3 Đố tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề của cấp sở tại Đà Nẵng 3.2 Phạm vi nghiên cứ
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ MINH HIẾU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÊ THỊ MINH HIẾU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
N ườ ướn n o ọ GS TS V U N TIẾN
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ 9
1.1 KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ 9 1.1.1 Một số khái niệm chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề 9
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động dạy nghề ảnh hưởng đến công tác quản lý 13
1.1.3 Ý ngh a của quản lý nhà nước với hoạt động dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân 16
1.2 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ 18
1.2.1 Quy hoạch mạng lưới dạy nghề 18
1.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản pháp luật quy định về hoạt động dạy nghề 19
1.2.3 Cấp phép tổ chức cho hoạt động dạy nghề 20
1.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý về hoạt động dạy nghề 21
1.2.5 Thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động dạy nghề 22
Trang 51.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI
HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ 23
1.3.1 Nhu cầu thị trường, tốc độ phát triển của nền kinh tế 24
1.3.2 Đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển dạy nghề 27
1.3.3 Nguồn lực đầu tư cho hoạt động dạy nghề 27
1.3.4 Nhận thức của xã hội về dạy nghề và học nghề 29
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32
2.1 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN VỀ TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 32
2.1.1 Tổng quan về tình hình tự nhiên, kinh tế, xã hội 32
2.1.2 Tình hình phát triển hoạt động dạy nghề 39
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 44
2.2.1 Trong công tác quy hoạch mạng lưới dạy nghề 44
2.2.2 Công tác ban hành hệ thống văn bản pháp luật về dạy nghề 47
2.2.3 Trong công tác cấp phép tổ chức các hoạt động dạy nghề 50
2.2.4 Trong công tác tổ chức bộ máy quản lý hoạt động dạy nghề 58
2.2.5 Công tác kiểm tra và xử lý vi phạm trong các hoạt động dạy nghề 60
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CỦA CÁC TRƯỜNG/TRUNG TÂM TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 63
2.3.1 Những kết quả đạt được trong công tác QLNN về hoạt động dạy nghề 63
Trang 62.3.2 Những tồn tại và hạn chế trong công tác QLNN về hoạt động dạy nghề 65
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 73
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 73 3.1.1 Bối cảnh hoạt động dạy nghề tại Việt Nam tác động đến công tác QLNN tại Đà Nẵng 73 3.1.2 Căn cứ vào quy hoạch tổng thể về dạy nghề của thành phố Đà Nẵng những năm tới 76 3.2 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 79 3.2.1 Quy hoạch lại mạng lưới các CSDN trên địa bàn theo hướng có trọng tâm, trọng điểm 79 3.2.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản và các chính sách hỗ trợ đối tượng thuộc diện chính sách xã hội 82 3.2.3 Cấp phép tổ chức các hoạt động dạy nghề 83 3.2.4 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quản lý hoạt động dạy nghề 86 3.2.5 Nâng cao hiệu quả của hoạt động thanh tra, kiểm tra trong công tác quản lý nhà nước về dạy nghề 88 3.2.6 Một số giải pháp khác 90
KẾT LUẬN 96 PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 79 LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội
Trang 82.8 Đánh giá của học viên về chất lƣợng dạy nghề sau đào
2.9 Tổng hợp đội ng giáo viên dạy nghề của thành phố Đà
2.10 Nguồn tài chính đầu tƣ cho hoạt động dạy nghề 56
2.11 Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch đào tạo nghề cho
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Số ệu
2.1 Biểu đồ GRDP Đà Nẵng từ năm 2012 – 2016 33 2.2 Biểu đồ GRDP tính theo giá thực tế của Đà Nẵng 34
2.4 Biểu đồ Tổng vốn đầu phát triển trên toàn địa bàn thành
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết củ đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng với Thế giới thì những thay đổi mạnh mẽ trong quá trình phát triển là cực kỳ quan trọng Đặc biệt, đón đầu xu hướng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thì những đòi hỏi cấp thiết liên quan đến chất lượng nguồn lực lao động ngày càng rõ ràng hơn cả ở Việt Nam và trên Thế giới
Từ năm 2007, Việt Nam đã chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu dân số Vàng với ước tính có hơn 63 triệu người trong độ tuổi lao động Đó là nền tảng đã giúp nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển vượt bật trong những năm qua Tuy nhiên, thực tế là chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trọng điểm trong độ tuổi lao động lại rất thấp Thống kê cho thấy số thanh niên chưa có việc làm và số lao động đang làm việc đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ là một con số cực kỳ khiêm tốn
Từ những thực tế trên, việc nghiên cứu, phân tích và tìm ra hướng đi, giải pháp cho hoạt động đào tạo nghề, nâng cao chất lượng lao động là cấp thiết, đặc biệt là trong tình hình cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 với xu hướng tự động hóa đang ngày càng lan rộng, kéo theo đó là cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong thị trường việc làm ngày nay Để làm được việc đó, định hướng xây dựng hoạt động quản lý Nhà nước trong đào tạo Nghề là việc làm cấp bách, qua đó, tạo nên sư chuyển biến lớn cho chất lượng nguồn nhân lực trong thời kỳ mới
Tại thành phố Đà Nẵng, công tác quản lý của Nhà nước về dạy nghề đã đạt được những thành tựu nhất định Đề án “Xã hội hóa hoạt động dạy nghề”
đã mang lại kết quả khả quan Hệ thống cơ sở dạy nghề được phát triển mạnh
mẽ, quy mô đào tạo có sự gia tăng đáng kể, chỉ tính riêng trong 5 năm, thành phố Đà Nẵng đã phát triển thêm 14 cơ sở dạy nghề, các nhân tố đảm bảo chất
Trang 11lượng đào tạo được tăng cường khiến chất lượng dạy nghề c ng dần được cải thiện Năm 2011, Đà Nẵng tiếp tục phê duyệt Đề án Quy hoạch phát triển đào tạo nghề giai đoạn 2011 - 2020 với mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố trở thành thành phố công nghiệp công nghệ cao trước năm 2020 Tuy nhiên, song song với nhiều thành công từ các đề án thì hoạt động dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng đã và đang bộc lộ nhiều bất cập như: quy hoạch mạng lưới dàn trải gây lãng phí; hiệu quả chất lượng dạy nghề thấp; định hướng đào tạo chưa hợp lý và chưa có sự xã hội hóa
Vì vậy, nghiên cứu những giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng là thật sự cần thiết,
đó c ng là lý do mà tác giả chọn đề tài “Quản lý Nhà nước đối với hoạt động
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu trên, mục tiêu cụ thể được đặt ra là:
- Hê thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề
- Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng, chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế và các nguyên nhân khách quan
- Nêu định hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng
Trang 123 Đố tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề của cấp sở tại Đà Nẵng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản
lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng
- Về không gian: Luận văn được tiến hành nghiên cứu các nội dung trên tại địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Về thời gian: Các giải pháp được đề xuất trong luận văn có ý ngh a trong 5 năm tới
4 P ươn p áp n ên ứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Luận văn sử dụng thông tin số liệu thứ cấp bao gồm có:
+ Số liệu về tình hình kinh tế - xã hội của thành phố Đà Nẵng
+ Các báo cáo về số liệu về hoạt động dạy nghề tại thành phố
+ Các thông tin khác có liên quan được thu thập từ niên giám thống kê, báo chí, tạp chí có liên quan, hay những trang web và những báo cáo khoa học đã được công bố
- Phương pháp phân tích thực chứng: phân tích thực chứng trên cơ sở số liệu và dữ liệu thu thập được để làm rõ thực trạng hiện tại, lý giải khách quan
về công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động dạy nghề tại thành phố
Đà Nẵng
- Phương pháp phân tích chuẩn tắc: Dựa trên thực trạng đưa ra những đánh giá và khuyến nghị dựa trên cơ sở các giá trị cá nhân của người phân
Trang 13tích để nhận định và đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả hơn.\
- Phương pháp thống kê: là thu thập tài liệu, phân tích, tống hợp; So sánh các chỉ tiêu, dữ liệu ở các thời điểm, thời kỳ khác nhau Thông qua việc xử lý
số liệu bằng phương pháp thống kế toán học trên excel, thấy được sự thay đổi
và mức độ đạt được của các hiện tượng, chỉ tiêu cần phân tích trong công tác quản lý hoạt động dạy nghề Từ đó rút ra những vấn đề còn vướng mắc trong công tác quản lý, đề xuất các giải pháp hoàn hiện
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đã có một số giáo trình và công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước nói chung, công tác quản lý nhà nước về dạy nghề nói riêng được công bố liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
- “Giáo trình đại cương khoa học quản lí và quản lí giáo dục”[4], tác
giả Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, năm
2013 Nội dung giáo trình về đại cương môn khoa học quản lí Các nội dung chính của công tác quản lí dựa trên nền tảng khoa học, các đặc điểm chính của quản lí giáo dục nói chung Cuốn sách còn nêu bật các yếu tố xã hội ảnh hưởng lớn đến công tác quản lí giáo dục
- ”Quản lý nhà nước về kinh tế”, tác giả Phan Huy Đường, Nhà xuất bản
Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013
Trang 14Cuốn sách đề cập đến những vấn đề về quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về kinh tế Trên cơ sở đúc kết lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện đại và trong quá trình đổi mới nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ ngh a ở Việt Nam Giáo trình đã khái quát hóa các khái niệm, phạm trù, các yếu tố, bộ phận cấu thành, các chức năng, nguyên tắc, phương pháp, tổ chức bộ máy, thông tin và quyết định quản lý, cán bộ, công chức quản lý nhà nước về kinh tế.Sách được dựa trên nền tảng giáo trình đã được xuất bản năm 2008 với các nội dung như: khái niệm về công tác quản lý nhà nước, các hình thức quản lý nhà nước về kinh
tế, các nội dung chính của hoạt động quản lý nhà nước Bên cạnh đó, còn có
đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý về kinh tế
- ”Giáo dục nghề nghiệp - Những vấn đề và giải pháp”, tác giả Nguyễn
Viết Sự, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2013
Cuốn sách là nền tảng phân tích các vấn đề hiện hữu của giáo dục nói chung và giáo dục dạy nghề nói riêng Nội dung chính là các vấn đề còn tồn đọng trong công tác quản lý, từ đó đưa ra tầm nhìn tương lai cùng các giải pháp hoàn thiện trong công tác quản lý giáo dục và quản lý giáo dục dạy nghề
- “Giáo trình kinh tế học giáo dục”, tác giả Trương Thi Thúy Hằng,
Nhà xuất bản Đại học sư phạm , năm 2014
Nội dung giáo trình về giáo dục Việt Nam và kinh tế học ứng dụng trong giáo dục Bên cạnh các khái niệm tổng quát, đặc điểm chung, cuốn sách c ng nêu bật rõ yếu tố kinh tế ảnh hưởng và chi phối giáo dục như thế nào, c ng như các hướng đi để phát triển hoạt động kinh tế trong giáo dục
- “Quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt
Nam”(Phần I và II), tác giả Nguyễn Đức T nh, nhà xuất bản Đại học quốc
gia, năm 2013
Trang 15Nội dung cuốn sách trình bày cơ sở lý luận chung về quản lý nhà nước
và thực tiễn quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề trong nền kinh
tế thị trường; thực trạng, định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề ở Việt Nam, đặc biệt là phát triển nội dung đào tạo phù hợp với nhu cầu xã hội
- “Quản lí chất lượng trong giáo dục”, tác giả Nguyễn Tiến Hùng, Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014
Cuốn sách cập nhật về chất lượng và quản lí chất lượng giáo dục trong những năm gần đây ở trên thế giới với các nội dung chính như: các khái niệm, tầm quan trọng, các kiểu/hình thức đến nguyên tắc và bản chất của chất lượng
và quản lí chất lượng trong giáo dục Phân tích mô hình và khung quản lí chất lượng trong giáo dục, từ khái quát các mô hình quản lí chất lượng bên trong, bên ngoài và mô hình tương lai đến khung quản lí c ng như quy trình đảm bảo chất lượng của cơ sở giáo dục
- “Khoa học giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay”, tác giả Phan Văn
Kha, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2016
Nội dung cuốn sách gồm 19 chương với các nội dung chính như xác định các khái niệm cơ bản của khoa học giáo dục và các giai đoạn phát triển khoa học giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay, các cấu phần của khoa học giáo dục, phác thảo những kết quả nghiên cứu gắn với các bước phát triển khoa học giáo dục trong 25 năm đổi mới Một số nội dung nổi bật như tài chính giáo dục và phát triển nguồn nhân lực được trình bày riêng biệt trong cuốn sách Đồng thời các thành tựu khoa học giáo dục c ng được phản ánh theo các ngành học mang tính đặc thù như giáo dục thường xuyên, giáo dục đặc biệt, giáo dục dân tộc, công nghệ giáo dục và phương tiện dạy học Các đặc điểm nhìn từ góc độ cấp học như mầm non, phổ thông, đại học, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề được phân tích lồng ghép trong các cấu phần và
Trang 16chuyên nghành của khoa học giáo dục
- “Mô hình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp ở Việt Nam hiện
nay”, tác giả Phùng Xuân Nhạ, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và
Kinh doanh 25, năm 2009 Nội dung bài viết về nền giáo dục đại học nước ta hiện nay là đào tạo thiếu gắn kết và phù hợp với nhu cầu của các doanh nghiệp Để thúc đẩy mối liên kết này, bài viết đã làm rõ hơn một số nội dung trong liên kết nhà trường và doanh nghiệp như lợi ích, cơ chế liên kết và điều kiện thành công
- “Quản lý Nhà nước về Đầu tư phát triển đào tạo nghề ở nước ta”, tác
giả Nguyễn Đức T nh, luận án Tiến sỹ kinh tế, Hà Nội - 2007 Nội dung luận
án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý nhà nước về đầu tư phát triển đào tạo nghề của nước ta, trong đó tập trung về mảng đầu tư cho giáo dục và phát triển các ngành nghề;
- “Quản lý nhà nước trong lĩnh vực dạy nghề ở Việt Nam”, tác giả Bùi
Đức Tùng, luận án Tiến s , năm 2007, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội Nội dung chính tập trung nghiên cứu cơ sở, lý luận và thực tiễn
về quản lý nhà nước trong l nh vực dạy nghề Luận án tập trung nghiên cứu chuyên sâu về tác động của xã hội đặc biệt là các chính sách tác động lớn đến việc quản lý công tác dạy nghề ở Việt Nam;
- “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam”, tác giả ThS Cảnh Chí hoàng, ThS Trần V nh hoàng,
Tạp chí Phát triển và hội nhập (2013), Trường Đại học Tài chính – Marketing Nội dung bài viết khảo sát kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực của một số quốc gia có nguồn nhân lực chất lượng cao như Mỹ, Trung Quốc, Singapore đã đề ra được chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phù hợp Kinh nghiệm đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở một số nước trên sẽ giúp Việt Nam rút ra được những bài học kinh nghiệm hữu ích
Trang 17- “Các giải pháp đào tạo nghề và tạo việc làm cho thanh niên tại thành
phố Đà Nẵng”, tác giả Phan Thúy Linh, luận văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển
năm 2011, Trường Đại học Đà Nẵng Nội dung luận văn tập trung Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề và tạo việc làm cho Thanh niên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn
từ năm 2011 đến 2020
Có một số các công trình nghiên cứu, đề tài nghiên cứu khác có các cách tiếp cận khác nhau về dạy nghề và quản lý nhà nước về dạy nghề Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về quản lý nhà nước về dạy nghề ở Thành phố Đà Nẵng hiện nay vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn Do vậy, đề tài:
“Quản lý nhà nước về dạy nghề tại thành phố Đà Nẵng” là một đề tài mới, chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống ở Việt Nam Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu
đã có, tác giả c ng tham khảo, kết hợp việc khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là về lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về dạy nghề Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về dạy nghề ở
Đà Nẵng trong thời gian tới
Trang 18CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG DẠY NGHỀ 1.1 KHÁI QUÁT QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ
1.1.1 Một số khái niệm chung về quản lý n à nướ đối với hoạt động dạy nghề
a Khái niệm hoạt động dạy nghề
Từ điển tiếng Việt định ngh a: “Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công lao động trong xã hội Nghề nghiệp là nghề để sinh sống và để phục vụ xã hội”
Chúng ta có thể hiểu được rằng nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội vừa mang tính cá nhân trong đó con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thoả mãn những nhu cầu nhất định của
xã hội và của cá nhân
Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu
“Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [3,tr.11] Theo Điều 5, Luật Dạy nghề số 76/2006QH11 được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29/11/2006: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [3,tr.11]
Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, dạy nghề nghiệp
Trang 19là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp
Như vầy, theo tác giả dạy nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ
chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề
Dạy nghề khác với đào tạo lý thuyết học thuật mặc dù ranh giới không
dễ phân định Dạy nghề c ng có những nhân tố sư phạm như các thiết chế giáo dục khác nhưng nhấn mạnh nhiều hơn vào khía cạnh kỹ thuật và công nghệ So với những thiết chế giáo dục khác, dạy nghề thể hiện rõ hơn sự cần thiết của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành c ng như thể hiện rõ sự liên quan mật thiết giữa nội dung, phương pháp đào tạo với những thay đổi diễn ra trong thế giới lao động
b Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề
Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ rất lâu Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý c ng được hình thành như một tất yếu khách quan Trong tất cả các l nh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức,
từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng lớn hơn ở tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó Một cách chung nhất, quản lý có thể được hiểu là: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật
Đầu thế kỷ 20 một nhà văn, một nhà quản lý nổi tiếng trên thế giới Mary Parker Follett (1868 – 1933) với những cách hiểu về quản lý và quản trị rất
Trang 20khác biệt trong giai đoạn đó và có giá trị về sau này, bà định ngh a quản lý là
"nghệ thuật khiến công việc được làm bởi người khác” Theo cách tiếp cận này thì quản lý là quá trình điều khiển và dẫn hướng tất cả các bộ phận của một tổ chức trong đó chủ thể quản lý xây dựng các mục tiêu và tổ chức cho người khác thực hiện các mục tiêu mà mình mong muốn
Theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống c để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống” [16,tr.14]
Quản lý vừa là một môn khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên và xã hội nhân văn khác nhau như: toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học, xã hội học, vừa là một “nghệ thuật" Do vậy các nhà quản lý trong quá trình quản lý phải luôn chủ động, khéo léo, linh hoạt tổ chức, điều khiển, hướng dẫn mọi thành viên trong tổ chức của mình cùng hướng tới mục tiêu xác định, tránh được tình trạng rối ren và bất ổn định của tổ chức, đồng thời có thể kích thích và phát huy được năng lực của mọi thành viên trong tổ chức
Có nhiều dạng quản lý của nhiều chủ thể quản lý khác nhau trong sự vận động và phát triển của xã hội Trong đó, quản lý nhà nước là một dạng quản
lý có ý ngh a quan trọng nhất Quản lý nhà nước là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối để đạt được mục tiêu kinh
tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định [5,tr.27]
Quản lý nhà nước là sự quản lý xã hội bằng quyền lực Nhà nước, ý chí Nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống điều khiển quan hệ
xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao
Vậy, Quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề là một dạng quản lý
Trang 21do các cơ quan trong bộ máy nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối mọi hoạt động liên quan đến dạy nghề như: chiến lược, quy hoạch, chính sách, tổ chức hoạt động của các CSDN, đào tạo bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý nhằm đảm bảo trật tự, kỷ cương trong hoạt động dạy nghề, thực hiện được mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp đáp ứng được yêu cầu về số lượng và chất lượng, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế và tiến trình hội nhập của khu vực và quốc tế; đảm bảo tính kinh tế, hiệu lực, hiệu quả của hoạt động dạy nghề
Sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề: Giáo dục – đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêng giữ vai trò đặc biệt cần thiết đối với
sự phát triển của mỗi con người và của cả xã hội Vốn con người bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất về đạo đức, về nhân cách Vốn đó nhờ giáo dục – đạo tạo mà có Giáo dục – đào tạo làm cho con người trở nên có ích, có giá trị, có chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Loài người đang có ngày càng nhiều phát minh khoa học, công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống, làm cho năng suất lao động xã hội tăng vượt bậc, tạo ra nhiều của cải, vật chất hơn cho xã hội Muốn thực hiện được như vậy, trước tiên phải có nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn do ngành giáo dục – đào tạo cung cấp Do đó, vị trí của giáo dục – đào tạo có ý ngh a quyết định đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Dạy nghề là một loại hình đào tạo trong hệ thống giáo dục – đào tạo Dạy nghề chính là việc đào tạo để có được những người đưa lý thuyết đến thực hành, đưa khoa học công nghệ đến các vùng chậm phát triển Công tác dạy nghề cho mọi người để họ đi vào lao động sản xuất luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động và luôn là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội
Trang 221 1 2 Đặ đ ểm của hoạt động dạy nghề ảnh ưởn đến công tác quản lý
a Dạy nghề là hình thành nhân cách người lao động mới
Khác với giáo dục phổ thông, dạy nghề là đào tạo cho người học có được các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp ở trình độ nhất định để có thể làm việc theo nghề đó sau khi tốt nghiệp, đồng thời giáo dục cho học sinh những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất Đó chính là phẩm chất, năng lực tạo nên nhân cách người lao động mới mà hoạt động dạy nghề phải mang lại cho người học trong quá trình đào tạo nghề
b Dạy nghề gắn liền với quá trình sản xuất
Đặc thù cơ bản của dạy nghề là hoạt động dạy - học gắn liền với quá trình sản xuất Mối liên quan này chặt chẽ hơn nhiều so với mối liên quan giữa dạy khoa học cơ bản với quá trình nhận thức khoa học Để nắm vững được nội dung khoa học cơ bản không đòi hỏi phải lặp đi lặp lại toàn bộ quá trình nhận thức khoa học đã hình thành ra nội dung này Còn muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn nhận quá trình sản xuất hay ít nhất được thấy mô hình của nó (thiết bị luyện tập) Những mặt cơ bản của quá trình sản xuất gồm: đối tượng lao động (tự nhiên, nhân tạo, nguyên vật liệu, bán thành phẩm) phương tiện lao động (công cụ cầm tay, bằng máy, bán tự động và tự động hoá) quá trình công nghệ và quá trình hỗ trợ (phụ); quá trình lao động (hành động, động tác, thao tác, cách thức) và sản phẩm lao động Trong nhiều năm trước đây, con người được sử dụng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động để có được sản phẩm Ngày nay, con người tác động lên đối tượng lao động thông qua các phương tiện điều khiển phức tạp Như vậy nội dung lao động của người công nhân và nội dung, phương pháp dạy nghề trước hết phụ thuộc vào cơ sở kỹ thuật của sản xuất và thay đổi cùng
Trang 23với sự phát triển của nó
Muốn dạy nghề có kết quả cần phải có một số điều kiện cơ bản sau: máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ng giáo viên, giảng viên lý thuyết và thực hành vừa giỏi kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp
vụ sư phạm Đặc biệt phải tính đến và sử dụng các thành tựu của các l nh vực:
kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất và tổ chức lao động khoa học Thiếu điều này dạy nghề không thể đạt hiệu quả cao
c Dạy nghề là dạy thực hành sản xuất
Nói đến dạy nghề người ta thường nói đến dạy lý thuyết và dạy thực hành sản xuất Đó là 2 mặt của một quá trình thống nhất không thể tách rời nhau, nhưng dạy thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo, chính nó là bộ phận quan trọng nhất của dạy nghề, không nắm vững điều đó sẽ đơn giản hoá việc dạy nghề Thời gian dạy thực hành sản xuất thường chiếm 2/3 thời gian đào tạo Ví dụ: Tuyển học sinh tốt nghiệp Trung học sơ sở vào học nghề tiện, thời gian 3 năm, tay nghề khi tốt nghiệp là bậc 3/7 thì học lý thuyết 1.500 giờ, thực hành 3.360 giờ Riêng đối với những nghề đòi hỏi các thành phẩm trí tuệ nhiều hơn như thợ sửa chữa các loại, thời gian thực hành sản xuất khoảng 60% Đào tạo tại nơi sản xuất và tại Trung tâm Dạy nghề thời gian thực hành
là chủ yếu (80-90%) Mỗi nghề được xây dựng theo một cấu trúc khoa học bao gồm: mục tiêu đào tạo, đặc điểm nghề, nội dung lao động phản ánh đúng trình độ sản xuất hiện tại và danh mục nghề đào tạo quy định
Ngày nay khoa học, kỹ thuật phát triển nhanh làm thay đổi công nghệ sản xuất và nội dung lao động nghề nghiệp của người công nhân Vì thế trong vòng 5 -7 năm cần thiết phải xây dựng lại danh mục nghề đào tạo một lần Đó
c ng là điểm khác biệt của đào tạo nghề với giáo dục phổ thông
d Phương pháp dạy nghề
Trong khi dạy lý thuyết nghề người ta sử dụng những phương pháp như
Trang 24dạy phổ thông: phương pháp thuyết trình: thầy nói – trò nghe; phương pháp đàm thoại: thầy hỏi – trò đáp; phương pháp trực quan: thầy chỉ - trò xem Nếu nói theo nguồn gốc tri thức thì có các phương pháp: Diễn đạt bằng lời (thuyết trình, đàm thoại, nêu vấn đề); phương pháp trực quan (giới thiệu, quan sát thí nghiệm) Các phương pháp này phần lớn chỉ có tác dụng bên ngoài chứ chưa kính thích được tính tích cực bên trong của người học Để điều khiển hoạt động nhận thức, hoạt động thực hành và phát huy năng lực độc lập sáng tạo của người học cần phải thay đổi phương pháp dạy học sao cho phù hợp với bản chất của quá trình điều khiển, với quy luật khách quan của quá trình đó Dạy nghề nêu vấn đề đáp ứng được yêu cầu này
Phương pháp dạy nghề nêu vấn đề c ng sử dụng tốt tất cả các phương pháp kể trên đồng thời đưa vào những tiến bộ mới dựa trên thành quả của tâm
lý học dạy học và lý luận dạy học Tuy các phương pháp sử dụng ở phổ thông được áp dụng khi đưa vào các trường nghề vẫn có dấu hiệu riêng do tính đa dạng của sản xuất Các panô, bản vẽ, các thiết bị được mổ xẻ, các máy luyện tập mẫu dùng trong dạy lý thuyết đều là mô hình của quá trình sản xuất thực Hơn nữa việc dạy lý thuyết luôn luôn được luân phiên với dạy thực hành sản xuất và học sinh làm ra sản phẩm ngay từ những ngày đầu học nghề Việc dạy thực hành sản xuất thì phức tạp hơn nhiều Đặc điểm này được quy định bởi tính biến động và đa dạng của quá trình sản xuất (chủ yếu là quy trình công nghệ của quá trình lao động, tổ chức lao động) bởi sự tất yếu phải kết hợp 2 quá trình học tập và sản xuất với nhau ngay từ năm đầu
Mục đích chủ yếu của dạy thực hành sản xuất là hình thành cho học sinh
kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, phát triển tư duy và năng lực sáng tạo kỹ thuật lấy đó làm nền tảng phát triển tay nghề thực tế
Cụ thể phải đảm bảo học sinh/ học viên:
Lập được kế hoạch, quy trình sản xuất (hiểu nhiệm vụ, chuẩn bị vật
Trang 25liệu, phương tiện kỹ thuật, quy trình công nghệ, các thao tác lao động)
Có kỹ năng, kỹ xảo để chuẩn bị quá trình sản xuất (chọn vật liệu, dụng
cụ, phụ tùng, tổ chức nơi làm việc)
Có kỹ năng, kỹ xảo để thực hiện quá trình sản xuất (kỹ năng, kỹ xảo vận hành các thiết bị)
Có kỹ năng, kỹ xảo điều chỉnh và kiểm tra quá trình sản xuất (kiểm tra
thiết bị, xem xét đánh giá các thao tác lao động, đánh giá chất lượng phục vụ các sản phẩm)
Nắm được kỹ năng, kỹ xảo phục vụ quá trình sản xuất và duy trì trạng thái làm việc của thiết bị chuyên dùng
Do đặc điểm trên mà đòi hỏi hoạt động dạy nghề không chỉ phải giúp người học nắm vững các kiến thức chuyên môn mà còn phải đào tạo, rèn luyện cho người học có kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp và thao tác chuẩn mực
1 1 3 Ý n ĩ ủ quản lý n à nước với hoạt động dạy nghề trong nền kinh tế quốc dân
Giáo dục – đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêng giữ vai trò đặc biệt cần thiết đối với sự phát triển của mỗi con người và của cả xã hội Vốn con người bao gồm toàn bộ thể lực, trí lực, phẩm chất về đạo đức, về nhân cách Vốn đó nhờ giáo dục – đạo tạo mà có Giáo dục – đào tạo làm cho con người trở nên
có ích, có giá trị, có chất lượng, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Loài người đang có ngày càng nhiều phát minh khoa học, công nghệ được ứng dụng vào cuộc sống, làm cho năng suất lao động xã hội tăng vượt bậc, tạo ra nhiều của cải, vật chất hơn cho xã hội Muốn thực hiện được như vậy, trước tiên phải có nguồn nhân lực có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn do ngành giáo dục – đào tạo cung cấp Do đó, vị trí của giáo dục – đào
tạo có ý ngh a quyết định đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Dạy nghề là một loại hình đào tạo trong hệ thống giáo dục – đào tạo
Trang 26Dạy nghề chính là việc đào tạo để có được những người đưa lý thuyết đến thực hành, đưa khoa học công nghệ đến các vùng chậm phát triển Đào tạo nghề có thể cung cấp một đội ng lao động có trình độ cho sự phát triển nền kinh tế đất nước Công tác dạy nghề cho mọi người để họ đi vào lao động sản xuất luôn luôn là một yếu tố quan trọng trong việc tái sản xuất sức lao động
và luôn là một điều kiện bắt buộc để phát triển nền sản xuất xã hội Vì vậy, Nhà nước cần phải quản lý hoạt động dạy nghề để thực hiện được các mục tiêu v mô về phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước
Vì vậy, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đã khẳng định sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỉ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên, công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng
Chất lượng nguồn lao động là yếu tố then chốt quyết định sực phát triền kinh tế - xã hội của mỗi địa phương Một trong những minh chứng rõ nét nhất
là đất nước Nhật Bản - một quốc gia nghèo nàn về tài nguyên và gắn liền với nhiều thiên tai nhưng con người nơi đây đã chăm chỉ và không ngừng sáng tạo để vượt qua những cản trở của thiên nhiên để trở thành cường quốc kinh
tế trên thế giới; là tấm gương sáng cho các nước khác trên thế giới trong đó có Việt Nam Một trong những phương pháp giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động là quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề, cụ thể như nâng cao hệ thống giáo dục của địa phương hiện đại, phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế
và phù hợp với đối tượng người học Trong hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc khác nhau trong đó dạy nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt đến chất lượng đội ng lao động Và nâng cao quản lý nhà nước về dạy nghề được xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế -
Trang 27xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí ở các vùng sâu vùng xa ở nước ta hiện nay
Như vậy, có thể thấy rằng trong xã hội xã hội chủ ngh a (XHCN), đặc biệt là trong bối cảnh đang tiến hành xây dựng và hoàn thiện một nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN từng bước hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới như ở Việt Nam hiện nay thì vấn đề con người là vấn đề chủ chốt Và quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề được xem là bài toán khó cần được giải để đem lại hiệu quả tốt nhất trong việc tạo ra nguồn lao động
1.2 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ
1.2.1 Quy hoạch mạn lưới dạy nghề
Quy hoạch phát triển mạng lưới cơ sở dạy nghề là sự phân bố, sắp xếp hệ thống các trung tâm/ cơ sở dạy nghề phù hợp với quy mô dân số, vị trí địa lý, vùng lãnh thổ ở địa phương, cho từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước
Những chủ trương phát triển giáo dục được quan tâm cụ thể ở nhiều l nh vực, trong đó có việc quy hoạch, sắp xếp mạng lưới, quy mô cơ sở dạy nghề
Để sử dụng, điều phối nguồn lực hiệu quả cho phát triển nhân lực chất lượng cao, tránh tình trạng lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản, mở ngành nghề đào tạo, nơi thừa nơi thiếu giáo viên, nguồn lực, việc quy hoạch là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu đối với quản lý nhà nước về hoạt động dạy nghề
a Mục tiêu quy hoạch
Sắp xếp lại cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập, ngoài công lập, bao gồm các trường TCCN, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, cao đẳng, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người học ở
Trang 28đầu vào, nhu cầu nhân lực của đầu ra phù hợp với thị trường lao động trong nước và tham gia thị trường lao động quốc tế; đảm bảo nguồn lực triển khai quy hoạch theo lộ trình, phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia, của ngành và địa phương
b Nhiệm vụ chính
Xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, định mức cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp; xây dựng tài liệu hướng dẫn quy hoạch phát triển giáo dục; rà soát mạng lưới và đánh giá cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo ngành nghề đào tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động, điều kiện về huy động nguồn lực từ xã hội hóa; sáp nhập cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập và hình thành trường cao đẳng cộng đồng đáp ứng tại chỗ nhu cầu học văn hóa, học nghề cho thanh niên và người lao động; đề xuất cấp ủy, HĐND, UBND tỉnh/thành phố trực thuộc TW phương án bố trí, sắp xếp quy hoạch các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn
Tiêu chí đánh giá công tác quy hoạch mạng lưới dạy nghề là: (1) Mục tiêu của kế hoạch quy hoạch (2) các hình thức triển khai công tác quy hoạch, (3) số lượng CSDN trên từng quận, số CSDN hoạt động có hiệu quả, số lượng học viên của các CSDN, tỷ lệ học sinh/học viên với quy mô CSDN
1.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện ín sá , văn bản pháp luật quy định về hoạt động dạy nghề
Chính sách là công cụ chủ yếu để thực hiện QLNN đối với các quá trình phát triển kinh tế xã hội Việc xây dựng và ban hành chính sách bao gồm toàn
bộ quá trình nghiên cứu để hình thành các nội dung của chính sách và trình cơ quan có thẩm quyền thông qua chính sách đó Chính sách thường được thể chế hóa bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của các chủ thể phù hợp với mục tiêu của chính sách Ban hành hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật là tạo cơ sở pháp lý cao nhất cho hoạt động dạy nghề
Trang 29ở các hình thức đào tạo, nhằm thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động dạy nghề ở nước ta trong thời kỳ mới Mọi hoạt động quản lý nhà nước về dạy nghề đều phải dựa vào cơ sở pháp lý là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành Hệ thống này bao gồm các nội dung cơ bản sau:
- Quy định cơ cấu khung của hệ thống giáo dục dạy nghề: bậc học,, thời gian đào tạo, điều kiện học lực, văn bằng tốt nghiệp;
- Quy định mạng lưới các trường, danh mục các ngành nghề đào tạo, mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo;
- Quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương đối với việc quản lý hoạt động dạy nghề;
- Xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn nghề, phát hành các tài liệu đào tạo nghề, các ấn phẩm bồi dưỡng nghề
Tiêu chí đánh giá bao gồm: (1) mục tiêu văn bản pháp luật cần rõ ràng,
cụ thể, có tính khả thi Kết quả đem lại đối với hoạt động QLNN đối với dạy nghề (2) các giải pháp văn bản pháp luật phải phù hợp, giải quyết đúng nguyên nhân của vấn đề đặt ra (3) việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định, công khai, minh bạch
1.2.3 Cấp phép tổ chức cho hoạt động dạy nghề
Các cơ sở dạy nghề tại Việt Nam chịu sự quản lý nhà nước về dạy nghề của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, đồng thời chịu sự quản lý theo lãnh thổ của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi cơ
sở dạy nghề đặt trụ sở Cấp phép tổ chức cho hoạt động dạy nghề là việc ra quyết định thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường trung cấp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp Quản lý và kiểm tra việc thực hiện quy chế tuyển sinh, kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp và việc cấp bằng, chứng chỉ đào tạo của cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc tỉnh theo quy định
Trang 30của pháp luật Thực hiện đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp đối với trường trung cấp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp có đăng ký hoạt động dạy nghề theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp ở trung ương Bên cạnh đó, Ban hành mẫu chứng chỉ dạy nghề, mẫu bản sao và quy định việc quản lý, cấp chứng chỉ sư phạm dạy nghề, dạy trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề
Thẩm quyền cấp phép: Giám đốc sở giáo dục và đào tạo ra quyết định cấp phép tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho các trung tâm/cơ sở dạy nghề theo Điều 6 của Quy chế được ban hành kèm theo Thông tư số 03/2011/TT-BGDĐT ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm dạy nghề sơ và trung cấp, các trung tâm đào tạo khuôn viên của các trường có giấy phép đào tạo nghề; Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng ra quyết định cấp phép tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho trung tâm hoạt động trong khuôn viên
Tiêu chí đánh giá hoạt động cấp phép tổ chức là: (1) số CSDN đã được cấp phép hoạt động, các ngành nghề được cấp phép đào tạo, (2) hiệu quả của
số ngành nghề đào tạo phù hợp với quy mô thành phố và sự phát triển địa phương, (3) hiệu quả của việc mở ngành mới, kết quả đào tạo so với nhu cầu thực tế của xã hội
1.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý về hoạt động dạy nghề
Tổ chức bộ máy quản lý là sắp xếp các yếu tố, phối hợp và liên kết các hoạt động để các bộ phận liên quan hỗ trợ lẫn nhau góp phần đạt đến mục đích đề ra trong l nh vực dạy nghề Quá trình này đòi hỏi có sự phối hợp của toàn thể cán bộ quản lý các cấp, lực lượng trong các trường, các cơ sở dạy nghề: nhân lực, vật lực, tài lực để hoàn thành mục tiêu đã đề ra
Bộ máy quản lý Nhà nước về dạy nghề bao gồm từ Bộ LĐTBXH, Tổng cục Dạy nghề đến các cơ quan quản lý hoạt động dạy nghề tại địa phương (thành phố, tỉnh, huyện, xã), đồng thời tiến hành phân cấp quản lý giữa trung
Trang 31ương và địa phương Nhà nước quản lý và kiểm tra việc thực hiện tiêu chuẩn nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục nghề nghiệp; hướng dẫn, chỉ đạo việc quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ng cán bộ quản lý và nhà giáo giáo dục nghề nghiệp trong tỉnh/ thành phố theo quy định của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp
Bộ máy quản lý được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý dạy nghề sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống và ngược lại sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy
Vì vậy, việc xây dựng, phân bổ nguồn lực phù hợp với nhiệm vụ quản lý hoạt động dạy nghề, đảm bảo thực hiện đầy đủ các chức năng quản lý là một trong những nội dung quan trọng của tổ chức bộ máy và quyết định hiệu quả của bộ máy quản lý về hoạt động dạy nghề
Về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý dạy nghề là mô hình tổ chức theo chức năng Theo mô hình này, trong một cơ quan quản lý, người ta tổ chức ra các phòng ban chức năng riêng rẽ, mỗi phòng ban thực hiện một công việc nghiệp vụ cụ thể có liên quan đến tất cả các l nh vực hoạt động dạy nghề Bên cạnh đó, có một số CSDN vừa hoạt động kinh doanh nên bộ máy quản lý của
họ có tính kiêm nhiệm và linh hoạt theo mục tiêu chung của doanh nghiệp Tiêu chí đánh giá công tác xây dựng bộ máy quản lý là: (1) Số lượng cán bộ quản lý, (2) Tỷ lệ cán bộ làm việc tại các bộ phận chức năng; Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên; Số cán bộ giảm hàng năm; (3) Số cán bộ được tuyển dụng mới trên tổng số cán bộ quản lý; (4) Số cán bộ bị kỷ luật trên tổng số cán bộ quản lý
1.2.5 Thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động dạy nghề
Việc triển khai thực hiện kế hoạch, nội dung, chương trình dạy nghề của các đơn vị dạy nghề tại thành phố phải đảm bảo với kế hoạch đề ra và phù hợp với thời gian quy định của cơ quan chuyên môn cấp trên hướng dẫn Nên
Trang 32nhà nước phải có công tác thanh tra, kiểm tra công tác dạy nghề nhằm ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, phát hiện chấn chỉnh kịp thời những sai sót trong quá trình thực hiện, đảm bảo công tác dạy nghề đạt hiệu quả và nâng cao năng lực xây dựng kế hoạch, quản lý, triển khai thực hiện chương trình dạy nghề Bên cạnh đó bảo vệ lợi ích của người học nghề và của các cơ sở đào tạo nghề Kiểm tra, thanh ra các hoạt động dạy nghề là: đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu, tình hình quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện các hoạt động dạy nghề đảm bảo đúng mục đích, đối tượng, kiểm tra việc thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, tổ chức và nhân sự đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo quy định của pháp luật Qua công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm phát hiện những bất cập của cơ chế chính sách
để kiến nghị sửa đổi cho phù hợp Đồng thời, Nhà nước giải quyết khiếu nại,
tố cáo và xử lý vi phạm trong l nh vực dạy nghề theo quy định của pháp luật Việc thanh tra kiểm tra hoạt động dạy nghề phải dựa vào cơ sở pháp lí
đó là: Luật Thanh tra, Luật Dạy nghề, các nghị định của Chính phủ về thanh tra nói chung và thanh tra dạy nghề nói riêng, các thông tư, quy chế, hướng dẫn tổ chức hoạt động thanh tra định kỳ
Các tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra, kiểm tra trong công tác quản
lý đối với hoạt động dạy nghề là: Tỷ lẹ CSDN đã thanh tra; Tỷ lẹ CSDN đã kiểm tra; Tỷ lẹ CSDN thanh tra phát hiẹ n có sai phạm; Tỷ lẹ CSDN kiểm tra phát hiẹ n có sai phạm; Số CSDN đã thanh tra, kiểm tra tre n số cán bọ của bọ phạ n thanh tra, kiểm tra
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỚI HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ
Hoạt động dạy nghề là một khâu quan trọng trong hệ thống giáo dục của các quốc gia Nó tác động mạnh mẽ và rõ rệt đến chất lượng đội ng lao động tại các cơ sở trực tiếp sản xuất trong nền kinh tế Do đó, chính quyền các cấp
Trang 33luôn xây dựng hệ thống lý luận cơ bản nhất làm nền tảng cho việc triển khai phát triển hệ đào tạo nghề tại địa phương mình Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn lao động có rất nhiều nhưng tựu chung lại có 4 nhóm nhân tố trực tiếp: nhu cầu thị trường và tốc độ phát triển của nền kinh tế; nguồn lực đầu tư cho hoạt động dạy nghề, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển dạy nghề và thái độ xã hội về nghề và công tác đào tạo nghề C ng từ những nghiên cứu lý luận cơ bản về l nh vực đào tạo nghề làm tài liệu tham khảo bổ ích cho các nghiên cứu đánh giá thực trạng c ng như đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho người lao động Hoạt động thực tiễn được sự soi sáng của lý luận sẽ tránh được những sai sót, rút ngắn giai đoạn thử nghiệm và thông qua đó lý luận được hoạt động thực tiễn khách quan chấp nhận hoặc bác bỏ Do vậy, khi nghiên cứu về một vấn để bất kỳ cần có lý luận ban đầu và sau đó tiến hành triển khai ứng dụng trong thực tế
1.3.1 Nhu cầu thị trường, tố độ phát triển của nền kinh tế
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ ảnh hưởng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động Điều này đòi hỏi cần phải đào tạo nghề cho người lao động đang hoạt động trong những l nh vực nông - lâm - ngư nghiệp sang hoạt động trong
l nh vực công nghiệp - thương mại - dịch vụ Thực tế c ng cho thấy, khi nền kinh tế nước ta trong thời kỳ khủng hoảng (thập kỷ 80 của thế kỷ XX), nhu cầu công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ c ng giảm theo, đồng thời làm cho hệ thống các trường dạy nghề suy giảm Tuy nhiên, khi nền kinh tế dần phục hồi, thì nhu cầu nhân lực về công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ tăng cả về số lượng, chất lượng, từ đó, làm cho công tác đào tạo nghề phát triển theo.Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều vấn đề nảy sinh cần
có cách nhìn nhận xác định đúng đắn đâu là vấn đề cấp thiết cần phải giải quyết và nếu giải quyết rốt ráo sẽ mang lại chuỗi giá trị cho xã hội Đối với
Trang 34Việt Nam, là một nước nằm trong khu vực các quốc gia đang phát triển mạnh,
tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu ngành kinh tế, ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế quốc gia Do vậy, đào tạo nghề manh che nang nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp là việc làm có ý ngh a quyết định đến sự phát triển chung nền kinh tế ở hiện tại và tương lai Đến lượt mình, sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tác động trở lại đối với công tác đào tạo nghề theo hai hướng, một mặt thúc đẩy đào tạo nghề phát triển c ng như thúc đẩy nền kinh tế phát triển nếu như có sự phù hợp giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và công tác đào tạo nghề, mặt khác sẽ kìm hãm việc đào tạo nghề nếu như không phù hợp hoặc phát triển không tương ứng với nhu cầu thực tế đang đòi hỏi
Bản chất của dạy nghề là đáp ứng nhu cầu xã hội, mục tiêu của dạy nghề
là cung cấp nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ; đáp ứng nhu cầu thị trường lao động Tuy nhiên, từ trước đến nay, về cơ bản, các cơ sở dạy nghề chủ yếu chỉ đào tạo “cái mình có” theo chương trình mà chưa chú trọng đến nhu cầu từng ngành nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường Chính vì vậy, một trong những khó khăn mà nhiều doanh nghiệp đang gặp phải là thiếu đội ng lao động có trình độ, có khả năng đáp ứng nhu cầu phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Vai trò của các cơ
sở dạy nghề trong việc đào tạo và cung ứng lao động đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp là điều rất cần thiết và cấp bách
Bối cảnh quốc tế và trong nước vừa tạo thời cơ lớn vừa đặt ra những thách thức không nhỏ cho giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam Quá trình tăng cường hợp tác khu vực ASEAN và các nước trên thế giới đã và đang đặt ra những yêu cầu mới không chỉ về kinh tế mà cả về giáo dục đặc biệt là về đào tạo nguồn nhân lực theo các chuẩn mực đào tạo khu vực và quốc tế
Trang 35Đồng thời, những tiến bộ khoa học- công nghệ và những đổi mới về tổ chức, quản lý sản xuất-dịch vụ trong tất cả các l nh vực kinh tế- xã hội c ng đặt ra những yêu cầu mới về cơ cấu và chất lượng đào tạo nhân lực nói chung
và đào tạo nghề nghiệp nói riêng
Các nghiên cứu gần đây về chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực ở các nước cho thấy Việt nam chỉ đạt 3,79 /10 (so với Trung quốc là 5,73/10 và Thái lan là 4,04/10) Nước ta không chỉ thiếu lực lượng lao động kỹ thuật mà còn thiếu trầm trọng cả đội ng cán bộ hành chính, cán bộ quản lý chất lượng cao Nhân lực được đào tạo trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp dù đã có những chuyển đổi để thích nghi với nền kinh tế thị trường song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động, chưa gắn với việc làm So với các nước, sản phẩm đào tạo - nguồn nhân lực - ở Việt Nam chất lượng còn hạn chế, thiếu tính cạnh tranh do năng lực hoạt động, năng lực chia sẻ và năng lực hòa nhập kém dù người Việt Nam không thiếu sự thông minh và cần cù Đặc biệt, so với các nước, người lao động ở nước ta ở mức rất thấp về sự thành thạo tiếng Anh và công nghệ cao
Nói chung, kinh tế Việt Nam chưa bắt kịp kinh tế của các nước phát triển Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn so với hai ngành: công nghiệp và dịch vụ Người lao động ít thay đổi nghề nghiệp (72% lực lượng lao động chưa bao giờ thay đổi việc làm) Trong vài năm gần đây, kinh tế - xã hội Việt Nam có những bước phát triển mạnh, việc thay đổi cơ cấu ngành nghề và trình độ của nhân lực lao động trong xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu của người lao động Đó là được bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề nghiệp và đào tạo lại để chuyển đổi vị trí làm việc c ng như nghề nghiệp Thực trạng về lao động và việc làm, về chất lượng nguồn nhân lực ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu mới về đào tạo nghề và hướng nghiệp Nhà nước ta đã đặt ra mục tiêu: ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân
Trang 36lực khoa học - công nghệ trình độ cao, cán bộ quản lý giỏi và công nhân kỹ thuật lành nghề, trực tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế
1 3 2 Đường lối chủ trươn , ín sá ủ Đản và N à nước về phát triển dạy nghề
Trong mỗi giai đoạn, những đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đúng và phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy công tác đào tạo nghề phát triển, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển kinh
tế - xã hội Trong mấy năm vừa qua do đổi mới cơ chế quản lý, phát triển kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi và nhân tố mới đa dạng để các ngành, các cấp, các đơn vị cơ sở, các tổ chức xã hội và toàn dân chủ động tạo chỗ làm việc mới, đã giải quyết được một bước yêu cầu
về việc làm và đời sống của người lao động, góp phần ổn định tình hình kinh
tế - xã hội Kết quả đạt được trong tất cả l nh vực kinh tế - chính trị - văn hoá
- xã hội kể từ sau khi đổi mới, trước tiên phải nói đến tính đúng đắn trong việc đề ra những chính sách liên quan đến đào tạo nghề cho người lao động của Đảng và Nhà nước
1.3.3 Nguồn lự đầu tư o oạt động dạy nghề
Muốn phát triển công tác dạy nghề cần có nhiều yếu tố, trong đó có nguồn lực đầu tư Ngân sách quốc gia là nguồn cung cấp tài chính lớn nhất cho giáo dục – đào tạo nói chung, dạy nghề nói riêng Tuy nhiên, do đất nước còn nghèo nên tỷ lệ chi cho phát triển hoạt động dạy nghề trong tổng chi ngân sách quốc gia còn ở mức hạn chế Số chi này c ng chỉ mới tập trung được cho việc trang bị cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị, đồ dùng dạy học và trả lương cho giáo viên và đội ng cán bộ quản lý Trong những năm gần đây, Nhà nước đã đầu tư nhiều hơn cho công tác dạy nghề thông qua kinh phí của các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án Bên cạnh đó, Nhà nước tổ chức chỉ đạo nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đối với
Trang 37hoạt động dạy nghề
Việc huy động thêm từ các nguồn lực ngoài ngân sách (cả trong và ngoài nước) c ng đã có tác dụng đáng kể trong việc nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề Nhà nước quy định về quản lý tài chính, tài sản, đầu tư phát triển dạy nghề (quy định về quản lý chi tiêu công, quy định cấp đất, cho thuê đất, chính sách thuế, học bổng, học phí, kinh phí đào tạo)
Các chính sách và nguồn tài chính bền vững cho dạy nghề là một yếu tố quan trọng để thực hiện chức năng của các hệ thống dạy nghề Đặc biệt là mối quan hệ trực tiếp giữa việc đảm bảo nguồn lực tài chính đầy đủ cho đội ng giáo viên dạy nghề có năng lực, cơ sở vật chất học nghề… và chất lượng đầu
ra được kỳ vọng để thực hiện đào tạo nghề theo các tiêu chuẩn nghề Việc nâng cao chất lượng đầu ra thường hàm ý là việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính Ở Việt Nam và nhiều nước khác, việc tăng thêm các yêu cầu về tài chính c ng xuất phát từ công tác mở rộng hệ thống đào tạo nghề do gia tăng dân số và nhu cầu đang tăng lên về nhân lực có chất lượng
Trước bối cảnh gia tăng cạnh tranh đối với những nguồn lực tài chính công có hạn c ng như các yêu cầu tài chính cho việc mở rộng số lượng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề theo nhu cầu khiến việc đảm bảo tài chính bền vững cho đào tạo nghề trở thành một thách thức chính và là vấn đề then chốt của các nỗ lực phát triển đào tạo nghề Về mặt này, việc giải quyết các yêu cầu tài chính đối với đào tạo nghề hướng cầu là một vấn đề rất quan trọng Nó bao gồm thông tin về chi phí thực tế, các nguồn phát sinh chi phí chính và các chi phí giới hạn theo tính khả thi Một vấn đề quan trọng khác đó
là huy động các nguồn tài trợ bổ sung cho tài chính công, tập trung chủ yếu vào các khoản đóng góp của các doanh nghiệp và các học viên (từ cha mẹ) với vai trò là các bên tham gia và những người hưởng lợi Vấn đề cốt yếu thứ
ba đó là quản lý và phân bổ nguồn vốn, tập trung vào tính minh bạch, trách
Trang 38nhiệm giải trình c ng như hiệu suất và hiệu quả của nguồn vốn thông qua cơ chế phân bổ dựa trên sự thực hiện
1.3.4 Nhận thức của xã hội về dạy nghề và học nghề
a Nhận thức của xã hội ảnh hưởng đến công tác dạy nghề
Xã hội hiện nay vẫn tồn tại quan niệm cho rằng chỉ có bằng đại học mới
có thể tìm được việc làm có lương cao, ổn định, ảnh hưởng đến công tác tuyển sinh, công tác đào tạo nghề Đồng thời dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”, không tận dụng được tiềm lực của toàn bộ nguồn nhân lực, phục
vụ phát triển quê hương, đất nước Bên cạnh nhận thức về học nghề của người lao động chưa cao, quan niệm của các bậc phụ huynh học sinh vẫn nặng về bằng cấp, bằng mọi giá phải cho con em mình thi đậu vào các trường cao đẳng, đại học Quan niệm xem trọng bằng cấp được có nguồn gốc từ trong xã hội mà nền kinh tế tự cung tự cấp, phần lớn người lao động làm việc ở khu vực nông thôn, công nghiệp - thương mại - dịch vụ ít được chú trọng Với nhận thức không đúng của xã hội về việc học nghề, làm nghề nên trong nhưng năm qua, người dân chỉ muốn con em của họ vào học đại học Điều này dẫn đến một hệ lụy đáng buồn: Ngoài việc gây mất cân đối trong cơ cấu nhân lực của quốc gia, thiếu hụt lực lượng lao động qua đào tạo nghề cho sự phát triển kinh tế đất nước thì đó còn là sự lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức của người học và gia đình của họ Đến nay, quan niệm cho rằng trình độ học vấn càng cao khả năng tìm việc làm ổn định vẫn còn ăn sâu vào trong nếp ngh của đông đảo quần chúng nhân dân, bằng cấp đối với họ rất quan trọng, nhiều khi không nhìn thấy được giá trị của việc học nghề Để thay đổi được nhận thức là một việc làm lâu dài, không thể một sớm một chiều, một khi đã thay đổi sẽ tác động đến hiệu quả của công tác đào tạo nghề cho người lao động Trong những năm gần đây, thực tế từ nhu cầu của thị trường lao động của một số địa phương cho thấy nhu cầu lao động có trình độ cao đẳng, đại
Trang 39học chỉ chiếm 20% đến 25%; nhu cầu lao động có trình độ trên đại học chỉ chiếm 2% - 5%, nhưng nhu cầu lao động có trình độ trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề lại cần tới 35% đến 40% Điều này là một sự chuyển biến về nhu cầu lao động thể hiện sự phát triển hội nhập của đất nước, thời gian tới sẽ còn tiếp tục dịch chuyển mạnh mẽ, mà thấy rõ nhất là nhu cầu lao động kỹ thuật
b Xã hội hóa giúp nâng cao chất lượng dạy nghề
Việc dạy nghề chính là đào tạo lao động cho doanh nghiệp, doanh nghiệp được thụ hưởng kết quả, sản phẩm của quá trình dạy nghề Do vậy, doanh nghiệp phải tham gia vào dạy nghề Để tạo ra sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở dạy nghề cần xác định rõ cơ chế lợi ích cho doanh nghiệp Lợi ích sẽ tạo động lực cho doanh nghiệp chủ động tham gia vào hoạt động dạy nghề mà không cần đến chế tài bắt buộc Có như vậy, công tác dạy nghề mới đảm bảo đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thị trường
Hiện nay có một thực tế không thể phủ nhận là đa số người dân không muốn học nghề mà chỉ muốn học đại học Cánh cửa các trường đại học ngày một rộng mở với nhiều hệ đào tạo, nhiều loại hình, tạo cơ hội tốt nhất để mọi người có thể đến với các giảng đường đại học Và hệ lụy tất yếu, số người đến với học nghề thì ngày càng ít đi, trong khi đó, lao động qua đào tạo nghề lại là lực lượng lao động chính trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để khắc phục vấn đề này, Nhà nước đã có nhiều chính sách để tạo sự phân luồng học nghề Tuy nhiên, các chính sách phân luồng nêu trên đều chưa thực hiện được Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có nguyên nhân từ những chính sách quy định trong các văn bản luật không cụ thể Tình trạng “mâu thuẫn” học sinh tốt nghiệp phổ thông đổ xô thi đại học nhưng học đại học ra lại không tìm được việc làm là thực tế không thể phủ nhận Điều này cho thấy sự tác động lớn từ nhu cầu của thị trường đến công
Trang 40tác dạy nghề, đặt ra yêu cầu bắt buộc cần nâng cao chất lượng công tác dạy nghề Do đó sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp là cần thiết bởi vì sự tồn tại và phát triển bền vững đem lại lợi ích chung cho cả hai bên
Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, các nhà quản lý, giáo viên
và cán bộ doanh nghiệp cho thấy, sự gắn kết giữa doanh nghiệp với cơ sở dạy nghề vẫn là một trong những hạn chế, bất cập lớn nhất trong công tác đào tạo nghề cần phải được tháo gỡ Theo Bộ LĐ-TB&XH, mối quan hệ giữa doanh nghiệp với hoạt động dạy nghề trên thực tế hiện nay rất lỏng lẻo Nhiều doanh nghiệp thờ ơ với hoạt động dạy nghề Nếu có nhu cầu về lao động, họ chỉ tổ chức ứng tuyển các lao động đạt yêu cầu mà không chịu tổ chức đào tạo hay
bỏ chi phí liên kết với cơ sở dạy nghề để đào tạo nghề cho lao động Đồng thời, nhiều doanh nghiệp không chịu tiếp nhận nhà giáo, học sinh, sinh viên từ các cơ sở dạy nghề đến thực hành, thực tập, nâng cao tay nghề, kể cả trong trường hợp đã có sự thỏa thuận trước với các cơ sở dạy nghề Việc làm này đã khiến cho người học nghề sau khi tốt nghiệp đã không đáp ứng được nhu cầu thực tế của thị trường lao động, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội