1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(luận văn thạc sĩ) quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh đăk lăk

156 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Nhà Nước Về Đất Đai Trên Địa Bàn Tỉnh Đăk Lăk
Tác giả Văn Nguyên
Trường học Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản Lý Nhà Nước
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2015
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 6,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (9)
  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (10)
  • 3. Câu hỏi hay giả thiết nghiên cứu (10)
  • 4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu (11)
  • 5. Phương pháp nghiên cứu (11)
  • 6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài (12)
  • 7. B Ố cục luận văn (12)
  • CHƯƠNG 1. NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (17)
    • 1.1. ĐẤT ĐAI (17)
    • 1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (21)
      • 1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai (21)
      • 1.3.1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó (23)
      • 1.3.2. Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (25)
      • 1.3.3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (27)
      • 1.3.4. Giao đất, cho thuê đất, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng đất (0)
      • 1.3.5. Quản lý tài chính về đất đai (32)
      • 1.3.7. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất (36)
    • 1.4. CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI (0)
      • 1.4.1. Công cụ quản lý nhà nước về đất đai (37)
      • 1.4.2. Phương pháp quản lý nhà nước về đất đai (41)
    • 1.5. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG (44)
      • 1.5.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai Q. Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh (44)
      • 1.5.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định (46)
      • 1.5.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng (46)
      • 1.5.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (47)
      • 1.5.5. Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước về đất đai (48)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK (49)
    • 2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐĂK LĂK VÀ SỞ TÀI NGUYÊN& MÔI TRƯỜNG (49)
      • 2.1.1. Giới thiệu chung về tỉnh Đăk Lăk (49)
      • 2.1.2. Giới thiệu về Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đăk Lăk (51)
      • 2.2.2. Thực trạng sử dụng đất (56)
    • 2.3. T (62)
      • 2.3.1. Về tổ chức bộ máy (62)
      • 2.3.2. Triển khai thi hành Luật Đất đai (63)
      • 2.3.3. Công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (66)
      • 2.3.4. Điều tra phân hạng đất, đánh giá tiềm năng đất đai (72)
      • 2.3.5. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (73)
      • 2.3.6. Công tác giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất (76)
      • 2.3.7. Quản lý tài chính về đất đai (80)
      • 2.3.8. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất và Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai (84)
      • 2.3.9. Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai; giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất (87)
    • 2.4. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC VÀ HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TẠI TỈNH ĐĂK LĂK (88)
      • 2.4.1. Đánh giá chung về những kết quả đạt đƣợc (88)
      • 2.4.2. Hạn chế yếu kém (94)
      • 2.4.3. Nguyên nhân tồn tại quản lý nhà nước về đất đai (108)
  • CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐĂK LĂK (115)
    • 3.1.1. Định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đăk Lăk (115)
    • 3.1.2. Tiềm năng đất đai (125)
    • 3.1.3. Dự báo nhu cầu sử dụng đất đến năm 2020 (126)
    • 3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH ĐĂK LĂK (127)
      • 3.2.1. Giải pháp hoàn thiện công cụ và phương pháp quản lý nhà nước về đất đai của cơ quan quản lý cấp tỉnh (127)
      • 3.2.2. Giải pháp hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về đất đai của tỉnh Đăk Lăk (128)
    • 1. Kết luận (133)
    • 2. Kiến nghị (134)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những chiến lược phát triển quan trọng của mỗi quốc gia là thực hiện hiệu quả chính sách quản lý tài nguyên, trong đó tài nguyên đất đóng vai trò then chốt cho mọi ngành sản xuất Hiện nay, với sự gia tăng dân số và quá trình đô thị hóa nhanh chóng, việc quản lý đất đai trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Quản lý nhà nước về đất đai có ảnh hưởng lớn đến nhiều lĩnh vực của kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường Điều này thể hiện qua việc thu hút đầu tư, phụ thuộc vào các quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, giá đất, tiến độ giải phóng mặt bằng và thủ tục hành chính Hơn nữa, sự ổn định chính trị - xã hội cũng liên quan chặt chẽ đến thu nhập, việc làm của người nông dân cũng như tình hình khiếu kiện và tranh chấp đất đai Do đó, thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai là vô cùng quan trọng.

Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi trong quản lý nhà nước về đất đai Luật Đất đai lần đầu được ban hành vào năm 1987, đã trải qua hai lần sửa đổi vào năm 1998 và 2001, cùng với hai lần ban hành luật mới vào năm 1993 và 2003 Tuy nhiên, hiện nay, tình hình quan hệ về đất đai đang xuất hiện nhiều vấn đề mới và phức tạp Công tác quản lý nhà nước về đất đai vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới của cơ chế thị trường.

Nghiên cứu thực tiễn thi hành luật là cần thiết để đề xuất sửa đổi, bổ sung phù hợp với các yêu cầu mới.

Trong những năm qua, công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại tỉnh Đăk Lăk đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn tồn tại một số hạn chế Tình trạng sử dụng đất chưa hiệu quả vẫn diễn ra, với đa số diện tích đất chưa được khai thác hợp lý.

Nhiều khu vực ở vùng sâu, vùng xa chưa được cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất (GCN QSDĐ), chủ yếu do các hộ đồng bào dân tộc thiểu số không đăng ký hoặc không thực hiện thủ tục ghi nợ tiền sử dụng đất Sau khi rà soát và giải thể các nông, lâm trường, diện tích đất thu hồi đã được bàn giao cho địa phương, nhưng vẫn thiếu kinh phí để đo đạc, lập bản đồ địa chính và cấp GCN QSDĐ.

Tại tỉnh Đắk Lắk, tình trạng cán bộ địa chính cấp xã chưa chú trọng đến việc cập nhật và chỉnh lý hồ sơ địa chính đã dẫn đến một số hồ sơ không được điều chỉnh kịp thời, thông tin về các thửa đất chưa đầy đủ Để đánh giá hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và đô thị hóa từ 2005 đến 2013, cần nghiên cứu thực trạng công tác này nhằm nhận diện những thành tựu và tồn tại Từ đó, đề xuất các biện pháp khắc phục phù hợp để khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai, đáp ứng nhu cầu cấp thiết hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản QLNN về đất đai

- Phân tích thực trạng QLNN về đất đai tại địa bàn tỉnh Đăk Lăk

Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai tại tỉnh Đăk Lăk, cần đề xuất một số giải pháp như tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về quyền và nghĩa vụ liên quan đến đất đai Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống pháp lý và chính sách liên quan đến quản lý đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư và phát triển kinh tế Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý đất đai cũng là một yếu tố quan trọng, giúp cải thiện tính minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý Cuối cùng, cần tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm để đảm bảo việc thực hiện các quy định pháp luật về đất đai, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững cho tỉnh Đăk Lăk.

Câu hỏi hay giả thiết nghiên cứu

- Thực trạng công tác quản lý đất đai tại tỉnh Đăk Lăk trong giai đoạn từ 2005 - 2013 nhƣ thế nào?

- Những ƣu điểm, cũng nhƣ các tồn tại bất cập? Nguyên nhân của vấn đề đó là gì?

- Phải làm thế nào để công tác QLNN về đất đai tốt hơn góp phần vào sự phát triển tỉnh Đăk Lăk nói chung?

Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu

- Đối tƣợng: Luận văn chủ yếu nghiên cứu các nội dung và công cụ sử dụng trong QLNN về đất đai (theo quy định của Luật Đất đai năm 2003,

Bài viết năm 2013 đã đánh giá tình hình sử dụng một số loại đất, nhằm làm rõ nhiệm vụ quản lý và các yếu tố khác ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai.

Nghiên cứu này tập trung vào tỉnh Đăk Lăk, phân tích tác động của Luật Đất đai (sửa đổi) từ năm 1993 đến nay, với trọng tâm là giai đoạn 2005-2013 Một số số liệu minh hoạ và đánh giá có thể được lấy từ phạm vi vùng hoặc toàn quốc, cả trong và ngoài các mốc thời gian đã đề cập.

Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu không chỉ áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, mà còn sử dụng các phương pháp điều tra thực tế, thống kê, so sánh, phân tích và đánh giá thông tin qua sách báo và thư viện Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của nghiên cứu.

Các phương pháp thu thập tài liệu, thông tin, được sử dụng trong nghiên cứu:

- Kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó

- Tổng hợp các nguồn số liệu thông qua các báo cáo, tổng kết của các sở, ban, ngành của tỉnh Đăk Lăk

- Tìm thông tin thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như: Báo chí, internet

- Kết hợp các phương pháp thu thập thông tin, tài liệu, số liệu để có dữ liệu nghiên cứu, phân tích đầy đủ

Có nhiều phương pháp nghiên cứu quản lý đất đai, nhưng bài viết này tập trung vào khía cạnh kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Bài viết này hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản của quản lý nhà nước về đất đai tại tỉnh Đắk Lắk, làm rõ các mối quan hệ trong quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn Đồng thời, phân tích và thảo luận về vai trò của quản lý nhà nước về đất đai của các cơ quan chức năng, cũng như xây dựng và đánh giá hiệu quả quản lý thông qua các chỉ tiêu đánh giá cụ thể.

Luận án không chỉ đưa ra các đề xuất và biện pháp quản lý nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai, mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại tỉnh Đăk Lăk Bên cạnh đó, các lý luận và kiến nghị trong luận án có thể được áp dụng chung cho quản lý nhà nước về đất đai tại tỉnh này, đồng thời cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác giảng dạy.

B Ố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý nhà nước về đất đai

Chương 2: Thực trạng QLNN về đất đai trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

Theo thông tin từ Thư viện Quốc gia và các nguồn khác, nghiên cứu về quản lý nhà nước về đất đai đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới Một trong những chủ đề quan trọng trong lĩnh vực này là "Chính sách về đất đai" (Land policy Reforms), được đánh giá có giá trị khoa học cao.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới vào năm 2003 và 2004 đã chỉ ra rằng chính sách quản lý đất đai và các khuyến khích đầu tư của địa phương có thể ảnh hưởng lớn đến tốc độ và mô hình phát triển đô thị Những quy định và phương thức quản lý của chính quyền địa phương, cùng với áp lực từ các quy định pháp luật, có thể thay đổi những tác động dự kiến trong quản lý đất đai Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chính sách đất đai trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm nghèo.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (2004) chỉ ra mối liên hệ giữa chính sách quản lý nhà nước về đất đai và xu hướng sử dụng đất, ảnh hưởng đến phát triển và nghèo đói ở các nước đang phát triển Bài viết cũng đề xuất các giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo và thúc đẩy phát triển bền vững Ngoài công trình này, còn có một số nghiên cứu khác nhưng có mức độ hạn chế hơn.

Sự khác biệt về văn hóa, xã hội và trình độ phát triển kinh tế, khoa học dẫn đến những quan niệm khác nhau về đất đai và sở hữu đất đai, tạo ra sự đa dạng trong hệ thống quản lý nhà nước về đất đai giữa các quốc gia Những nghiên cứu này không chỉ có giá trị khoa học cao mà còn là tài liệu quý báu để tham khảo và học tập kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai cho Việt Nam Một số kinh nghiệm chính được các nhà nghiên cứu đề xuất bao gồm việc áp dụng các mô hình quản lý hiệu quả và phát triển chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương.

Người sử dụng đất sẽ có xu hướng đầu tư nhiều hơn vào bất động sản nếu quyền sở hữu đất đai của họ được phân chia và gia tăng, cùng với sự tăng trưởng tính linh hoạt của đất đai trong thị trường bất động sản.

Cải thiện hệ thống thông tin về đất đai là một nhiệm vụ cần thiết và phải được thực hiện thường xuyên Ngay cả những quốc gia có thị trường đất đai phát triển cũng phải chịu thiệt hại do thiếu thông tin đầy đủ.

Bất động sản đang đóng vai trò quan trọng trong chính sách tiền tệ hiện nay, nhưng nhiều ngân hàng thừa nhận họ không hiểu rõ tình hình diễn ra.

Thị trường đất đai cần được kiểm tra và kiểm soát thường xuyên để hiểu rõ các quá trình vận hành của nó Mô hình xây dựng thị trường bất động sản phức hợp của Wallece và Williamson (2005) bao gồm các yếu tố như đăng ký đất đai, định giá đất đai, năng lực nhận thức (cam kết, sự tham gia, minh bạch, tính sáng tạo, tư duy trừu tượng) và các dịch vụ tài chính Sự phối hợp nhịp nhàng giữa Nhà nước và tư nhân là rất quan trọng để phát triển thị trường này.

Các chính sách quản lý đất đai, xây dựng và phát triển đô thị, cùng với tín dụng tài chính, được triển khai nhằm thúc đẩy tối đa sự phát triển của thị trường bất động sản Nhà nước chỉ can thiệp vào các hoạt động vĩ mô, trong khi các hoạt động kinh doanh và đầu tư khác do khu vực tư nhân đảm nhiệm Hệ thống thông tin đất đai hiện đại, đáng tin cậy và thuận lợi cho người quản lý và sử dụng Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch được thực hiện với sự phối hợp của nhiều bên, bao gồm cả các cơ quan tư pháp như Tòa án và Viện kiểm sát, nhằm đảm bảo việc quản lý đất đai và thực thi luật pháp hiệu quả tại địa phương.

Nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước về quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam đã được thể hiện qua nhiều công trình nghiên cứu cấp Luận án Những nghiên cứu này đóng góp quan trọng vào việc hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý đất đai và chính sách đất đai tại Việt Nam.

Luận án Tiến sỹ kinh tế của Trần Thế Ngọc (1997) tập trung vào "Chiến lược QLĐĐ thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2010", nghiên cứu hướng phát triển quản lý và sử dụng đất cho những năm tiếp theo Luận án Tiến sỹ luật học của Nguyễn Quang Tuyến (2003) mang tên "Địa vị pháp lý người SDĐ trong các giao dịch dân sự, thương mại về đất đai" phân tích các quy định pháp luật và ảnh hưởng của địa vị người sử dụng đất đến giao dịch và phát triển thị trường bất động sản Ngoài ra, đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước của PGS-Tiến sỹ Phạm Hữu Nghị (2000) về "Những quy định về chuyển quyền SDĐ" cũng đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này Bên cạnh đó, Viện nghiên cứu địa chính đã thực hiện nhiều đề tài khoa học cấp Bộ và công bố các bài báo liên quan đến thị trường bất động sản và công tác quản lý đất đai.

GPMB và công tác cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất (GCN QSDĐ) là những vấn đề quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai tại Việt Nam Nghiên cứu từ các nhà khoa học nước ngoài đã chỉ ra những tác động của quy trình giao dịch đất đai đến người nghèo, đặc biệt qua tham luận số 03, “Tác động quy trình giao dịch đất đai đối với người nghèo áp dụng phương pháp DE SOTO” Những nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết và cải thiện chính sách quản lý đất đai trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội.

Nghiên cứu của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) năm 2005 về quy trình giao dịch đất đai đã chỉ ra ảnh hưởng của nó đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng và sự phát triển kinh tế, đặc biệt là đối với người nghèo Đồng thời, báo cáo của chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển "Strengthening Environmental Management and Land Administration" (SEMLA) năm 2006 đã đánh giá hệ thống luật đất đai Việt Nam, so sánh với các hệ thống pháp luật đất đai toàn cầu và đưa ra khuyến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống này.

Các nghiên cứu về quản lý nhà nước về đất đai của các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện lý luận và thực tiễn quản lý đất đai ở Việt Nam Những bài viết này đã chỉ ra nhiều nguyên nhân tồn tại trong quản lý nhà nước về đất đai, từ đó giúp nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển bền vững nguồn tài nguyên đất.

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển, những vấn đề trong quản lý đất đai đã trở thành rào cản cho sự phát triển của đất nước Các bất cập này gây khó khăn cho chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp huyện, trong việc quy hoạch, quản lý và sử dụng đất hiệu quả.

NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

ĐẤT ĐAI

Đất, theo nghĩa thông thường, là lớp mỏng nằm trên bề mặt Trái Đất không bị nước bao phủ Tuy nhiên, trong các lĩnh vực khoa học như kinh tế học, thổ nhưỡng học và địa chất học, khái niệm về đất có thể mang những ý nghĩa và thuật ngữ khác nhau.

Trong kinh tế học, đất được định nghĩa là tất cả các tài nguyên tự nhiên, bao gồm vị trí địa lý, khoáng sản dưới lòng đất và các thành phần của phổ điện từ Theo kinh tế học cổ điển, đất là một trong ba yếu tố sản xuất chính, bên cạnh vốn và lao động Vai trò của đất đai trong nền kinh tế là rất quan trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bổ tài nguyên.

C Mác đã khái quát vai trò của đất đai: “đất đai là đất mẹ, sức lao động là cha, sản sinh ra mọi của cải vật chất”

Đất đai, cùng với lao động và vốn, là một trong ba nguồn lực chính của mọi nền sản xuất trong bất kỳ chế độ xã hội nào Là điều kiện vật chất thiết yếu cho quá trình sản xuất, đất đai không chỉ là chỗ đứng mà còn là địa bàn hoạt động cho tất cả các ngành sản xuất và các hoạt động trong đời sống xã hội Đặc biệt đối với các ngành nông, lâm, thủy sản, đất đai (bao gồm cả diện tích mặt nước) là tư liệu sản xuất không thể thay thế, vừa là tư liệu lao động vừa là đối tượng lao động.

Đất đai đóng vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp, dịch vụ và giao thông, đồng thời là yếu tố thiết yếu cho sự sống của con người và sinh vật Nó không chỉ là nơi cư trú mà còn duy trì sự sống, kết hợp với các yếu tố tự nhiên như nước, không khí và ánh sáng để phát triển hệ sinh thái Hội nghị Bộ trưởng Môi trường châu Âu năm 1973 tại Luân Đôn đã nhấn mạnh rằng "đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài người, tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên trái đất".

Quản lý nhà nước đối với đất đai là cần thiết để khai thác tiềm năng đất đai như một nguồn lực, đồng thời bảo vệ môi trường sống cho xã hội Trong nền kinh tế thị trường, quản lý đất đai giúp hạn chế các tác động tiêu cực từ bên ngoài, bảo vệ môi trường Đất đai không chỉ là yếu tố cấu thành lãnh thổ mà còn gắn liền với lịch sử của mỗi dân tộc Nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới xuất phát từ tranh giành đất đai và tài nguyên, do đó, việc quản lý và bảo vệ đất đai là mục tiêu quan trọng của mọi quốc gia.

Đất đai có diện tích hạn chế và cố định, làm cho nó trở thành loại hàng hóa có cung không thay đổi, với đường cung thẳng đứng theo lý thuyết kinh tế học Đặc điểm này yêu cầu trong quản lý và sử dụng đất phải đảm bảo tính tiết kiệm và hiệu quả Việc bố trí sử dụng các loại đất cần được xem xét kỹ lưỡng, đồng thời cần duy trì sự cân bằng tương đối về cung cho các loại đất khác nhau.

Đất đai có vị trí cố định và không thể di chuyển, điều này gắn liền với môi trường tự nhiên như nguồn gốc hình thành, khí hậu và các tác động từ thiên nhiên Vị trí địa lý của đất đai ảnh hưởng lớn đến giá trị kinh tế trong quá trình khai thác và sử dụng Những khu đất gần đô thị, đường giao thông và khu dân cư thường được khai thác hiệu quả hơn so với những vùng xa xôi, dẫn đến giá trị sử dụng cao hơn Do đó, đặc điểm này cần được đặc biệt chú ý trong việc định giá đất đai.

Đất đai, mặc dù là sản phẩm tự nhiên, lại đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất của con người Qua quá trình sản xuất, đất đai trở thành tư liệu thiết yếu, và con người tác động lên nó một cách đa dạng để khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên Những tác động này có thể thay đổi tính chất của đất, biến đất hoang sơ thành đất canh tác hoặc chuyển đổi mục đích sử dụng Nhờ vào những hoạt động này, đất đai không chỉ là sản phẩm tự nhiên mà còn trở thành sản phẩm của lao động con người.

Con người không thể tạo ra đất đai, nhưng có thể cải thiện chất lượng của nó thông qua lao động Đất đai có khả năng tái tạo và phục hồi độ phì nhiêu nhờ vào các yếu tố tự nhiên và tác động của con người Độ phì của đất thể hiện khả năng cung cấp thức ăn và nước cho cây trồng, đóng vai trò quyết định trong sản xuất nông nghiệp Do đó, việc sử dụng đất nông nghiệp cần tuân thủ nguyên tắc cải tạo và nâng cao độ phì của đất để đảm bảo hiệu quả trong canh tác.

Đất đai có tính đa dạng và phong phú, chủ yếu do đặc tính tự nhiên và sự phân bố cố định trên từng vùng lãnh thổ, cũng như nhu cầu và mục đích sử dụng khác nhau Mỗi loại đất có thể phục vụ nhiều mục đích, điều này yêu cầu quản lý và sử dụng hiệu quả để khai thác triệt để lợi thế của từng loại đất Để đạt được điều này, cần xây dựng quy hoạch tổng thể và chi tiết cho cả nước và từng địa phương.

Quan hệ đất đai không chỉ mang tính kinh tế mà còn chứa đựng nhiều giá trị xã hội sâu sắc Đất đai là tài sản có giá trị lớn, nhưng theo Luật Đất đai 1993, nó còn là thành quả của nhiều thế hệ, được hình thành từ công sức và xương máu của nhân dân Đối với dân tộc Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn và các khu vực dân tộc thiểu số, đất đai còn mang ý nghĩa tinh thần to lớn Tranh chấp đất đai ở nông thôn thường không chỉ vì lý do kinh tế, mà còn liên quan đến các vấn đề về tôn giáo, tín ngưỡng và nghĩa trang, cho thấy tình hình sử dụng đất ngày càng phức tạp Tính cộng đồng trong làng xã cũng ảnh hưởng đến quan hệ đất đai, khi người dân thường yêu cầu di dời cả làng khi tái định cư Những đặc điểm này, mặc dù không chính thống, cần được xem xét nghiêm túc trong quản lý để có các chính sách phù hợp nhằm hạn chế tiêu cực và phát huy mặt tích cực của quan hệ đất đai.

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai

Quản lý là quá trình tác động có mục đích lên một hệ thống, nhằm tổ chức và phát triển hệ thống đó theo những quy luật nhất định.

Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai Điều này bao gồm việc nắm bắt tình hình sử dụng đất, phân phối và phân bổ lại quỹ đất theo quy hoạch và kế hoạch, kiểm tra giám sát việc quản lý và sử dụng đất, cũng như điều tiết các nguồn lợi từ đất đai.

1.2.2 Vai tr công tác quản lý nhà nước về đất đai a Vai trò quản lý nhà nước về đất đai

- Bảo đảm sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả;

Nhà nước thực hiện đánh giá, phân loại và phân hạng đất đai để nắm bắt quỹ đất tổng thể và cơ cấu từng loại đất Dựa trên thông tin này, các biện pháp phù hợp sẽ được áp dụng nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng đất đai.

Việc ban hành các chính sách và quy định về sử dụng đất đai thiết lập một hành lang pháp lý vững chắc, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người sử dụng đất và đồng thời đảm bảo lợi ích của Nhà nước trong việc quản lý và khai thác quỹ đất hiệu quả.

Nhà nước thực hiện giám sát, kiểm tra và quản lý đất đai để nắm bắt tình hình biến động trong việc sử dụng các loại đất và đối tượng sử dụng Qua đó, Nhà nước có thể phát hiện những mặt tích cực để phát huy, đồng thời điều chỉnh và giải quyết các sai phạm liên quan đến việc sử dụng đất.

- Việc quản lý nhà nước về đất đai còn giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế; đồng thời, bổ sung, điều chỉnh những chính

Quản lý nhà nước về đất đai cần tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính hợp lý và phù hợp với thực tiễn Việc rà soát và điều chỉnh các quy định pháp luật là cần thiết để khắc phục những thiếu sót, đảm bảo nội dung pháp luật được áp dụng hiệu quả và thực tế hơn trong cuộc sống.

Nguyên tắc thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai khẳng định rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân và phải được Nhà nước quản lý một cách đồng bộ Chính quyền có trách nhiệm thực hiện quyền đại diện cho chủ sở hữu và quản lý nhà nước về đất đai theo quy định của pháp luật.

Nguyên tắc phân cấp trong quản lý nhà nước về đất đai yêu cầu cơ quan địa chính ở trung ương và địa phương chịu trách nhiệm trước Chính phủ và chính quyền cùng cấp Cụ thể, chính quyền cấp tỉnh đảm nhiệm việc giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất của tổ chức, đồng thời hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ với cấp huyện trong thực hiện nhiệm vụ Ở cấp huyện, chính quyền có trách nhiệm kiểm tra, giám sát và hỗ trợ cấp xã trong việc thực hiện quyền giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất cho hộ gia đình, cá nhân trong khu vực quản lý.

Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu chính quyền địa phương phải tuân thủ pháp luật trong quản lý đất đai, đồng thời thực hiện quyền sở hữu toàn dân Điều này được thực hiện bằng cách tạo điều kiện cho người dân tham gia giám sát hoạt động quản lý của chính quyền thông qua Hội đồng nhân dân và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp.

Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với địa phương và vùng lãnh thổ yêu cầu chính quyền các cấp thống nhất trong việc quản lý nhà nước về đất đai theo địa giới hành chính, đảm bảo sự hài hòa giữa quản lý theo lãnh thổ và các yếu tố ngành nghề.

15 quản lý theo chuyên ngành và ngay cả các cơ quan trung ƣơng đóng tại địa bàn nào thì phải chịu sự quản lý của chính quyền nơi đó

Nguyên tắc kế thừa và tôn trọng lịch sử trong quản lý nhà nước yêu cầu chính quyền tuân thủ các quy định pháp luật trước đây và ghi nhận tính lịch sử trong quản lý đất đai qua các thời kỳ cách mạng Điều này được thể hiện qua việc Nhà nước không công nhận yêu cầu đòi lại đất đã được giao cho người khác sử dụng theo chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

1.3 NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Nội dung quản lý nhà nước về lĩnh vực đất đai được quy định trong các văn bản pháp luật, bao gồm cả Luật Đất đai 2013 Luật này nêu rõ 13 nội dung quan trọng liên quan đến công tác quản lý nhà nước về đất đai, và những nội dung này có thể được phân thành các nhóm cụ thể Việc hiểu rõ các quy định này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong quản lý và sử dụng tài nguyên đất đai.

1.3.1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó Đây chính là quá trình nhà nước sử dụng công cụ pháp luật trong quản lý Nhà nước dung pháp luật để thực hiện quyền cai trị của mình, bằng cách tác động vào ý chí của con người để điều chỉnh hành vi của họ

Luật pháp là công cụ cho các công cụ quản lý khác, các chính sách chế độ của Nhà nước thực hiện có hiệu quả hơn

Đất đai là vấn đề phức tạp, liên quan đến cả khía cạnh kinh tế và xã hội Trong mối quan hệ đất đai, dễ xảy ra những xung đột và tranh chấp.

Để giải quyết các mâu thuẫn phức tạp trong quan hệ đất đai, Nhà nước cần ban hành một hệ thống văn bản pháp quy đầy đủ và chặt chẽ Trong bối cảnh đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều vấn đề mới và phức tạp xuất hiện, yêu cầu phải bổ sung và hoàn thiện cả lý luận lẫn thực tiễn Do đó, việc ban hành các văn bản pháp quy luôn được đặt lên hàng đầu.

CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

Thanh tra và kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về đất đai là nhiệm vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo các quy định được thực hiện đúng trình tự, nội dung, thời điểm và các điều kiện cụ thể Qua quá trình này, các sai phạm sẽ được phát hiện kịp thời để ngăn chặn và xử lý theo quy định, đảm bảo sự bình đẳng giữa các đối tượng sử dụng đất và các cơ quan quản lý nhà nước.

- Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai

Khiếu nại là hành động mà người sử dụng đất gửi yêu cầu tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền lợi của họ về quyền sử dụng đất.

Tố cáo vi phạm trong quản lý sử dụng đất là hành động của công dân và tổ chức nhằm phản ánh những sai phạm của cá nhân thực thi pháp luật, gây thiệt hại cho Nhà nước và xã hội Việc giải quyết khiếu nại và tố cáo về đất đai có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất, đảm bảo quản lý và sử dụng đất đúng theo quy định pháp luật, đồng thời thực hiện Quy chế dân chủ, công khai và công bằng xã hội.

1.4 CÔNG CỤ VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI

1.4.1 Công cụ quản lý nhà nước về đất đai a Công cụ pháp luật

Pháp luật là công cụ quản lý không thể thiếu được của một Nhà nước

Từ xa xưa, mọi nhà nước đều thực hiện quyền cai trị thông qua pháp luật, nhằm điều chỉnh hành vi con người bằng cách tác động vào ý chí của họ.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự an toàn xã hội liên quan đến lĩnh vực đất đai Đất đai không chỉ liên quan đến lợi ích vật chất mà còn ảnh hưởng đến lợi ích tinh thần của các chủ thể sử dụng, dẫn đến nhiều mâu thuẫn phát sinh Trong số những mâu thuẫn này, có những vấn đề chỉ có thể được giải quyết thông qua sự can thiệp của pháp luật.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc yêu cầu các tổ chức và cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực sử dụng đất đai Nghĩa vụ nộp thuế là bắt buộc, tuy nhiên, không phải lúc nào nghĩa vụ này cũng được thực hiện đầy đủ Trong nhiều trường hợp, cần phải áp dụng biện pháp cưỡng chế để đảm bảo rằng nghĩa vụ thuế được thực hiện đúng theo quy định.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự bình đẳng và công bằng giữa những người sử dụng đất Thông qua các điều khoản bắt buộc và chính sách miễn giảm, thưởng, phạt, Nhà nước có khả năng thực hiện sự bình đẳng và giải quyết mối quan hệ lợi ích trong lĩnh vực đất đai.

Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và nâng cao hiệu quả của các công cụ quản lý, chế độ và chính sách của Nhà nước.

Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiều công cụ pháp luật liên quan đến quản lý đất đai, bao gồm Hiến pháp, Luật đất đai, Luật dân sự, cùng với các pháp lệnh, nghị định, quyết định, thông tư, chỉ thị và nghị quyết từ Nhà nước, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan.

Công cụ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý và phát triển bền vững tại các địa phương Các văn bản quản lý từ các cấp, ngành chính quyền địa phương giúp định hướng và điều phối việc sử dụng tài nguyên đất đai một cách hiệu quả.

Trong quản lý nhà nước về đất đai, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đóng vai trò quan trọng, là nội dung thiết yếu trong công tác này Luật Đất đai 2003 quy định rằng "Nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật", nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ quy hoạch trong quản lý đất đai.

Quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai đóng vai trò quan trọng trong quản lý và sử dụng đất, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của nhà nước Thông qua quy hoạch đã được phê duyệt, việc sắp xếp và bố trí các loại đất diễn ra hợp lý, giúp nhà nước kiểm soát tình hình đất đai, ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích và lãng phí Đồng thời, quy hoạch cũng quy định rõ ràng phạm vi sử dụng đất của các đối tượng, được lập theo vùng lãnh thổ và các ngành khác nhau.

Quy hoạch sử dụng đất đai theo vùng lãnh thổ được thực hiện theo các cấp hành chính, bao gồm quy hoạch sử dụng đất đai toàn quốc, quy hoạch cấp tỉnh, quy hoạch cấp huyện và quy hoạch cấp xã.

Quy hoạch sử dụng đất đai theo ngành bao gồm việc lập kế hoạch cho các lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp và giao thông Điều này giúp tối ưu hóa việc phân bổ tài nguyên đất đai, đảm bảo sự phát triển bền vững cho từng ngành.

Tài chính bao gồm các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong việc tạo lập, phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội.

- Các công cụ tài chính trong quản lý đất đai

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG

1.5.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai Q Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh:

UBND quận Gò Vấp đã không xem xét những kiến nghị hợp lý từ người dân và các cơ quan chức năng, dẫn đến việc không có sự tham mưu thích hợp cho UBND TP.Hồ Chí Minh.

Vào ngày 4/12/2008, Chủ tịch UBND quận Gò Vấp đã ký hàng chục quyết định thu hồi nhà đất của các hộ dân tại tổ dân phố 62 để phục vụ cho dự án đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài Tuy nhiên, những quyết định này chỉ được UBND quận Gò Vấp thông báo đến người dân qua bưu điện vào ngày 5/8/2009, tức là sau hơn 8 tháng kể từ ngày ký, điều này cho thấy sự chậm trễ trong việc thực hiện các quyết định theo quy định của pháp luật.

Người dân tổ dân phố 62 đã khiếu nại vì quyền lợi hợp pháp bị ảnh hưởng do các quyết định thu hồi đất của UBND quận Gò Vấp không tuân thủ quy định pháp luật UBND quận Gò Vấp chỉ đưa ra câu trả lời chung chung về việc thực hiện quy hoạch chỉnh trang đô thị cho 49 căn nhà thông qua dự án xây dựng đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài, với ranh giới quy hoạch được xác định trong bản đồ công bố ngày 21/4/2006 Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra rằng việc thu hồi đất theo Quyết định 19/QĐ-UBND ngày 4/1/2008 nhằm chuẩn bị cho dự án đường Tân Sơn Nhất - Bình Lợi - Vành đai ngoài đã gặp khó khăn trong công tác bồi thường, dẫn đến khiếu nại từ một số hộ dân.

Chỉ cách một mép tường nhà trên đường Nguyễn Thái Sơn, khu dân cư phường 2 quận Tân Bình đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ với hàng chục ngôi nhà cao tầng hoàn chỉnh Theo quy hoạch, khu dân cư phường 2 và tổ dân phố 62 có vị trí đắc địa, với công viên Gia Định ở phía sau và đường Nguyễn Thái Sơn ở phía trước Tuy nhiên, sự đối lập giữa hai khung cảnh này đã gây ra sự không đồng tình trong dư luận người dân.

1.5.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai của thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định:

Từ cuối năm 2004 đến tháng 8/2006, Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Quy Nhơn đã liên tục vi phạm trong việc cấp "sổ đỏ", bao gồm việc công nhận hồ sơ không đúng sự thật về thời điểm sử dụng đất, áp giá đất sai quy định và xét giao đất tái định cư không đúng quy trình Qua kiểm tra ngẫu nhiên 80 hồ sơ trong tổng số hơn 2.500 hồ sơ, Thanh tra tỉnh Bình Định phát hiện ngân sách Nhà nước bị thất thoát lên đến hơn 10 tỉ đồng.

1.5.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng:

Quyết định số 447/QĐ-UB ngày 4 tháng 10 năm 1993 của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng đã giao 21ha đất cho ông Đoàn Văn Vươn, phù hợp với quy định pháp luật đất đai tại thời điểm đó.

Quyết định số 220/QĐ-UB ngày 9 tháng 4 năm 1997 của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng giao 19,3ha đất cho ông Đoàn Văn Vươn để nuôi trồng thủy sản trong thời hạn 14 năm, bắt đầu từ ngày 4 tháng 10 năm 1993, được xác định là đúng thẩm quyền và phù hợp với thực tế sử dụng đất Tuy nhiên, quyết định này không tuân thủ các quy định của pháp luật đất đai liên quan đến việc giao đất, cho thuê đất, thời hạn giao đất và thời điểm tính thời hạn giao đất.

Quyết định số 460/QĐ-UBND ngày 23/4/2008 và Quyết định số 461/QĐ-UBND ngày 07/4/2009 của Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng về việc thu hồi đất của ông Đoàn Văn Vươn do hết thời hạn sử dụng đã vi phạm quy định của Luật Đất đai 2003 và Nghị Định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ.

Quyết định thu hồi đất không tuân thủ đúng quy định của pháp luật đất đai, dẫn đến việc quyết định cƣỡng chế thu hồi đất cũng không hợp lệ.

39 không đúng pháp luật Mặt khác, việc tổ chức cƣỡng chế thu hồi đất của Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng cũng có nhiều thiếu sót, sai phạm

Việc phá dỡ nhà của ông Đoàn Văn Vươn do lãnh đạo chính quyền địa phương chỉ đạo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự Cần khởi tố, điều tra làm rõ và xử lý nghiêm minh vụ việc này.

1.5.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất đai tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam:

Vụ việc bắt đầu từ tháng 10/2009 khi Doanh nghiệp Nguyễn Thành Trung lập hồ sơ thuê 3.921m2 đất tại thôn An Định, xã Đại Đồng, Đại Lộc, trên diện tích đất lúa 2 vụ chưa có quy hoạch chuyển đổi Mảnh đất này gồm 12 thửa liền kề của 12 hộ dân, nằm ở mặt tiền QL14B Dù không có quy hoạch, các cấp HĐND, UBND và cán bộ địa chính xã đã "tham mưu theo kiểu móc ngoặc" để tạo điều kiện cho doanh nghiệp Ông Phan Đức Tính, Phó chủ tịch UBND huyện, đã ký công văn (1186/UBND-TNMT) đồng ý cho doanh nghiệp thuê đất với hướng dẫn chi tiết về thủ tục đền bù Tuy nhiên, ngay sau khi nhận công văn, doanh nghiệp đã bỏ qua các thủ tục hành chính và ngay lập tức tiến hành đổ đất, san nền, xây bờ rào.

Doanh nghiệp này không chỉ dừng lại ở việc thuê đất mà còn có những hành động móc ngoặc với cán bộ xã, huyện để thực hiện các thủ tục hành chính như trả lại đất thuê, xin chuyển đổi sang đất ở lâu dài và mua bán sang nhượng với các chủ nông hộ Đến đầu năm 2011, Chủ tịch UBND huyện Đại Lộc, Nguyễn Văn Trúc, đã ký 12 quyết định cấp sổ đỏ cho các hộ này.

1.5.5 Bài học kinh nghiệm về quản lý nhà nước về đất đai

Một là, Cơ quan quản lý cấp tỉnh cần coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật về đất đai

Hai là, QLNN về đất đai là một lĩnh vực phức tạp dễ dẫn đến những sai phạm, cũng nhƣ tham nhũng với mức độ lớn

Các công cụ quản lý cần được thiết lập một cách đầy đủ và chính xác, đồng thời phải thường xuyên được cập nhật và chỉnh sửa để đảm bảo khai thác hiệu quả.

Nâng cao hiệu quả cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai là cần thiết để giảm thiểu tiêu cực trong quản lý và sử dụng đất.

Năm nay, việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất cần được thực hiện đúng theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

Sáu là, công tác kiểm tra, giám sát phải thường xuyên và coi trọng, nhằm phát hiện, ngăn chặn các sai phạm và xử lý kịp thời

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐĂK LĂK

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI Ở TỈNH ĐĂK LĂK

Ngày đăng: 04/04/2022, 22:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w