Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ chinh phục của con người với tự nhiên Lực lượng sản xuất là thể thống nhất hữu cơ giữa con người lao động với tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động Ngoài công cụ lao động, trong tư liệu sản xuất còn có đối tượng sản xuất

1.1.2 Các yếu tố cơ bản của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất được cấu thành bởi hai yếu tố cơ bản đó là sức lao động và tư liệu sản xuất Trong đó:

- Sức lao động là chủ thể, là lực lượng sản xuất cơ bản, quyết định của

xã hội, song để trở thành lực lượng sản xuất thì người lao động phải có những điều kiện sau:

+ Khả năng lao động: có thể lao động chân tay hoặc trí óc

+ Nhu cầu lao động: chủ thể đó phải có nhu cầu lao động, lao động một cách tự nguyện

+ Phải tham gia trực tiếp vào quá trình lao động: chủ thể đó phải là người trực tiếp tham gia vào quá trình lao động với một tinh thần trách nhiệm

kỷ luật cao

- Tư liệu sản xuất: trong đó bao gồm tư liệu lao động và đối tượng lao động

Trang 13

+ Tư liệu lao động là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm

vụ truyền dẫn sự tác động của con người vào đối tượng lao động nhằm cải biến đối tượng lao động theo mục đích của mình

+ Đối tượng lao động: là một bộ phận của giới tự nhiên mà lao động của con người tác động vào nhằm biến hình thái tự nhiên của nó phù hợp với mục đích của con người đối tượng lao động gồm có hai loại: loại có sẵn trong

tự nhiên và loại đã trải qua lao động của con người

1.2 NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN

XÃ HỘI

1.2.1 Khái niệm về nguồn lực con người

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, „„nguồn lực‟‟ là tổng hợp toàn

bộ các yếu tố, các quá trình vật chất và tinh thần đang và sẽ tạo ra năng lực, sức mạnh thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khái niệm “nguồn lực” chỉ ra khởi nguyên, cội nguồn sản sinh, nuôi dưỡng các yếu tố, quá trình vật chất và tinh thần để tạo ra năng lực, sức mạnh của sự phát triển Nó không những bao gồm năng lực, sức mạnh hiện có thực tế,

mà còn cả năng lực, sức mạnh dưới dạng khả năng (tiềm năng) và khi có điều kiện nhất định sẽ trở thành hiện thực Chẳng hạn, khi nói „„nguồn vốn‟‟ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta hiểu bao gồm cả nguồn vốn trong nước (tiền mặt, tài sản có giá trị của quốc gia và của dân chúng)

và nguồn vốn từ nước ngoài ( ODA, FDI và các nguồn vốn khác) Đồng thời, các nguồn vốn này không phải là cố định, mà luôn được tăng lên theo quy luật phát triển của kinh tế thị trường và tự do thương mại nhờ có yếu tố trí tuệ và lao động sáng tạo của con người

Theo lôgíc khoa học của cách tiếp cận trên, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định đang và có khả năng tham gia vào quá trình phát

Trang 14

triển kinh tế - xã hội Theo tổ chức Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là trình

độ lành nghề, kiến thức và năng lực hiện có thực tế và dưới dạng tiềm năng của con người (lực lượng lao động) để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng

Trong giáo trình kinh tế lao động thì nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người, đây là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác (nguồn lực tài nguyên, nguồn lực tài chính, công nghệ…) thể hiện ở chỗ trong quá trình vận động, nguồn nhân lực bị tác động của nhiều yếu tố như tỷ lệ sinh, tử; việc làm, môi trường, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội…Chính

vì vậy, nguồn nhân lực đã được các nhà nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Nguồn nhân lực được hiểu như là nơi sinh sản, nuôi dưỡng và cung cấp nguồn lực con người cho phát triển Mặt khác, nguồn nhân lực còn được hiểu như một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động; tức là bao gồm những người có khả năng lao động, là một bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực

Trong lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố con người được đề cập với tư cách là lực lượng sản xuất chủ yếu, là phương tiện để sản xuất

ra của cải Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là những lực lượng lao động cơ bản nhất trong xã hội Việc cung cấp đầy đủ và kịp thời lực lượng lao động theo nhu cầu của nền kinh tế, là vấn đề quan trọng nhất, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội

Liên Hợp Quốc đưa ra khái niệm nguồn lực con người: là tất cả những kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có quan hệ tới sự phát triển của đất nước đây được coi là một yếu tố quan trọng bậc nhất trong kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội Quan niệm về nguồn lực con người

Trang 15

theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng nguồn lực con người

Theo Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ "vốn người" (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu Ở đây, nguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như tiền, công nghệ, tài nguyên, thiên nhiên Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ

sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững

Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó” [17, tr.17]

Theo TS Dương Anh Hoàng: “nguồn nhân lực (nguồn lực con người) là tổng hợp những phẩm chất, năng lực và sức mạnh của lực lượng người đang và sẽ tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đó trước hết là những người lao động có sức khoẻ, trí tuệ, đạo đức, trình độ chuyên môn, tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm, quyết tâm phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” [18, tr.24]

Từ những trình bày ở trên, có thể thấy rằng, nguồn lực con người không chỉ đơn thuần là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn là một tập hợp đa phức gồm nhiều yếu tố như trí tuệ, sức lực, kỹ năng làm việc của con người

Quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử cụ thể và quan điểm phát triển của phép biện chứng duy vật yêu cầu phải xem xét cả mặt số lượng

và chất lượng của nguồn nhân lực trong mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữa chúng Đồng thời, phải phân tích vị trí vai trò, tác dụng của những

Trang 16

yếu tố quy định và làm nên chất lượng nguồn nhân lực (thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, thẩm mỹ…) trong mối tương quan tác động, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Như vậy, tuy có những định nghĩa khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, nhưng các định nghĩa về nguồn nhân lực (nguồn lực con người) đều

đề cập đến các đặc trưng chung như sau: Một là, số lượng nguồn nhân lực

là chỉ quy mô, cơ cấu tuổi, giới tính; hai là, chất lượng nguồn nhân lực là khả năng tổng hợp về thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách, đặc điểm lối sống, tinh thần và đặc biệt là khả năng nghiên cứu, sáng tạo, tiếp thu tiến

bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Lịch sử phát triển sản xuất của loài người là lịch sử phát triển của các nền kinh tế nối tiếp nhau : kinh tế săn bắt và hái lượm, kinh tế nông nghiệp, kinh tế công nghiệp và kinh tế tri thức Trong các nền kinh tế săn bắt và hái lượm, kinh tế nông nghiệp, vấn đề phát triển nguồn nhân lực chưa được con người đặt ra một cách trực tiếp Bỡi lẻ, ở thời đó lực lượng sản xuất còn thấp kém nên sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào các lực lượng tự nhiên

Cuối thế kỷ XVIII, bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp và cùng với nó ra đời những hệ thống sản xuất hiện đại; đồng thời xuất hiện những nhóm người lao động cùng hoàn thành một sản phẩm hoặc có liên quan với nhau Việc xuất hiện nhiều sản phẩm mới tạo nên mối quan hệ chặt chẽ trong công việc, nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện xu hướng không một người lao động nào đủ năng lực đáp ứng nhu cầu của các giai đoạn chuyển giao công nghệ mới Lúc này đào tạo trở thành nhu cầu bức thiết trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Nói cách khác, vấn đề phát triển nguồn nhân lực được đặt ra một yêu cầu tất yếu và bức thiết trong nền kinh tế công nghiệp và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế tri thức, trí

Trang 17

tuệ chi phối hầu hết quá trình sản xuất và giá trị sản phẩm

Khái niệm „„phát triển nguồn nhân lực‟‟ (phát triển nguồn lực con người hay phát triển tài nguyên con người) được hình thành và phát triển một khái niệm khoa học từ thập niên 70 đến thế kỷ XX dựa trên quan niệm về vị trí, vai trò và giá trị con người trong phát triển

Tuy nhiên, cho đến nay, cách hiểu về phát triển nguồn nhân lực cũng còn khác nhau trong các sách báo và trên phương tiện thông tin đại chúng Cụ thể là, theo quan điểm con người là nguồn vốn - vốn con người, thì phát triển nguồn nhân lực là phát triển nguồn vốn nhân lực; tức

là phát triển các yếu tố, học vấn, kinh nghiệm, sức khỏe… Bởi lẽ, những yếu tố này có vai trò quyết định năng suất lao động của cá nhân, là điều kiện quan trọng giúp cá nhân thoát cảnh nghèo đói và tăng thu nhập

Chương trình phát triễn Liên hợp quốc (UNDP) cho rằng, phát triển nguồn nhân lực chịu sự tác động, chi phối của năm nhân tố: giáo dục - đào tạo, sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và sự giải phóng con người Trong quá trình tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực, những nhân tố này gắn bó, phụ thuộc và hỗ trợ lẫn nhau ; trong đó giáo dục - đào tạo là nhân tố nền tảng, là cơ sở của các nhân tố khác Những nhân tố sức khỏe và dinh dưỡng, môi trường, việc làm và giải phóng con người là thiết yếu để duy trì và đáp ứng sự phát triển bền vững của nguồn nhân lực UNDP nhấn mạnh rằng : „„các thị trường chỉ là phương tiện Sự phát triển của con người là mục đích‟‟

Trong tài liệu Hiểu để hành động (xuất bản năm 1977 tại Paris), tổ chức khoa học, văn hóa giáo dục của liên hợp quốc (UNESCO) đưa ra luận điểm : „„Con người đứng sau trung tâm của sự phát triển‟‟, điều đó

có nghĩa là „„Con người vừa là mục đích, vừa là nhân tố của sự phát triển‟‟ Luận điểm này được nhiều quốc gia tán đồng và phát triển ngày

Trang 18

càng phong phú về lí luận và thể hiện sinh động trong thực tiễn Về sự phát triển của con người, UNESCO đã cụ thể hóa luận điểm trên thành những nội dung chủ yếu sau : Phát triển con người toàn diện, trong đó phải quán triệt bản chất và ý nghĩa của những giá trị nhân văn, nhân đạo,

và nguyên tắc nhân văn, nhân đạo phải chỉ đạo các con đường phát triển

Trong tác phẩm Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, GS Phạm Minh Hạc đã chỉ rõ rằng: “Phát triển nguồn nhân

lực được hiểu về cơ bản là tăng giá trị cho con người, trên các mặt như đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực…, làm cho con người trở thành những người lao động có những năng lực và phẩm chất mới và cao, đáp ứng được những yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [17, tr.285]

Những quan điểm trên về cơ bản đã chỉ ra những khía cạnh khác nhau của sự phát triển nguồn nhân lực Tuy nhiên, ở đây còn sự lẫn lộn giữa sự phát triển nguồn nhân lực và sự phát triển con người Trên thực

tế, phát triển con người là khái niệm rộng: Từ phát triển thể chất, tâm lý, tình cảm, nhu cầu đến ý thức, năng lực, trí tuệ, kỹ năng…, tức là phát triển toàn diện con người với tính cách là chủ thể của tự nhiên và xã hội

Vì vậy, UNESCO nêu ra luận điểm: „„Con người đứng ở trung tâm của sự phát triển‟‟ Đảng ta thì khẳng định: Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội

Khái niệm phát triển nguồn nhân lực hẹp hơn so với khái niệm phát triển con người Phát triển nguồn nhân lực, xét về tổng thể đó là quá trình phát triển nguồn lực con người từ dạng tiềm năng thành vốn con người -vốn nhân lực và chuyển vốn này vào hoạt động kinh tế - xã hội Xét ở mức độ cá nhân con người, thì phát triển nguồn nhân lực chính là việc nâng cao sức khỏe, tri thức, trình độ chuyên môn, lành nghề, kỹ năng thực

Trang 19

hành để tăng năng suất lao động, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống Khi bàn đến nguồn nhân lực, Simon Kuzents (người đoạt giải Nobel Kinh tế) chỉ rõ rằng, sức mạnh của các nước tiên tiến không phải là sử dụng những yếu tố vật chất sẵn có, mà được thể hiện ở chỗ „„con người với những kiến thức được thu nhập từ những tìm kiếm đã được kiểm nghiệm, những tìm tòi của khoa học thực tiễn và khả năng cũng như sự đào tạo của người dân của nước đó sử dụng những kiến thức này một cách có hiệu quả‟‟ Chủ tịch hãng Sony Akio Noorrita (chuyên gia kinh tế hàng đầu của Nhật Bản) nhận xét: Sự phồn vinh của một đất nước nằm trong óc sáng tạo, nền văn hóa, giáo dục và khả năng ứng dụng công nghệ mới với một đội ngũ công nhân lành nghề

Từ những phân tích ở trên, chúng ta có thể rút ra kết luận: Phát triển nguồn nhân lực về thực chất là nâng cao giá trị nguồn lực con người chủ yếu trên các phương diện thể lực, trí tuệ, đạo đức, năng lực, kỹ năng thẩm mỹ… nhằm đạt hiệu quả tối đa hoạt động Để nâng cao giá trị nguồn lực con người, phát triển nguồn nhân lực cần phải và nhất thiết phải được tiến hành với ba nội dung cơ bản: Phát triển nguồn nhân lực về số lượng, phát triển nguồn nhân lực về chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

- Phát triển nguồn nhân lực về số lượng

Số lượng nguồn nhân lực được quy định bởi quy mô dân số (số lượng dân, mật độ dân số, tốc độ tăng dân số) và lực lượng lao động (cơ cấu tuổi tác, giới tính, phân bố lao động theo lảnh thổ và theo lĩnh vực ngành nghề) Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực về số lượng là nâng cao số lượng dân số và lực lượng lao động với quy mô và cơ cấu hợp lý nhằm bảo đảm lực lượng lao động dồi dào với cơ cấu trẻ Để năng cao được điều này cần chú ý đến một số yếu tố quan trọng: Đảm bảo tỉ lệ sinh hợp

Trang 20

lý tương ứng với quy mô và tốc độ phát triển, tăng trưởng kinh tế, bảo đảm cơ cấu về giới tính và độ tuổi cân đối, thích hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước một quốc gia có một quy mô dân

số hợp lý với lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu khá trẻ đó là điều kiện

để phát triển nguồn nhân lực về chất lượng

- Phát triển nguồn nhân lực về chất lượng

Chất lượng là nguồn nhân lực là tổng hợp những phẩm chất, năng lực và sức mạnh của con người dưới dạng có thực tế và tiềm năng đang và

sẽ tham gia vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nó bao gồm những yếu tố cơ bản như : Thể lực, trí tuệ, đạo đức, kỹ năng, thẩm mỹ…

Vì vậy, phát triển chất lượng nguồn nhân lực là phát triển những phẩm chất, nâng cao thể lực, trí tuệ, đạo đức, kỹ năng, năng lực và thẩm mỹ… , tức là nâng cao giá trị nguồn lực con người

Nâng cao thể lực chính là nâng cao sức khỏe - một trong những phương tiện để phát triển trí tuệ và hiện thực hóa sức mạnh của trí tuệ trong thực tiễn Đối với mỗi cá nhân con người thì sức khỏe là vốn quý, là cội nguồn của niềm vui và hạnh phúc Một cơ thể yếu về cơ bắp, kém về các khí quan, thiếu sự dẻo dai, linh hoạt của hệ thống thần kinh thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong hoạt động thực tiễn Trái lại, một cơ thể mạnh về cơ bắp; có sự nhạy bén của các khí quan; khỏe mạnh, linh hoạt của hệ thống thần kinh đó là điều kiện vật chất kích thích, thúc đẩy năng lực sáng tạo của trí tuệ và khả năng thích ứng với hoàn cảnh

Nâng cao trí tuệ, trước hết là nâng cao năng lực tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng để nhận thức và cải tạo thế giới; đó còn là việc nâng cao trình độ học vấn, văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề…

Nâng cao đạo đức và năng lực chính là phát triển những giá trị đạo

Trang 21

đức nhân văn gắn với năng lực hoạt động của con người Trong đó, xây dựng và phát triển mối quan hệ biện chứng giữa „„đức và tài‟‟, „„hồng và chuyên‟‟ một cách cân đối, hài hòa Đồng thời, nâng cao khiếu thẩm mỹ, khả năng cảm thụ thưởng thức cái đẹp

- Nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực

Việc phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng chỉ đạt được hiệu quả mỗi khi gắn nó với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Nói cách khác, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực và yếu tố cấu thành của quá trình phát triển nguồn nhân lực, vừa là một trong những tiêu chí chủ yếu để đánh giá kết quả của việc sử dụng nguồn nhân lực trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Về vấn đề này, Chủ tịch hồ Chí Minh đã chỉ ra bài học „„dụng nhân như dụng mọc‟‟ (Gỗ

dù có cong nhưng đưa vào tay người thợ mộc có tâm và khéo tay sẽ làm

ra những vật dụng hữu ích cho mọi người)

Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực là xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách, phương pháp, nghệ thuật dùng người Việc dùng người yêu cầu không chỉ „„đặt đúng người, đúng việc”,

mà còn phải bồi dưỡng, tạo điều kiện tối ưu để con người có thể phát huy được năng lực sáng tạo và sở trường của mình để hoàn thành tốt nhất công việc đã giao

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta, vấn đề huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Nó quyết định năng suất, chất lượng hiệu quả của nền kinh tế ; và do đó, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế

Để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực, cần phải giải quyết

Trang 22

ba vấn đề quan trọng là:

- Thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng kinh tế một cách ổn định và bền vững, không có lạm phát, mà nếu có thì phải kìm hãm lạm phát trong vòng một con số

- Gắn tăng trưởng kinh tế với xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm

- Tạo ra nhiều việc làm mới có chất lượng đảm bảo quyền và các lợi ích chính đáng của người lao động và không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư

Việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực thường chịu ảnh hưởng trực tiếp của quy luật cung cầu lao động trên thị trường, chất lượng nguồn nhân lực và các chính sách lao động, việc làm… đặc biệt là môi trường làm việc, chế độ đãi ngộ với người lao động

Tóm lại, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đông về số lượng, mạnh về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu ngành nghề và đặc biệt có khả năng sử dụng tốt nguồn nhân lực là yêu cầu cấp thiết đối với mọi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế gới Đối với Việt Nam, đây là vấn đề còn khá mới mẻ, chưa có kinh nghiệm Do vậy, sự nghiệp phát triển toàn diện đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc

tế hiện nay yêu cầu chúng ta phải tham khảo học hỏi kinh nghiệm của nhiều nước đi trước, nhất là những nước ở khu vực Châu Á những nét tương đồng với Việt Nam

Ngoài ra, cũng có thể hiểu đầy đủ hơn về nguồn lực con người thông qua khái niệm “phát triển nguồn nhân lực” Nếu dịch từ cụm từ

tiếng Anh thì phát triển nguồn nhân lực hay phát triển nguồn lực con

người là Human Resouce Development (HRD), còn phát triển con người nói chung là Human Development (HD) Trong khái niệm về phát triển con người (HD), nguồn lực con người được đề cập đến như một mục tiêu

Trang 23

của sự phát triển kinh tế - xã hội, như là chỉ tiêu về thành tựu kinh tế của dân tộc Ngược lại, phát triển nguồn lực con người (HRD) có xu hướng tập trung vào các hoạt động, nhằm nâng cao khả năng thực hiện các vai trò sản xuất của con người như trí tuệ, kỹ năng làm việc, khả năng tổ chức lãnh đạo và quản lý Ở đây có sự khác biệt, nội hàm khái niệm phát triển nguồn lực con người sâu hơn, hẹp hơn nội hàm khái niệm phát triển con người

Phát triển con người - là quan điểm về phát triển bền vững, trong đó lấy con người làm trung tâm Đó là sự phát triển của con người, vì con người và do con người

Phát triển con người có nghĩa là đầu tư vào phát triển tiềm năng của con người như giáo dục, y tế, kỹ năng để con người có thể làm việc một cách sáng tạo và có năng suất cao nhất Phát triển vì con người là bảo đảm

sự tăng trưởng kinh tế, mà con người tạo ra phải được phân phối rộng rãi

và công bằng Phát triển do con người là hướng vào việc tạo ra cho con người có cơ hội tham gia mọi hoạt động của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội)

Lịch sử loài người từ trước đến nay là lịch sử của sự phát triển con người Nói cách khác, sự phát triển của các xã hội, sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là lịch sử đấu tranh, phát triển và giải phóng con người Con người đóng vai trò chủ thể sáng tạo lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới Qua các cuộc đấu tranh đó, con người sáng tạo ra lịch sử, xã hội và sáng tạo ra chính mình Do vậy, con người đạt tới giá trị tổng hòa cao nhất, có ý nghĩa thúc đẩy sự vận động, phát triển của

xã hội

Với tư cách là chủ thể xã hội, con người tham gia phát triển sản xuất vật chất Và chính sản xuất vật chất lại tái sản xuất con người - nhân

Trang 24

tố quyết định sự tồn tại, phát triển của xã hội Xã hội càng phát triển, con người ngày càng hoàn thiện mọi mặt, càng có nhu cầu tham gia tổ chức, quản lý xã hội và sự phát triển của bản thân mình Con người, một khi được thỏa mãn những nhu cầu đó, sẽ đóng góp to lớn, trở thành động lực mạnh mẽ để thúc đẩy sự phát triển xã hội Muốn vậy, con người phải hoàn thiện mọi mặt, được đặt vào vị trí trung tâm Mọi chiến lược phát triển đều hướng vào con người nhưng muốn phát triển, phải dựa vào con người

Đích cuối cùng của chiến lược phát triển là vì con người, phục vụ con người, tạo ra sự phát triển với mức sống vật chất cao, đời sống tinh thần phong phú và văn minh hơn Mục tiêu đó có thể đạt được nếu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phù hợp và gắn liền với sự phát triển con người, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng và công bằng xã hội Thực hiện đồng bộ điều đó, con người mới phát huy được mọi mặt, khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo Thể hiện đầy đủ vai trò quyết định của mình đối với xã hội Như vậy, con người vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình phát triển xã hội

Trong các thập niên qua, nhiều quốc gia trên thế giới thực hiện chiến lược quốc gia, nhằm phát triển con người và đã đạt nhiều thành tựu quan trọng Nhân loại sắp bước vào thế kỷ mới nhưng ở một số quốc gia, khu vực, vẫn còn số lớn người dân nghèo đói, lạc hậu Nam Á chiếm 2/5

số người nghèo đói (515 triệu/ 1,3 tỷ người) Châu Phi đang đối mặt với đại dịch AIDS, nghèo đói, môi trường xuống cấp Bất bình đẳng về thu nhập giữa các quốc gia, khu vực và trên thế giới vẫn là vấn đề lớn của nhân loại

Từ sự nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đại hội

XI của Đảng nhấn mạnh một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành

Trang 25

công Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 là: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế của đất nước” những chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội này đã góp phần quan trọng vào sự phát triển con người ở Việt Nam trong thời gian qua, thúc đẩy sự đi lên của đất nước

Theo quan niệm của các tác giả Việt Nam thì phát triển nguồn lực con người được hiểu là quá trình làm "gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng, tâm hồn, thể lực làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực mới đáp ứng yêu cầu to lớn của sự phát triển kinh tế - xã hội"

Để khơi dậy và phát huy những tiềm năng người nói chung, việc sử dụng và phát huy nguồn nhân lực phải được tiến hành đồng bộ từ vấn đề giáo dục, đào tạo và phổ cập nghề Chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc sống lao động đến vấn đề tự do lao động và được hưởng thụ xứng đáng giá trị mà lao động sáng tạo ra Nói cách khác, chính sách sử dụng

và phát huy nguồn lực con người phải được lồng ghép với các vấn đề giáo dục và đào tạo, sử dụng lực lượng lao động, tạo môi trường làm việc và đãi ngộ thỏa đáng cho con người trong đó, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn lực con người, là cơ sở để sử dụng và phát huy con người có hiệu quả

Từ những vấn đề nêu trên có thể thấy rằng, nguồn lực con người là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố về số lượng và chất lượng của người lao động nói chung cả ở hiện tại cũng như trong tương lai tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, khu vực và thế giới

Ở đây, nhân tố con người được xem xét với một tư cách là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, một nguồn lực chủ yếu để phát triển kinh tế -

xã hội

Trang 26

Nếu coi nguồn lực con người là toàn bộ tiềm năng người nói chung, thì tiềm năng mà con người có thể đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, là việc khơi dậy và phát huy tất cả những tiềm năng đó Quá trình này bao gồm nhiều vấn đề như tạo việc làm và sử dụng lực lượng lao động, phát huy tiềm năng trí tuệ và yếu tố tinh thần dân tộc, tạo ra những kích thích và động cơ lao động Trong đó, giải quyết việc làm và sử dụng nguồn lao động chỉ là một nội dung của sử dụng và phát huy nguồn nhân lực

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực chất lượng cao

Tư liệu sản xuất mà trước hết là công cụ lao động là một nhân tố của lực lượng sản xuất Trước đây công cụ lao động là thô sơ thì ngày nay nó được thay thế bằng máy móc hiện đại Nhờ đó sức lao động của con người sử dụng trong quá trình sản xuất đã giảm đi đáng kể, năng suất lao động tăng lên, chất lượng sản phẩm cũng tăng lên, đem lại hiệu quả kinh tế cao Sự phát triển của công cụ lao động một mặt nâng cao năng suất lao động, làm giảm sức lao động của con người, nhưng nó cũng đặt ra một vấn đề: người sử dụng Một nền sản xuất với máy móc, trang thiết bị hiện đại nhưng trình độ của người sản xuất hạn chế, không có khả năng sử dụng, khả năng quản lý thì sẽ không khai thác được, hoặc khai thác không hết chức năng tác dụng của nó Do đó gây ra tình trạng lãng phí trong sản xuất Vì vậy cùng với sự phát triển của công cụ lao động, bản thân người sản xuất cần không ngừng học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, nâng cao năng lực chuyên môn để không chỉ khai thác hết chức năng, tác dụng của nó mà còn sáng tạo công cụ lao động mới

Trước đây đối tượng lao động chủ yếu là có sẵn trong tự nhiên như cá dưới nước, gỗ trong rừng… tất cả đều sẵn có chỉ việc khai thác và sử dụng Nhưng một điều mà ai cũng phải nhận thấy là tài nguyên thiên nhiên của chúng ta đang ngày càng cạn kiệt, trong lúc đó nhu cầu của con người ngày càng lớn Do vậy việc tạo ra đối tượng lao động mới, đã qua chế biến để thay

Trang 27

thế cho đối tượng lao động có sẵn trong tự nhiên là hết sức quan trọng Con người từ chỗ chỉ biết bắt cá dưới sông nay đã biết nuôi cá Nó không chỉ giúp con người chủ động về thức ăn mà còn tạo ra với số lượng lớn Con người từ chỗ chỉ biết khai thác chặt cây trong rừng nay đã trồng rừng với số lượng lớn Mặt khác, con người cũng đã tìm ra những nguyên liệu mới, tạo ra nguyên liệu tổng hợp thay thế cho nguyên liệu tự nhiên

Ngày nay, khoa học công nghệ đã phát triển với tốc độ chóng mặt Sự phát triển của khoa học công nghệ đã tác động không nhỏ tới con người Nhờ

sự phát triển của khoa học công nghệ mà nhiều ngành sản xuất mới, nhiều máy móc thiết bị mới, nhiều công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới… đã ra đời Cũng nhờ sự phát triển của khoa học công nghệ mà năng suất lao động tăng, sức lao động của con người giảm, sản phẩm tạo ra ngày càng nhiều Điều đó đòi hỏi con người phải không ngừng nâng cao tri thức, nâng cao trình độ chuyên môn Một nền sản xuất dù phát triển đến đâu, máy móc thiết bị hiện đại đến mấy nhưng trình độ quản lý, trình độ chuyên môn của người sản xuất thấp thì nó cũng không phát huy tác dụng

Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, việc ứng dụng nó vào trong sản xuất là hết sức cần thiết Muốn vậy bản thân người sản xuất phải có đủ trình độ kinh tế, năng lực quản lý thì mới có thể ứng dụng những thành tựu đó vào trong sản xuất Do vậy con người trong nền sản xuất hiện đại không chỉ đơn thuần là có sức khỏe, có kinh nghiệm, mà hơn thế nữa là phải có năng lực, có trình độ, phải không ngừng học hỏi, không ngừng sáng tạo và phải nhanh nhạy nắm bắt những thành tựu mới nhất của nhân loại

Việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phải chịu tác động của những nhân tố sau:

Thứ nhất: Trình độ phát triển kinh tế - xã hội

Những nước có trình độ phát triển cao về kinh tế - xã hội, GDP/ người

Trang 28

và đời sống chung của nhân dân ổn định ở mức cao, sẽ có điều kiện để đảm bảo và nâng cao chất lượng nguồn lực con người vì tuổi thọ, sức khỏe, trình

độ dân trí, văn hóa và chuyên môn nghề nghiệp có điều kiện phát triển Mặt khác, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, cũng có nghĩa là thiết bị và công nghệ sản xuất tiên tiến, nên càng đòi hỏi chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với công nghệ đó

Khi trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao, con người mới có điều kiện vật chất để cải thiện đời sống, làm tăng thể lực, tinh thần của chính cá nhân, cộng đồng và khi đó, nhà nước mới có điều kiện vật chất để giải quyết tốt hơn các vấn đề: giáo dục, y tế, văn hóa, thực hiện các chính sách xã hội Sự phát triển kinh tế - xã hội là nền tảng vật chất để nhà nước giải quyết vấn đề nguồn lực con người Biện chứng giữa phát triển kinh tế và phát huy nguồn lực con người là ở chỗ, sự phát triển của kinh tế là cơ sở để phát triển nguồn lực con người, đến lượt nó, sự phát triển của nguồn lực con người lại là điều kiện để phát triển kinh tế

Thứ hai: Trình độ phát triển giáo dục - đào tạo

Giáo dục và đào tạo đóng vai trò quyết định trực tiếp trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Ngày nay, khi tiến bộ khoa học - công nghệ trở thành một nhân tố trực tiếp của lực lượng sản xuất thì chất lượng nguồn nhân lực trở thành nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng Muốn phát triển và

sử dụng khoa học và công nghệ một cách hiệu quả không có con đường nào khác là học tập Theo V.I Lênin: “…việc điện khí hóa không thể do những người mù chữ thực hiện được, mà chỉ biết chữ không thôi cũng không đủ…

Họ phải hiểu rằng điều đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở một nền học vấn hiện đại, và nếu họ không có nền học vấn đó, thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi”

Chính phủ ở các nước trong những năm gần đây đều tăng các nguồn

Trang 29

lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo nhằm phát triển nhanh nguồn lực con người Phương thức đầu tư cũng như quá trình phát triển giáo dục ở mỗi nước có đặc điểm riêng, nên chất lượng nguồn lực con người ở các nước rất khác nhau Các nước công nghiệp phát triển và một số nước công nghiệp mới, đầu tư rất lớn cho giáo dục, đào tạo (20% tổng ngân sách nhà nước), nhằm phát triển nhanh chất lượng nguồn lực con người Chính phủ các nước đều nhận thấy một nền giáo dục hoàn chỉnh, đồng bộ và toàn diện sẽ có khả năng cung cấp cho nền kinh tế quốc dân "đội ngũ các nhà khoa học, những người lao động

có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, năng động, sáng tạo" Đó là nguồn vốn quý giá để phát triển kinh tế và thực hiện Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Đối với cá nhân mỗi người, giáo dục là quá trình hình thành, phát triển, hoàn thiện nhân cách, thế giới quan với tình cảm, đạo đức Đối với xã hội, giáo dục là quá trình "tích tụ nguồn vốn con người" để chuẩn bị và cung cấp nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Đối với nước

ta, giáo dục phổ thông là nền tảng, là cơ sở để đào tạo nguồn lực con người Giáo dục chuyên nghiệp trực tiếp sản xuất ra sản phẩm cung cấp cho thị trường sức lao động, những người lao động với những tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa Do vị trí quan trọng của giáo dục, đào tạo đối với sự hình thành và phát triển nguồn lực con người nên đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồn lực con người

Đối với nước ta, nguồn lực con người được coi là nguồn nội lực cơ bản nhất để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giáo dục là khâu quyết định chăm lo cho con người; hình thành trí tuệ, kiến thức, phương pháp lao động Muốn thực hiện điều đó thì cần phải cải cách giáo dục và đào tạo một cách căn bản và mạnh mẽ Đại hội XI của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định:

“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền

Trang 30

giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020 đã khẳng định: Quy mô giáo dục được phát triển hợp lý, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tạo cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân

Thứ ba: Truyền thống dân tộc và sự phát triển văn hóa

Có thể nói, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình biến đổi mọi mặt đời sống của con người và cộng đồng, vì vậy, công nghiệp hóa chỉ có thể tiến hành thành công trong một môi trường văn hóa phù hợp

Ngày nay, văn hóa đang trở thành động lực của sự phát triển kinh tế Văn hóa là tổng thể những tư tưởng, tình cảm, tập quán, thói quen trong tư duy, lối sống và ứng xử của mỗi người, cộng đồng - đó là yếu tố tinh thần trong chất lượng nguồn lực con người

Mỗi quốc gia, dân tộc có nền văn hóa mang bản sắc riêng và có một giá trị riêng độc đáo Sự thành công của công nghiệp hóa và phát triển kinh tế của Nhật Bản là một điển hình về vai trò của văn hóa, truyền thống dân tộc đối với sự phát triển, sử dụng và phát huy có hiệu quả nguồn lực con người

Nền văn hóa và truyền thống của dân tộc Việt Nam là "tài sản thừa kế của các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau" Văn hóa và truyền thống dân tộc là một nhân tố đặc biệt quan trọng để hình thành và phát triển nguồn lực con người Việt Nam Định hướng xã hội chủ nghĩa của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải gắn động lực kinh tế với văn hóa nhằm đem lại sự phát triển bền vững

Quá trình hình thành và thực hiện sự bình đẳng về cơ hội phát triển của

Trang 31

mọi người; đề cao chất lượng cuộc sống; coi trọng giữ gìn bản sắc dân tộc, gắn với phát triển văn minh của thời đại, đó chính là môi trường văn hóa lành mạnh của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Môi trường văn hóa là cơ

sở phát triển con người cũng như nguồn lực con người đúng hướng, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị trường đối với nguồn lực con người

Việc Nhà nước tạo lập môi trường văn hóa phù hợp cho sự phát triển nguồn lực con người, là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả, thời gian và định hướng đúng đắn của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam

Thứ tư: Cơ chế, chính sách kinh tế - xã hội vĩ mô của Nhà nước

Các chính sách vĩ mô của nhà nước có tác động quan trọng đến nguồn lực con người đặc biệt là chính sách kinh tế - xã hội như: Chính sách phát triển giáo dục cơ bản – tạo nền móng ban đầu, là tiền đề cần thiết cho phát triển đào tạo nguồn nhân lực và là nhân tố cơ bản của phát triển nguồn nhân lực; chính sách phát triển đào tạo nguồn nhân lực bao gồm chính sách về quy

mô đào tạo, chính sách về cơ cấu đào tạo, chính sách tài chính trong phát triển đào tạo nguồn nhân lực, chính sách thu hút và sử dụng nguồn nhân lực, chính sách về thị trường lao động, chính sách tiền lương, thu nhập, bảo hiểm xã hội, thất nghiệp, bảo hộ lao động

Nhà nước ta đã tạo ra môi trường pháp lý cho quá trình hình thành và phát triển nguồn lực con người bằng các chính sách vĩ mô của Nhà nước Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống các chính sách luôn thay đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện, đồng thời phản ánh bản chất của quan hệ sản xuất Chính sách đúng đắn và hợp lý là môi trường, động lực, đòn bẩy kích thích sự phát triển của cá nhân, cộng đồng theo xu hướng tiến bộ Ngược lại, các chính sách không phù hợp sẽ có tác động kìm hãm sự phát triển, thui chột năng lực và tư duy sáng tạo của mỗi người, làm biến dạng động lực cạnh tranh, gây ra tâm lý chán nản, mất lòng tin, kéo lùi sự tiến bộ của con người,

Trang 32

ảnh hưởng tới chất lượng nguồn lực con người

Hệ thống các chính sách là sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của giai cấp thống trị trong điều hành, quản lý xã hội hướng tới mục tiêu mà nhà nước đã hoạch định Hiệu quả của hệ thống các chính sách được đo ở hoạt động kinh

tế - xã hội, ở sự phát triển của mỗi người và nguồn lực con người

Hiện nay, cơ chế thị trường tác động rất lớn đến sự phát triển của con người, nguồn lực con người Chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước ta không chỉ tạo môi trường thuận lợi mà còn hạn chế tác động tiêu cực của thị trường đối với nguồn lực con người

Trong bối cảnh đời sống quốc tế hóa, khu vực hóa ngày càng phát triển,

sự phát huy nguồn lực con người của mỗi nước luôn chịu tác động của hội nhập nguồn lực con người khu vực và thế giới Ngày nay, trình độ tri thức, thể lực của nguồn lực con người ở các nước có nền kinh tế phát triển đã vượt xa nguồn lực con người Việt Nam Đây là thách thức lớn đối với nguồn lực con người Việt Nam Nền kinh tế thị trường thế giới, khu vực mang theo cả nhân

tố tích cực và tiêu cực cùng tác động đến sự phát triển của nguồn lực con người Việt Nam Nhà nước có vai trò tạo môi trường thuận lợi để phát triển nhanh nguồn lực con người, nhằm hội nhập vào nguồn lực con người thế giới, đồng thời ngăn cản sự tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến sự phát triển nguồn nhân lực

Quá trình hình thành, phát huy nguồn lực con người ở Việt Nam chịu

sự tác động của các nhân tố trên Mỗi nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn lực con người, bởi vậy, Nhà nước cần sử dụng tổng hợp các nhân tố để kích thích, định hướng quá trình phát triển và phát huy nguồn lực con người nhằm đáp ứng yêu cầu trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 33

1.3 VAI TRÒ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HIỆN NAY

1.3.1 Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao phải là nguồn nhân lực với bốn đặc trưng chính: có trí tuệ, nhân cách, tay nghề vượt trội và có năng lực thực tế hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách xuất sắc nhất so với mặt bằng chung phù hợp với nền kinh tế - xã hội hiện đại mang tính chất tri thức

1.3.2 Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao

Một là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện tiên quyết đảm bảo

sự thành công của sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn

Đối với nguồn nhân lực quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa sẽ thúc đẩy sự phát triển, sự thay đổi về nhiều mặt Chẳng hạn, nó làm thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực, làm chuyển biến từ một cơ cấu lạc hậu sang một cơ cấu tiến bộ hơn; cơ cấu các khu vực lớn trong kinh tế, cơ cấu các ngành kinh tế kỹ thuật, cơ cấu trong nội bộ mỗi ngành, cơ cấu nguồn nhân lực ở từng vùng, từng địa phương cho đến cơ cấu nguồn nhân lực trong nội bộ từng doanh nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một yếu tố tác động rất mạnh đến nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực

Đối với Việt Nam, bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, tiếp cận kinh tế tri thức trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là trí lực có ý nghĩa quyết định tới sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển bền vững Bởi vì: Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, riêng về kinh tế, mục tiêu này ngày càng mở rộng được thị trường, bán được nhiều hàng hóa dịch vụ Muốn thế, phải có sức mạnh trong cạnh tranh, tức là chất lượng và giá cả Chất lượng và giá cả hàng hóa lại phụ thuộc vào hai yếu tố chủ chốt: đó là trình độ công nghệ

Trang 34

của sản xuất và trình độ chuyên môn, kỹ thuật của nguồn nhân lực Hơn nữa, quá trình hội nhập kinh tế thế giới là quá trình giao lưu, trao đổi giữa Việt Nam và các nước trên thế giới về hàng hóa dịch vụ, tiền tệ, công nghệ mới, nguồn nhân lực… theo hai chiều ra và vào Nguồn vốn đầu tư nước ngoài và công nghệ mới vào Việt Nam kéo theo công việc làm, các nghề mới, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý… Những diễn biến này tác động trực tiếp vào nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam

Do vậy, phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam đặc biệt quan trọng cho

sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế Cho nên, cần tạo ra và cải thiện tất cả các điều kiện cần thiết để phát triển nguồn nhân lực nhanh, có chất lượng, đáp ứng nhu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế

Hai là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu và tăng trưởng nhanh

Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn về nguồn nhân lực chất lượng cao Tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao còn thấp so với nhu cầu của thực tế Đến năm 2005, lao động qua đào tạo có tăng, song đến nay mới chỉ đạt 24,8% chỉ tăng 2,2% so với năm trước (chưa đạt mục tiêu do đại hội IX của Đảng đề ra là 30%)

Trong khi dư thừa rất lớn lao động phổ thông, thì lại thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ cao, nhất là lao động cung cấp cho các khu công nghiệp, khu chế xuất và cho xuất khẩu lao động Đây là tình trạng đáng báo động, không phù hợp với quy luật tăng trưởng là tỷ lệ tăng trưởng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật bao giờ cũng phải cao hơn tốc độ tăng GDP để đảm bảo tăng GDP một cách vững chắc

Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, chủ yếu vẫn là nước

Trang 35

nông nghiệp, nên ngay cả nguồn nhân lực được gọi là chất lượng cao vẫn còn mang nặng thói quen và tập quán của người tiểu nông, thiếu năng động, tính

tổ chức kỷ luật trong nền sản xuất công nghiệp hiện đại còn yếu, thích tự do, tác phong công nghiệp, trình độ văn hóa còn thấp Chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn khoảng cách khá xa so với một số nước Đông Á Cụ thể, ta đang ở mức gần tương đương với Indonesia, nhưng thua hầu hết các nước và lãnh thổ khác như Nhật bản, Hàn quốc, Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Malaysia, Hồng Kông, Thái Lan, Philippin Từ đó dẫn đến một loạt các yếu kém khác như trình độ vận dụng khoa học kỹ thuật kém, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm cao và dương nhiên dẫn đên sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn ở vị trí rất thấp Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới, đã không được cải thiện hơn mà còn suy giảm Năm 2004, xếp hạng 77/104 nước Năm 2005 tụt xuống thứ 81/104 nước

Với mục tiêu phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp, có cơ cấu công, nông và dịch vụ trong GDP chiếm khoảng 85-90%, nông nghiệp chỉ còn 10-15% thì nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao theo dự báo như sau:

Bảng 1.1: Dự báo nhu cầu đào tạo

Năm Tỷ lệ lao động được đào

tạo(%)

Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề(%)

(Nguồn: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho sự nghiệp công

nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nguyễn Đình Luận, Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tháng 7/2005)

Trang 36

Như vậy, vấn đề cơ bản, có tính chất chiến lược trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là phải tăng nhanh về số lượng để nâng cao tỷ lệ lao động được đào tạo, đặc biệt chú trọng đào tạo nghề, đảm bảo cơ cấu đào tạo hợp lý giữa đại học, cao đẳng trở lên so với trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề, đồng thời nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất và năng lực phù hợp với yêu cầu kinh tế tri thức ở Việt Nam, có như thế mới rút ngắn được khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực và thế giới, góp phần tăng trưởng nhanh và bền vững

Ba là: Nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chủ yếu tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức

Thực tế, quá trình công nghiệp hóa ở các quốc gia trên thế giới cho thấy: trong tiến trình công nghiệp hóa, nếu nước nào biết dựa vào việc khai thác và

sử dụng năng lực của nguồn nhân lực, thì luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao

và ổn định như Nhật Bản, Phần Lan, Ireland là những nước nghèo tài nguyên nhất, nhưng đã vươn lên thành những quốc gia giàu có hàng đầu

Không ai nhiều dầu lửa hơn các nước Trung Đông, nhưng chưa có quốc gia nào ở đó vượt lên để gia nhập nhóm các nước phát triển mà mãi vẩn dừng lại ở các nước đang phát triển Không đâu đất đai rộng lớn hơn châu Phi Nhưng hầu hết các quốc gia đó vẫn đang ở mức “kém phát triển”

Như vậy, nhân tố đóng vai trò quyết định cho sự phát triển bền vững của các quốc gia chính là nguồn nhân lực chất lượng cao, chứ không chỉ là nguồn của cải vật chất Do vậy, hình thành và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao là yếu tố quan trọng nhất không chỉ trong sự phát triển kinh tế-

xã hội của mỗi quốc gia, mà còn tạo cơ hội tiếp cận kinh tế tri thức

Tóm lại: Động lực, mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát

triển tới bản thân con người cũng nằm trong chính bản thân con người Điều

Trang 37

đó lý giải tại sao con người, mà trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao, được coi là nhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển kinh tế-

xã hội Đối với Việt Nam, chưa bao giờ cơ hội cất cánh lại lớn như ngày nay Với WTO, đường bay đã sẵn sàng Bay nhanh bao nhiêu, bay cao bao nhiêu thuộc về cánh bay nào và nhiên liệu nào Cánh bay của chúng ta là nguồn nhân lực chất lượng cao Và nhiên liệu chính là tri thức

1.3.3 Chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực nước ta

Trong các nguồn lực có thể khai thác như nguồn lực tự nhiên, nguồn lực khoa học công nghệ, nguồn lực con người thì nguồn lực con người là quyết định nhất bởi lẽ những nguồn lực khác chỉ có thể khai thác có hiệu quả khi nguồn lực con người được phát huy Những nguồn lực khác ngày càng cạn kiệt, ngược lại nguồn lực con người ngày càng đa dạng và phong phú Các lĩnh vực khoa học khác nhau có thể hiểu nguồn lực theo những cách khác nhau, nhưng chung nhất nguồn lực là một hệ thống các nhân tố mà mỗi nhân

tố đó có vai trò riêng nhưng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau tạo nên sự phát triển của một sự vật, hiện tượng nào đó Từ cách hiểu như vậy, nguồn lực con người là những yếu tố có thể huy động, sử dụng để thúc đẩy nền kinh tế đất nước và sự phát triển xã hội Khi chúng ta nói tới nguồn lực con người là nói tới con người với tư cách là chủ thể của quá trình sáng tạo tham gia cải tạo tự nhiên, làm biến đổi xã hội Tỷ trọng (%) các khối kinh tế trong GDP Ngành Năm Nông nghiệp Công nghiệp Dịch vụ 1998 25,75 33,35 41 2010 17 40 43 Nói đến nguồn lực con người là nói đến chất lượng và số lượng nguồn nhân lực Chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Thực trạng đó ở nước ta như sau:

Cơ cấu ngành còn bất hợp lý Cơ cấu vùng miền chưa hợp lý Bình quân chung nước ta là 118 sinh viên/ 1 vạn dân, nhưng Tây Bắc là 17 sinh viên/ 1 vạn dân Hình thức đào tạo: - Chính quy : 509637 - Chuyên tu, tại chức:

Trang 38

235975 Tỉ lệ giáo viên/ sinh viên còn cao dẫn đến giáo viên phải làm việc

“chạy xô” Trong dạy nghề có 157 trường dạy nghề, hơn 190 trường đại học nhưng đầu tư kinh tế còn nhỏ Như thế nền kinh tế nước ta chủ yếu dùng sức người với một số yếu tố của tri thức

Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định : “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tạo chuyển biến cơ bản toàn diện về giáo dục - đào tạo ….Đào tạo lớp người lao động có kiến thức cơ bản làm chủ kỹ năng, nghề nghiệp, quan tâm hiệu quả thiết thực, nhạy cảm với cái mới có ý thức vươn lên về khoa học và công nghệ Xây dựng đội ngũ công nhân lành nghề, các chuyên gia và nhà khoa học, nhà văn hoá, nhà kinh doanh, nhà quản

lý Chính sách sử dụng lao động và nhân tài phải tận dụng mọi năng lực phát huy, mọi tiềm năng của các tập thể và cá nhân phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế -xã hội 10 năm (2001-2010 ) là : “Đưa nước

ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế quốc phòng an ninh được tăng cường, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”

Để thực hiện mục tiêu đó trong 10 năm tới cần: Phát triển giáo dục mầm non, cũng cố vững chắc kết quả xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học tiến hành phổ cập trung học cơ sở trong cả nước Phần lớn thanh thiếu niên trong độ tuổi ở thành thị và vùng nông thôn đang được học hết trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp và được đào tạo nghề Điều chỉnh cơ cấu bậc học, cơ

Trang 39

cấu ngành nghề, cơ cấu vùng, cơ cấu dân tộc…trong hệ thống giáo dục - đào tạo phù hợp với yêu cầu học tập của nhân dân và phát triển kinh tế xã hội và các mục tiêu của chiến lược Chú trọng giáo dục hướng nghiệp thiết thực trong trường phổ thông Mở rộng đào tạo công nhân kỹ thuật viên và nhân viên nghiệp vụ theo nhiều trình độ Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học sau đại học tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia ngang tầm khu vực tiến tới đạt trình độ quốc tế Phát triển giáo dục thường cuyên và giáo dục từ xa Khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cả nước bộ chương trình và sách giáo khoa phổ thông phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI

Mục tiêu và phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo nguồn nhân lực nước ta Phát triển toàn diện con người cần đạt tới những giá trị xã hội sau đây Con người có bản lĩnh, lý tưởng, niềm tin và quyết tâm thực hiện sứ mệnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Con người cần có tác phong công nghiệp Con người có sức khoẻ cường tráng Có nhân cách đậm đà bản sắc dân tộc tiếp thu tinh hoa văn minh nhân loại, sống nhân ái, tình nghĩa Có đủ trí tuệ, đầu óc duy lý của thời đại và kĩ năng lao động lành nghề Có tinh thần công dân sống và làm việc theo pháp luật, thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa

vụ của mình Ngoài ra ta cần chú ý đến sự công bằng trong giáo dục, chú ý đến vai trò của người thầy [Phạm Minh Hạc, Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá - trang 260] Cần đổi mới nền giáo dục nước ta, vừa phù hợp hoàn cảnh riêng của nước ta, vừa thống nhất chung với văn hoá và văn minh nhân loại UNESCO đưa ra “ Bốn trụ cột của giáo dục” thế kỉ XXI : Học để biết Học để làm Chú ý tới học đi đôi với hành Học cùng chung sống, học cách sống với người khác Học để tự khẳng định mình Toàn bộ hệ thống giáo dục - đào tạo, từ tiểu học đến đại học, phải tập trung phục vụ mục tiêu này, làm cho tinh thần hướng nghiệp cùng với hướng

Trang 40

học đi vào từ giờ học, từng học sinh như cha ông ta đã từng dạy “Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”, chấm dứt động cơ đi học vì mảnh bằng “Hư văn” (Phạm Văn Đồng) Các môn học, cả khoa học xã hội - nhân văn lẫn khoa học tự nhiên, đều phải dạy theo tinh thần kỹ thuật tổng hợp, gắn bó các nội dung khoa học Thời đại ngày nay là thời đại lao động ngày càng căng thẳng đòi hỏi trí tuệ cao và có ý thức trong công việc Do đó, phát triển giáo dục con người trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nhân tài nói chung và nhân tài trong quản lý nói riêng không phải tự nhiên mà có mà nhân tài chính là sản phẩm của một quá trình đào tạo rèn luyện và tự rèn luyện rất lâu dài và công phu Cần nhận dạng nhân tài bằng hình thức thi cử và đặt ra nhiều tiêu chí Để nhân tài có thể phát triển được thì phải có điều kiện: Thứ nhất nhân tài trước hết phải được đào tạo rất cẩn thận, tu dưỡng, rèn luyện, tự tích luỹ kinh nghiệm và kiến thức trong một môi trường thuận lợi thúc đẩy con người luôn sáng tạo và hành động Thứ hai, phải có các nguồn lực và dành cho mỗi người một khả năng lựa chọn và huy động tổ chức các nguồn lực thực hiện có hiệu quả mục đích đã đề ra Tóm lại, điều kiện nảy sinh và phát triển nhân tài là phải có một nền giáo dục tiên tiến có sự kết hợp hài hoà giữa ba yếu tố nhà trường - gia đình - xã hội cùng quan tâm đến thế hệ trẻ và giáo dục Kết luận Ngày nay, với cuộc cách mạng kỹ thuật công nghệ hiện đại, đã dần dần đi đến khẳng định sự phát triển con người là yếu tố quyết định của mọi sự phát triển Trong sự phát triển con người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của trí tuệ và đi liền với nó là vai trò của giáo dục đào tạo nguồn lực con người Đối với sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nước ta phải coi nhân tố con người là nhân tố quyết định, từ đó phải nâng cao dân trí cũng như chuẩn bị tốt nguồn nhân lực

có đủ trí tuệ và nghị lực, tay nghề và công nghệ, ý thức và tâm hồn thấm đượm sâu bản sắc dân tộc, khoa học và ý chí, thực hiện sự chuyển mình từ một xã hội nông nghiệp thành xã hội công nghiệp theo định hướng xã hội chủ

Ngày đăng: 04/04/2022, 23:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng (2010), Triết học, NXB Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học
Tác giả: Lê Hữu Ái, Nguyễn Tấn Hùng
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2010
[4]. Ban Tuyên giáo Trung ƣơng (2013), Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam khoá X (dành cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), nXB Chính trị Quốc gia, hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam khoá X
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ƣơng
Năm: 2013
[5]. Bộ KH&CN (2003), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và công nghệ Việt Nam 2003
Tác giả: Bộ KH&CN
Năm: 2003
[6]. Nguyễn trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề về Triết học - Con người xã hội, NXB Khoa học xã hội, hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Triết học - Con người xã hội
Tác giả: Nguyễn trọng Chuẩn
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2002
[7]. Phạm Văn Đồng, Về vấn đề giáo dục - đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề giáo dục - đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
[9]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1948), Văn kiện Đảng, Toàn tập, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng, Toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1948
[10]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
[11]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
[12]. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành trung ương khoá VIII, NXB Chính trị quốc gia, hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1997
[13]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
[14]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
[15]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
[16]. Phạm Tất Giá (Tổng luận). Những xu thế phát triển giáo dục đại học trong thế giới hiện đại, Tƣ liệu thông tin khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu thế phát triển giáo dục đại học trong thế giới hiện đại
[17]. Phạm Minh Hạc (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996
[18]. Dương Anh Hoàng (2012), Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố đà nẵng, nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố đà nẵng
Tác giả: Dương Anh Hoàng
Nhà XB: nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
[19]. Nguyễn Duy Hùng (2012), “Tổng thuật Hội thảo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá về hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản (839), tr.45-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng thuật Hội thảo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá về hội nhập quốc tế”
Tác giả: Nguyễn Duy Hùng
Năm: 2012
[20]. Nguyễn Văn Khánh (2012), Nguồn lực trí tuệ Việt Nam lịch sử, hiện trạng và triển vọng, NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực trí tuệ Việt Nam lịch sử, hiện trạng và triển vọng
Tác giả: Nguyễn Văn Khánh
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2012
[21]. Phan Văn Khải, Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học - công nghệ và các cơ quan Chính phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế. Báo Nhân Dân. 11/1/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường sự hợp tác giữa các doanh nghiệp với các nhà khoa học - công nghệ và các cơ quan Chính phủ để nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh nền kinh tế
[22]. Kỷ yếu hội thảo khoa học “Chiến lược và quy hoạch phát triển đất nước bước vào thế kỷ XXI”, 2000, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chiến lược và quy hoạch phát triển đất nước bước vào thế kỷ XXI”
[23]. Hồ Ngọc Luật, 2011. Khoa học và Công nghệ với phát triển kinh tế-xã hội: Nhìn từ giác độ khoa học tính toán. Hoạt động Khoa học, Số tháng 3-2011, 9-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và Công nghệ với phát triển kinh tế-xã hội: Nhìn từ giác độ khoa học tính toán. Hoạt động Khoa học

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - (luận văn thạc sĩ) yếu tố con người trong lực lượng sản xuất với việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố đà nẵng hiện nay
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 7)
Bảng 2.2. GDP Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2011 (theo GCĐ 1994) - (luận văn thạc sĩ) yếu tố con người trong lực lượng sản xuất với việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố đà nẵng hiện nay
Bảng 2.2. GDP Đà Nẵng giai đoạn 1997 – 2011 (theo GCĐ 1994) (Trang 62)
Bảng 2.3. Cơ cấu GDP theo ngành của Đà Nẵng - (luận văn thạc sĩ) yếu tố con người trong lực lượng sản xuất với việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao ở thành phố đà nẵng hiện nay
Bảng 2.3. Cơ cấu GDP theo ngành của Đà Nẵng (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm