Tuy số thu của thuế môn bài chỉ chiếm khoảng 3% trong tổng thu NSNN nhưng với tính chất rộng lớn về đối tượng quản lý, tính tiên phong trong việc quản lý đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Ngọc Vũ
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 3
6 Kết cấu luận văn 3
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ MÔN BÀI VÀ QUẢN LÝ THUẾ MÔN BÀI 6
1.1.CƠSỞLÝLUẬNVỀTHUẾ 6
1.1.1 Khái niệm về thuế 6
1.1.2 Đặc điểm của thuế 6
1.1.3 Vai trò của thuế 7
1.1.4 Phân loại về thuế 8
1.2.THUẾMÔNBÀIVÀQUẢNLÝTHUẾMÔNBÀI 10
1.2.1 Thuế môn bài 10
1.2.2 Quản lý thuế môn bài 13
1.3.CÁCNHÂNTỐẢNHHƯỞNGTỚIQUẢNLÝTHUẾMÔNBÀI 28
1.3.1 Nhân tố khách quan 28
1.3.2 Nhân tố chủ quan 30
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ MÔN BÀI TẠI CHI CỤC THUẾ THANH KHÊ 34
2.1.KHÁIQUÁTCHICỤCTHUẾTHANHKHÊ 34
Trang 42.1.1 Tình hình kinh tế -xã hội trên địa bàn 34
2.1.2 Đặc điểm doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn Thanh Khê 36
2.1.3 Lịch sử ra đời, cơ cấu tổ chức, phân cấp quản lý, chức năng, nhiệm vụ 37
2.2.THỰCTRẠNGCÔNGTÁCQUẢNLÝTHUẾMÔNBÀITẠICHICỤC THUẾTHANHKHÊ 39
2.2.1 Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế 40
2.2.2 Giải quyết các thủ tục hành chính thuế 44
2.2.3 Xử lý vi phạm pháp luật về thuế 55
2.2.4 Kiểm tra thuế 58
2.2.5 Quản lý nợ, cưỡng chế nợ thuế, thi hành quyết định hành chính thuế 59
2.4.ĐÁNHGIÁKẾTQUẢĐẠTĐƯỢCVÀHẠNCHẾ 61
2.4.1 Kết quả đạt được 61
2.4.2 Hạn chế 63
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THUẾ MÔN BÀI TẠI CHI CỤC THUẾ THANH KHÊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 69
3.1 ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ TẠI CHI CỤC THUẾ QUẬNTHANHKHÊ 69
3.2.ĐỊNHHƯỚNGCÔNGTÁCQUẢNLÝTHUẾMÔNBÀI 71
3.3.CÁCGIẢIPHÁPNHẰMHOÀNTHIỆN 71
3.3.1 Tập trung rà soát đối tượng kinh doanh chống thất thu thuế 71
Trang 53.3.2 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền hỗ trợ
người nộp thuế 73
3.3.3 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý thuế 76
3.3.4 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực 77
3.3.5 Nâng cao hiệu quả quản lý nợ thuế, kiểm tra thuế 78
3.3.6 Thiết lập mối quan hệ tốt và bền vững đối với người nộp thuế 79
3.4.CÁCKIẾNNGHỊ 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6TT trên DS Trực tiếp trên doanh số
TT trên GTGT Trực tiếp trên giá trị gia tăng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
1.1 Tỷ lệ cán bộ bố trí theo chức năng ở một số nước 31
2.2 Bảng tỷ trọng công tác hỗ trợ qua các năm 43 2.3 Công tác đăng ký thuế hộ cá thể qua các năm 45 2.4 Tình hình lập bộ môn bài đầu năm của doanh nghiệp 46
2.5 Tình hình kê khai thuế đối với doanh nghiệp mới
2.6 Tình hình lập bộ đầu năm hộ kinh doanh các năm 49
2.7 Tình hình kê khai thuế của hộ kinh doanh mới phát
2.11 Số thu từ tiền phạt nộp chậm tờ khai môn bài 57
2.13 Tình hình nợ thuế môn bài qua các năm 59 2.14 Tình hình nợ thuế môn bài trên tổng nợ 60 2.15 Số lượng cán bộ tại các bộ phận chức năng (cuối năm
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu ngành nghề quận Thanh Khê năm 2014 34
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Chi cục Thuế Thanh Khê 37
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế môn bài là loại thuế đầu tiên người nộp thuế thực hiện trong năm hay khi mới ra hoạt động, và đây cũng là loại thuế mang tính kiểm kê số lượng doanh nghiệp, hộ cá thể trên địa bàn Tuy số thu của thuế môn bài chỉ chiếm khoảng 3% trong tổng thu NSNN nhưng với tính chất rộng lớn về đối tượng quản lý, tính tiên phong trong việc quản lý đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp, giữa các chính quyền địa phương, đảm bảo thu đúng, rà soát đầy đủ các doanh nghiệp hay hộ kinh doanh trên địa bàn
Trong thời gian qua, công tác quản lý thuế môn bài trên địa bàn Thanh Khê đã có những chuyển biến tích cực, góp phần hạn chế thất thu, tăng thu NSNN Tuy nhiên, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế môn bài của
hộ kinh doanh cá thể chưa cao, việc khai báo điều chỉnh vốn điều lệ doanh nghiệp dẫn đến thay đổi bậc môn bài cũng chưa thật sự rà soát hết được, và các cấp ban ngành cũng chưa thật chú trọng vào quản lý thuế môn bài dẫn đến sai sót trong việc tuyên truyền và thực hiện Tình trạng khi ra hoạt động nhưng chưa có đăng ký mã số thuế đối với hộ doanh nghiệp còn nhiều và các doanh nghiệp mới ra tình trạng chậm trễ trong việc khai báo môn bài với cơ quan thuế cũng xảy ra rất phổ biến Do đó, vấn đề cấp thiết hiện nay đặt ra là phải hoàn thiện chính sách và công cụ quản lý để nâng cao hiệu quả của quản
lý thuế môn bài trên địa bàn quận Thanh Khê nhằm các mục tiêu cụ thể sau:
- Về phía ngành thuế: Thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời, đảm bảo nguồn thu ổn định, tạo tiền đề cho việc quản lý các loại thuế quan trọng trong năm Tạo dựng tính liên kết, phối hợp giữa Trung ương với các bộ, ban ngành địa phương trong việc phân chia, hỗ trợ nhau trong quản lý thuế
Trang 10- Về phía người nộp thuế: Nâng cao ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế, tăng hiểu biết về thuế môn bài và tạo cơ sở pháp lý cho việc giải quyết đầy đủ quyền lợi của người nộp thuế
Quận Thanh Khê là một trong những quận có tình hình kinh doanh rất sôi nổi trên địa bàn TP Đà Nẵng, số lượng doanh nghiệp khá nhiều nhưng chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ kinh doanh cá thể Do vậy, việc quản lý thuế môn bài trên địa bàn chiếm một vị trí hết sức quan trọng Xuất phát từ những lý do trên thì việc chọn đề tài “Quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” có ý nghĩa thực tiễn và lý luận
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giải quyết 3 vấn đề cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thuế môn bài
- Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về quản lý thuế môn bài
và thực tế quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế quận Thanh Khê thành phố Đà Nẵng, vì tính chất đặc thù của thuế môn bài nên có một số những khác biệt trong cách quản
lý người nộp thuế
Về không gian: Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng
Trang 11Về thời gian: Nội dung nghiên cứu của đề tài căn cứ vào số liệu từ năm
2013 đến năm 2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên nền tảng cơ sở lý luận về quản lý thuế môn bài, luận văn đã dựa vào những dữ liệu thu thập được và kết hợp các phương pháp thống kê
mô tả, phân tích, so sánh, quan sát để tổng hợp và xử lý các thông tin thu thập được Đồng thời kết hợp với các vấn đề thực tiễn và lý luận quản lý thuế để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về quản lý thuế môn bài
Giúp Chi cục Thuế quận Thanh Khê nắm được thực trạng quản lý thuế môn bài tại đơn vị mình, chỉ ra những vấn đề đã làm được, chưa hoàn thiện, bất cập Từ đó nêu lên một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế môn bài tại Chi cục
6 Kết cấu luận văn
Luận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế môn bài và quản lý thuế môn bài Chương 2: Thực trạng quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị hoàn thiện quản lý thuế môn bài tại Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Với sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của cán bộ hướng dẫn khoa học
PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ, tác giả đã chọn đề tài “Quản lý thuế môn bài tại
Chi cục Thuế Thanh Khê thành phố Đà Nẵng” để thực hiện nghiên cứu cho
Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Tài chính và Ngân hàng
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tham khảo phương pháp
Trang 12nghiên cứu của một số luận văn thạc sỹ đã thực hiện tại các trường đại học dựa trên nền tảng lý thuyết được tham khảo từ một số tài liệu, sách tham khảo được biên soạn mới nhất về quản lý thuế môn bài là các giáo trình đã được giảng dạy tại các trường Đại học Đà Nẵng, Đại học Kinh tế Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội… cùng một số sách chuyên ngành của một số học giả đã biên soạn và biên dịch từ nguồn tài liệu nước ngoài Từ đó, tác giả đã chọn lọc làm cơ sở lý luận và tìm ra nền tảng để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài này
Đề tài “Quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp xây dựng
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc” năm 2015, Luận văn Thạc sỹ Quản Lý Kinh
Tế của tác giả Nguyễn Phùng Hạnh, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Trong phần cơ sở lý luận, tác giả đã nêu lên cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị gia tăng, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế giá trị gia tăng, các kinh nghiệm của các địa phương và bài học kinh nghiệm cho Vĩnh Phúc Phần thực trạng tác giả đã phân tích đầy đủ nội dung thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng ở các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Qua đó, tác giả đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại và tăng cường công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc Bên cạnh những kết quả đạt được, đề tài vẫn còn những tồn tại: tác giả đưa ra rất nhiều giải pháp nhưng lại không
có kiến nghị đối với các cơ quan chức năng để tháo gỡ những vướng mắc mà ngay chính Cục Thuế Vĩnh Phúc không giải quyết được
Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” năm
2012, Luận văn Thạc sỹ Kinh Tế của tác giả Lê Bá Tiến, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã nêu ra những lý luận chung như khái niệm, đặc điểm của thuế, doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Nội dung, các yếu tố ảnh
Trang 13hưởng, kinh nghiệm quản lý thuế của các nước Ở phần cơ sở lý luận này tác giả chưa nêu lên vai trò của quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn FDI hiện nay Trong phần đánh giá thực trạng, tác giả đã có những đánh giá khá toàn diện và sát với thực tế, làm nổi bật được thành công và hạn chế trong quá trình triển khai công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp có vốn FDI Tuy nhiên theo tôi thì phần tình hình thu thuế cũng nằm trong thực trạng quản lý thuế Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả đã đưa ra những giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế
Đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế thu nhập cá nhân trên
địa bàn tỉnh Trà Vinh” năm 2013, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế phát triển của
tác giả Trần Công Thành, Đại học Đà Nẵng
Đề tài chưa đi giới thiệu qua tổng quan về thuế, còn những nội dung khác đề tài nêu ra rất là đầy đủ về thực trạng quản lý thu thuế thu nhập cá nhân
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ MÔN BÀI
VÀ QUẢN LÝ THUẾ MÔN BÀI 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ
1.1.1 Khái niệm về thuế
Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, thuế ra đời là một sự cần
thiết khách quan gắn với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước
Có nhiều định nghĩa về thuế, theo “Lý thuyết tài chính” của Học viện
Tài chính thì “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp
nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, nhằm
sử dụng chi mục đích công cộng” Dưới góc độ quản lý kinh tế thì thuế là một
biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển
một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các
chức năng kinh tế xã hội của nhà nước [6]
Thuế không những là một phạm trù tài chính, nó còn biểu hiện những
thuộc tính chung vốn có của các quan hệ tài chính Những đặc trưng để phân
biệt thuế với công cụ tài chính khác đó là: thuế mang tính bắt buộc, tính
không hoàn trả trực tiếp và tính pháp lý cao
1.1.2 Đặc điểm của thuế
Thuế luôn gắn liền với quyền lực Nhà nước: Thuế là nghĩa vụ cơ bản
của công dân đã được quy định trong Hiến pháp;
Thuế là một phần thu nhập của các tầng lớp dân cư bắt buộc phải nộp
cho Nhà nước: Nhà nước sử dụng quyền lực chính trị buộc người nộp thuế
chuyển giao một phần thu nhập cho Nhà nước thông qua quy định pháp luật
về thuế;
Trang 15Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính chất hoàn trả trực tiếp: Thuế không mang tính đối giá, mà nhận được lợi ích do Nhà nước cung cấp cho cộng đồng xã hội
1.1.3 Vai trò của thuế
Thuế là nguồn thu chủ yếu của của NSNN: Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân;
Thuế là công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô: Chính sách thuế được đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu, góp phần thực hiện chức năng việc kiểm
kê, kiểm soát, quản lý hướng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất, mở rộng lưu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hướng phát triển của
kế hoạch nhà nước, góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân;
Thuế góp phần bình đẳng, đảm bảo sự công bằng xã hội: Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội;
Thuế là công cụ kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh:
Để thu thuế được đầy đủ cho NSNN thì ngành thuế phải dùng các biện pháp khác nhau để nắm vững được ngành nghề, mặt hàng kinh doanh cũng như doanh số của các doanh nghiệp;
Thuế là công cụ để phân phối lại thu nhập giữa các cá nhân trong xã hội: Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giàu nghèo giữa các cá nhân trong xã hội ngày càng có xu hướng gia tăng Đây là một “Khiếm khuyết” lớn mà nền kinh tế thị trường - bản thân nó không tự giải quyết được Hậu quả của vấn đề này không chỉ ảnh hưởng đến đạo đức và công bằng xã hội mà còn tạo nên sự đối lập về quyền lợi giữa các tầng lớp
dân cư trong cộng đồng
Trang 161.1.4 Phân loại về thuế
Tùy theo điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau Để định hướng xây dựng và
quản lý hệ thống thuế ta phân loại thuế theo những tiêu thức nhất định
a Căn cứ vào tính chất của nguồn động viên vào NSNN, thuế phân làm hai loại: trực thu và gián thu
- Thuế gián thu là loại thuế mà Nhà nước sử dụng nhằm động viên một phần thu nhập của người tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ thông qua việc thu thuế đối với người sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Tính chất gián thu thể hiện ở chổ người nộp thuế và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ
do do chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh nộp cho Nhà nước nhưng người tiêu dùng lại phải chịu thuế
Một số loại thuế gián thu bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt
- Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập của các pháp nhân và thể nhân Tính chất trực thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế theo quy định của pháp luật đồng thời là người chịu thuế Thuế trực thu trực tiếp động viên, điều tiết thu nhập của người chịu thuế
Một số loại thuế trực thu bao gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế môn bài, thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp
Sự phân loại thuế thành trực thu và gián thu có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chính sách pháp luật thuế Tùy thuộc vào định hướng của Nhà nước để điều chỉnh số thu và tỷ trọng đóng góp
b Căn cứ vào đối tượng chịu thuế
Theo cách phân loại này thuế được chia thành:
Trang 17- Thuế đánh vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ như thuế giá trị gia tăng, thuế môn bài Đây là loại thuế tác động trực tiếp lên người nộp thuế khi có hoạt động sản xuất kinh doanh Thuế môn bài là loại thuế bắt buộc phải nộp ngay khi ra kinh doanh; còn thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT, đánh vào phần tăng thêm của HHDV phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được thu ở khâu tiêu thụ HHDV
- Thuế đánh vào sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như thuế xuất, nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế xuất, nhập khẩu là loại thuế đánh vào hàng hóa xuất, nhập khẩu, làm tăng tính cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước
và hàng nhập khẩu Thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế đánh vào một số hàng hóa dịch vụ, nhằm điều tiết hướng dẫn sản xuất, tiêu dùng của một quốc gia trong một số thời kỳ
- Thuế đánh vào thu nhập như thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế đánh vào thu nhập phát sinh của cơ sở sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian nhất định thường là kỳ kinh doanh Thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận được của các cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định thường
là một năm, từng tháng hoặc từng lần, không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập
- Thuế đánh vào việc khai thác một số tài sản quốc gia như thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất Thuế tài nguyên là khoản thu của NSNN nhằm điều tiết một phần giá trị tài nguyên thiên nhiên khai thác đối với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên hợp pháp trên lãnh thổ, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tạo nguồn thu NSNN, đảm bảo quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên của Nhà nước Thuế sử dụng đất là loại thuế thu thu hàng năm đối với các đối tượng có quyền sử dụng đất để ở hoặc để xây dựng công
Trang 18trình, mang ý nghĩa là thuế đánh vào việc sử dụng đất cho mục đích phi sản xuất nông nghiệp
- Thuế khác và lệ phí, phí
Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế , vừa bổ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế
Ngoài ra, còn một số cách phân loại như:
- Phân loại dựa vào tính cách lũy tiến và lũy thoái: Thuế lũy tiến là loại thuế áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế; Thuế lũy thoái là loại thuế mà mức thuế suất giảm dần trong khi cơ sở đánh thuế lại tăng dần
- Phân loại theo chế độ phân cấp quản lý, điều hành ngân sách: thuế trung ương, thuế địa phương: Thuế trung ương là loại thuế được Nhà nước ban hành luật pháp và điều tiết 100% vào NSNN ở trung ương; Thuế địa phương là loại thuế được nhà nước quy định thu trên phạm vi lãnh thổ được phân công quản lý và được điều tiết vào NSNN ở địa phương 100%
1.2 THUẾ MÔN BÀI VÀ QUẢN LÝ THUẾ MÔN BÀI
1.2.1 Thuế môn bài
a Khái niệm về thuế môn bài
Thuế môn bài là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm Mức thuế áp dụng theo số tuyệt đối và được phân biệt theo hai nhóm: tổ chức kinh
tế và hộ kinh doanh cá thể
Số thuế môn bài chiếm khoảng 3% trong tổng thu NSNN và chiếm 2% trong tổng thu doanh nghiệp, 8% trong tổng thu hộ cá thể năm 2014 Tuy số thu không lớn so với các sắc thuế khác nhưng mang tính chất kiểm kê, thống
kê, hệ thống hóa lại đối tượng chịu sự quản lý trên địa bàn, làm cơ sở để đánh
Trang 19giá quy mô sản xuất kinh doanh của người nộp thuế, đồng thời để xây dựng
dự toán và dự lường khả năng thu ngân sách tại địa phương Tạo ra khuôn khổ pháp lý, giúp cho việc hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn đi vào hoạt động một cách nhanh chóng và có kỷ luật
b Đặc điểm của thuế môn bài
- Thuế môn bài được tính vào đầu năm đối với các thể nhân, cá nhân có
hoạt động sản xuất kinh doanh
Người nộp thuế ra hoạt động kinh doanh từ 6 tháng đầu năm thì nộp thuế môn bài cả năm, 6 tháng cuối năm thì chỉ phải nộp 50% mức thuế môn bài cả năm Đối tượng đang kinh doanh thì nộp thuế môn bài trong tháng đầu của năm dương lịch, người mới ra kinh doanh thì phải nộp thuế môn bài chậm
nhất là ngày cuối cùng của tháng ra kinh doanh
Người nộp thuế có thực tế kinh doanh nhưng không đăng ký kê khai nộp thuế và mã số thuế thì phải nộp thuế môn bài cả năm không phân biệt phát hiện là của 6 tháng đầu năm hay 6 tháng cuối năm
- Gọi là thuế môn bài vì khi đóng thuế, các cơ sở được cấp một thẻ để treo ở tiệm Thực chất thuế môn bài là một sắc thuế tồn tại từ rất lâu mà đối tượng là các con buôn, để thuận tiện cho việc quản lý và mang tính biểu
dương nên nếu cơ sở nào đã nộp thuế sẽ được phát một thẻ treo ở tiệm
- Là khoản thu vừa mang tính chất thuế, vừa mang tính chất lệ phí về đăng ký thuế đối với mọi cơ sở sản xuất kinh doanh Thuế môn bài là khoản thu bắt buộc mang tính cưỡng chế bằng sức mạnh của nhà nước mà các tổ chức, cá nhân phải nộp vào NSNN ngay khi ra hoạt động sản xuất kinh doanh Đồng thời thuế môn bài là khoản phụ thu, không đáng kể, mang tính địa
phương, địa bàn rõ ràng
Trang 20c Nội dung cơ bản của thuế môn bài
- Đối tượng nộp thuế:
Tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế (kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) có hoạt động sản xuất kinh doanh không phân biệt hạch toán độc lập, hạch toán báo sổ hay hạch toán báo sổ hay hạch toán phụ thuộc
- Mức thuế môn bài:
+ Mức thuế môn bài căn cứ vào vốn kinh doanh áp dụng với đối tượng nhóm 1, gồm: các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp; các doanh nghiệp hoạt động theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam, các tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, các tổ chức kinh doanh hạch toán kinh tế độc lập; liên hiệp hợp tác
xã và các quỹ tín dụng; các cơ sở kinh doanh là chi nhánh, cửa hàng, cửa hiệu, hạch toán kinh tế hạch toán kinh tế phụ thuộc hoặc báo sổ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, có đăng ký nộp thuế và được cấp mã số thuế
+ Mức thuế môn bài căn cứ vào thu nhập áp dụng đối với các đối tượng nộp thuế nhóm 2, gồm: các hộ SXKD cá thể, người lao động trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhận khoán ,
- Kê khai, nộp thuế môn bài
+ Hàng năm cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi đối tượng phải khai báo theo mẫu của Bộ tài chính cho cơ quan thuế, kèm theo giấy phép đăng ký kinh doanh Các cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế với cơ quan thuế cấp nào thì kê khai nộp thuế môn bài tại cấp đó
+ Cơ sở kinh doanh có hoạt động sản xuất kinh doanh trong khoảng thời gian 6 tháng đầu năm thì nộp thuế cả năm; của 6 tháng cuối năm thì nộp 50% của thuế môn bài cả năm
Trang 21+ Cơ sở kinh doanh đang hoạt động sản xuất thì nộp thuế ngay tháng đầu tiên của năm dương lịch, cơ sở mới kinh doanh thì nộp thuế ngay trong tháng bắt đầu kinh doanh
+ Cơ sở kinh doanh đăng ký nộp thuế cơ quan nào thì nộp thuế tại cơ quan đó Trường hợp cơ sở kinh doanh có nhiều cửa hàng, cửa hiệu trực thuộc nằm nhiều địa điểm khác nhau nhưng cùng địa phương thì cơ sở kinh doanh nộp thuế môn bài cho bản thân, đồng thời nộp thuế cho cửa hàng, cửa hiệu trực thuộc, đóng trên địa phương Nếu các cửa hàng, cửa hiệu đóng ở các địa phương khác thì nộp thuế môn bài nơi có cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh
1.2.2 Quản lý thuế môn bài
a Khái niệm quản lý thuế môn bài
“Quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống
cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các luật thuế”[8]
“Quản lý thuế môn bài là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước với quá trình tính và thu thuế môn bài để thay đổi quá trình này tạo ra nguồn thu cho NSNN và đạt được mục tiêu nhà nước đặt ra”[8]
Khái niệm quản lý thuế môn bài nêu trên cho thấy quản lý thuế môn bài bao gồm các khía cạnh chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của quản lý thuế môn bài là Nhà nước, bao gồm các
cơ quan lập pháp với vai trò là người nghiên cứu, xây dựng hệ thống pháp luật về thuế môn bài; cơ quan hành pháp với tư cách là người điều hành trực
Trang 22tiếp công tác thu và nộp thuế; hệ thống cơ quan chuyên môn giúp cho cơ quan hành pháp thay mặt cho Nhà nước tổ chức và thực hiện thu thuế môn bài
Thứ hai, đối tượng quản lý thuế môn bài là các tổ chức và cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn có nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN
Thứ ba, mục tiêu quản lý thuế môn bài là huy động nguồn lực tài chính
từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội cho Nhà nước thông qua việc ban hành và
tổ chức thi hành pháp luật thuế Đồng thời, đây còn là một bước tạo đà cho công tác thu trong năm và kiểm soát người nộp thuế của các cơ quan quản lý
Thứ tư, quản lý thuế môn bài là một hệ thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với nhau và giữa xây dựng chính sách với tổ chức hành thu
về thuế môn bài
Thứ năm, quá trình tác động, điều hành thu thuế gắn với quá trình thực hiện các chức năng quản lý của Nhà nước và quá trình này phải tuân thủ các quy luật khách quan
b Sự cần thiết trong việc quản lý thuế môn bài
Trên thực tế, hệ thống thuế là một chỉnh thể không thể chia cắt – không quốc gia nào áp dụng riêng biệt những sắc thuế khác nhau Vì vậy, khi nói tới quản lý thuế môn bài là việc tập trung quản lý đối tượng nộp thuế hơn là số thu vào NSNN Đây chính là tiền đề cho sự tăng trưởng và ổn định số thu vào NSNN trong tương lai
- Quản lý thuế môn bài là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế môn bài vào NSNN theo quy định của pháp luật
- Quản lý thuế môn bài là một trong các nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong đó có các cơ quan quản lý thuế Thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý thuế môn bài không chỉ đảm bảo sự vận hành thông suốt hệ
Trang 23thống cơ quan Nhà nước, mà có tác động tích cực tới quá trình thu, nộp thuế các sắc thuế khác vào NSNN;
- Quản lý thuế môn bài giúp đóng góp một tỷ lệ thường xuyên, ổn định vào việc đảm bảo nguồn thu từ thuế vào NSNN Thông qua việc lựa chọn áp dụng các biện pháp quản lý thuế môn bài có hiệu quả, cũng như xây dựng và
áp dụng quy trình, thủ tục về thuế môn bài hợp lý, cơ quan thuế đảm bảo thu thuế môn bài đúng luật, đầy đủ kịp thời vào NSNN Quản lý thuế môn bài tốt
sẽ có giá trị chỉ dẫn cho thuế thu nhập doanh nghiệp, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật thuế của người nộp thuế;
- Thông qua hoạt động quản lý thuế môn bài góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật cũng như các quy định về quản lý thuế và quản lý thuế môn bài Những điểm còn bất cập trong chính sách thuế được phát hiện trong quá trình áp dụng luật vào thực tiễn quản lý;
- Thông qua quản lý thuế môn bài, Nhà nước thực hiện kiểm soát và điều tiết các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, khuyến khích kinh doanh đúng hướng và phát triển sản xuất
- Theo quy định của pháp luật thuế, người nộp thuế khi mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh phải có trách nhiệm kê khai thuế môn bài với cơ quan quản lý thuế trực tiếp Nội dung kê khai thuế môn bài là vốn kinh doanh hay thu nhập bình quân, để từ đó xác định bậc môn bài phải đóng thuế cho NSNN Và hàng năm khi có sự thay đổi về căn cứ tính bậc môn bài thì doanh nghiệp phải kê khai với cơ quan thuế hạn cuối là ngày 31 tháng 12 của năm
có sự thay đổi, hay cơ quan thuế quản lý trực tiếp sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh lại mức thu nhập để tính thuế môn bài của các hộ kinh doanh Vì vậy, để quản lý thuế môn bài, cơ quan lý thuế phải tổ chức thu thập, nắm bắt, lưu giữ thông tin về hoạt động sản xuất, kinh doanh của người nộp thuế, phải tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của người
Trang 24nộp thuế Như vậy, có thể thấy, thông qua quản lý thuế môn bài, Nhà nước đã thực hiện kiểm soát các hoạt động kinh tế của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Từ việc kiểm soát các hoạt động kinh tế này, Nhà nước có thể có các chính sách quản lý phù hợp để điều tiết hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế theo định hướng của Nhà nước
c Nội dung quản lý thuế môn bài
Với mô hình quản lý thuế theo chức năng thì quản lý thuế môn bài bao gồm các nội dung sau:
- Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế
Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công lớn trong thực hiện chính sách còn phụ thuộc rất lớn vào sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế cũng như của người nộp thuế Để nội dung chính sách thuế môn bài đến với mọi người trong xã hội, cơ quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, hỗ trợ pháp luật thuế
Căn cứ tình hình đăng ký thuế, mức độ tuân thủ pháp luật thuế, thăm
dò ý kiến về nhu cầu hỗ trợ của người nộp thuế, cơ quan thuế có chương trình, kế hoạch tuyên truyền, hỗ trợ cho người nộp thuế hàng năm
Các hình thức tuyên truyền được áp dụng như tuyên truyền qua hệ thống tuyên giáo các cấp; qua tờ rơi, tờ gấp; qua pa-nô, áp-phích; trên các phương tiện thông tin đại chúng; qua trang thông tin điện tử và các hình thức tuyên truyền khác
Các hình thức hỗ trợ cho người nộp thuế như tổ chức tập huấn, đối thoại với người nộp thuế; xây dựng, cấp phát tài liệu hỗ trợ người nộp thuế; giải đáp vướng mắc về thuế qua điện thoại, trực tiếp tại cơ quan thuế bằng văn bản
Thuế môn bài là loại thuế đơn giản trong cách tính toán và dễ hiểu nên việc tuyên truyền, hỗ trợ cần mang tính rộng rãi và đúng thời điểm Cần nâng
Trang 25cao ý thức nộp thuế của người nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ môn bài đối với Nhà nước
- Giải quyết thủ tục hành chính thuế
+ Đăng ký thuế: Đăng ký thuế là việc người nộp thuế thực hiện khai
báo sự hiện diện của mình và nghĩa vụ phải nộp một hoặc một số loại thuế với cơ quan thuế Người nộp thuế cung cấp những thông tin cho cơ quan thuế khi thực hiện đăng ký thuế, gồm: tên cơ quan thuế, địa chỉ, quyết định thành lập, vốn điều lệ, ngành nghề kinh doanh chính, ngày bắt đầu hoạt động, loại hình kinh tế, hình thức hạch toán, các loại thuế phải nộp…
Kết quả của việc đăng ký thuế là người nộp thuế được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế Trên Giấy chứng nhận đăng ký thuế có MST của người nộp thuế, người nộp thuế chỉ được cấp một mã số thuế duy nhất để sử dụng trong suốt quá trình hoạt động, không được cấp lại cho tổ chức, cá nhân khác
Đối với thuế môn bài, đối tượng chịu thuế là tất cả các tổ chức, cá nhân
có hoạt động sản xuất kinh doanh nên việc thực hiện đăng ký mã số thuế cũng đồng nghĩa với phát sinh nghĩa vụ nộp tờ khai và tiền thuế môn bài vào NSNN
+ Khai thuế, tính thuế
Kê khai thuế, tính thuế môn bài là việc người nộp thuế tự xác định số
thuế môn bài phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai thuế theo quy định Người nộp thuế sử dụng hồ sơ khai thuế môn bài của Luật quản lý thuế để kê khai
số thuế phải nộp với cơ quan thuế và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của các số liệu trong hồ sơ khai thuế
Để thực hiện tốt công tác xử lý tờ khai, cơ quan thuế phải làm tốt công tác quản lý đối tượng nộp thuế, nhất là thuế môn bài với số lượng người nộp thuế rất lớn và trình độ cũng như ý thức tuân thủ pháp luật thuế rất khác nhau, càng đòi
Trang 26hỏi phải cấp mã số thuế để quản lý chặt chẽ đến từng đối tượng nộp thuế
Công tác xử lý tờ khai phải đảm bảo tiếp nhận và xử lý kịp thời các sai sót về khai thuế, tính thuế, giúp công tác kê khai của người nộp thuế chính xác và nhanh chóng
Sơ đồ 1.1: Quy trình kê khai thuế môn bài
+ Nộp thuế
Dưới sự phối hợp giữa Ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác
và tổ chức dịch vụ theo quy định của pháp luật, Kho bạc nhà nước, cơ quan thuế quản lý thu thuế, tổ chức được cơ quan thuế ủy nhiệm thu thuế (gọi chung là cơ quan, tổ chức thu tiền thuế) có trách nhiệm bố trí địa điểm, phương tiện, cán bộ, công chức, nhân viên thu tiền thuế bảo đảm thuận lợi cho người nộp thuế nộp tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt kịp thời vào NSNN Hiện tại, nộp thuế điện tử là xu hướng chung làm giảm thủ tục hành chính, tiết kiệm chi phí cho người nộp thuế
Phải chú trọng nhắc nhở thời hạn nộp thuế môn bài trong thông báo đôn đốc và trực tiếp qua hình thức hỗ trợ cho người nộp thuế Công tác kế toán thuế phải đảm bảo tiếp nhận và xử lý kịp thời các sai sót về hạch toán
số thu để từ đó xác nhận được đúng số thuế phải nộp, đã nộp, số còn nợ
Sau khi kê khai, nộp thuế
nghiệp kê khai thuế
Trong quá trình kê khai, nộp thuế
Xử lý kê khai, nộp thuế, kế toán thuế
Thanh tra, kiểm tra Giải quyết khiêú
nại
Trang 27thuế môn bài từng tiểu mục, từ đó phục vụ tốt cho công tác quản lý nợ thuế môn bài
Hàng tháng, nếu người nộp thuế chưa nộp tiền thuế, tiền phạt, tiền chậm nộp của thuế môn bài còn nợ của các tháng trước đó, cơ quan thuế thông báo số tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp còn phải nộp tính đến ngày cuối tháng nếu số tiền thuế, tiền phạt đã quá 30 ngày Trường hợp phát hiện sai sót về tiền thuế nợ, cơ quan thuế điều chỉnh lại tiền chậm nộp và thông báo cho người nộp thuế
+ Ủy nhiệm thu thuế
Ủy nhiệm thu là việc mà cơ quan thuế uỷ nhiệm cho tổ chức, cá nhân
thực hiện thu tiền thuế môn bài của hộ kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của
cơ quan thuế
Việc ủy nhiệm thu thuế phải được thực hiện thông qua hợp đồng giữa Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế với đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức hoặc trực tiếp với cá nhân được ủy nhiệm thu thuế
Bên được uỷ nhiệm thu thuế có trách nhiệm bố trí nhân viên đủ tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan thuế để thực hiện hợp đồng uỷ nhiệm thu đã ký: hướng dẫn, đôn đốc và thu nộp tờ khai thuế Bên được uỷ nhiệm thu có trách nhiệm nhận tờ khai thuế từ cơ quan thuế, cung cấp mẫu tờ khai thuế và hướng dẫn cách kê khai thuế, đôn đốc người nộp thuế khai thuế và thu tờ khai thuế từ người nộp thuế để nộp cho cơ quan thuế theo đúng thời hạn quy định;
Gửi thông báo nộp thuế và đôn đốc người nộp thuế thực hiện nộp thuế theo đúng quy định; Tổ chức thu nộp thuế và cấp chứng từ cho người nộp thuế; Nộp tiền thuế đã thu vào NSNN; Theo dõi và báo cáo với cơ quan thuế các trường hợp phát sinh người nộp thuế mới hoặc thay đổi quy mô, ngành hàng của người nộp thuế trên địa bàn ủy nhiệm thu
Trang 28Sự phối hợp giữa cơ quan thu của Nhà nước và tổ chức được ủy nhiệm thu giúp cho việc thu nộp tiền thuế môn bài ở những địa bàn có địa hình khó khăn, vùng núi Việc bổ sung nhân lực phù hợp với từng địa phương, từng loại thuế giúp cho việc quản lý thu được thuận lợi và nhanh chóng
- Công tác kiểm tra
Kiểm tra thuế là xác định tính đầy đủ, chính xác thông tin, tài liệu trong
hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan đến phát sinh số thuế phải nộp và tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước khi không nộp tờ khai hay chậm nộp tờ khai môn bài trên 90 ngày
Khi ra hoạt động sản xuất kinh doanh, người nộp thuế có trách nhiệm
kê khai thuế môn bài và nộp tiền thuế đúng hạn Tùy theo số ngày chậm nộp trong tờ khai mà phân chức năng theo dõi, giám sát với doanh nghiệp Số ngày chậm dưới 90 ngày, đội Kê khai kê toán thuế có trách nhiệm xử lý vi phạm dựa trên tình hình doanh nghiệp và theo quy định về xử phạt theo số ngày chậm nộp Đối với hồ sơ trên 90 ngày, đội Kiểm tra thuế có trách nhiệm
rà soát, giám sát doanh nghiệp, trên cơ sở đó xử phạt vi phạm hành chính
Công tác kiểm tra thuế được thực hiện dưới hai hình thức:
+ Kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế: để đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế: Công chức thuế thực hiện kiểm tra, đối chiếu nội dung kê khai trong hồ sơ thuế với cơ sở dữ liệu của người nộp thuế và tài liệu có liên quan về người nộp thuế để phân tích, đánh giá tính tuân thủ;
+ Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế: Cơ quan thuế sẽ tiến hành kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế trong các trường hợp người nộp thuế không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu theo thông báo của cơ quan thuế; không khai
bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ sơ thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng
Trang 29- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế bao gồm: Vi phạm các thủ tục thuế, chậm nộp tiền thuế, khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, trốn thuế, gian lận thuế
Xử phạt đối với hành vi vi phạm thủ tục thuế môn bài bao gồm: Nộp hồ
sơ khai thuế trong khoảng thời gian chín mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế; Khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế, trừ trường hợp người nộp thuế khai bổ sung trong thời hạn quy định;
Xử phạt đối với hành vi chậm nộp tiền thuế: Người nộp thuế có hành vi chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn ghi trong thông báo của
cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và bị xử phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp
Công tác xử lý vi phạm pháp luật về thuế phải đảm bảo chính xác, minh bạch, công bằng và mang tính răn đe Vì thuế môn bài là loại thuế đầu tiên của năm và cũng là loại thuế đầu tiên của người nộp thuế khi ra hoạt động sản xuất kinh doanh nên công tác xử lý vi phạm pháp luật về thuế sẽ ảnh hưởng đến tính tuân thủ pháp luật thuế
- Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, thi hành quyết định hành
chính thuế
Mục tiêu của công tác cưỡng chế nợ thuế là kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng nộp thuế cố ý chây ỳ, nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và các khoản tiền phạt liên quan đến thuế, để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN, phù hợp với pháp luật thuế
Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế, có biện pháp kịp thời để đôn đốc, xử phạt việc chậm kê khai, chậm nộp thuế theo quy định của luật thuế
Trang 30Theo dõi được số thuế nợ của đối tượng nộp thuế theo từng loại thuế, mức nợ, tuổi nợ, nguyên nhân nợ thuế và kết hợp với việc phân tích thông tin
về tình hình sản xuất thông tin về tình hình sản xuất, kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp để xây dựng kế hoạch và có biện pháp tổ chức thu nợ hợp lý
Quá thời hạn nộp hồ sơ kê khai thuế, nộp tiền thuế môn bài vào NSNN, gửi thông báo nợ thuế nếu doanh nghiệp chưa nộp tiền vào NSNN đến địa chỉ
đã đăng ký với Sở Kế hoạch và đầu tư Đối với hộ kinh doanh, in thông báo
nợ đọng thuế của hộ kinh doanh cho cán bộ thuế khối phường tiến hành nhắc nhở và tính tiền phạt nộp chậm trên số tiền và số ngày nộp chậm
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Người nộp thuế, cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi hành chính của cơ quan thuế, công chức quản lý thuế, người được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng hành vi đó
là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Hành vi hành chính được thể hiện bằng hành động hoặc không hành động
Thủ trưởng cơ quan thuế có trách nhiệm trực tiếp tiếp và tổ chức việc tiếp người đến trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo; bố trí cán bộ có phẩm chất tốt, có kiến thức và am hiểu chính sách, pháp luật, có ý thức trách nhiệm làm công tác tiếp người đến khiếu nại, tố cáo
Cơ quan thuế, công chức quản lý thuế, người được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế có trách nhiệm kiểm tra, xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, nếu thấy trái pháp luật thì kịp thời sửa chữa, khắc phục để tránh phát sinh khiếu nại tố cáo
d Quản lý thuế môn bài trên góc độ nhà quản lý
Ngoài nội dung quản lý thuế môn bài ở trên thì đứng trên góc độ của
Trang 31các nhà quản lý thì quản lý thuế môn bài bao gồm các nội dung sau: Xây dựng chính sách và thể chế hóa thành pháp luật thuế; Xây dựng tổ chức bộ máy quản lý thuế môn bài; Tổ chức quy trình quản lý thuế; Tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế
- Xây dựng chính sách và thể chế hóa thành pháp luật thuế: Chính sách thuế là hệ thống những quan điểm, đường lối, phương châm điều tiết thu nhập các tổ chức và cá nhân xã hội thông qua thuế Từ đó, xác định mục tiêu của chính sách thuế để xác định mức độ điều tiết qua thuế, những tác động kinh tế
- xã hội, phạm vi ảnh hưởng và thời gian hiệu lực của chính sách Trong khi pháp luật thuế là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung Vì vậy, Nhà nước muốn chính sách thuế đi vào cuộc sống thì cần thể chế hóa những chính sách thành pháp luật thuế Pháp luật thuế phải quy định đầy đủ các yếu tố: người nộp thuế, cơ sở thuế, mức thu, ưu đãi thuế, thủ tục thuế và
xử lý vi phạm về thuế Cũng như các quy định pháp luật khác, một mặt pháp luật thuế phải thực hiện rõ các mục tiêu, quan điểm, đường lối của chính sách thuế; Mặt khác, pháp luật thuế phải minh bạch, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định
- Tổ chức bộ máy thu thuế: Để đảm bảo nguồn thu cho NSNN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, Nhà nước ban hành pháp luật thuế để huy động một
bộ phận thu nhập quốc dân thông qua điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội vào tay Nhà nước Luật thuế môn bài được thực thi trong đời sống xã hội phải thông qua hoạt động của bộ máy thu thuế
Để nâng cao hiệu lực của bộ máy nói chung và quản lý thuế môn bài nói riêng, việc lựa chọn, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ
để đáp ứng yêu cầu công việc, có vai trò rất quan trọng Chất lượng quản lý thuế phụ thuộc vào trình độ cán bộ, việc bố trí nhân lực cho các khâu để quản
Trang 32lý đối tượng nộp thuế một cách hợp lý Do đặc thù quản lý hệ thống, chủ thể quản lý một mặt phải đảm bảo sự quản lý tập trung thống nhất trên những mặt
cơ bản chính yếu nhất, mặt khác phân cấp cho cấp dưới xử lý thông tin và ra quyết định với những quyền hạn và trách nhiệm được xác định
Việc phân cấp trong ngành thuế thường căn cứ vào đối tượng quản lý, không căn cứ vào sắc thuế Đối với thuế môn bài, mặc dù số thu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nội địa, tuy nhiên đối tượng nộp thuế lại rất lớn, quy
mô và phạm vi rất khác nhau Ngoài tính chất là khoản thu đóng góp vào NSNN, thuế môn bài mang kiểm kê, kiểm soát đối tượng nộp thuế Đây cũng
là loại thuế đầu tiên khi đối tượng ra hoạt động phải thực hiện nghĩa vụ, việc tuân thủ đối với thuế môn bài ảnh hưởng rất lớn đến số thu của các loại thuế khác của đối tượng đó trong năm kinh doanh
- Tổ chức quy trình quản lý thuế môn bài: đây là trình tự các bước công việc trong quản lý thuế môn bài và trách nhiệm thực hiện các bước công việc
đó của các bộ phận trong cơ quan thuế; Mối quan hệ phối hợp giữa các bộ phận trong cơ quan quản lý thuế nhằm thực hiện các công việc quản lý; Thời hạn và thời điểm phải hoàn thành những công việc nhất định trong quy trình quản lý thuế; Yêu cầu phải đạt được từng nội dung cụ thể đối với từng bộ phận quản lý trong cơ quan quản lý thuế
- Tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế: Với mục tiêu là thực hiện pháp luật thuế, nghĩa là phải đảm bảo để người nộp thuế thực hiện nghĩa
vụ kê khai nộp thuế cho Nhà nước thì cơ quan thuế cần tác động vào tất cả những yếu tố điều khiển hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế Tức là phải làm cho người nộp thuế hiểu nghĩa vụ thuế, hiểu cách tính toán số thuế phải nộp, thấy được hậu quả của việc không tuân thủ, tạo những thuận lợi nhất để người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp cho Nhà nước, kiểm
Trang 33soát tuân thủ thuế Để làm được điều đó, cần tổ chức thực hiện các chức năng quản lý thuế Đó là chức năng chủ yếu sau:
+ Tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế: Chuyển tải thông tin về pháp luật thuế đến mọi thành viên trong xã hội bằng những hình thức và biện pháp
+ Cưỡng chế thuế: Dùng các cách thức, biện pháp buộc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, quyết định hành chính thuế
e Sự khác biệt trong cách quản lý thuế
- Doanh nghiệp và hộ cá thể
Trong quản lý thuế các khu vực kinh tế, thì khu vực doanh nghiệp luôn được quan tâm hàng đầu vì đây là khu vực đóng góp lớn nhất vào thu NSNN, mặc dù số doanh nghiệp chỉ chiếm 10% trong tổng số đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp và bằng 1% tổng số đối tượng nộp thuế nhưng đóng góp 2/3 tổng thu nội địa Số thu của một đối tượng ở khu vực này thường gấp nhiều lần so với số thu của đối tượng là hộ cá thể hay cá nhân Mặt khác đây là khu vực đòi hỏi trình độ quản lý cao của cán bộ thuế và
là khu vực có nhiều phức tạp nhất trong quá trình chuyển đổi cơ chế
Trang 34Quản lý thuế đối với doanh nghiệp là quản lý thuế đối với những pháp nhân và những đối tượng nộp thuế lớn Hầu hết các cơ quan thuế ở các nước cũng tập trung không ngừng và đáng kể nguồn lực vào việc quản lý nhóm đối tượng nộp thuế này
Quản lý thuế trên cơ sở đối tượng nộp thuế thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ Theo chế độ hiện hành, các doanh nghiệp đều phải mở sổ sách kế toán, và hạch toán kế toán theo chế độ quy định và thực hiện nghĩa vụ thuế theo phương pháp kê khai thuế
Doanh nghiệp có phạm vi kinh doanh rộng hơn và mức độ phức tạp cao hơn so với đối tượng là hộ cá thể Vì vậy, việc kiểm soát chi phí và thu nhập khi tính thuế là hết sức phức tạp Nhiều doanh nghiệp lớn không trốn thuế một cách “ngây ngô” như các doanh nghiệp nhỏ và hộ cá thể bằng cách gian lận hóa đơn hay bán hàng không xuất hóa đơn Các doanh nghiệp này luôn xuất trình đủ hóa đơn, chứng từ và hạch toán rất bài bản, nhưng đằng sau những số liệu “sạch sẽ” đó là một kế hoạch tránh thuế rất tinh vi Do đó, quản lý thuế đối với doanh nghiệp đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp
vụ Có như vậy mới thực hiện quản lý thuế có hiệu quả
Quá trình thực hiện quản lý thuế khu vực doanh nghiệp cũng bộc lộ nhiều bất cập cả về quy trình quản lý, ứng dụng công nghệ thông tin, bố trí nguồn nhân lực, trình độ quản lý của cơ quan thuế, chưa tận dụng được kinh nghiệm quản lý thuế của các nước tiên tiến Số lượng đối tượng nộp thuế nói chung và doanh nghiệp nói riêng tăng lên nhanh chóng, tính tuân thủ, tự nguyện của đối tượng nộp thuế chưa cao, tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế vẫn diễn ra ở nhiều địa bàn khác nhau
Thành phần kinh tế cá thể là thành phần kinh tế hoạt động sản xuất kinh doanh dựa vào vốn và sức lao động của bản thân mình là chính Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, kinh tế cá thể phát triển rất nhanh trong cả nước,
Trang 35hoạt động trong mọi ngành sản xuất, giao thông vận tải, thương nghiệp, ăn uống dịch vụ Đặc điểm của thành phần kinh tế cá thể là dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, người chủ kinh doanh tự quyết định từ quá trình sản xuất kinh doanh đến phân phối tiêu thụ sản phẩm Hoạt động kinh tế cá thể mang tính tự chủ cao, tự tìm kiếm nguồn lực, vốn, lao động Thành phần kinh
tế này rất nhạy bén trong kinh doanh, dễ dàng chuyển đổi ngành nghề kinh doanh cho phù hợp với yêu cầu với thị trường và nền kinh tế
Bên cạnh những ưu điểm trên, thành phần kinh doanh cá thể cũng có một số mặt hạn chế Đặc điểm của hộ cá thể là làm ăn riêng rẻ, tản mạn, rời rạc và luôn tìm cách tìm ra những chỗ sơ hở, non yếu trong quản lý kinh tế để kinh doanh trái phép, trốn lậu thuế Sự năng động mạng tính tự phát theo thị trường, nếu thiếu sự định hướng sẽ không bao quát được nhu cầu thị trường
Để phát huy được tiềm năng vốn có và khắc phục những khiếm khuyết trên, cần phải tăng cường sự quản lý của Nhà nước về kinh tế đối với thành phần
cá thể thông qua công cụ pháp luật, nhằm tạo hành lang pháp lý và mội trường hoạt động lành mạnh, trở thành một thành phần kinh tế trọng điểm đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội cho đất nước
Đối với hộ cá thể, các thông tin cơ bản về Hộ kinh doanh được tập hợp
và quản lý từ khi hộ mới ra kinh doanh Ngành thuế có các ứng dụng quản lý thuế Hộ kinh doanh nhằm đáp ứng quản lý thuế và xử lý dữ liệu về thuế của hộ
cá thể Hộ kinh doanh là lĩnh vực quản lý thuế cực kỳ nhạy cảm, tác động đến đại bộ phận nhân dân, lĩnh vực dễ xảy ra khiếu nại, khiếu kiện đông người Thất thu thuế ở một số ngành nghề đặc thù, như xây dưng tư nhân, vận tải tư nhân, bán xe gắn máy, đồ điện tử, điện lạnh, ăn uống, khách sạn, nhà nghỉ, cho thuê nhà, thuê mặt bằng còn khá lớn và phổ biến Trong khi đó, tình hình nợ thuế của hộ kinh doanh cũng diễn ra phổ biến, nhiều cá nhân chây ỳ, chưa có ý thức thực hiện nghĩa vụ thuế đối với NSNN Vấn đề cốt lõi nhất vẫn là ý thức
Trang 36cán bộ thuế phải có tính mềm mỏng, lý lẽ phải thuyết phục, và phải có sự phối hợp thường xuyên giữa cơ quan thuế và chính quyền địa phương
- Thuế môn bài và các sắc thuế khác
Quản lý thuế môn bài chủ yếu chú trọng đến số lượng đối tượng nộp thuế hơn số thuế phải nộp của đối tượng đó Vì tính chất rộng lớn và mang tính phổ biến, là loại thuế đầu tiên của năm tài chính, tác động lên đại bộ phận nhân dân, nên quản lý thuế cần chú trọng và cần sự phối hợp giữa các cấp ban ngành Số thu môn bài chủ yếu vào quý 1 của năm tài chính nên cần bố trí nhân lực phù hợp để theo dõi, quản lý thuế, chống thất thu, khiếu kiện của người nộp thuế
Trong khi đó, các sắc thuế khác lại chú trọng các đối tượng nộp thuế khác nhau với số thu chiếm tỷ trọng lớn trong thu NSNN Và người nộp thuế phải nộp hàng tháng hay hàng quý tùy theo từng sắc thuế Vì vậy, quản lý các sắc thuế này phải mang tính thường xuyên, liên tục; Cán bộ phải có trình độ chuyên môn để theo sát, đôn đốc nộp tờ khai, nộp thuế
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ THUẾ MÔN BÀI
Thuế môn bài là một trong những loại thuế quan trọng, ảnh hưởng tới
sự tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế trong năm đó, từ đó tác động đến số thu vào NSNN Với tính chất đơn giản, ổn định quản lý thuế môn bài trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn các loại thuế thông thường khác Vậy những nhân tố ảnh hưởng tới quản lý thuế môn bài đó là:
1.3.1 Nhân tố khách quan
a Hệ thống văn bản pháp luật thuế
Các nội dung của quản lý thuế môn bài đã được quy định trong các văn bản pháp luật về thuế tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện quản lý thuế
Tuy hệ thống pháp luật về thuế chưa đi vào ổn định, chính sách thuế
Trang 37đổi khuyến khích sự phát triển sản xuất kinh doanh Một khi các quy định về chính sách thuế môn bài thay đổi, nhiệm vụ quản lý thuế ngày càng tăng đòi hỏi bộ máy cơ quan quản lý thuế cũng phải kiện toàn, đổi mới, phù hợp, đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý
Vì tính đa dạng về đối tượng trong quản lý thuế môn bài, mỗi loại đối tượng nộp thuế có đặc điểm khác nhau, nên nội dung quản lý thuế môn bài cũng được quy định cho từng loại đối tượng phù hợp với đặc điểm về chính sách thuế và đặc điểm riêng có của từng đối tượng Cùng với cải cách chính sách thuế và yêu cầu quản lý, đòi hỏi các nội dung này phải được bổ sung, sửa đổi hoặc cải cách căn bản qua các giai đoạn
b Sự phát triển của nền kinh tế
Mặc dù kinh tế Việt nam có dấu hiệu phục hồi tăng trưởng, nhưng khi xem xét cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế thì thấy doanh nghiệp tư nhân đóng góp chỉ khoảng trên dưới 10% và không thay đổi trong suốt từ năm
2005 - 2013 Trong khi đó, thành phần kinh tế cá thể đóng góp nhiều nhất vào GDP, chiếm khoảng 32% từ 2007 – 2013 [16] Điều này phần nào cho thấy nền kinh tế hiện nay khá manh mún và phát triển nhỏ lẻ Chính vì vậy, quản
lý thuế môn bài phải đạt được mục tiêu là kiểm soát, từ đó định hướng phát triển các ngành nghề phù hợp với người nộp thuế
Từ những khó khăn của nền kinh tế làm cho tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hộ kinh doanh gặp nhiều trở ngại Khi mà khoa học công nghệ càng ngày càng phát triển, số lượng doanh nghiệp ảo ngày càng gia tăng, tính toàn cầu của các doanh nghiệp làm cho nhiệm vụ quản lý ngày càng khó khăn phức tạp, đòi hỏi công tác quản lý thuế phải được hiện đại hóa cho thích hợp với sự phát triển của doanh nghiệp
Trang 381.3.2 Nhân tố chủ quan
a Cơ cấu tổ chức, phân cấp quản lý
Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến toàn bộ hệ thống thuế
Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ chức năng quản lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống Ngược lại, một
cơ cấu tổ chức quản lý không phù hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức, và hạn chế tác dụng của bộ máy
Đối với thuế môn bài, mặc dù số thu chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng thu nội địa, tuy nhiên đối tượng nộp thuế lại rất lớn, quy mô và phạm vi rất khác nhau Chính sự đa dạng trong đối tượng nên việc phân cấp quản lý mang ý nghĩa vô cùng to lớn trong hiệu quả quản lý thuế môn bài
b Trình độ năng lực của cán bộ ngành thuế
Cán bộ quản lý là người lao động quản lý bao gồm tất cả các cá nhân thực hiện những chức năng nhất định trong bộ máy quản lý của một hệ thống Đội ngũ cán bộ quản lý giữ vai trò cực kỳ quan trọng, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của một hệ thống quản lý Để nâng cao hiệu lực của
bộ máy nói chung và thuế nói riêng, việc lựa chọn, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để đáp ứng yêu cầu công việc, có vai trò rất quan trọng
Chất lượng của quản lý thuế phụ thuộc vào trình độ cán bộ, việc bố trí nhân lực cho các khâu để quản lý các đối tượng nộp thuế trong quy trình một cách hợp lý
Đối với các nước có trình độ quản lý thuế tiên tiến thì tỷ lệ cán bộ bố trí nhân lực cho các khâu xử lý tờ khai và kế toán thuế chiếm 14-22%, khâu tuyên truyền và dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế là 12-24%, khâu thanh tra, kiểm tra chiếm từ 24-40%, khâu quản lý và cưỡng chế nợ thuế là 12-17%
Trang 39Bảng 1.1 Tỷ lệ cán bộ bố trí theo chức năng ở một số nước
Quốc gia TT-HT NNT KK-KKT Thanh tra,
kiểm tra
Quản lý nợ và cưỡng chế nợ Khác
(Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế)
Trong bố trí cán bộ, tỷ lệ cán bộ trực tiếp quản lý thuế phải chiếm tỷ trọng cao thông thường khoảng 80%, tỷ lệ cán bộ làm công tác phục vụ, quản
lý nội bộ ngành khoảng 20% Đồng thời phải xác định được các khâu trọng yếu của quản lý thuế và bố trí cán bộ phù hợp
Cùng với xác định tỷ lệ cán bộ ở các khâu thì cũng cần bố trí cán bộ có trình độ phù hợp vào quản lý các đối tượng và các khâu công việc Trong quản lý đối tượng nộp thuế gồm doanh nghiệp, hộ cá thể, cá nhân nộp thuế thu nhập cá nhân, đối tượng nộp phí, lệ phí thì quản lý doanh nghiệp đòi hỏi cán bộ phải có trình độ cao, có kiến thức đầy đủ về tài chính, kế toán, am hiểu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ thuế nói chung và đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ quản lý thuế đối với doanh nghiệp nói riêng phải được tiến hành thường xuyên, thực chất, theo hướng chính quy hiện đại
c Cơ chế quản lý, phương thức quản lý
- Sự chuyển đổi cơ chế quản lý: từ cơ quan thuế tính thuế tới cơ chế
người nộp thuế tự kê khai, tự tính thuế, tự nộp thuế đã ảnh hưởng rất nhiều tới
cơ cấu chức năng quản lý thuế và cả số kê khai, số tiền thu được của NSNN:
Cơ quan thuế tăng cường công tác tuyên truyền và cung cấp dịch vụ hỗ trợ các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh nhằm tạo điều kiện cho đối
Trang 40tượng nộp thuế hiểu và thực hiện đúng nghĩa vụ thuế của mình, đồng thời tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra và cưỡng chế thuế có hiệu quả hơn đối với đối tượng nộp thuế có rủi ro cao;
Nâng cao hiệu quả công tác thuế: nhằm nâng cao tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế Hiệu quả quản lý thuế còn thể hiện ở chỗ, khi đối tượng nộp thuế tăng lên nhanh chóng thì sẽ không gây áp lực cho cơ quan thuế, giúp tiết kiệm chi phí quản lý, phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn;
Giúp giảm thủ tục hành chính, người nộp thuế tự chủ động và tạo điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế Nâng cao trách nhiệm pháp lý trong việc kê khai thuế đối với Nhà nước
Tuy vậy, chính sự chuyển đổi này đòi hỏi ở quản lý thuế một cách chặt chẽ hơn do nguy cơ trốn lậu, thất thoát thuế lớn nếu trình độ dân trí thấp và không có biện pháp quản lý phù hợp Mặt khác, cơ chế này đòi hỏi cao về cơ
sở vật chất và trình độ quản lý của cơ quan Nhà nước
- Sự chuyển đổi phương thức kê khai: từ kê khai trên giấy sang kê
khai điện tử làm thay đổi khá lớn trong việc tổ chức cán bộ chịu trách nhiệm trong từng khâu của quản lý thuế môn bài Thực hiện kê khai qua mạng Internet, cơ quan thuế không còn phải nhập dữ liệu bằng tay, khắc phục được
sự nhầm lẫn, sai sót; thông tin nhận được nhanh hơn, đáp ứng tốt hơn cho công tác quản lý; tiết kiệm được thời gian và nguồn nhân lực của khâu nhập liệu để tăng cường bố trí cho các khâu quản lý trọng yếu khác hay tinh giản biên chế cơ quan
Đối với tờ khai thuế môn bài, việc kê khai qua mạng đã được thực hiện, người nộp thuế thực hiện kê khai lúc mới ra kinh doanh Khi không có sự thay đổi trong vốn kinh doanh hay thu nhập làm thay đổi bậc thuế môn bài thì không phải nộp lại tờ khai thuế cho cơ quan thuế quản lý Vì vậy, việc quản lý thuế môn bài phụ thuộc rất lớn vào ý thức, hiểu biết của người nộp thuế và