Mặc dù đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế nhưng hiện nay hầu hết các ngân hàng Việt Nam còn lúng túng trong quá trình
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGÔ THỊ NGỌC TIN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
– CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng- Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGÔ THỊ NGỌC TIN
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
– CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60.34.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NHƯ LIÊM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Ngô Thị Ngọc Tin
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục đề tài 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 6
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG 6
1.1.1 Ngân hàng thương mại 6
1.1.2 Rủi ro tín dụng 10
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 11
1.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng 11
1.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng 14
1.2.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng 18
1.2.4 Tài trợ rủi ro tín dụng 19
1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 20
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế 20
1.3.2 Các loại hình tín dụng trong thanh toán quốc tế 22
1.3.3 Rủi ro trong tín dụng thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại 30 1.3.4 Yêu cầu QTRR tín dụng trong thanh toán quốc tế 31
1.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng trong thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại ở Việt Nam 34
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI
NHÁNH ĐÀ NẴNG 38
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 38
2.1.1 Sơ lược quá trình phát triển 38
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức nhân sự 39
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong năm 2013 và 2014 ……… 44
2.2 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI AGRIBANK ĐÀ NẴNG 46
2.2.1 Hoạt động tín dụng trong thanh toán quốc tế tại Chi nhánh 46
2.2.2 Rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế tại Agribank Đà Nẵng 55
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO T Í N D Ụ N G TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI AGRIBANK ĐÀ NẴNG 57
2.3.1 Phân cấp quản trị rủi ro tín dụng 57
2.3.2 Về công tác nhận diện rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế 60
2.3.3 Về công tác đo lường rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế 62
2.3.4 Về công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế 63
2.3.5 Về công tác tài trợ rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế 65
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ 66
2.4.1 Kết quả đạt được 66
2.4.2 Hạn chế 69
2.4.3 Nguyên nhân 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 78
Trang 6CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM –
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 79
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 79
3.1.1 Cơ hội của Agribank Đà Nẵng 79
3.1.2 Thách thức của Agribank Đà Nẵng 80
3.1.3 Mục tiêu định hướng của hoạt động thanh toán quốc tế tại TP Đà Nẵng……… 80
3.1.4 Mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế của Agribank Đà Nẵng 82
3.2 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI AGRIBANK ĐÀ NẴNG 83
3.2.1 Hoàn thiện công tác nhận diện rủi ro tín dụng trong TTQT 83
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế … … 87
3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế …… 89
3.2.4 Hoàn thiện công tác tài trợ rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế 98
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ KHÁC 101
3.3.1 Kiến nghị với Agribank 101
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng nhà nước 102
3.3.3 Kiến nghị với Chính phủ 103
3.3.4 Kiến nghị với Doanh nghiệp XNK 104
KẾT LUẬN 107
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 82.4 Tín dụng TTQT theo mặt hàng tại Agribank Đà Nẵng 52 2.5 Cơ cấu cho vay Xuất khẩu - Nhập khẩu tại Agribank
2.9 Kết quả trích lập và dự phòng rủi ro tín dụng trong
thanh toán quốc tế của Agribank Đà Nẵng giai đoạn 2012-2014
66
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
2.1 Sơ đồ tổ chức hoạt động của NHNNo chi nhánh
Đà Nẵng
42
2.3 Cơ cấu tín dụng theo theo thời hạn từ 2012-2014 51 2.4 Cơ cấu cho vay xuất khẩu so với nhập khẩu 54 2.5 Khái quát mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại
Agribank Việt Nam
58 2.6 Quy trình nghiệp vụ tín dụng của Agribank Việt Nam 60
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với xu thế mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động kinh tế đối ngoại nói riêng ngày càng mở rộng
Sự giao lưu buôn bán hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau với khối lượng ngày một lớn đã đòi hỏi qúa trình thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu phải nhanh chóng thuận tiện cho các bên Góp phần vào sự phát triển đó là sự đóng góp không nhỏ của ngành ngân hàng Các ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò cầu nối quan trọng trong thanh toán xuất nhập khẩu, trong việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho các đối tác nước ngoài góp phần thúc đẩy kinh tế đối ngoại
Trong năm qua Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng đã không ngừng đổi mới và nâng cao các nghiệp
vụ thanh toán của mình để phục vụ tốt cho khách hàng, đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu của khách hàng Cùng với chính sách kinh tế đối ngoại ngày càng mở rộng, thông thoáng của Chính phủ, hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng phát triển Do đó, các hình thức thanh toán quốc tế ngày càng được phát triển và hoàn thiện Tuy vậy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro, đặc biệt là nhiều rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế Hoạt động thanh toán quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp đến
uy tín, sự tín nhiệm của bạn bè quốc tế dành cho các ngân hàng, các doanh nghiệp Việt Nam Mặc dù đã nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động ngân hàng trong quá trình hội nhập và phát triển kinh tế nhưng hiện nay hầu hết các ngân hàng Việt Nam còn lúng túng trong quá trình xử lý rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh, đặc biệt là hoạt động thanh toán quốc tế
Trang 11Vậy làm thế nào để phòng ngừa và quản trị rủi ro, giảm thiểu tối đa những thiệt hại, rủi ro tín dụng từ các tranh chấp trong vấn đề này tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng là một yêu cầu cấp bách?
Xuất phát từ lý do nói trên, tôi đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng
trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” với mong muốn đề tài này có thể
đóng góp vào việc quản trị rủi ro tín dụng trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại đơn vị mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro nói chung cũng như vấn đề rủi ro tín dụng ngân hàng nói riêng
- Nghiên cứu các nội dung liên quan đến vấn đề quản trị rủi ro tín dụng,
về thanh toán quốc tế, đặc điểm thanh toán quốc tế, áp dụng đối với các NHTM Việt Nam nói chung và NHNo&PTNT Việt Nam – CN Đà Nẵng nói riêng
- Trên cơ sở nghiên cứu và lý luận, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam CN Đà Nẵng , từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế của NHNo&PTNT Việt Nam – CN Đà Nẵng, góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thúc đẩy nền kinh tế nước ta hội nhập và phát triển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề có liên quan đến quản trị rủi ro tín
dụng trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
Trang 12thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
Về thời gian: Từ năm 2012-2014
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp thông tin, số liệu, so sánh kết hợp lý luận khoa học với thực tiễn về quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế, để đề xuất giải pháp cho việc hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn có ý nghĩa hỗ trợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng trong việc nhìn nhận, đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế trong giai đoạn tới nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Ngân hàng
Chương 3: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng
Trang 137 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
+ Trầm Thị Xuân Hương ( 2006), Thanh toán quốc tế NXB Thống Kê,
TP Hồ Chí Minh
Giáo trình cung cấp, trình bày cơ sở lý luận và những lập luận về thanh toán quốc tế, với những định nghĩa, khái niệm về thanh toán quốc tế của các tác giả khác nhau Nội dung chính làm rõ nội dung cơ bản trong thanh toán quốc tế và đặc điểm của thanh toán quốc tế
+ PGS.TS Lê Văn Tề – ThS Nguyễn Thị Tuyết Nga (2009) Thanh toán
& Tín dụng xuất nhập khẩu, NXB Tài chính
Giáo trình cung cấp, trình bày cơ sở lý luận và những lập luận về thanh toán quốc tế, tín dụng xuất nhập khẩu, với những định nghĩa, khái niệm tổng quát, rất cần thiết để giúp có cái nhìn bao quát hơn cho đề tài
+ Nguyễn Văn Tiến (2003), Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, NXB Thống Kê
Giáo trình có cái nhìn chung về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng cung cấp những nền tảng lý thuyết chung nhất cho việc nghiên cứu
+ PGS.TS Nguyễn Văn Tiến (2007), Cẩm nang thanh toán quốc tế bằng L/C, NXB Thống Kê
Giáo trình cung cấp, trình bày cơ sở lý luận và những lập luận về thanh toán quốc tế, đi sâu vào phương thức thanh toán bằng L/C, vốn là phương
Trang 14thức được sử dụng nhiều trong hoạt động thanh toán quốc tế
+ GS.TS Lê Văn Tư và Lê Tùng Vân (2002), Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế và kinh doanh ngoại tệ, NXB Thống Kê
Giáo trình cung cấp, trình bày cơ sở lý luận và những lập luận về tín dụng xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế ,với những định nghĩa, khái niệm, phân loại rủi ro trong tín dụng trong thanh toán quốc tế, rất cần thiết để giúp
có cái nhìn sâu hơn, cụ thể hơn về vấn đề đang nghiên cứu
- Đề tài, luận văn tốt nghiệp:
+ Đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Nguyễn hiệp thuộc Đại học Đà Nẵng Đề tài đã nghiên cứu, hệ thống hóa được các vấn đề cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Đồng thời đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng, nêu lên những hạn chế cần được khắc phục trong thời gian đến
+ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng qua các năm Qua báo cáo về tài chính, tác giả sử dụng các thông số cơ bản để phân tích tình hình cấp tín dụng, nợ xấu, thanh toán quốc tế giúp làm rõ hơn thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong thanh toán quốc tế của Ngân hàng
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1.1 Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh
tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì ngân hàng thương mại cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được
Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan
vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ
ch ức và hoạt động của NHTM)
Trong suốt quá trình hình thành và hoạt động của mình, các NHTM ngày càng thể hiện rõ vai trò đặc biệt quan trọng của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế Các NHTM thực hiện các nghiệp vụ huy động nguồn vốn nhàn rỗi trên thị trường, từ nguồn vốn đó tiến hành cho vay hỗ trợ các cá nhân và doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh của mình để đạt được hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của kinh tế quốc gia Các hoạt động chính của NHTM bao gồm hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng và các hoạt động dịch vụ ngân hàng khác
Trang 16b Hoạt động của Ngân hàng thương mại
Là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán
Huy động vốn là một hoạt động rất quan trọng trong đó các NHTM bằng
cách cung ứng những điều kiện thuận lợi và những phương thức dễ dàng để nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác Đổi lại, các doanh nghiệp, cá nhân, các TCTD khác được nhận một khoản tiền thưởng dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi, với mức độ
an toàn và có tính thanh khoản cao
Ngoài ra, các NHTM còn huy động vốn dưới dạng phát hành các giấy tờ
có giá, vay vốn ngắn hạn của NHNN dưới hình thức tái cấp vốn, vay của các TCTD khác Số tiền huy động được thông qua hình thức tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân
Ho ạt động tín dụng là một hoạt động quan trọng hàng đầu trong các hoạt
động kinh doanh của các NHTM, đồng thời cũng đem lại lợi nhuận cao nhất cho các Ngân hàng Các chi tiết cụ thể về hoạt động tín dụng của Ngân hàng
sẽ được đề cập chi tiết và cụ thể tại phần 1.1.1, mục c của bài viết
động tín dụng nêu trên, các NHTM còn cung cấp các dịch vụ khác cho các khách hàng, cụ thể như :
- Dịch vụ thanh toán: Việc đưa ra một cơ chế thanh toán, hay nói một cách khác, sự vận động vốn là một nghiệp vụ quan trọng do các NHTM thực hiện thông qua việc: mở tài khoản; cung ứng các phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng; thực hiện các dịch vụ thu
Trang 17hộ và chi hộ; dịch vụ ngân quỹ thông qua mối quan hệ giữa ngân hàng nước này là đại lý cho ngân hàng nước khác với công nghệ ngân hàng hiện đại đã làm cho quá trình thanh toán quốc tế diễn ra nhanh chóng và thuận lợi
- Thực hiện việc góp vốn mua cổ phần của các TCTD khác hoặc của các doanh nghiệp từ nguồn vốn điều lệ và quỹ dự trữ của mình
- Kinh doanh ngoại hối và vàng
- Uỷ thác và nhận uỷ thác, làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng; kinh doanh, cung ứng dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ cho khách hàng, dịch vụ bảo quản hiện vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác
c Hoạt động tín dụng
Tín dụng nói chung là một phạm trù kinh tế được rất nhiều nhà kinh tế học đề cập đến và do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về tín dụng Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì: tín dụng (credit) là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (tài sản) từ người sở hữu sang người sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, người sử dụng phải hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu: Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác Hoạt động tín dụng là một nghiệp vụ hàng đầu, có ý nghĩa quan trọng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng, song nó không chỉ đơn giản và giới hạn ảnh hưởng trong phạm vi một ngân hàng, một ngành, một địa phương một thời điểm hay một giai đoạn mà còn ảnh hưởng tới chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội, ảnh hưởng tới bước tiến của cả một nền kinh tế, của một phương thức sản xuất, của một giai đoạn phát triển
Trang 18xã hội, của trình độ hoà nhập vào cộng đồng kinh tế thế giới hiện đại
Nhận thức đầy đủ đúng đắn vai trò của tín dụng đòi hỏi con người sử dụng nó phải biết tôn trọng, đối xử với nó như một khoa học kinh tế thực sự Cho nên dù ở bất cứ một thời kỳ nào, bối cảnh nào thì yêu cầu cơ bản của tín dụng ngân hàng vẫn phải là hiện thực, khả thi và hiệu quả Hiện thực tức là hoạt động tín dụng phải dựa trên tình hình thực tế của nền kinh tế, mục đích, nhu cầu và tiềm lực thực tế của khách hàng Khả thi có nghĩa là có khả năng thực hiện khoản vay, tức khoản vay phải phù hợp với định hướng cho vay của Ngân hàng, khách hàng vay phải có đủ khả năng trả nợ đúng hạn, hay tài sản đảm bảo có đủ giá trị đảm bảo cho khoản vay… Đồng thời, bên cạnh
hỗ trợ tài chính cho khách hàng, khoản vay cũng cần đem lại lợi nhuận nhất định cho Ngân hàng, hạn chế những rủi ro có thể phát sinh, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế-xã hội Đây chính là yêu cầu về tính hiệu quả của tín dụng
Trải qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau các nhà kinh tế học đã đúc kết hoạt động tín dụng - với đúng nghĩa như C.Mác đã chỉ ra - phải tuân theo các nguyên tắc căn bản chung nhất:
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả;
- Vốn vay phải được đảm bảo bằng giá trị vật tư hàng hoá tương đương;
- Vốn vay phải được hoàn trả đủ cả gốc và lãi đúng kỳ hạn cam kết
Ba nguyên tắc tín dụng trên đây hình thành như một quy luật phát triển nội tại của hoạt động tín dụng, là quy định bất khả vi phạm, là mối quan hệ không thể tách rời trong kinh doanh tín dụng Thực tế cho thấy rằng một khi chỉ một trong ba nguyên tắc bị coi nhẹ thì sớm muộn cũng dẫn đến quan
hệ tín dụng bị phá vỡ, tín dụng sẽ mất dần đi vai trò và tác dụng của mình và trở thành vật cản kìm hãm hoặc đẩy lùi sự phát triển của nền kinh tế
Trang 19Cho nên, khi nói đến vai trò “bà đỡ” của tín dụng ngân hàng đối với tiến trình phát triển kinh tế là nói đến loại hình tín dụng đúng nghĩa, tuân thủ nghiêm ngặt cả ba nguyên tắc tín dụng trên đây và có chất lượng cao Chất lượng của tín dụng không phải là một khái niệm mơ hồ, trừu tượng Nó được thể hiện thông qua kết quả của quá trình tuân thủ ba nguyên tắc này và cuối cùng chất lượng tín dụng được phản ánh đúng như vai trò quan trọng của tín dụng đã được đề cập ở trên, vào sự phát đạt của từng tổ chức kinh tế trong xã hội nói riêng, vào tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế và vào tiến bộ xã hội trong từng thời kỳ nói chung
1.1.2 Rủi ro tín dụng
Qua tìm hiểu chức năng nghiệp vụ và quá trình thực hiện nghiệp vụ của NHTM, ta thấy rõ vai trò trung gian của ngân hàng và mối quan hệ tách biệt giữa người cho vay tiền và người đi vay tiền: khi Ngân hàng phát ra một khoản tiền vay, số vốn đó nằm ngoài tầm kiểm soát của Ngân hàng,
nên sự vận động của nó như thế nào Ngân hàng rất khó theo dõi Khả năng
rủi ro chính là ở đây Xét về mặt chủ quan, việc chọn lựa khách hàng cho
vay là rất quan trọng đối với Ngân hàng vì nếu tìm hiểu không kỹ lưỡng về khách hàng thì Ngân hàng có thể chuốc lấy tai họa cho mình khi những đồng tiền ra đi mà không trở về Còn về mặt khách quan, mọi rủi ro đối với khách hàng trong kinh doanh đều là rủi ro của Ngân hàng, bởi vốn kinh doanh của khách hàng là một phần vốn vay từ Ngân hàng Trong khi đó, nguồn vốn để Ngân hàng đem đi cho vay chủ yếu lấy từ tiền huy động được, tức là phần lớn số tiền để cho vay không thuộc sở hữu của Ngân hàng Ngân hàng phải có trách nhiệm bảo quản, gìn giữ và làm sinh lợi số tiền huy động
đó Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh của mình, NHTM sẽ phải đối mặt với rủi ro từ nhiều phía: rủi ro từ các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hoặc các cá nhân đi vay, rủi ro từ phía người gửi tiền và rủi ro từ phía các
Trang 20ngân hàng thương mại khác Đó là còn chưa kể đến những rủi ro riêng có khác của hoạt động kinh doanh ngân hàng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro được các nhà quản trị Ngân hàng quan tâm nhất trong các loại rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng
Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro theo Quyết định số 493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
1.2 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại là quá trình xây dựng
và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững Đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong hoạt động cho vay, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả ngắn hạn và dài hạn của NHTM
Theo cách tiếp cận của quản trị rủi ro hiện đại, nội dung chính của hoạt động quản trị rủi ro gồm có bốn bước là nhận diện rủi ro tín dụng – đo lường rủi ro tín dụng – kiểm soát rủi ro tín dụng – tài trợ rủi ro tín dụng Các hoạt động này được thực hiện theo quy trình chặt chẽ liên tiếp nhau
1.2.1 Nhận diện rủi ro tín dụng
Nhận diện rủi ro tín dụng là quá trình xác định liên tục và có hệ thống rủi
ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề và có những biện pháp xử lý
Trang 21nhanh chóng sẽ giúp giảm tổn thất đến mức thấp nhất Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có giải pháp xủ lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả
Các phương pháp nhận diện rủi ro trong hoạt động tín dụng
+ Phương pháp phân tích tài chính
+ Phương pháp thẩm định đi thực tế khách hàng - thanh tra hiện trường + Phương pháp lập bảng điều tra – thiết lập bảng kê
+ Phương pháp phân tích các tổn thất
+ Phương pháp tham khảo các chuyên gia
+ Phương pháp phân tích lưu đồ
+ Phương pháp thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
Ta có thể xem một số phương pháp sau:
- Phân tích tình hình tài chính của khách hàng: để xác định được nguy
cơ rủi ro của khách hàng về tài sản, cấu trúc nguồn vốn, dòng tiền, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán
- Thanh tra hiện trường: là phương pháp nhận diện rủi ro nhờ vào việc
quan sát, theo dõi trực tiếp tình hình thực tế về địa điểm thực hiện phương pháp, dự án sản xuất kinh doanh, qua trình sử dụng vốn vay của khách hàng sau đó sẽ tiến hành phân tích, đánh giá để nhận diện rủi ro
nhằm xác định các rủi ro tiềm năng Người ta có thể lập một bảng liệt kê trên
cơ sở đặt ra các nghi vấn về các điều kiện gây ra rủi ro, cơ chế gây ra rủi ro
Từ đó loại bỏ những nghi vấn không có cơ sở hoặc không rõ ràng, giữ lại và phát hiện những nghi vấn mới có cơ sở Có thể phát họa một bảng liệt kê rủi
ro cho vay theo nguồn rủi ro năng lực tài chính khách hàng như sau:
Trang 22Bảng 1.1 Nguồn rủi ro năng lực tài chính khách hàng
Nghi vấn về điều kiện gây rủi ro Cơ chế gây rủi ro
1/ Khả năng tài trợ
2/ Khả năng thanh toán
3/ Khả năng sinh lời
- Hệ số nợ cao thì sức chịu đựng của doanh nghiệp thấp, rủi ro cao
- Khả năng thanh toán thấp thì nguy cơ rủi ro cao
- Tỷ suất lợi nhuận càng thấp, khả năng không trả nợ cao -> rủi ro cao
- Ph ương pháp lưu đồ: Đây là phương pháp quan trọng để nhận dạng rủi
ro Trước tiên ta xây dựng lưu đồ về các khâu trong quá trình cho vay, qua lưu
đồ ta có thể xác định được các rủi ro trong từng khâu một cách rõ ràng và chính xác hơn Qui trình cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi kiểm toán viên tất toán, thanh lý hợp đồng tín dụng được và tiến hành theo 3 bước:
+ Thẩm định trước khi cho vay
+ Kiểm tra, giám sát trong khi cho vay
+ Kiểm tra, giám sát, tổ chức thu hồi nợ sau khi cho vay
Việc xây dựng lưu đồ phải đảm bảo theo trình tự sau:
1 Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và hồ sơ vay vốn
2 Kiểm tra hồ sơ và mục đích vay vốn
3 Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng và phương pháp sản xuất kinh doanh
4 Kiểm tra, xác minh thông tin
5 Phân tích ngành
6 Phân tích, thẩm định khách hàng vay vốn
Trang 237 Phân tích, thẩm định phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư
8 Dự kiến lợi ích khách hàng nếu khoản vay được phê duyệt
9 Các biện pháp đảm bảo tiền vay
10 Kiểm tra mức độ đáp ứng một số điều kiện về tài chính
11 Chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
12 Lập báo cáo thẩm định cho vay và tải thẩm định (nếu có)
13 Xác định phương thức và nhu cầu cho vay
14 Phê duyệt khoản vay
15 Ký kết hợp đồng, hợp đồng đảm bảo tiền vay, giao nhận giấy tờ và tài sản bảo đảm
16 Giải ngân
17 Kiểm tra, giảm sát khoản vay
18 Thu nợ lãi và gốc và xử lý phát sinh
19 Thanh lý hợp đồng và giải chấp tài sản bảo đảm
- Thu thập thông tin : Ngân hàng sẽ tiến hành thu thập thông tin từ nhiều
nguồn khác nhau, từ khách hàng cung cấp, trung tâm thông tin tín dụng CIC,
từ đối tác của khách hàng, tạp chí, truyền hình, internet… giúp ngân hàng có cái nhìn tổng quát, thêm nhiều thông tin về khách hàng vay vốn, khắc phục những rủi ro do thông tin bất cân xứng, nhiều thông tin về đánh giá khách hàng
Mỗi phương pháp đều có những ưu nhược điểm riêng, việc áp dụng như thế nào cho khoa học, hiệu quả tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng ngân hàng
1.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường rủi ro tín dụng là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro tín dụng mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng cũng như biết được xác suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra từ đó
Trang 24xác định được phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn đối với một doanh nghiệp cũng như để trích lập dự phòng rủi ro
a Xác định giới hạn RRTD
Giới hạn RRTD là biên độ cao nhất về khả năng tổn thất có thể xảy ra
mà ngân hàng chấp nhận được để đảm bảo hoạt động tín dụng hiệu quả, hoạt động của ngân hàng ngày càng phát triển
Các NHTM sử dụng các chỉ tiêu để quản lý chất lượng hoạt động tín dụng như:
* Tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu = (Tổng dư nợ xấu / Tổng như nợ) x 100%
* Khả năng bù đắp rủi ro
Khả năng bù đắp rủi ro = (VCSH + Dự phòng rủi ro) / Tổng dư nợ xấu
* Phân loại nợ: Chia làm 5 nhóm:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), nhóm 2 (Nợ cần chú ý), nhóm 3 ( Nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), nhóm 5 ( Nợ có khả năng mất vốn)
Các mô hình thường được NHTM sử dụng để lượng hóa rủi ro tín dụng:
từ những nguồn riêng như các hồ sơ tín dụng và tài khoản, hay mua thông tin
từ nội bộ như các đại lý có uy tín Thông tin này giúp một nhà quản lý tạo ra
sự đánh giá có hiểu biết về xác suất vỡ nợ của người đi vay và định giá khoản vay hay khoản nợ một cách chính xác Một số nhân tố then chốt như danh
tiếng, độ biến thiên của lợi nhuận, tài sản thế chấp, chu kỳ kinh doanh… Đây
là mô hình cổ điển để đánh giá rủi ro tín dụng Hiện nay, hầu hết các ngân hàng đều tiếp cận phương pháp đánh giá rủi ro hiện đại, nghĩa là sử dụng mô
hình định lượng
Trang 25* Mô hình điểm số Z của E.I.Altman: Chỉ số biến động Z đo lường toàn
bộ mức độ rủi ro của người vay.Chỉ số này phụ thuộc vào giá trị của các chỉ số các yếu tố tài chính của khách hàng (XJ) tầm quan trọng của các chỉ số này trong
việc xác định xác suất vỡ nợ Hàm số phân biệt của Altman có dạng sau:
Z = 1,2X1+1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó: X1 là tỷ lệ vốn lưu động và tổng tài sản, X2 là tỷ lệ lợi nhuận tích lũy và tổng tài sản; X3 là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước thuế và lãi trên tổng tài sản, X4 là tỷ lệ giữa giá trị trị trường của cổ phiếu và giá trị ghi sổ của nợ dài hạn, X5 là tỷ lệ giữa doanh thu và tổng tài sản Và khi trị số Z càng cao thì khách hàng có xác suất vỡ nợ càng thấp Với Z<1,8: khách hàng có khả năng rủi ro cao, với 1,8<Z<3: không xác định được, với Z>3: khách hàng không có khả năng vỡ nợ
* Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s: Rủi ro tín dụng hay rủi ro không hoàn được nợ của công ty thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu Những đánh giá này được chuẩn bị bởi một số hãng dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó hãng dịch vụ Moody’s và Standard & Poor’s là trong số các hãng dịch vụ tốt nhất Các hãng đó thường có hệ thống
các chỉ tiêu riêng để đánh giá chất lượng hoạt động của công ty Trên cơ sở đó
người ta đưa ra hệ thống xếp hạng sau:
Trang 26Bảng 1.2 Hệ thống xếp hạng tín dụng
Đối với Moody’s xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aa (Moody’s) và AA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Nhưng do có mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận nên tuy việc xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng có lợi nhuận cao nên đôi lúc khách
Trang 27Mỗi mô hình đều có ưu điểm và nhược điểm riêng, tùy vào tình hình thực tế mà ngân hàng có thể sử dụng một trong các phương pháp trên hoặc kết hợp các phương pháp để tiến hành phân tích và đo lường RRTD
1.2.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro tín dụng là trọng tâm của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng Đó là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để né tránh, ngăn ngừa rủi ro, giảm thiểu những tổn thất hoặc đa dạng hóa sản phẩm nhằm phân tán rủi ro có thể xảy ra đối với ngân hàng
a Né tránh rủi ro : Là chủ động né tránh trước khi rủi ro xảy ra hoặc
loại bỏ những nguyên nhân gây rủi ro Dùng đường đi khác để tránh né rủi ro, đường đi mới có thể không có rủi ro, hoặc rủi ro ở mức độ nhẹ hơn, hoặc chi phí để đối phó với rủi ro thấp hơn Có thể thay đổi phương pháp, công cụ thực hiện, thay đổi con người, cũng có thể thương lượng với khách hàng (hay nội bộ) để thay đổi mục tiêu
b Ngăn ngừa rủi ro: Chương trình ngăn ngừa rủi ro tìm cách giảm bớt
số lượng các rủi ro xảy ra hoặc loại bỏ chúng hoàn toàn Ở đây, chuỗi rủi ro là rất quan trọng vì cá hoạt động ngăn ngừa rủi ro tìm cách can thiệp vào ba mắt xích đầu tiên của chuỗi :sự nguy hiểm, môi trưởng rủi ro, sự tương tác giữa mối nguy hiểm và môi trường Hoạt động ngăn ngừa tổn thất sẽ tập trung vào quá trình thực hiện chính sách thay thế hoặc sửa đổi hiểm họa; thay thế hoặc sửa đổi môi trường; thay thế hoặc sửa đổi cơ chế tương tác
c Giảm thiểu tổn thất: Các biện pháp giảm thiểu tổn thất tấn công vào
các rủi ro bằng cách làm giảm bớt giá trị hư hại khi tổn thất xảy ra (tức giảm nhẹ sự nghiêm trọng của tổn thất) Những hoạt động giảm thiểu tổn thất là những biện pháp sau khi tổn thất đã xảy ra Mặc dù những biện pháp này được đặt ra trước khi một tổn thất nào đó xuất hiện, nhưng chức năng hoặc
Trang 28mục đích của những biện pháp này là giảm tác động của tổn thất một cách hiệu quả nhất Các biện pháp giảm thiểu tốn thất thường được sử dụng:
+ Xây dựng các kế hoạch phòng ngừa rủi ro: thể chế hóa các chính sách quy trình hành động ngay khi xuất hiện dấu hiệu tổn thất nhằm giảm thiếu đến mức thấp nhất thiệt hại do tổn thất gây ra
+ Lập dự phòng rủi ro: là việc chuẩn bị sẵn sàng một tài sản khác bù đắp cho tổn thất có thể xảy ra của tài sản gốc Công tác này được các NHTM thực hiện thông qua việc trích lập dự phòng rủi ro
tác động của tổn thất lên toàn bộ ngân hàng Kỹ thuật này thường sử dụng nhiều cho rủi ro suy đoán, đặc biệt là đầu tư chứng khoán Để đa dạng hóa rủi
ro, ngân hàng thường sử dụng các biện pháp như đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa các loại hình cho vay, đa dạng hóa các lĩnh vực và ngành nghề
1.2.4 Tài trợ rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh tín dụng, các ngân hàng thương mại luôn phải chấp nhận một mức độ rủi ro và không thể né tránh hoàn toàn rủi ro Do
đó khi tổn thất xảy ra thì giải quyết bằng cách tài trợ cho rủi ro đó
Tài trợ rủi ro tín dụng là việc sử dụng những kỹ thuật và công cụ để tài trợ cho chi phí của rủi ro và tổn thất khi rủi ro xảy ra Trong quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thường sử dụng phổ biến một số công cụ để tài trợ cho rủi ro tín dụng, đó là:
a Trích lập dự phòng: Là biện pháp tự khắc phục rủi ro trong hoạt
động tín dụng của NH NH thực hiện việc phân loại nợ, trích lập và sử dụng
dự phòng đối với các khoản nợ theo quy định của NHNN
b Thanh lý tài sản: Là phương án giải quyết cuối cùng để bảo toàn vốn,
hoặc thu lại một tỷ lệ vốn nhất định Trong hoạt động này, NH có thể yêu cầu
sự hợp tác từ KH hoặc nhờ pháp luật can thiệp nếu cần thiết
Trang 29c Chuyển giao rủi ro
+ Ch ứng khoán hoá: Việc tích hợp các khoản vay tốt lẫn những khoản vay có vấn đề có thể đưa ra hoặc không đưa ra ngoại bảng cho một tổ chức thực hiện việc phát hành chứng khoán
+ B ảo hiểm tín dụng: Là hình thức chuyển một phần hoặc toàn bộ rủi ro
tín dụng của các tổ chức tín dụng cho các tổ chức bảo hiểm hoặc yêu cầu khách hàng từ bảo hiểm để phòng ngừa bất trắc xảy ra
cho các tài sản khác có tính thanh khoản cao hơn
1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của thanh toán quốc tế
a Khái niệm thanh toán quốc tế
Mỗi một quốc gia độc lập phải thực hiện nhiều mối quan hệ quốc tế trên các lĩnh vực : kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, hợp tác khoa học kỹ thuật Trong đó quan hệ kinh tế chiếm vị trí quan trọng, nó là cơ sở cho các quan hệ quốc tế khác Trong quá trình hoạt động, các quan hệ nêu trên đều liên quan tới tài chính, do đó nó liên quan mật thiết đến công tác thanh toán Theo Trầm Thị Xuân Hương (2006), thanh toán quốc tế là quá trình thực hiện các khoản thu chi tiền tệ quốc tế thông qua hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm phục vụ cho các mối quan hệ trao đổi quốc tế phát sinh giữa các nước với nhau
Theo Nguyễn Văn Tiến (2007), thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan
hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan
Trang 30b Đặc điểm của thanh toán quốc tế
Từ hai định nghĩa trên đây, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm của thanh toán quốc tế:
Trước hết, thanh toán quốc tế diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới
Thanh toán quốc tế khác với thanh toán trong nước là ở đây nó liên quan đến việc trao đổi tiền của quốc gia này lấy tiền của quốc gia khác Vì vậy khi
ký kết các hợp đồng mua bán ngoại thương các bên phải thỏa thuận với nhau lấy đồng tiền của nước nào là tiền tệ tính toán và thanh toán trong hợp đồng, đồng thời phải tính toán thận trọng để lựa chọn các biện pháp phòng chống rủi
ro khi tỷ giá hối đoái biến động
Tiền tệ trong thanh toán quốc tế thường không phải là tiền mặt mà nó tồn tại dưới hình thức các phương tiện thanh toán như thư chuyển tiền, điện chuyển tiền, hối phiếu, kỳ phiếu và séc ghi bằng ngoại tệ
Thanh toán giữa các nước đều được tiến hành thông qua ngân hàng và không dùng tiền mặt, nếu có thì chỉ trong những trường hợp riêng biệt Do vậy thanh toán quốc tế về bản chất chính là các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế Chúng được hình thành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thương và các trao đổi tiền tệ quốc tế
Thanh toán quốc tế được thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thương và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán
c Vai trò của thanh toán quốc tế
Đối với nền kinh tế: Thanh toán quốc tế góp phần mở rộng và thúc đẩy
quan hệ kinh tế đối ngoại, tăng cường vị thế kinh tế của mỗi quốc gia trên thị
Trang 31trường quốc tế, tạo cầu nối giữa các quốc gia trong quan hệ thanh toán
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh XNK: Thanh toán quốc tế phục vụ
nhu cầu thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ XNK của doanh nghiệp
Đối với các ngân hàng thương mại: Thanh toán quốc tế tạo doanh thu
dịch vụ, thúc đẩy các hoạt động khác của ngân hàng phát triển
1.3.2 Các loại hình tín dụng trong thanh toán quốc tế
Thương mại quốc tế bao gồm những mối quan hệ rất đa dạng, phức tạp Với tư cách là trung gian tài chính, ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho hoạt động TTQT diễn ra liên tục nhanh chóng, thuận lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu Dựa trên các tiêu chí ta có thể chia tín dụng TTQT ra thành các hình thức như sau:
Thư tín dụng (L/C) là một văn bản pháp lý trong đó một ngân hàng cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho nhà xuất khẩu hoặc chấp nhận hối phiếu
do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với quy định đề ra trong thư tín dụng
* Đối với L/C trong thanh toán hàng nhập khẩu
- Cho vay ký quỹ L/C
Ký quỹ là một quy định của ngân hàng phát sinh trong trường hợp khách hàng xin được bảo lãnh, khách sẽ phải nộp một khoản tiền nhất định vào tài khoản của họ tại ngân hàng mà họ xin được bảo lãnh và khoản tiền đó
se được phong toả cho đến khi nghiệp vụ bảo lãnh của ngân hàng chấm dứt Thông thường khoản tiền này được tính tỷ lệ với giá trị hợp đồng mà khách hàng xin được bảo lãnh Trong trường hợp thiếu sự tin cậy hoặc thương vụ tiềm ẩn rủi ro cao ngân hàng có thể yêu cầu khách hàng ký quỹ 100% giá trị hợp đồng Đối với những khách hàng đáng tin cậy hoặc có quan hệ thường
Trang 32xuyên thì ngân hàng có thể chấp nhận mức ký quỹ thấp hơn so với giá trị hợp đồng
Thông thường mức ký quỹ L/C phụ thuộc vào các yếu tố sau
+ Khả năng thanh toán của khách hàng
+ Đối tượng khách hàng
+ Loại L/C: L/C trả chậm thì mức ký quỹ thấp, loại L/C trả ngay thì bắt buộc mức ký quỹ cao hơn
+ Loại hàng hoá nhập khẩu, khả năng tiêu thụ
Trên cơ sở các yếu tố trên, ngân hàng sẽ quyết định mức ký quỹ, nếu như khách hàng không có đủ số dư trên tài khoản thì phải tiến hành làm đơn xin vay ngoại tệ ký quỹ L/C
- Cho vay thanh toán hàng nhập khẩu hoặc tài trợ thanh toán toàn
bộ chứng từ giao hàng
Theo hình thức này khách hàng phải lập phương án sản xuất kinh doanh mang tính khả thi cho lô hàng nhập về phục vụ sản xuất kinh doanh Đồng thời khách hàng phải lên kế hoạch tài chính nhằm xác định khả năng thanh toán khi đến thời điểm thanh toán dự kiến, xác định khoản thiếu hụt với ngân hàng tài trợ Trên cơ sở xem xét và phân tích kế hoạch và phản ánh của khách hàng, ngân hàng sẽ ra quyết định tài trợ và xác định mức ngân hàng chấp nhận tài trợ
* Đối với L/C trong thanh toán hàng xuất khẩu
- Cho vay thực hiện hàng xuất khẩu theo L/C đã mở trên cơ sở L/C
đã được chấp nhận do ngân hàng mở L/C phát hành theo yêu cầu của nhà nhập khẩu Ngân hàng có thể cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu để tiêu thụ sản phẩm và có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng
- Cho vay chiết khấu hoặc ứng trước tiền hàng xuất khẩu:
Để đáp ứng nhu cầu vốn, nhà xuất khẩu sau khi giao hàng xong có thể
Trang 33thương lượng với ngân hàng thực hiện chiết khấu bộ chứng từ hoặc ứng trước tiền cho mình trước khi bộ chứng từ được thanh toán
- Nhờ thu đi trong thanh toán hàng xuất khẩu: Ngân hàng cho vay
thu mua, sản xuất hàng xuất khẩu, chiết khấu hoặc ứng trước bộ chứng từ hàng xuất khẩu
- Nhờ thu đến trong thanh toán hàng nhập khẩu: Ngân hàng tiếp
nhận chứng từ từ ngân hàng nước ngoài, xuất trình hối phiếu đòi tiền nhà nhập khẩu Nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán, thì cần phải có
sự tài trợ của ngân hàng cho vay thanh toán hàng nhập khẩu
c Cho vay trên cơ sở hối phiếu
Trong kinh doanh ngoại thương hối phiếu đóng vai trò rất quan trọng, trên cơ sở hối phiếu ngân hàng có các hình thức cho vay sau:
* Chiết khấu hối phiếu
Chiết khấu hối phiếu là một loại tín dụng ngân hàng cung cấp cho khách hàng dưới hình thức mua lại hối phiếu trước khi nó đến hạn thanh toán, tức là ngân hàng mua lại khoản nợ phải đòi Chiết khấu hối phiếu tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu nhận được tiền sớm hơn nhằm đáp ứng được nhu cầu về vốn đối với khoản tín dụng cung ứng hàng mà anh ta cấp cho nhà nhập khẩu
Cơ sở để xác định khối lượng tín dụng này là giá trị của hối phiếu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu mà ngân hàng chiết khấu hưởng Các ngân hàng sẽ xác định khối lượng tín dụng cấp ra(giá trị chiết khấu) theo công thức sau:
Tck = M(1-Lck * t/3600) - P Trong đó:
Tck : Giá trị chiết khấu
M : Mệnh giá hối phiếu
Trang 34Lck : Lãi suất chiết khấu
t : Thời hạn chiết khấu(ngày)
P : lệ phí
Có 2 hình thức chiết khấu:
- Chiết khấu miễn truy đòi
Ngân hàng mua lại bộ chứng từ của người xuất khẩu, giá mua sẽ thấp hơn giá trị bộ chứng từ, do ngân hàng tính trừ lại chi phí chiết khấu và thời gian cần thiết trung bình để đòi tiền nhà nhập khẩu nước ngoài Chiết khấu miễn truy đòi có nghĩa là người xuất khẩu bán hãn bộ chứng từ cho ngân hàng, nhận tiền và không còn trách nhiệm hoàn trả, trách nhiệm thu tiền và quyền sữ dụng số tiền thu được hoàn toàn thuộc về ngân hàng ở Việt Nam các ngân hàng ít sử dụng hình thức chiết khấu này vì nó tiềm ẩn nhiều rủi ro cho ngân hàng
- Chiết khấu được phép truy đòi
Cũng tương tự như hình thức trên nhưng trách nhiệm thanh toán hối phiếu vẩn còn đối với người chiết khấu hối phiếu (nhà xuất khẩu ) và giá trị chiết khấu cao hơn
* Chấp nhận hối phiếu
Tín dụng chấp nhận hối phiếu là khoản tín dụng mà ngân hàng ký chấp nhận hối phiếu Người vay khoản tín dụng này chính là nhà nhập khẩu và khoản vay chỉ là một hình thức, một sự đảm bảo về tài chính Thực chất ngân hàng chưa phải xuất tiền thực sự cho người vay Tuy nhiên khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì người cho vay (ngân hàng) - người đứng ra chấp nhận hối phiếu phải trả nợ thay
Tín dụng chấp nhận hối phiếu xảy ra trong trường hợp bên bán thiếu tin tưởng khả năng thanh toán của bên mua Họ có thể đề nghị bên mua yêu cầu một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do bên bán ký phát Nếu
Trang 35ngân hàng đồng ý, điều đó cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận một khoản tín dụng cho bên mua để họ thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn
Đối với ngân hàng, kể từ khi ký chấp nhận trả tiền hối phiếu cũng chính
là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro nếu như bên mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán
Đương nhiên nếu đến hạn thanh toán hối phiếu, bên mua có đủ tiền thì ngân hàng thực sự không phải ứng tiền ra Như vậy, khoản tín dụng này chỉ là hình thức, là một sự đảm bảo về tài chính Trong trường hợp này, ngân hàng
sẽ chỉ nhận được một khoản phí chấp nhận, khoản tiền bù đắp cho chi phí gánh chịu rủi ro tín dụng mà thôi
d Một số hình thức tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu khác
* Bao thanh toán toàn phần và bao thanh toán từng phần
- Bao thanh toán toàn phần (factoring): là một hình thức tài trợ chính
trong hoạt động xuất khẩu Đó là hoạt động mua bán những khoản thanh toán chưa tới hạn và ngắn hạn từ những hoạt động xuất khẩu, cung ứng hàng hoá dịch vụ
Khác với hoạt động mua bán lại chứng từ thanh toán ở phần trên, hoạt động factoring chỉ sử dụng cho những hoạt động xuất khẩu thường xuyên theo định kỳ, theo hợp đồng ngắn hạn và cho nhiều nhà xuất khẩu khác nhau trong cùng một nước hoặc nhiều nước trong cùng một thời điểm Chỉ có những khoản thanh toán đáp ứng những điều kiện sau mới được phép mua bán:
+ Những khoản mua bán phải tồn tại một cách hợp pháp, phải có đủ tư cách pháp lý độc lập với quyền một người thứ ba
+ Hàng hoá đã được cung ứng đầy đủ và đảm bảo chất lượng cho những khoản thanh toán này
Trang 36+ Thời hạn thanh toán này tối đa là 180 ngày
+ Không có quyền cấm chuyển nhượng các khoản thanh toán này của người nhập khẩu hoặc nước nhập khẩu
- Bao thanh toán từng phần (forfaiting): cũng là nghiệp vụ mua bán
những khoản thanh toán chưa tới thời hạn như factaring nhưng khác ở một số điểm sau:
+ Forfaiting chỉ bao những khoản thanh toán cụ thể riêng lẻ trong toàn
bộ quá trình TTQT dài hạn và cho từng đối tượng nhập khẩu riêng
+ Thời hạn thanh toán của factoring tối đa là 6 tháng trong khi thời hạn đối với forfaiting là 6 tháng đến 10 năm Forfaiting được coi là hình thức tín dụng trung và dài hạn
+ Factaring phục vụ cho những hoạt động TTQT không sử dụng tới tín dụng chứng từ còn forfaiting lại dựa vào chúng và sự bảo đảm của ngân hàng
* Tín dụng thuê mua
Thuê mua là hình thức thuê tài sản dài hạn mà trong thời gian đó người cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho người đi thuê sử dụng Người thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê và khi kết thúc thời hạn họ có thể được quyền sở hữu tài sản thuê hoặc được mua lại tài sản thuê hay là được quyền thuê tiếp Điều này tuỳ thuộc vào thoả thuận của hai bên khi ký hợp đồng thuê Có hai loại hình thức thuê mua
Đó là: cho thuê vận hành và cho thuê tài chính
- Cho thuê tài chính: là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua
việc cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác Bên đi thuê được chuyển quyền sở hữu hoặc tiếp tục thuê khi kết thúc thời hạn thuê
- Cho thuê vận hành: bên đi thuê thuê máy móc, thiết bị trong thời gian ngắn để sử dụng vào mục đích tạm thời Mọi rủi ro và lợi ích đem lại đối với quyền sở hữu tài sản cho thuê vẫn thuộc người cho thuê
Trang 37So với hình thức cho vay truyền thống, hình thức thuê mua này có những
ưu điểm sau:
+ Các doanh nghiệp sẽ không phải bỏ tiền mua thiết bị ngay lập tức mà trả tiền thuê thiết bị theo định kỳ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động hơn về vốn để tập trung cho sản xuất Hình thức này có ý nghĩa nhất đối với doanh nghiệp không đủ vốn nhưng vẫn có thể đi thuê thiết bị thiết bị để sản xuất và dùng một phần lợi thu được từ sản xuất để trả tiền thuê định kỳ + So với đi vay ngân hàng, việc thế chấp để được thuê máy móc thiết bị đơn giản hơn nhiều do thiết bị thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê trong suốt thời gian thuê, nên khi bên thuê không trả được nợ, bên cho thuê có thể lấy lại toàn bộ tài sản cho thuê Ngày nay các ngân hàng thường lập công
ty tài chính riêng để hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp và làm phong phú thêm hoạt động của mình
* Tài trợ bảo lãnh và tái bảo lãnh
Trong thương mại quốc tế, rủi ro là một yếu tố luôn luôn xuất hiện trong các thương vụ khác nhau (rủi ro thanh toán, rủi ro không thực hiện hợp đồng)
Từ đó nảy sinh nhu cầu bảo lãnh để hạn chế rủi ro
Trong mua bán quốc tế, đôi khi nhà xuất khẩu không nắm chắc được khả năng tài chính để thanh toán và mức độ tín nhiệm của nhà nhập khẩu Do vậy, nhà xuất khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu phải có một tổ chức thường là ngân hàng đứng ra bảo lãnh thanh toán Ngược lại, do không biết rõ hoặc không tin tưởng nhau, nhà nhập khẩu có thể yêu cầu nhà xuất khẩu có ngân hàng đứng
ra bảo lãnh giao hàng hoặc bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Ngân hàng nhận bảo lãnh theo yêu cầu của khách hàng, dùng để vay vốn nước ngoài dưới hình thức tín dụng thương mại hoặc tín dụng tài chính Trách nhiệm của ngân hàng bảo lãnh là đảm bảo thi hành đúng cam kết với nước
Trang 38ngoài trong trường hợp người xin bảo lãnh không thực hiện đủ nghiệp vụ nào
đó với nước bên ngoài
Bảo lãnh cũng có nhiều hình thức khác nhau:
+ Mở thư tín dụng trả chậm
+ Ký bảo lãnh hay ký chấp nhận trên các hối phiếu
+ Phát hành thư bảo lãnh với người nước ngoài
+ Lập giấy cam kết trả nợ với nước ngoài
Các lợi thế của các bên liên quan trong nghiệp vụ này
- Đối với nhà nhập khẩu (bên được bảo lãnh): được hưởng một khoản vốn của bên xuất khẩu mà không phải trả lãi (thực chất có thể giá bán đã tính lãi rồi) chi trả một khoản phí cho người bảo lãnh
- Đối với nhà xuất khẩu: hoàn toàn yên tâm rằng đến hạn sẽ được thanh toán nợ Nếu cần tiền, nhà xuất khẩu cũng có thể đem bộ chứng từ chiết khấu tại một ngân hàng khác để đáp ứng nhu cầu vốn của mình
- Đối với ngân hàng bảo lãnh: với bất kì ngân hàng nào, khi tiến hành bảo lãnh, nghĩa là được sự tín nhiệm, được sự tin tưởng về phía bên xuất khẩu, bên nhập khẩu Khi bảo lãnh cho khách hàng, ngân hàng chỉ cho vay trừu tượng nghĩa là ngân hàng không bỏ ra một khoản vốn nào cả, mà chỉ lấy
uy tín, danh dự của ngân hàng ra cho vay, làm cơ sở cho vay
Thủ tục bảo lãnh cho vay ngắn hạn theo phương thức cho vay thông thường nghĩa là khi bảo lãnh cho khách hàng thì khách hàng phải có mục đích xin vay, có khả năng thanh toán và có tài sản thế chấp Khi đến hạn, nếu nhà nhập khẩu không có đủ khả năng thanh toán, thì cần phải làm thủ tục xin vay tại ngân hàng Như vậy, mục đích bảo lãnh đã được thực hiện, nghĩa là ngân hàng bảo lãnh muốn khách hàng của mình vay nhằm thu thêm được một khoản lãi, có khách hàng mới về mặt tín dụng và chi phí bảo lãnh
Trang 391.3.3 Rủi ro trong tín dụng thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại
Rủi ro trong hoạt động tín dụng trong thanh toán quốc tế là một dạng rủi
ro trong hoạt động của ngân hàng thương mại Đó là những biến cố bất thường, không mong đợi xảy ra, dẫn đến tổn thất cho ngân hàng Trong nền kinh tế thị trường với xu hướng toàn cầu hoá ngày càng rõ rệt và quan hệ thương mại quốc tế ngày càng được mở rộng thì đồng thời hoạt động TTQT cũng đồng thời cũng phát triển với quy mô ngày càng lớn Điều này đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy lợi thế của các quốc gia trong quan hệ kinh
tế đối ngoại với các quốc gia khác Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng của hoạt động TTQT thì vai trò của ngân hàng trong việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động thanh toán TTQT ngày càng lớn, và cũng do vậy những rủi ro với các ngân hàng cũng ngày càng lớn hơn Những rủi ro tín dụng trong TTQT là rất đa dạng và khó quản lý Bởi vì khác với hoạt động tín dụng thông thường, hoạt động tín dụng trong thanh toán quốc tế chịu tác động của nhiều yếu tố ngẫu nhiên, bất ngờ khó nắm bắt như: tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới, các cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị ảnh hưởng rất lớn đến các quan hệ kinh tế đối ngoại, tác động trực tiếp đến tâm lý, nhu cầu cũng như nguồn cung cấp các mặt hàng nhập khẩu Bên cạnh đó, các yếu tố liên quan đến tỷ giá, yếu tố thời vụ cũng ảnh hưởng đến giá trị hàng hoá TTQT, qua đó tác động xấu đến hoạt động của doanh nghiệp và ảnh hưởng đến lợi ích của ngân hàng, dẫn tới tổn thất cho ngân hàng và nền kinh tế
Như chúng ta đã biết,trong quan hệ TTQT thường luôn có một phía đối tác nước ngoài, và như vậy, các doanh nghiệp kinh doanh TTQT trong nước cũng như ngân hàng tài trợ rất khó nắm bắt được tất cả các thông tin cần thiết
về đối tác một cách chính xác Do đó, khả năng xảy ra rủi ro đã xảy ra thì tổn thất không thể tránh khỏi đối với doanh nghiệp cũng như ngân hàng Mặc dù,
Trang 40về nguyên tắc trong hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và đơn vị được tài trợ luôn có những điều khoản quy định rõ ràng quyền hạn của ngân hàng cũng như trách nhiệm của doanh nghiệp, các điều khoản này nhằm đảm bảo khả năng trả nợ của doanh nghiệp và sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu quả Đồng thời đơn vị được tài trợ cũng luôn phải có tài sản thế chấp đảm bảo khoản vay Tuy nhiên, những tài sản thế chấp này lại chính là lô hàng đó Thậm chí ngay cả khi hợp đồng TTQT hàng hoá của doanh nghiệp là hoàn hảo và doanh nghiệp thực hiện hợp đồng một cách suôn sẻ thì rủi ro vẫn có thể xảy ra do sự vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, ngay cả khi các đơn vị được tài trợ hoàn toàn có khả năng thực hiện các cam kết đó
Xét một cách tổng thể, ta có thể thấy rằng, rủi ro trong tín dụng trong TTQT cũng giống như của tín dụng ngân hàng nói chung nó luôn là một yếu
tố bất lợi, tiềm ẩn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với hậu quả không thể lường trước được Vì vậy, đòi hỏi các ngân hàng phải tìm ra biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa rủi ro và thiệt hại có thể xảy ra Muốn vậy các ngân hàng phải thực hiện có hiệu quả trong việc tìm hiểu thông tin về đối tác, về thị trường,
về dự báo và đưa ra các biện pháp phòng ngừa rủi ro
Các biện pháp phải được thiết lập một cách đồng bộ và phải được thực hiện một cách nghiêm túc và có sự hỗ trợ của các cơ quan chức năng chuyên trách
Có như vậy mới có thể thực hiện tốt được công tác phòng ngừa rủi ro, hạn chế tối đa tổn thất, thúc đẩy sự phát triển của hoạt động TTQT nhằm tăng nguồn thu
ngoại tệ cho đất nước, đổi mới công nghệ, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.3.4 Yêu cầu QTRR tín dụng trong thanh toán quốc tế
a Về công tác nhận diện rủi ro
Cơ sở cho việc quản trị rủi ro tín dụng một cách có hiệu quả là việc xác định những rủi ro tiềm tàng và rủi ro hiện có trong bất cứ sản phẩm hay hoạt động nào của ngân hàng Để nhận diện rủi ro cần xem xét, đánh giá, nghiên