TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ ĐINH SỸ BÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
ĐINH SỸ BÌNH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á –
CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2017
Trang 2ĐINH SỸ BÌNH
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN BẮC Á –
Trang 3Em xin cam đoan:
Những nội dung trong báo cáo này là do em thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thầy giáo: GS.TS Lê Thế Giới
Những số liệu, tài liệu thu thập và phân tích trong đề tài là hoàn toàn trung thực, chính xác và chưa hề có trong bất cứ đề tài nào
Mọi tham khảo nội dung trong đề tài này đều được trích dẫn rõ rang tên tác giả, tên công trình, thời gian, địa điểm công bố
Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, hay gian dối, em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả luận văn
Đinh Sỹ Bình
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
6 Bố cục đề tài 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng 9
1.1.2 Phân loại tín dụng 10
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG 11
1.2.1 Khái niệm Rủi ro tín dụng của NHTM 12
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng 13
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng 14
1.2.4 Những căn cứ chủ yếu để xác định rủi ro tín dụng 15
1.2.5 Những nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng 17
1.2.6 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 18
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 19
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng 19
1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng 21
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới công tác quản trị rủi ro tín dụng của NHTM 32
Trang 51.4.2 Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI BACABANK – CN ĐÀ NẴNG 42
2.1 GIỚI THIỆU VỀ BẮC Á BANK VÀ BẮC Á BANK – CN ĐÀ NẴNG 42 2.1.1 Giới thiệu chung 42
2.1.2 Tình hình hoạt động của BacABank-ĐN 46
2.2 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI BACABANK-ĐN 52
2.2.1 Tình hình hoạt động cho vay đối với KHCN 52
2.2.2 Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu 55
2.2.3 Rủi ro tín dụng trong các loại hình cho vay 57
2.2.4 Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại BacABank-ĐN trong thời gian qua 58
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI BACABANK-ĐN 61
2.3.1 Thực trạng công tác nhận diện rủi ro trong cho vay tại BacABank-ĐN 61
2.3.2 Thực trạng đo lường rủi ro tín dụng trong cho vay đối với khách hàng cá nhân 64
2.3.3 Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay 67
2.3.4 Tài trợ rủi ro tín dụng 70
2.3.5 Thực trạng về công tác giải quyết RRTD 73
2.3.6 Đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với KHCN tại BacABank-ĐN 74
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80
Trang 6HÀNG CÁ NHÂN TẠI BẮC Á BANK – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 81
3.1 CƠ SỞ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI BACABANK-ĐN 82
3.1.1 Dự báo tình hình kinh tế năm 2017 81
3.1.2 Định hướng hoạt động cho vay và mục tiêu quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại BacABank-ĐN 82
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ HOÀN THIỆN QUY TRÌNH QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI BACABANK-ĐN 84
3.2.1 Hoàn thiện công tác nhận dạng rủi ro 84
3.2.2 Hoàn thiện công tác đo lường rủi ro 85
3.2.3 Hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro 87
3.2.4 Hoàn thiện công tác tài trợ rủi ro 93
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP BẮC Á – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 95
3.3.1 Kiến nghị với Nhà nước 95
3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN 100 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 7NHNNVN : Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTMCP : Ngân hàng Thương mại cổ phần
NHTMNN : Ngân hàng Thương mại nhà nước
Trang 8Số hiệu
2.1 Tăng trưởng dự nợ cho vay của BacABank-ĐN 492.2 Tình hình thu nhập – chi phí giai đoạn 2014– 2016 51
2.3 Cơ cấu Dư nợ tín dụng KHCN theo các sản phẩm tín dụng
2.10 Tỷ lệ khấu trừ đối với từng loại tài sản 722.11 Kết quả trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng 72
Trang 9Số hiệu
2.4 Quy trình xử lý nợ xấu ở BacABank-ĐN 74
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường ngân hàng của Việt Nam đang ở giai đoạn tái cơ cấu ngân hàng là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của tái cơ cấu kinh tế - một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay Sự ổn định, an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng được giữ vững và cải thiện Nguy cơ đổ vỡ hệ thống NHTM được đẩy lùi; sở hữu chéo trong hệ thống NHTM giảm, giúp các ngân hàng tăng sức cạnh tranh Các Ngân hàng đã nhận thức được tầm quan trọng của năng lực quản trị rủi ro đối với sự sống còn và phát triển của mình Việc quản trị rủi ro tín dụng là một công tác hết sức cần thiết đối với các NHTM bởi tín dụng là hoạt động mang lợi nhuận cao cho các ngân hàng nhưng lại tiềm ẩn rủi ro phức tạp nhất và khó lường nhất Do đó để đảm bảo được nguồn lợi nhuận từ hoạt động tín dụng thì công tác quản trị rủi ro tín dụng luôn được đặt lên hàng đầu
Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập thị trường tài chính và nền công nghiệp dịch vụ tài chính, đặc biệt là thực hiện cam kết mở cửa hoàn toàn trên lĩnh vực tài chính ngân hàng thì đòi hỏi các ngân hàng Việt Nam phải có những cải cách mạnh mẽ để giải quyết tốt công tác này nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng trong nước, để các Ngân hàng Việt Nam không bị “lép vế” trước sự thâm nhập của các ngân hàng nước ngoài Với tầm quan trọng của hoạt động tín dụng và mối tương quan của hoạt động này với các hoạt động kinh doanh khác tại Ngân hàng TMCP Bắc Á – Chi nhánh Đà Nẵng, việc nghiên cứu, đo lường và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho công cuộc xây dựng phát triển bền vững của BacABank-ĐN
Ngay từ khi mới thành lập vào tháng 02/2012, BacABank-ĐN đã xác
Trang 11định phân khúc mục tiêu cho mình đối tượng chủ đạo là KHCN, cung cấp các sản phẩm, dịch vụ và giải pháp tài chính trọn gói cho KHCN là trọng tâm trong quá trình hoạt động Với định hướng đó, trong những năm qua BacABank-ĐN đã không ngừng mở rộng và phát triển hoạt động tín dụng KHCN Thêm vào đó, Hội sở của BacABank đã không ngừng nghiên cứu để cho ra đời danh mục sản phẩm tín dụng KHCN đa dạng, nhiều tiện ích và cạnh tranh đồng thời công tác quảng bá cũng được chú trọng để mang sản phẩm tốt nhất đến với khách hàng
Không chỉ riêng BacABank mà nhiều ngân hàng TMCP Việt Nam đã thấy được tầm quan trọng của tín dụng KHCN và đã có những chiến lược để phát triển hoạt động này Đây chính là xu thế phát triển tất yếu của các NHTM, thực tế các NHTM tại các nước phát triển tỷ trọng tín dụng KHCN chiếm đến gần70% dư nợ
Nói đến tín dụng KHCN là nói đến độ sinh lời cao gắn với rủi ro lớn Khủng hoảng cho vay dưới chuẩn tại Mỹ, sự biến động của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản tại Việt Nam là những ví dụ điển hình cho thấy những nguy cơ rủi ro đối với tín dụng KHCN
Mở rộng, phát triển tín dụng KHCN là xu hướng đúng đắn và đảm bảo mang lại thu nhập cao cho ngân hàng nhưng đây cũng là hoạt động tiềm ẩn rủi
ro lớn có khả năng tác động xấu đến ngân hàng nếu không được kiểm soát chặt chẽ Với những đặc thù của tín dụng KHCN, đặt ra yêu cầu phải kết hợp một cách chặt chẽ giữa việc mở rộng với việc quản trị rủi ro Việc mở rộng tín dụng chỉ thực sự mang lại hiệu quả nếu đi liền với nó là việc quản trị rủi ro
Từ xu hướng chung và sau một thời gian công tác tại Phòng thẩm định KHCN tại BacABank-ĐN, cá nhân tôi nhận thấy sự cần thiết và tầm quan
trọng của việc quản trị rủi ro tín dụng KHCN vì vậy tôi chọn đề tài: “Quản trị
rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bắc Á- CN Đà Nẵng”
Trang 122 Mục đích nghiên cứu
Một là: Nêu ra những vấn đề lý thuyết cơ bản của tín dụng, quản trị rủi
ro tín dụng của các NHTM
Hai là: Đánh giá thực trạng hoạt động tín dụng tại BacABank-ĐN trong
các năm gần đây Nêu ra các dấu hiệu nhận biết sớm nguy cơ tiềm ẩn, làm rõ các nhân tố gây ra rủi ro tín dụng của các NHTM Việt Nam nói chung và tại BacABank-ĐN nói riêng
Ba là: Đề xuất một số giải pháp quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả, hạn
chế đến mức thấp nhất có thể những tác hại xấu do nó gây ra, góp phần phục
vụ cho các mục tiêu phát triển của ngành ngân hàng trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và trong khu vực
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận dạng, đo lường, phân tích các nhân tố gây ra rủi ro tín dụng và đề ra các giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tín dụng đối với khách hàng cá nhân của BacABank-ĐN để nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở xuyên suốt quá trình nghiên cứu của đề tài là:
Phương pháp phân tích định tính, định lượng để đo lường rủi ro tín dụng đối với một khoản tín dụng hay với danh mục tín dụng trong hoạt động tín dụng của ngân hàng
Trang 13Phương pháp chuyên gia: Tác giả có sử dụng nghiên cứu và đánh giá của một số chuyên gia
Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp số liệu các báo cáo thống kê của Ngân hàng TMCP Bắc Á cũng như các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán cũng như hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng của NHTM, về quy trình quản trị rủi ro tín dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng hệ thống NHTM
Tổng hợp, phân tích, đánh giá nhân tố gây ra rủi ro và thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay tại BacABank-ĐN
Luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay trong bối cảnh và điều kiện đặc thù tại BacABank-ĐN
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề Lý luận về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng Quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bắc Á-CN Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bắc Á- CN Đà Nẵng
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Quản trị rủi ro tín dụng là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như các nhà lãnh đạo ngân hàng Ở trong nước, có nhiều công trình nghiên cứu, thảo luận khoa học xung quanh vấn đề quản trị rủi ro nói chung
và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng, cụ thể:
Trang 14- Đỗ Thùy Dung (2009), “Rủi ro tín dụng – một cách tiếp cận lượng hóa”, Tạp chí ngân hàng, (số 11 tháng 06 năm 2009) [3]
Trong tài liệu này, tác giả Đỗ Thùy Dung đã nêu ra một số phương pháp Peter để đo lường rủi ro tín dụng, ưu nhược điểm của từng phương pháp Luận văn đã kế thừa các cách tiếp cận lượng hóa này nhằm áp dụng và giải quyết một số vấn đề còn tồn tại trong công tác đo lường rủi ro tín dụng tại chi nhánh
- Peter S.Rose (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài
Chính, Hà Nội [12]
Trong chương 5 của tài liệu này, tác giả Peter S.Rose đã nêu ra một số loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thu nhập, rủi ro phá sản Tác giả luận văn đã tham khảo tài liệu này kết hợp với một số tài liệu khác để tiếp cận gần hơn các vấn đề về khái niệm rủi ro tín dụng và một số chỉ số để đo lường rủi
ro tín dụng
- Nguyễn Tuấn Khanh (2014), Quản trị rủi ro tín dụng đối với khách
hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Quân Đội – Chi nhánh Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng [9]
Trong phần lý luận của mình, tác giả đã đưa ra được những vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng; những giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng Tuy nhiên, luận văn chưa nêu được dấu hiệu cảnh báo sớm những khoản vay có vấn đề để có biện pháp phòng ngừa rủi ro tiềm ẩn một cách kịp thời
- Lê Thị Hiệp Thương (1996), Các biện pháp của ngân hàng thương mại
nhằm hạn chế rủi ro trong cho vay đối với các doanh nghiệp, Luận án tiến sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh [18]
Luận án phân tích thực trạng tín dụng của đất nước trong nền kinh tế kế
Trang 15đất nước trong giai đoạn vận hành theo cơ chế thị trường ở Việt Nam sau năm
1988, nhất là từ khi ban hành pháp lệnh về ngân hàng, hoạt động tín dụng ngân hàng đã có nhiều chuyển biến đáng kể Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, quy mô tín dụng ngày càng mở rộng dẫn đến nguy cơ nợ quá hạn tăng cao gây mất ổn định, không an toàn trong kinh doanh của ngân hàng Luận án
đã đưa ra một số biện pháp tích cực, trong khả năng của các ngân hàng thương mại hiện nay nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay đối với các doanh nghiệp như công tác quản trị, kiểm soát cho vay, đa dạng hóa các loại cho vay, giải pháp về áp dụng các kỹ thuật cho vay mới nhằm phòng ngừa, phân tán rủi ro, đồng thời kiến nghị các biện pháp hỗ trợ của pháp lý và Ngân hàng Nhà nước trong phạm vi vĩ mô nhằm tăng cường kiểm soát của Nhà nước
Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án trong giai đoạn trước đây không còn phù hợp với những thay đổi của hoạt động tín dụng hiện nay nhất
là sự thay đổi nhanh và mạnh về công nghệ ngân hàng cũng như sự thay đổi của thực trạng kinh tế vĩ mô của Việt Nam cũng như những chính sách kinh tế
vĩ mô nói chung và trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng nói riêng
- Nguyễn Đức Tú (2012), Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương
mại cổ phần Công thương Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân [19]
Luận án đã làm rõ cơ sở lí luận về rủi ro tín dụng của Ngân hàng Thương mại, sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng, nội dung quản lý rủi ro tín dụng bao gồm: nhận biết rủi ro tín dụng, đo lường rủi ro tín dụng, ứng phó rủi ro tín dụng và kiểm soát rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm hiểu kinh nghiệm quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng như: Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, Ngân hàng Nova Scotia - Canada, Ngân hàng Citibank của Mỹ, Ngân hàng ING bank của Hà Lan và Ngân hàng KasiKom của Thái
Trang 16Lan Qua tìm hiểu công tác quản lí rủi ro của các ngân hàng trên, tác giả đúc rút các bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng TMCP Việt Nam
Trong phần tìm hiểu thực tiễn, tác giả đi vào tìm hiểu và đánh giá rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và công tác quản trị rủi
ro tín dụng tại Ngân hàng Tác giả đã đánh giá những kết quả đạt được như chất lượng nợ, cơ cấu nợ, hệ thống khuân khổ, cơ chế, hệ thống xếp hạng tín dụng Bên cạnh đó, tác giả đánh giá những hạn chế trong công tác quản lý rủi
ro tín dụng của ngân hàng như chiến lược rủi ro tín dụng chưa phù hợp, quy trình cấp tín dụng, hệ thống đo lường tín dụng và những nguyên nhân của những hạn chế trên
Trong luận án, tác giả cũng trình bày định hướng công tác quản lý rủi ro tín dụng và các giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng, đồng thời đề xuất các kiến nghị với Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban giám sát tài chính quốc gia
Nguyễn Thị Thu Đông (2012) Nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam trong quá trình hội nhập, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân [4]
Trong nội dung luận án, tác giả đã làm rõ cơ sở lí luận về chất lượng tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng và kinh nghiệm nâng cao chất lượng tín dụng của các ngân hàng trên thế giới Trong phần đánh giá thực tiễn tác giả đã đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng của Ngan hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam trong đó một trong những chỉ tiêu rất quan trọng đó
là tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng Tác giả đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng trong đó có biện pháp quan trọng đó là quản lý nợ xấu và kiểm soát rủi ro tín dụng
Từ những giá trị tham khảo của các tài liệu, công trình nghiên cứu cùng
Trang 17với thực tế công tác quản trị rủi ro tín dụng tại các ngân hàng là những cơ sở
lý luận và thực tiễn giúp tác giả thực hiện đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng
trong hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Bắc Á-
CN Đà Nẵng”
Trang 18CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TRONG
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1.1 Khái niệm hoạt động tín dụng
Tín dụng có nguồn gốc từ tiếng La tinh tức là sự tin tưởng, tín nhiệm hoặc nói khác đi là sử dụng sự tin tưởng hoặc tín nhiệm để thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị vật chất hoặc tiền tệ trong một thời gian nhất định
Từ đó quan hệ tín dụng được hiểu là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Tín dụng biểu hiện ra bên ngoài như là sự vận động đơn phương của giá trị thuộc hai quá trình ngược chiều nhau trong một thời gian cụ thể
Tóm lại: Tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn giữa các chủ thể trong nền kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển nhượng cho chủ thể khác quyền sử dụng một lượng giá trị (có thể dưới hình thức hàng hoá hoặc tiền tệ) với những điều kiện và trong một thời gian nhất định mà hai bên đã thoả thuận dựa trên nguyên tắc hoàn trả
Khi ngân hàng thực hiện vai trò trung gian tín dụng thì tín dụng ngân hàng được hiểu dưới hai giác độ sau:
- Ngân hàng đóng vai trò huy động vốn (người đi vay): Các ngân hàng thương mại có khả năng thu hút nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi với những thời hạn khác nhau của các tổ chức kinh tế và cá nhân trong nền kinh tế như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán với mức lãi suất khác nhau
Trang 19- Ngân hàng đóng vai trò người cho vay: Dựa trên cơ sở vốn huy động
được ngân hàng thực hiện cho vay đối với các tổ chức kinh tế, cá nhân có nhu cầu sử dụng vốn để phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nền kinh tế
Khách hàng khi vay vốn phải đảm bảo các nguyên tắc:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng
- Ngân hàng chỉ xem xét và quyết định cấp tín dụng khi Khách hàng có
đủ các điều kiện sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách
nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
- Có dự án đầu tư, phương án kinh doanh khả thi và có hiệu quả
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo đúng quy định của
pháp luật
Để phát triển và hạn chế rủi ro tín dụng, các ngân hàng luôn không ngừng
đa dạng hoá các hình thức tín dụng, phù hợp với nhu cầu của khách hàng
1.1.2 Phân loại tín dụng
Có nhiều cách phân loại tín dụng, để phục vụ cho đề tài nghiên cứu tôi xin đưa ra một số cách phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng như sau:
Căn cứ thời hạn cho vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho vay bao
gồm: cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn
Căn cứ vào mục đích cho vay: Cho vay được phân thành: cho vay
phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, cho vay sản xuất nông nghiệp, xuất nhập khẩu…
Trang 20Theo đối tượng khách hàng: Theo cách phân loại này thì tín dụng bao
gồm tín dụng khách hàng doanh nghiệp, tín dụng tổ chức tài chính và tín dụng khách hàng cá nhân
Khách hàng doanh nghiệp bao gồm: Doanh nghiệp nhà nước, Hợp tác
xã, Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần, Doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài, Công ty hợp danh vv
Khách hàng tổ chức tài chính ở đây bao gồm các ngân hàng khác, hợp
tác xã tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính,… Hình thức cho vay đối với các tổ chức tài chính cũng hết sức đa dạng Thường cho vay NHTM nhằm đáp ứng các nhu cầu ngắn hạn của các ngân hàng này và các giao dịch thường diễn ra trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng
Khách hàng cá nhân ở đây là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật
dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật Đối tượng vay vốn đa dạng bao gồm những khách hàng có nhu cầu vốn để mua nhà, sửa chữa nhà, xây dựng nhà, mua ô tô, mua các thiết bị gia dụng, thực hiện các phương án sản xuất kinh doanh và đáp ứng một số yêu cầu khác Các phương thức vay vốn đa dạng như: cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay cầm cố bằng sổ tiết kiệm, cho vay theo hạn mức,…
Căn cứ vào phương thức cho vay: Theo tiêu thức này, hoạt động cho
vay bao gồm: cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay trả góp, cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng…
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG
Khái niệm rủi ro
Rủi ro là các yếu tố ngẫu nhiên, có thể đo lường xác suất xuất hiện, xảy
ra và có thể gây nên các thiệt hại đối với con người hay quá trình sản xuất
Trang 21Tuy nhiên, nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của nó Đồng thời, con người cũng có thể tìm thấy cơ hội bên trong các rủi ro
1.2.1 Khái niệm Rủi ro tín dụng của NHTM
Có nhiều quan niệm về rủi ro tín dụng (RRTD) có thể dẫn ra sau đây: Theo khái niệm cơ bản nhất, rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng được cấp tín dụng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng; đó là khả năng khách hàng không trả hoặc không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc, lãi và phí cho ngân hàng
Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 21 tháng 01 năm 2013 về việc “Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”, đề cập khái niệm “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.”
Rủi ro tín dụng theo định nghĩa của Uỷ ban Basle thuộc ngân hàng Thanh toán Quốc tế: “Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh tổn thất kinh tế do khách hàng không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết”
Có thể có nhiều cách khác nhau để định nghĩa về rủi ro tín dụng, song
các quan niệm về rủi ro tín dụng đều hội tụ với nhau về bản chất đó là: Rủi ro tín dụng là khả năng (xác xuất) xảy ra những thiệt hại về kinh tế mà NHTM phải gánh chịu do khách hàng được cấp tín dụng không thực hiện đúng nghĩa
vụ đã cam kết với NH Rủi ro tín dụng có thể gây tổn thất về tài chính cho
NHTM đó là làm giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn; trong trường hợp nghiêm trọng sẽ dẫn tới thua lỗ, nếu ở mức độ cao hơn có thể dẫn
Trang 22đến phá sản ngân hàng
Trong nội dung về quản trị rủi ro, Basel II cũng đề cập đến khái niệm tổn thất dự kiến (expected loss – EL) và tổn thất ngoài dự kiến (unexpected loss – UL) Theo đó, tổn thất dự kiến được coi là chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó thường được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng Tổn thất ngoài dự kiến mới thực sự là rủi ro tín dụng, cần tính toán cụ thể để dự phòng về vốn tự có
Trên thực tế, sẽ rất dễ bị nhầm lẫn và hiểu đồng nhất giữa giá trị tổn thất với khái niệm rủi ro tín dụng, chứ không đánh giá trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên cơ sở mức độ xác xuất xảy ra nợ quá hạn, sẽ dẫn đến tình trạng:
Thứ nhất, những khoản cho vay mà theo xác xuất thực sự có rủi ro sẽ
không được trích lập;
Thứ hai, làm mất tính chủ động trong quản trị rủi ro tín dụng, mức độ
đáp ứng của nguồn bù đắp rủi ro sẽ rất hạn chế, trong những trường hợp có cú sốc thì ngân hàng sẽ rất khó khăn trong việc chống đỡ rủi ro;
Thứ ba, nó làm cho ngân hàng không thể hiểu và đánh giá đúng mức độ
rủi ro của mình, mặc dù trên thực tế có những ngân hàng có nợ quá hạn rất thấp, nhưng danh mục tín dụng lại rủi ro rất lớn vì tập trung quá nhiều dư nợ vào nhóm khách hàng hay ngành rủi ro phá sản cao Đây chính là luận cứ xây dựng chính sách phân loại nợ, chủ động trích lập quĩ dự phòng và sử dụng quĩ này trong quá trình quản trị RRTD
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
Rủi ro mang tính gián tiếp
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian, một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng tiền đó để cho vay
Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho
Trang 23khách hàng Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng gặp tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn Do đó, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng là nguyên nhân gián tiếp gây nên rủi ro tín dụng của ngân hàng
Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp
Sự đa dạng, phức tạp thể hiện ở nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay Do đó, cần chú ý đến mọi dấu hiệu để phòng ngừa rủi ro nhanh chóng và kịp thời
Rủi ro mang tính tất yếu, luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
Tình trạng thông tin bất cân xứng làm cho ngân hàng không thể nắm bắt các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện Vì vậy, bất kỳ khoản vay nào cũng có những rủi ro tiềm ẩn Do đó, ngân hàng cần phải cân nhắc giữa lợi nhuận và mức rủi ro có thể chấp nhận được
1.2.3 Phân loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch: Là loại rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá
trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch
được chia làm 3 loại: rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân
tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả
để ra quyết định cho vay
- Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều
khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo
- Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và
hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề
Trang 24 Rủi ro danh mục: Là loại rủi ro phát sinh là do những hạn chế trong
quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm: Rủi ro nội tại và rủi ro tập trung
- Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính
riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn
- Rủi ro tập trung là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá
nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao
b Căn cứ vào phương diện quản lý và giám sát của ngân hàng
Rủi ro tín dụng nhận diện được: Là loại rủi ro mà ngân hàng có thể
nhận diện được nguyên nhân gây ra rủi ro, ước tính mức độ ảnh hưởng, dự kiến thời điểm phát sinh và cách phòng ngừa, hạn chế Những rủi ro này thường do yếu tố chủ quan từ phía khách hàng hoặc ngân hàng gây ra
Rủi ro tín dụng chưa nhận diện được: Là loại rủi ro mà ngân hàng
không thể dự đoán trước được, thường là những rủi ro bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh…
1.2.4 Những căn cứ chủ yếu để xác định rủi ro tín dụng
Để đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, người ta thường dùng chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu và kết quả phân loại nợ…
Hệ số nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi
đã quá hạn (Nợ nhóm 2, 3, 4 và 5)
Trang 25
Phân loại nợ Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của
Thống đốc NHNN thì TCTD thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và
lãi đúng hạn
- Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng
thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày, nợ điều chỉnh kỳ hạn trả
nợ lần đầu
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày
- Nợ gia hạn lần đầu hoặc nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng
không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi
Trang 26đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Nợ quá hạn trên 360 ngày
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai;
- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn;
- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi
trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
- Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được NHNN công bố đặt vào
tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;
1.2.5 Những nhân tố dẫn đến rủi ro tín dụng
a Những nhân tố từ phía khách hàng vay vốn
- Khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý;
- Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả;
- Vốn tự có tham gia vào phương án sản xuất kinh doanh thấp;
- Tình hình tài chính yếu kém, thiếu minh bạch;
- Quản lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản;
- Công nghệ sản xuất lạc hậu;
- Thiếu năng lực điều hành; mất đoàn kết trong nội bộ ban điều hành;
tham ô, tham nhũng ;
- Khách hàng cố tình lừa đảo; thiếu thiện chí trả nợ
b Những nhân tố từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi
Trang 27nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một lĩnh vực kinh tế
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin
không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý
- Do cạnh tranh giành thị phần, ngân hàng buộc phải nới lỏng các điều
kiện cho vay
- Nhân viên tín dụng không chấp hành đúng quy trình cho vay, yếu kém
về trình độ nghiệp vụ, vi phạm đạo đức kinh doanh;
- Định giá tài sản không chính xác; không thực hiện đầy đủ các thủ tục
pháp lý cần thiết; hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là:
dễ định giá; dễ chuyển nhượng quyền sở hữu; dễ tiêu thụ
- Thiếu giám sát và quản lý trước, trong và sau khi cho vay;
- Hệ thống cơ sở vật chất, công nghệ ngân hàng còn yếu kém
- Tình hình an ninh, trong nước, trong khu vực bất ổn
- Sự biến động quá nhanh của thị trường kinh tế thế giới;
- Do khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế, lạm phát;
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng
thừa về đầu tư trong một số ngành
- Môi trường pháp lý không thuận lợi, lỏng lẻo trong quản lý vĩ mô
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN
- Những nhân tố bất khả kháng: thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn…
1.2.6 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng
Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay nhưng vẫn phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này dẫn đến việc ngân hàng bị mất cân đối trong việc thu chi
Trang 28Vòng quay của vốn tín dụng bị chậm lại làm cho việc kinh doanh không hiệu quả và có thể làm mất khả năng thanh khoản; giảm lòng tin của người gửi tiền, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngân hàng
Hoạt động ngân hàng với chức năng là một trung gian tài chính, liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế, vì vậy khi một ngân hàng gặp phải rủi ro thì người gửi tiền hoang mang lo sợ, mất niềm tin vào ngân hàng và ồ ạt rút tiền không chỉ ở ngân hàng đó mà còn nhiều ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn
Ngân hàng khó khăn sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp do không có tiền trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu Lúc bấy giờ, sản xuất trì trệ, giá cả hàng hóa gia tăng, thất nghiệp, xã hội mất ổn định, nền kinh tế lâm vào suy thoái Rủi ro tín dụng có thể châm ngòi cho khủng hoảng tài chính ảnh hưởng đến cả khu vực và thế giới
1.3 QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.3.1 Khái niệm và sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng
a Khái niệm Quản trị rủi ro tín dụng
Theo quan điểm hiện đại, Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng
và thực thi các chiến lược, chính sách quản trị và kinh doanh tín dụng nhằm tối đa hoá lợi nhuận trong phạm vi mức rủi ro có thể chấp nhận Kiểm soát rủi
ro tín dụng ở mức có thể chấp nhận là việc NHTM tăng cường các biện pháp
Trang 29phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, nhằm tăng doanh thu tín dụng, giảm thấp chi phí bù đắp rủi ro, nhằm đạt được hiệu quả trong kinh doanh tín dụng cả trong ngắn hạn và dài hạn
“Hiệu quả Quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của ngân hàng trong dài hạn” (Basel Committee on Banking Supervision, 2000)
Tóm lại, có thể đề cập khái niệm quản trị rủi ro tín dụng ở các góc độ
khác nhau, nhưng bản chất là giống nhau và đứng trên góc độ của quản trị
học, chúng ta có thể diễn giải khái niệm: “Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các Ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ chức triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng, nhằm tối đa hoá lợi nhuận của Ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận.”
b Sự cần thiết phải thực hiện công tác quản trị rủi ro tín dụng
Một số nhân tố chủ yếu làm cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng gia tăng:
Thứ nhất, do quá trình tự do hoá, nới lỏng quy định trong hoạt động
ngân hàng trên phạm vi toàn thế giới Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hoá, tự do hoá kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng Trong lĩnh vực ngân hàng, cạnh tranh làm cho chênh lệch lãi suất biên ngày càng giảm xuống
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng theo xu hướng
đa năng phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới
Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong
quá trình chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế chưa ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt
Trang 30động ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn
c Mục tiêu của công tác quản trị rủi ro tín dụng
- Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là để tối đa hóa lợi nhuận trên cơ
sở giữ mức độ rủi ro hoặc tổn thất tín dụng ở mức ngân hàng có thể chấp nhận được và trong phạm vi nguồn lực tài chính của ngân hàng
- Hoạch định phương hướng, kế hoạch phòng chống rủi ro Dự đoán rủi
ro có thể xảy ra đến đâu, trong điều kiện nào, nguyên nhân và hậu quả ra sao Đồng thời, tổ chức phòng chống rủi ro một cách khoa học nhằm chỉ ra những mục tiêu cụ thể cần đạt được, ngưỡng an toàn, mức độ sai sót có thể kiểm soát được
- Xây dựng các chương trình nghiệp vụ, cơ cấu kiểm soát phòng chống
rủi ro, phân quyền hạn và trách nhiệm cho từng thành viên, lựa chọn những công cụ kỹ thuật phòng chống rủi ro, xử lý rủi ro và giải quyết hậu quả do rủi
ro gây ra một cách nghiêm túc
- Kiểm tra, kiểm soát để đảm bảo việc thực hiện theo đúng kế hoạch
phòng chống rủi ro đã hoạch định, phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, các sai sót khi thực hiện giao dịch, trên cơ sở đó kiến nghị các biện pháp điều chỉnh và bổ sung nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro
1.3.2 Nội dung quản trị rủi ro tín dụng
Quá trình quản trị rủi ro bao gồm 4 nội dung: Nhận biết, Đo lường, Quản trị và Kiểm soát, Xử lý tổn thất Mặc dù có sự phân đoạn trong qui
trình quản trị rủi ro tín dụng song một nguyên tắc có tính xuyên suốt là các khâu được phân ra trong qui trình phải luôn có sự liên hệ gắn bó với nhau, tạo thành một chu trình liên tục có vậy mới bảo đảm kiểm soát được rủi ro theo mục tiêu đã định RRTD một khi đã xác định thì cần phải được phân tích, đo lường và đưa ra các biện pháp quản lý theo dõi Cũng trong quá trình quản lý theo dõi, hệ thống quản trị rủi ro tín dụng phải có khả năng xác định tìm ra
Trang 31các nguy cơ rủi ro mới và công việc của quản trị rủi ro lại được lặp lại
Quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả không có nghĩa là rủi ro không xảy ra
mà là rủi ro có thể xảy ra nhưng xảy ra trong mức độ dự đoán trước và ngân hàng đã chuẩn bị đủ nguồn lực để bù đắp các rủi ro có thể xảy ra đó
và trả lời được các câu hỏi sau:
- Lý do RRTD là do đánh giá tín dụng chưa tốt hay do thoái trào kinh
doanh hay do gian lận hay chất lượng tài sản thế chấp kém?
- Ngân hàng có thể thấy RRTD tăng dần trong thời điểm này do cho vay
tập trung không đúng thị trường?
- Ngân hàng có thể đạt được mục tiêu dài hạn về RRTD có thể chấp
nhận?
Các phương pháp nhận dạng rủi ro:
- Phân tích các thông tin tài chính, phi tài chính
Ngay từ khâu nhận hồ sơ đề nghị vay vốn, CBTD thực hiện việc thẩm định các điều kiện vay vốn như: các thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Các thông tin phi tài chính bao gồm: trình độ quản lý và môi trường nội
bộ, quan hệ với ngân hàng (đối với KH cũ), các nhân tố bên ngoài và các đặc điểm hoạt động khác
Ngoài các yếu tố phi tài chính, ngân hàng còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng Đây là việc phân tích hiện
Trang 32trạng tài chính, khái quát khả năng quản trị vốn và các hoạt động kinh doanh qua số liệu trong các báo cáo tài chính của doanh nghiệp tại thời điểm Một số chỉ tiêu phân tích tài chính thường áp dụng là: nhóm chỉ tiêu thanh khoản; nhóm chỉ tiêu hoạt động; nhóm chỉ tiêu đòn cân nợ; nhóm chỉ tiêu doanh lợi,… Tùy theo từng loại hình cho vay mà ngân hàng quan tâm đến các chỉ số khác nhau như cho vay ngắn hạn thì lưu ý đến các chỉ số lưu động, chỉ số về nợ; cho vay dài hạn thì quan tâm đến chỉ số sinh lời, khả năng trả nợ Bên cạnh đó, tùy theo loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa và nhỏ), loại hình kinh doanh (thương mại, sản xuất) để xây dựng nhóm
tỷ số trung bình ngành, từ đó có bước so sánh trong phân tích
Thông qua việc thẩm định các điều kiện có thể đưa ra nhận định ban đầu
về KH là tốt hay xấu, có đáp ứng được các điều kiện cho vay của NH mình hay không và từ đó đưa ra quyết định là chấp nhận hay từ chối khoản vay
- Phương pháp thẩm định thực tế
CBTD trực tiếp đi thẩm định thực tế khách hàng để xem xét về công việc, cuộc sống, môi trường, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng Từ đó, kiểm tra những điều kiện về mục đích sử dụng vốn, nguồn thu nhập, giá trị hiện tại của TSĐB mà khách hàng đã cam kết trong hồ sơ vay vốn Nếu phát hiện có sai sót, gian lận thì có thể có những biện pháp hữu hiệu để có thể khắc phục kịp thời
- Phương pháp lập bảng điều tra
Là phương pháp thông qua các câu hỏi về những vấn đề có thể xảy ra, để
từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro
- Phương pháp phân tích số liệu hồ sơ tổn thất trong quá khứ
Với phương pháp này đòi hỏi ngân hàng phải thu thập, phân tích, thống kê, lưu trữ số lượng thông tin lớn trong một thời gian dài, một cách
có hệ thống, khoa học để nhận biết cơ chế và nguồn gốc gây ra rủi ro; nhờ
Trang 33đó có thể đánh giá đúng các yếu tố rủi ro mà trước đây đã bị xem nhẹ hoặc
bỏ qua Giúp dự báo được xu hướng diễn biến rủi ro thông qua dữ liệu trong quá khứ
- Phương pháp phân tích lưu đồ
Phương pháp lưu đồ là một phương pháp có thể giúp ngân hàng liệt kê trình tự các bước đối với một quy trình đầu tư tài chính Từ những bước liệt
kê này, có thể dễ dàng xác định rủi ro khi thực hiện từng bước để có những biện pháp khắc phục nhất định
Việc áp dụng các phương pháp cần có sự linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với thực tế để chất lượng công tác nhận dạng rủi ro đạt được hiệu quả cao nhất
b Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra của các rủi ro đã được xác định: Là việc thu thập số liệu và phân tích đánh giá, từ đó xác định xác suất và mức độ thiệt hại có thể xảy ra
Vấn đề là sau khi đã nhận dạng những rủi ro thì phải tiến hành đo lường
để xem rủi ro đó tập trung chủ yếu vào những rủi ro nào, loại rủi ro nào gây ra mức độ tổn thất lớn nhất, loại nào yếu nhất, loại rủi ro nào xuất hiện nhiều nhất, loại rủi ro nào tần số xuất hiện ít để có những biện pháp kiểm soát phù hợp
Mô hình định tính: Mô hình 6C
Trọng tâm của mô hình này là xem xét người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không Cụ thể bao gồm 6 yếu
tố sau:
- Tính cách người vay (Character): CBTD phải làm rõ mục đích xin vay
của khách hàng, mục đích vay có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với khách hàng cũ;
- Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định luật pháp
Trang 34của quốc gia Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự
- Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định nguồn trả nợ
của người vay như dòng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản,…
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn tài sản có thể sử dụng để trả nợ vay
- Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo
chính sách tín dụng theo từng thời kỳ
- Kiểm soát (Control): Đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của
luật pháp, quy chế hoạt động đến khả năng khách hàng đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng
Việc sử dụng mô hình 6C tương đối đơn giản, tuy nhiên lại phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập được, khả năng
dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá chủ quan của cán bộ tín dụng
Mô hình định lượng
Mô hình 1: Mô hình xếp hạng Moody’s và Standard & Poor’s
Rủi ro tín dụng thường được thể hiện bằng việc xếp hạng các khoản cho vay Việc xếp hạng này được thực hiện bởi một số dịch vụ xếp hạng tư nhân trong đó có Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ tốt nhất
Đối với Moody xếp hạng cao nhất từ Aaa nhưng đối với Standard & Poor’s thì cao nhất là AAA Việc xếp hạng giảm dần từ Aaa (Moody’s) và AAA (Standard & Poor’s) sau đó thấp dần để phản ánh rủi ro không được hoàn vốn cao Nhưng thực tế vì phải xem xét mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa rủi
ro và lợi nhuận nên những khoản cho vay tuy được xếp hạng thấp (rủi ro không hoàn vốn cao) nhưng lại có lợi nhuận cao nên có lúc ngân hàng vẫn chấp nhận đầu tư vào các khoản cho vay này
Trang 35Bảng 1.1 Xếp hạng doanh nghiệp của Moody’s
Xếp hạng Tình trạng hoạt động của doanh
(Nguồn: Theo báo cáo của Moody’s)
Mô hình 2: Mô hình điểm số Z
Chỉ số Z là một trong những công cụ để phát hiện dấu hiệu báo trước sự phá sản của khách hàng vay luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu về rủi ro Chỉ số này được phát minh bởi Giáo sư Edward I.Altman, trường kinh doanh Leonard N.Stern, thuộc Đại học New York, dựa vào việc nghiên cứu khá công phu trên số lượng nhiều công ty khác nhau tại Mỹ và được phát triển độc lập bởi giáo sư Richard Taffer và những nhà nghiên cứu khác Đến nay, hầu hết các nước vẫn còn sử dụng vì nó có độ tin cậy khá cao
Z = 1,2X 1 + 1,4X 2 + 3,3X 3 + 0,6X 4 + 1,0X 5
Chỉ số Z bao gồm 5 yếu tố = X1, X2, X3, X4, X5:
X1 = Vốn lưu động/Tổng tài sản
X2 = Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản
X3 = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản
X4 = Giá trị thị trường của Vốn chủ sở hữu/Giá trị sổ sách của tổng nợ
X5 = Doanh số/Tổng tài sản
Đại lượng Z dùng làm thước đo tổng hợp để phân loại rủi ro đối với
Trang 36người đi vay và phụ thuộc vào:
- Trị số của các chỉ số tài chính của người vay
- Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác xuất vỡ nợ
của người vay trong quá khứ
Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp Ngược lại, khi trị số Z thấp hoặc là một số âm thì đó là căn cứ xếp hạng khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ cao
Mô hình 3: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác…
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng mang tính khách quan hơn, không tùy thuộc quá nhiều vào ý kiến chủ quan của CBTD, rút ngắn thời gian ra quyết định Tuy nhiên, mô hình không thể tự điều chỉnh một cách nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi hàng ngày của nền kinh tế – xã hội
Mô hình 4: Chấm điểm tín dụng và xếp loại tín dụng
Hiệp ước Basel II cho phép ngân hàng lựa chọn giữa “đánh giá tiêu chuẩn” và “xếp loại nội bộ” Về cơ bản có hai công cụ là xếp loại tín dụng (Credit rating) đối với khách hàng doanh nghiệp và chấm điểm tín dụng (Credit scoring) đối với KHCN Về bản chất cả hai công cụ đều dùng để xếp loại tín dụng
- Chấm điểm tín dụng: chỉ áp dụng trong hệ thống ngân hàng để đánh
giá mức độ rủi ro tín dụng đối với khoản vay của doanh nghiệp nhỏ và cá nhân Chấm điểm tín dụng chủ yếu dựa vào thông tin phi tài chính và các thông tin cần thiết trong giấy đề nghị vay vốn cùng các thông tin khác về khách hàng do ngân hàng thu thập được nhập vào máy tính, thông qua hệ
Trang 37thống thông tin tín dụng để phân tích, xử lý bằng phần mềm cho điểm Kết quả chỉ ra mức độ rủi ro tín dụng của người vay Hiệu quả kỹ thuật này cao sẽ giúp ích đắc lực cho quản trị rủi ro đối với KHCN và doanh nghiệp nhỏ Vì đối tượng này không có báo cáo tài chính, hoặc không đầy đủ, thiếu tài sản thế chấp, thiếu thông tin nên thường khó khăn trong tiếp cận ngân hàng
- Xếp loại tín dụng: áp dụng đối với doanh nghiệp lớn, có đủ báo cáo tài
chính, số liệu thống kê tích lũy nhiều thời kỳ phục vụ cho việc xếp loại
Tại các ngân hàng có thể khác nhau về cách thực hiện, tên gọi, chỉ tiêu đánh giá, nhưng luôn cùng chung một mục đích là xác định khả năng, thành ý của khách hàng trong việc hoàn trả tiền vay, lãi vay theo hợp đồng tín dụng đã
ký kết Từ đó, xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng cũng như để trích lập dự phòng rủi ro
c Quản trị, kiểm soát các rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra với ngân hàng Căn cứ vào mức độ rủi ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính,
và khả năng chấp nhận rủi ro mà có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại, có nhiều lựa chọn:
- Không làm gì bằng cách chủ động hay thụ động chấp nhận rủi ro Đối
với những khoản vay nhỏ thì chi phí cho việc phòng tránh đôi khi còn cao hơn việc chấp nhận mức thiệt hại Hoặc với xác suất rủi ro quá cao, ngân hàng né tránh rủi ro bằng cách hạn chế hoặc từ chối cấp tín dụng
- Đối với những khoản vay còn lại, khi các công cụ phòng chống rủi ro
đặc biệt hữu hiệu để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu khả năng xảy ra rủi
ro cũng như tổn thất Các biện pháp cơ bản để kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm:
Trang 38 Kiểm soát các nguồn gây ra rủi ro tín dụng
- Ngân hàng thu thập và phân tích thông tin rủi ro môi trường như diễn
biến kinh tế trong và ngoài nước, chính trị, văn hóa và xã hội để điều chỉnh danh mục khoản vay theo hướng thích hợp
- Ngân hàng chủ động trong việc tiến hành theo dõi, thu thập, phân tích
đánh giá các thông tin về khách hàng định kỳ về năng lực tài chính, vị thế kinh doanh, biến động nhân sự, … để có những biện pháp kịp thời
- Ngân hàng có chính sách tuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn kinh nghiệm và đạo đức nhân viên nhằm hạn chế rủi ro từ phía CBTD
Áp dụng các biện pháp giảm thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng
- Ngăn ngừa rủi ro tín dụng thông qua việc ngân hàng nâng cao hiệu quả
công tác thẩm định trước khi cho vay đồng thời giám sát chặt chẽ các khoản giải ngân, các khoản nợ sau khi giải ngân, phát hiện ra những dấu hiệu của các khoản vay có vấn đề để ngăn ngừa và giảm thiểu
- Giảm thiểu tổn thất bằng cách khôi phục vốn từ những khoản vay có
vấn đề để giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng như ước tính những nguồn có sẵn
để thu hồi khoản vay, tìm hiểu và hoàn tất các thủ tục pháp lý nếu khách hàng
có chủ định không hoàn trả vốn vay; kiểm soát tài sản thế chấp, cầm cố đảm bảo quyền hợp pháp đối với tài sản thế chấp nhằm đạt được quyền bán tài sản
và sử dụng tiền thu được bù đắp khoản vay bị tổn thất
Phân tán rủi ro tín dụng
- Phân tán rủi ro tín dụng nhằm hạn chế và tránh những tổn thất quá lớn,
vượt quá khả năng chống đỡ của ngân hàng Để phân tán rủi ro, ngân hàng thường sử dụng các biện pháp như đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa các loại hình cho vay, đa dạng hóa các lĩnh vực và ngành nghề
- Báo cáo rủi ro thông tin chi tiết về các rủi ro ở cấp độ các khoản vay cá
nhân và doanh nghiệp ở một mức độ danh mục đầu tư giúp cho việc quản trị
Trang 39rủi ro tín dụng có hiệu quả
d Xử lý tổn thất
Đây là khâu cuối cùng của quá trình quản trị rủi ro tín dụng Theo đó, tổn thất dự kiến được coi là chi phí hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó thường
được tính vào giá của khoản tín dụng và được bù đắp bằng nguồn dự phòng Tổn
thất ngoài dự kiến nếu quỹ dự phòng không đủ bù đắp thì phải bù đắp bằng nguồn vốn tự có
Tài trợ rủi ro bằng nguồn xử lý nợ xấu
Thu hồi nợ xấu là biện pháp tích cực nhất được áp dụng nhằm hạn chế mức độ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng phát sinh, CBTD trực tiếp quản lý món vay là người thường xuyên nắm bắt diễn biến nợ, khi nợ xấu phát sinh, CBTD trực tiếp thương thảo với khách hàng nhằm đưa ra các phương án xử lý và được ghi nhận thông qua các biên bản làm việc, nhiều biện pháp có thể áp dụng tuỳ thuộc vào tình huống cụ thể là: Bán hàng hoá tồn kho, thanh lý bớt tài sản cố định chưa thật cần thiết để tạo nguồn trả nợ
Tài trợ rủi ro bằng nguồn phát mại TSĐB
Căn cứ vào thoả thuận trước đây trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng cầm
cố, thế chấp TSBĐ, ngân hàng và khách hàng cùng thoả thuận phương thức
xử lý TSBĐ, các phương thức thường được sử dụng là:
- Thoả thuận để khách hàng tự tìm đối tác để bán TSBĐ trong một thời
gian nhất định
- Khách hàng uỷ quyền cho bên thứ ba bán TSBĐ, thường là các trung
tâm môi giới, sàn giao dich bất động sản
- Khách hàng uỷ quyền cho ngân hàng bán TSBĐ để thu hồi nợ
- Ngân hàng khởi kiện việc vi phạm hợp đồng vay vốn ra Toà án, căn cứ
vào bản án để đưa ra Cơ quan thi hành án để xử lý TSBĐ
- Ngân hàng nhận chuyển quyền sở hữu TSBĐ rất mất thời gian vì phải
Trang 40qua nhiều công đoạn, vấn đề là trong hợp đồng cầm cố, thế chấp TSBĐ thường không có điều khoản uỷ quyền cho ngân hàng bán TSBĐ trong trường hợp xảy ra nợ xấu, do đó, khách hàng thường có tâm lý chây ì, không chịu trả
nợ
Nguồn dự phòng RRTD
- “Dự phòng rủi ro” là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng Dự phòng rủi ro bao gồm: dự phòng cụ thể và Dự phòng chung
- Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể
các khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra
- Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những
tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất lượng các khoản nợ suy giảm
Theo Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 21 tháng 01 năm 2013 về việc “ Quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi
ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài” và Thông tư 09/2014/TT-NHNN của NHNN Việt Nam ngày 18 tháng 03 năm
2014 về việc sữa đổi một số nội dung của Thông tư 02 nói trên Hai thông tư này điều chỉnh cho Quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/04/2005 và Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007
Quy định tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể đối với các nhóm nợ của NHTM: Nhóm 1: 0%; Nhóm 2: 5%; Nhóm 3: 20%; Nhóm 4: 50%; Nhóm 5: 100% Tỷ lệ trích lập dự phòng chung 0,75% tổng số dư tín dụng từ nhóm 1