BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG NGUYỄN ĐÌNH THẮNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Đà Nẵng – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN ĐÌNH THẮNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trương Bá Thanh
Đà Nẵng – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thắng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
7 Cấu trúc của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 7
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 7
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài 7
1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 10
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 19
1.2.1 Khái niệm QLNN 19
1.2.2 Vai trò của QLNN đối với DNFDI 20
1.2.3 Chức năng chính của QLNN đối với DNFDI 21
1.2.4 Đối tượng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI 22
1.3 NỘI DUNG CỦA QLNN ĐỐI VỚI CÁC DNFDI 25
1.3.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch 25
1.3.2 Ban hành các cơ chế, chính sách và pháp luật 28
Trang 51.3.4 Thanh tra, kiểm tra và giám sát 32
1.4 KINH NGHIỆM QLNN ĐỐI VỚI CÁC DNFDI CỦA MỘT SỐ NƯỚC, CÁC ĐỊA PHƯƠNG 33
1.4.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới 33
1.4.2 Kinh nghiệm của các địa phương ở Việt Nam 35
1.4.3 Những bài học có thể áp dụng vào thực tiễn của Đà Nẵng 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 40
2.1 TÌNH HÌNH DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 40
2.1.1 Tình hình DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 40
2.1.2 Đánh giá DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 49
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 57
2.2.1 Tình hình QLNN đối với các DNFDI tại thành phố Đà Nẵng 57
2.2.2 Đánh giá QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 67
2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 69
2.3.1 Nguyên nhân chủ quan 69
2.3.2 Nguyên nhân khách quan 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
Trang 6CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 73
3.1 CĂN CỨ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 73
3.1.1 Căn cứ vào vai trò, vị trí của Đà Nẵng trong sự phát triển chung của cả nước và mục tiêu phát triển KT-XH của Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030 và xa hơn nữa 73
3.1.2 Căn cứ vào yêu cầu của QLNN đối với DNFDI trong thời gian tới 75
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 81
3.2.1 Xây dựng lại một Quy chế phối hợp liên ngành QLNN đối với DNFDI và tập huấn vận hành theo quy chế này 81
3.2.2 Hình thành một “Đề án hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” 83
3.2.3 Tiến hành tổng rà soát hệ thống thể chế, pháp luật, liên quan đến sự QLNN về kinh tế đối ngoại nói chung, các DNFDI nói riêng 85
3.2.4 Tổ chức thành lập một Ban chuyên trách tư vấn pháp luật cho các DNFDI 85
3.2.5 Đầu tư xây dựng lại đội ngũ CBCC chuyên quản lý nhà nước về DNFDI 86
3.2.6 Đổi mới công tác quản lý các khu công nghiệp FDI 86
3.3 KIẾN NGHỊ 87
3.3.1 Đối với Quốc hội 87
3.3.2 Đối với Chính phủ 87
Trang 73.3.3 Đối với các cơ quan QLNN theo ngành và lĩnh vực ở Trung ương 88 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CBCC : Cán bộ công chức CN&XD : Công nghiệp và Xây dựng
DN : Doanh nghiệp DNFDI : Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ĐTNN : Đầu tư nước ngoài
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài GDP : Tổng sản phẩm trong nước GCNĐT : Giấy chứng nhận đầu tư KCN : Khu công nghiệp
KH-CN : Khoa học – công nghệ KT-XH : Kinh tế - xã hội
OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức
QLNN : Quản lý nhà nước SXKD : Sản xuất kinh doanh
UBND : Ủy ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Vốn FDI cấp mới và tăng thêm theo giai đoạn 40 2.2 Phân nhóm dự án FDI tại thành phố Đà Nẵng theo ngành
DNFDI
48
2.8 Cơ cấu vốn FDI của Đà Nẵng (tính đến 31/12/2014) 48
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư nước ngoài sẽ giúp cho nơi tiếp nhận đầu tư bổ sung vốn đầu tư, tiếp nhận công nghệ, kỹ thuật cao, tạo việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách
và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn có sự quan tâm đặt biệt đến vấn đề này
Đà Nẵng là một thành phố có vị trí chiến lược trong sự phát triển chung của đất nước Tháng 9 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định thành lập vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quãng Ngãi và Bình Định Trong đó, Đà Nẵng được xác định là thành phố đóng vai trò hạt nhân tăng trưởng, tạo động lực thúc đẩy phát triển cho cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên Điều đó càng đòi hỏi
Đà Nẵng phải có những bước phát triển vượt bật trên tất cả các lĩnh vực
KT-XH Từ đó, việc khai thác và sử dụng tiềm năng của nguồn vốn FDI cũng như DNFDI có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn này Có thể nói trong thời gian qua Đà Nẵng đã thu hút được một lượng lớn vốn FDI với nhiều nhà đầu
tư nước ngoài tham gia
Tuy nhiên, bên cạnh đó thì việc khai thác và sử dụng vốn FDI cũng như DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian quan còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của thành phố trong điều kiện hội nhập kinh tế càng sâu rộng mà nguyên nhân chủ yếu chính là việc QLNN đối với các FNFDI còn nhiều bất cập so với đòi hỏi đổi mới của công cuộc cải cách hành chính
Do vậy, việc nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện cả lý luận lẫn thực tiễn, qua đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để các doanh nghiệp này hoạt động hiệu quả
Trang 112
hơn, góp phần vào phát triển KT-XH của thành phố là một vấn đề cấp bách cũng là vấn đề cơ bản lâu dài của thành phố Đà Nẵng Đây cũng là lý do để tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn thạc
sĩ ngành Kinh tế phát triển
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm được những kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về QLNN
đối với các DNFDI có thể giúp các ngành, các cấp làm công tác QLNN đối với DNFDI của thành phố Đà Nẵng lấy đó làm cơ sở khoa học cho công việc của mình, từ việc xem lại những việc đã làm để tìm ra ưu, khuyết điểm, đến việc nhìn ra hướng và cách đổi mới QLNN hiện nay đối với loại hình doanh nghiệp này
- Có được những nhận định, đánh giá có căn cứ lý luận và thực tế về sự QLNN của các ngành, các cấp ở Đà Nẵng đối với các DNFDI trên địa bàn
- Có được những căn cứ lý luận và thực tiễn để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện QLNN của các ngành, các cấp ở Đà Nẵng đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Công tác QLNN của thành phố Đà Nẵng với các DNFDI
- Đối tượng quản lý: DNFDI đang hoạt động trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Chủ thể quản lý: Nhà nước địa phương cấp tỉnh (thành phố Đà Nẵng)
b Phạm vi nghiên cứu
- Về phạm vi của của nội dung QLNN đối với các DNFDI, luận văn chỉ nghiên cứu sự QLNN đối với các DNFDI từ khâu thành lập đến khâu thoái lui của DNFDI, không nghiên cứu sự QLNN ở khâu thu hút FDI và xúc tiến đầu tư FDI
- Về phạm vi chủ thể và đối tượng của QLNN đối với các DNFDI, luận
Trang 12kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
b Phương pháp nghiên cứu
- Tổng hợp, phân tích, đối chiếu, so sánh…
- Ngoại suy logic
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Góp phần hệ thống hóa, bổ sung một phần lý luận về FDI và QLNN đối với DNFDI
- Góp phần tổng kết công tác QLNN đối với các DNFDI tại Đà Nẵng, từ
đó thấy được những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng
- Có được những căn cứ để đề xuất giải pháp có giá trị tham khảo trong việc hoàn thiện QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thời gian tới
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Theo tác giả được biết hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, công trình nghiên cứu về QLNN đối với các DNFDI như:
- Bài viết “Một số vấn đề về quản lý nhà nước trong FDI tại tỉnh Thái Nguyên” của Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Ngọc Hoa, Đại học Thái Nguyên, Tạp chí Khoa học và Công nghệ số 103, đăng ngày 26-3-2013 Bài viết đã nêu bật được tình hình thu hút vốn FDI cũng như các cơ chế, chính
Trang 134
sách QLNN đối với FDI tại tỉnh Thái Nguyên Hạn chế của bài viết là nội dung về một số giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với FDI tại Thái Nguyên tác giả chỉ nêu lên các biện pháp chứ chưa đi vào từng biện pháp cụ thể, do vậy chưa thấy được sự cần thiết khi áp dụng những biện pháp này
- Bài viết “Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với DNFDI ở Hà Nội” của TS Phan Trung Chinh, Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh, Tạp chí Quản lý nhà nước số 141, đăng tháng 10-2007 Bài viết nêu bật được những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong QLNN đối với DNFDI, đề ra định hướng phát triển kinh tế có vốn FDI ở Hà Nội trong bối cảnh hiện nay Từ đó có những giải pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện cơ chế QLNN đối với DNFDI ở Hà Nội
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế với đề tài “Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Nguyễn Thị Vui (2013) bảo vệ tại Hội đồng khoa học Đại học Kinh tế, Đại Học Quốc gia Hà Nội Nghiên cứu của tác giả đã phần nào nêu được cơ
sở lý luận về QLNN đối với các DNFDI trên địa bàn cấp tỉnh Tuy nhiên, chưa nêu lên được cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN đối với DNFDI
Ở phần 2, phần thực trạng QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Bắc Ninh lại chỉ nêu lên tình hình hoạt động của DNFDI, chưa đánh giá được thực trạng DNFDI trên địa bàn, đa phần thiêng về thu hút FDI vào địa bàn, phần hoàn thiện QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020 đã nêu lên một số biện pháp hoàn thiện nhưng còn chung chung do thiếu các căn cứ để hoàn thiện
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế với đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Thị Hải Yến (2012), bảo vệ tại Hội đồng khoa học Trung tâm đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị Ở luận văn này, tác giả đã trình bày đầy đủ về cơ sở lý luận về DNFDI, tuy nhiện cơ sở lý luận về QLNN đối
Trang 145
với DNFDI chưa nêu lên sự cần thiết, chức năng, đối tượng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI Ở chương 2, tác giả đã cho thấy được thực trạng QLNN đối với DNFDI ở Phú Thọ, từ đó nêu lên được đánh giá và tìm ra nguyên nhân, tuy nhiên, ở phần thực trạng thu hút FDI và hoạt động của các DNFDI tại Phú Thọ thì tác giả đã đi quá sâu vào phân tích về tình hình thu hút vốn FDI và tình hình hoạt động mà chưa đưa ra được nhận xét, đánh giá về DNFDI ở địa bàn
- Luận văn Thạc sỹ hành chính công với đề tài “Hoàn thiện quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn FDI ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn Hùng, bảo vệ tại Hội đồng khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Đề tài đã nêu rõ cơ sở lý luận về QLNN đối với DNFDI, thực trạng QLNN đối với DNFDI ở Việt Nam hiện nay Tuy nhiên, phần đánh giá thực trạng QLNN đối với DNFDI còn chung chung, từ đó các căn cứ để
đề xuất biện pháp hoàn thiện QLNN đối với DNFDI ở Việt Nam chưa sát với thực tế
- Luận văn Thạc sỹ hành chính công với đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Đồng Nai” của tác giả Phan Thị Mỹ Hạnh (2000), bảo vệ tại Hội đồng khoa học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Luận văn đã kế thừa cơ sở lý luận
về QLNN đối với các DNFDI Tuy nhiên, ở chương 2, thực trạng QLNN đối với DNFDI tại tỉnh Đồng Nai chưa nêu rõ nét đặc thù, đổi mới trong công tác QLNN qua từng mốc giai đoạn Ở chương 3, phần biện pháp hoàn thiện công tác đổi mới QLNN đối với DNFDI trong thời gian tới chưa cụ thể, tầm nhìn định hướng không rõ ràng là 5 năm hay 10 năm, thiếu các căn cứ để đề xuất biện pháp
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã phần nào tổng hợp, hệ thống hóa lý luận cơ bản về FDI và về QLNN đối với DNFDI cũng như đưa ra thực
Trang 156
trạng QLNN đối với DNFDI tại một số địa phương, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN đối với DNFDI tại địa phương đó Tuy nhiên, thấy được những hạn chế trong các công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, bài viết nêu trên và thực tế chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về hệ thống DNFDI, quản lý nhà nước đối với các DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Tác giả đã định hướng, tập trung nghiên cứu vấn đề này trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong luận văn Luận văn sẽ khái quát, hệ thống được cơ sở lý luận về FDI, DNFDI cũng như QLNN đối với DNFDI trên địa bàn cấp tỉnh và có được những phân tích, đánh giá thực trạng DNFDI, QLNN đối với DNFDI tại thành phố Đà Nẵng Trên cơ sở đó, có những căn cứ để đề xuất giải pháp hoàn thiện QLNN đối với DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đưa ra được những giải pháp
cụ thể, thực tế để hoàn thiện QLNN đối với DNFDI trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và danh mục các bảng Luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trang 167
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau đề cập đến khái niệm đầu
tư trực tiếp nước ngoài, tất cả đều cố gắng khai thác một hoặc một vài khía cạnh của vấn đề nhằm khái quát hóa bản chất, nội dung, hình thức của hoạt động này, có thể kể đến một vài quan điểm như:
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đưa ra khái niệm về FDI như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước có được một tài sản ở một nước khác cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đựoc gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay chi nhánh công ty
Khái niệm do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đưa ra năm 1997 đề cập đến khía cạnh khác của đầu tư trực tiếp nước ngoài là: số vốn đầu tư được thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh
tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư Mục đích của nhà đầu tư là có được tiếng nói hiệu lực và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp
Trang 178
Dù có nhiều khái niệm khác nhau, nhưng xét về bản chất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại hình di chuyển vốn quốc tế trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn
Để tham gia trực tiếp vào việc quản lý và điều hành các hoạt động sử dụng vốn, nhà đầu tư nước ngoài phải có một lượng vốn nhất định và tuân theo các hình thức đầu tư nhất định do pháp luật nước sở tại quy định
Nói cách khác, trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài sẽ sử dụng vốn, tài sản, kinh nghiệm, uy tín và nhãn hiệu sản phẩm của mình để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nước sở tại nhằm thu lợi nhuận và để đạt được những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định Về thực chất đây là hình thức xuất khẩu vốn, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá
b Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài
- FDI là hình thức đầu tư chủ yếu bằng vốn của tư nhân do các chủ đầu
tư tự quyết định đầu tư, tự quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi Đầu tư theo hình thức này không để lại gánh nặng nợ nần về kinh tế cho nước tiếp nhận vốn đầu tư, hơn nữa còn đem lại tính khả thi và hiệu quả kinh tế cao
- Chủ đầu tư nước ngoài có quyền điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình, chính tỷ lệ góp vốn sẽ quyết định việc phân chia quyền lợi và trách nhiệm cũng như phân chia lợi nhuận và rủi ro giữa các chủ đầu tư
Đối với hoạt động FDI ở Việt Nam, luật đầu tư nước ngoài cho phép chủ đầu tư nước ngoài được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài trong một số lĩnh vực nhất định và được tham gia liên doanh với vốn góp không thấp hơn 30% vốn pháp định của dự án (trong một số trường hợp, tỷ lệ này có
Trang 189
thể xuống đến 20%), không khống chế tỷ lệ góp vốn tối đa (trừ một số ngành nghề có quy định riêng) Trong khi đó ở một số nước khác trong khu vực, khi tham gia liên doanh, chủ đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn cổ phần nhỏ hơn hoặc bằng 49%, 51% cổ phần còn lại do nước chủ nhà nắm giữ
- Thông qua FDI, nước nhận đầu tư có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý…mà các hình thức khác không đáp ứng được
- Nguồn vốn đầu tư này ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh cũng như vốn đầu tư từ nguồn lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
- FDI trở thành hình thức đầu tư chủ yếu trong đầu tư nước ngoài Xét về
ưu thế và hiệu quả thì FDI thể hiện rõ hơn sự chuyển biến về chất lượng trong nền kinh tế thế giới Gắn trực tiếp với quá trình sản xuất trực tiếp, tham gia vào sự phân công lao động quốc tế theo chiều sâu và tạo thành cơ sở của sự hoạt động của các công ty xuyên quốc gia
- Cơ cấu và phương thức FDI trở nên đa dạng hơn Điều này liên quan đến sự hình thành hệ thống phân công lao động quốc tế ngày càng sâu rộng và
sự thay đổi môi trường kinh tế thương mại toàn cầu Về cơ cấu FDI, đặc biệt
là FDI vào các nước công nghiệp phát triển có những thay đổi sau:
+ Vai trò và tỷ trọng của đầu tư vào các ngành có hàm lượng khoa học cao tăng lên Hơn 1/3 vốn FDI tăng lên hàng năm là tập trung vào các ngành then chốt như điện tử, chế tạo máy tính, chất dẻo, hóa chất và chế tạo máy Trong khi đó nhiều ngành công nghiệp truyền thống dùng nhiều vốn và lao động, FDI giảm tuyệt đối hoặc không đầu tư
+ Tỷ trọng của các ngành công nghiệp chế tạo giảm xuống trong khi FDI vào các ngành dịch vụ tăng lên Điều này có liên quan đến tỷ trọng khu vực
Trang 19+ FDI đang trở thành kênh quan trọng nhất của việc chuyển giao công nghệ Xu hướng hiện nay là FDI và chuyển giao công nghệ ngày càng gắn bó chặc chẽ với nhau Đây chính là hình thức có hiệu quả nhất của sự lưu chuyển vốn và kỹ thuật trên phạm vi quốc tế
1.1.2 Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
a Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
DNFDI là doanh nghiệp được thành lập theo luật pháp nước sở tại Trong doanh nghiệp đó có phần vốn của nhà đầu tư nước ngoài Nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu phần vốn họ góp vào doanh nghiệp và chịu trách nhiệm về rủi ro của doanh nghiệp trên số vốn góp đồng thời có quyền tổ chức, quản lý doanh nghiệp theo vốn góp
DNFDI là những loại hình doanh nghiệp có vốn của bên nước ngoài và
có sự quản lý trực tiếp của bên nước ngoài Doanh nghiệp này hoạt động theo luật pháp của nước sở tại để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu được lợi ích cho tất cả các bên [13]
Tại Điều 3 Luật Đầu tư năm 2005 của Việt Nam: DNFDI gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần,
Trang 2011
Tuy có rất nhiều cách hiểu, cách quan niệm khác nhau nhưng có thể hiểu
một cách chung nhất là: DNFDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước
ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ hoặc một phần; trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý, điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh vì mục tiêu sinh lời phù hợp với các quy định của luật pháp nước sở tại và thông lệ quốc tế
Theo khái niệm này, DNFDI khác với các doanh nghiệp khác trong nước
là do nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư toàn bộ, hoặc một phần Về quyền quản lý doanh nghiệp thì có thể trực tiếp hoặc tham gia tùy theo lượng vốn góp Mục đích của DNFDI trước hết và chủ yếu là ở lợi nhuận và chịu sự điều chỉnh của pháp luật cả quốc gia sở tại và pháp luật quốc tế
b Đặc điểm doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có nhiều loại hình, nhiều cách thức tổ chức hoạt động khác nhau Do vậy, nhận thức các đặc điểm hoạt động của các doanh nghiệp này có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước đối với chúng DNFDI ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau:
- DNFDI là những tổ chức kinh doanh có yếu tố quốc tế, chủ yếu được thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, thuộc một phần sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh) hoặc thuộc toàn bộ sở hữu nước ngoài (doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài) Quá trình thành lập và vận hành của DNFDI luôn có sự cộng đồng trách nhiệm của các bên, đại diện cho lợi ích của các quốc gia khác nhau và được các bên lấy phương châm cùng có lợi làm nguyên tắc cơ bản để giải quyết các vấn đề trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
- DNFDI có sự tham gia quản lý trực tiếp của nước ngoài, quyền quản
lý của các bên phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp Tuy nhiên, các doanh nghiệp đều
là những pháp nhân Việt Nam, ra đời và hoạt động theo luật pháp của Nhà
Trang 21xu hướng tự nhiên của DNFDI bao giờ cũng coi lợi nhuận là mục tiêu duy nhất hàng đầu, trong khi đó, nước chủ nhà lại quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đến sự phát triển tổng thể nền kinh tế Do vậy, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dung hòa được hai lợi ích này, phải cho DNFDI trong khi phục vụ lợi ích của họ cũng đồng thời phải mang lại lợi ích cho bên Việt Nam nói riêng và Nhà nước Việt Nam nói chung;
- DNFDI nằm trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự quản lý vĩ mô, chịu ảnh hưởng của tình hình chính trị, kinh tế - xã hội của Nhà nước Việt Nam trên các phương diện môi trường sinh thái, môi trường chính trị, kinh tế - xã hội , đồng thời cũng có tác động trở lại đối với đất nước Việt Nam, có thể tích cực hoặc tiêu cực, tuỳ thuộc vào tình hình hoạt động đúng hay chệch hướng, hiệu quả, hay thua lỗ của DN
- DNFDI hoạt động trong một thời hạn nhất định do Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quyết định đối với từng dự án, thường không quá
50 năm, trường hợp đặc biệt có thể dài hơn nhưng tối đa không quá 70 năm Hết thời hạn qui định, DNFDI phải giải thể hoặc chuyển cho phía Việt Nam (theo hình thức bồi hoàn hoặc không bồi hoàn) Như vậy, chế độ sở hữu đối với bên nước ngoài chỉ giới hạn trong thời gian hoạt động của doanh nghiệp, trừ số doanh nghiệp phải giải thể, khi hết thời hạn hoạt động những DNFDI
đó dù tốt, xấu đều trở thành đơn vị kinh doanh và sở hữu của phía Việt Nam
Trang 2213
- DNFDI là nơi gặp gỡ và cọ xát giữa các nền văn hoá khác nhau, phản ánh sự pha trộn các yếu tố văn hoá của nhiều nước, thể hiện qua triết lý kinh doanh, tập quán, sự hiểu biết pháp luật, ngôn ngữ, lối sống, thói quen, lòng tin, thái độ, phong cách ứng xử của các bên tham gia Văn hoá kinh doanh của DNFDI tương đối phức tạp, nhiều khi mang sắc thái chính trị, tôn giáo rõ rệt, làm cho quá trình triển khai và vận hành DNFDI hết sức phức tạp đòi hỏi Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết để tham gia kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình đẳng và đảm bảo hiệu quả, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những thua thiệt có thể xẩy ra đối với nước mình
DNFDI được coi là loại doanh nghiệp không có cơ quan chủ quản, cơ quan lãnh đạo cao nhất và có quyền quyết định mọi vấn đề của doanh nghiệp
là Hội đồng quản trị Giám đốc chịu trách nhiệm trực tiếp trước Hội đồng quản trị Hoạt động của DNFDI là hoạt động theo luật, trong khuôn khổ pháp luật và các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam chỉ thực hiện chức năng quản lý
về mặt Nhà nước đối với các hoạt động của loại hình doanh nghiệp này
Những đặc điểm trên cho thấy, để có thể tham gia kinh doanh với các nhà đầu tư nước ngoài một cách bình đẳng, đồng thời các DNFDI hoạt động đúng định hướng, có hiệu quả cao, phát huy được tác dụng tích cực đến đời sống chính trị, KT-XH ở trong nước, ngăn ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực, những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình hợp tác đầu tư thì Việt Nam phải chuẩn bị đủ các điều kiện cần thiết như hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách, phương thức và biện pháp quản lý thích hợp
c Tác động kinh tế xã hội của DNFDI đến địa bàn tiếp nhận đầu tư
* Tác động tích cực:
- Thu hút vốn cho đầu tư phát triển
Đối với những địa bàn thiếu vốn, tích lũy từ nội bộ nền kinh tế thấp
Trang 2314
(thường là ở các nước đang phát triển) thì việc thành lập các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là biện pháp thu hút vốn đầu tư có hiệu quả Lượng vốn này đôi khi là cú hích từ bên ngoài khá hữu hiệu tạo nên một loạt
sự thay đổi theo chiều hướng tích cực của nền kinh tế
- Tạo việc làm, góp phần bồi dưỡng đội ngũ lao động có kỹ năng và tay nghề cao cho địa bàn tiếp nhận đầu tư
Chính hoạt động của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và sự tăng trưởng kinh tế mà nó mang lại đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm, làm giảm thất nghiệp Bài toán khó về việc làm được giải quyết một phần đáng kể nhờ vào doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài và những ảnh hưởng dây chuyền của nó đối với các ngành cung cấp nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm Mặt khác, thông qua quá trình lao động trong các doanh nghiệp đầu
tư nước ngoài mà người lao động của địa bàn nhận đầu tư trực tiếp sẽ tiếp thu được những kỹ năng sản xuất mới, tiên tiến góp phần nâng cao tay nghề và tạo được thu nhập ổn định, đảm bảo đời sống
- Tạo điều kiện tiếp nhận công nghệ hiện đại
Hoạt động của FDI tác động rất lớn đối với quá trình phát triển khoa học, công nghệ Bởi vì, các DNFDI khi được thành lập luôn gắn liền với công nghệ, máy móc thiết bị, kỹ năng quản lý, đảm bảo năng lực sản xuất và năng suất lao động nhằm thu được lợi nhuận tối đa Đối với những địa bàn kinh tế lạc hậu, chủ yếu dựa vào khu vực nông nghiệp thì việc chuyển giao công nghệ thông qua các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài là một giải pháp khá tiết kiệm và an toàn Việc tiếp thu được các công nghệ tiên tiến của nước ngoài tạo điều kiện cho địa bàn nhận đầu tư có những bước đột phá sâu vào những ngành nghề sản xuất kinh doanh quan trọng như điện tử, ô tô, công nghệ luyện kim, công nghệ hóa chất, khai thác dầu khí
- DNFDI tạo nguồn hàng nhập tại chỗ với giá hạ, đáp ứng sát nhu cầu
Trang 2415
Nhập khẩu hàng hóa là nhu cầu phổ biến của các quốc gia Quốc gia
nào cũng muốn có hàng nhập khẩu nhiều, nhanh, tốt, rẻ Nhưng nhập khẩu từ
xa không dễ đáp ứng cả bốn yêu cầu trên: Có thể nhiều nhưng không nhanh, không kịp thời, có thể tốt về nội dung cơ bản của chất lượng hàng nhưng không thật thích hợp với các nhu cầu riêng của người tiêu dùng, còn giá cả thì
sẽ đắt, vì hàng nhập qua biên giới phải tốn nhiều chi phí, điển hình là phí vận chuyển, phí nhập khẩu và nhiều loại phí, thuế khác
DNFDI chính là con đường nhanh chóng và thuận lợi của việc nhập khẩu hàng hóa, từ đó giúp người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận với hàng nhập khẩu cùng với đó là mức giá hạ
- Giúp địa bàn nhận đầu tư dễ dàng tiếp cận với thị trường thế giới Thông qua DNFDI, địa bàn tiếp nhận đầu tư có thể tiếp cận với thị
trường thế giới Bởi vì phần lớn các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều do các công ty đa quốc gia thực hiện, mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở những thân thế và uy tín của họ về chất lượng, kiểu dáng của sản phẩm
Những tác động tích cực nói trên cho thấy vai trò quan trọng của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển kinh tế - xã hội ở địa bàn tiếp nhận đầu tư
* Tác động tiêu cực:
- Tàn phá tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường
Tài nguyên là nguồn nguyên liệu để sản xuất của cải vật chất, nuôi sống con người Môi trường suy cho cùng cũng là nguồn vật chất nuôi sống con người Cùng với đó, giữa tài nguyên và môi trường có mối quan hệ nhân quả với nhau Mất tài nguyên, môi trường cũng bị suy thoái Môi trường suy thoái, tài nguyên động thực vật cũng bị hủy hoại
Trang 2516
Bất kỳ một cơ sở sản xuất công nghiệp nào ra đời cũng đều ít nhiều làm bẩn môi trường Đó là chất thải công nghiệp, từ rác cứng đến nước thải và khói bụi, từ các chất hữu cơ phế thải đến phế thải hóa chất độc hại
Khi các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc ngành khai thác và chế biến tài nguyên, như khai thác và chế biến quặng, khai thác và chế biến xelluloz thì ngoài việc xâm hại môi trường, nó còn trực tiếp làm mất dần nguồn tài nguyên thiên nhiên Thật ra, các thiệt hại trên là điều tất yếu của bất cứ cơ sở sản xuất nào chứ không phải riêng của các DNFDI Nhưng nếu đó là DNFDI, chủ đầu tư sẽ không lưu tâm quá nhiều đến những tác hại xấu cho môi trường tại nước tiếp nhận đầu tư, họ chỉ quan tâm sao cho lợi nhuận cao nhưng chi phí thấp do bởi đây không phải là đất nước của họ, người dân cũng không phải là người của nước nhà, vì thế họ không nghĩ đến lợi ích của người dân nước sở tại Ngoài ra, một khi các chủ DNFDI đã không chỉ thiếu ý thức này,
mà bên cạnh đó còn có thể là một sự cố tình phá hoại, thì vấn đề đã không còn
là vấn đề kinh tế, vấn đề xã hội mà là vấn đề an ninh và an sinh quốc gia
- Bóc lột người lao động
Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, DNFDI có thể bất chấp những đòi hỏi tôn trọng và bình đẳng đối với người lao động, họ bóc lột người lao động bằng các hình thức tăng cường độ lao động đối với công nhân, kéo dài thời gian làm việc, cắt xén điều kiện bảo hộ lao động, làm phân hoá đội ngũ cán
bộ, chảy máu chất xám Điều đó có thể gây nên mâu thuẫn và làm nảy sinh nhiều vấn đề mới trong xã hội
- Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài thường lợi dụng, khai thác
những mặt yếu kém của Chính phủ và các doanh nghiệp sở tại, đặc biệt họ
thường chú ý khai thác những sơ hở, yếu kém về luật lệ, thủ tục và cán bộ trong khâu quản lý, sự nắm bắt không kịp thời các thông tin thị trường về công nghệ, giá cả của nước chủ nhà để khai khống giá trị máy móc thiết bị
Trang 2617
công nghệ góp vốn, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ không thích hợp, lạc hậu, thực hiện các hành vi chuyển giá báo lỗ làm thiệt hại đến lợi ích của phía nhận đầu tư
- Doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể làm tăng sự phụ thuộc về vốn, kỹ thuật và mạng lưới tiêu thụ của địa bàn nhận đầu tư vào phía nước ngoài vì các qui trình kỹ thuật, công nghệ sản xuất cũng như thị trường
tiêu thụ hàng hoá do các nhà đầu tư nắm giữ và chỉ được chuyển giao dần dần
Sự phụ thuộc càng nhiều thì tính chủ động của địa bàn nhận đầu tư càng yếu Do vậy, nếu không tranh thủ được những tác động tích cực của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài để nhanh chóng phát triển công nghiệp nội địa, tạo nguồn tích lũy, đa dạng hóa thị trường tiêu thụ, tiếp nhận kỹ thuật mới, thì địa bàn tiếp
nhận đầu tư khó có khả năng giảm và loại bỏ được sự phụ thuộc
- Tiếp tay cho các thế lực thù địch
Việc các doanh nhân làm chính trị, an ninh, đội lốt tôn giáo để nhũng nhiễu, gây rối trật tự trị an là một điều dễ thấy Bên cạnh đó, các thế lực thù địch thường mượn danh DNFDI để vào đầu tư, chọn những địa điểm nhạy cảm
về quân sự, quốc phòng… để đầu tư Chính vì vậy, các nhà QLNN về vấn đề này không chỉ giỏi chuyên môn mà còn có sự cảnh giác cao trong vấn đề chính trị, phải luôn tỉnh táo nhận định vấn đề, thận trọng trước những dự án đầu tư lớn nhưng có mục đích riêng
Vì đây là vấn đề trọng đại đối với quốc gia, nên tác giả không lạm bàn nhưng vẫn muốn ghi đậm sự cần lưu ý của QLNN vào vấn đề này
d Điều kiện để FDI có thể vào được các quốc gia
Trang 2718
sợ sự thay đổi thể chế, sẽ gây bất lợi cho họ về kinh tế, về điều kiện pháp lý, thậm chí là an toàn tính mạng của các nhà đầu tư
- Sự ổn định chính sách kinh tế vĩ mô
Ổn định chính sách kinh tế vĩ mô là không thường xuyên thay đổi thái
độ ngoại giao kinh tế, các mục tiêu chiến lược, các đạo Luật Kinh tế - Tài chính, các đòn bẩy kinh tế cụ thể
Sự ổn định này là điều kiện thu hút FDI vì thiếu sự ổn định, các chủ DNFDI sẽ thấy bất an, thiếu tin tưởng vào sự thống nhất của Nhà nước sở tại
Vì thế, họ không chấp nhận vào đầu tư tại những nước thường xuyên thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô
- Môi trường pháp lý tốt
Môi trường pháp lý tốt bao gồm hai mặt chính sau đây:
+ Hệ thống pháp luật đầy đủ, minh bạch
+ Nền hành chính nhà nước trong sạch, hiện đại
Đây là điều kiện rất được các nhà đầu tư FDI quan tâm khi quyết định đầu tư vào một quốc gia nào đó, bởi nếu thiếu những điều kiện trên, lợi ích của họ sẽ không được bảo đảm bằng pháp luật, quan hệ với chính quyền sở tại
sẽ bị phiền hà
- Có kết cấu hạ tầng tốt
Hạ tầng cơ sở cho FDI bao gồm nhiều loại, trong đó điển hình là:
+ Các khu, cụm công nghiệp hiện đại, tiện nghi
+ Hệ thống giao thông quốc gia thuận lợi
+ Hệ thống thị trường đồng bộ: thị trường tài chính, tiền tệ, bất động sản + Các cơ sở dịch vụ thông tin, chuyển tiền, nhà làm việc…
Yếu tố này được coi là điều kiện thu hút FDI vì chúng có ý nghĩa trực tiếp đến quá trình vận hành FDI của các chủ đầu tư
Trang 2819
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước
QLNN là quản lý hành chính, bao gồm toàn bộ hoạt động chấp hành điều hành của các cơ quan nhà nước không thuộc bộ phận lập pháp và tư pháp nhằm phát triển KT-XH, giữ gìn trật tự xã hội và thỏa mãn những yêu cầu của
xã hội
QLNN về kinh tế là nói đến việc nhà nước thực hiện chức năng quản lý kinh tế bằng pháp luật, bằng hệ thống các chính sách, quy chế điều hành các quan hệ vĩ mô, không làm thay đổi, không giải quyết những công việc thuộc quyền tự chủ của các đơn vị kinh doanh QLNN về kinh tế là quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân với tính cách là một hệ thống lớn và phức tạp do vô số các phần tử nhỏ hơn ở các cấp độ khác nhau hợp thành [14]
Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù các quốc gia trên thế giới có nhiều chế
độ chính trị khác nhau, nhưng đều có điểm chung là ngày càng coi trọng vai trò quản lý, điều tiết của Nhà nước Như vậy, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước, trong đó có QLNN đối với doanh nghiệp ngày càng được tăng thêm QLNN đối với DN là một bộ phận, đồng thời là nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế, nên Nhà nước có chức năng và nhiệm vụ quản lý đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, nhưng không được can thiệp trực tiếp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN DN thuộc mọi thành phần kinh tế nói chung, DNFDI nói riêng hoàn toàn có quyền
tự chủ khi tiến hành hoạt động kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm DNFDI cũng như các đơn vị kinh doanh khác, ngoài sự chi phối của thị trường, còn chịu sự điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật và quản lý vĩ mô của Nhà nước kể từ khi thành lập cho đến khi giải thể Quan hệ giữa Nhà nước với DNFDI trong nền kinh tế thị trường chủ yếu là quan hệ quản lý bằng pháp luật,
Trang 2920
cơ chế chính sách, kế hoạch, định hướng, hỗ trợ, điều chỉnh và khống chế trong phạm vi cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của quốc gia
1.2.2 Vai trò của QLNN đối với DNFDI
Như đã trình bày về lợi ích nhiều mặt của DNFDI và những bất lợi mà DNFDI có thể tạo ra cho quốc gia tiếp nhận đầu tư được trình bày ở nội dung “c Tác động kinh tế xã hội của DNFDI đến địa bàn tiếp nhận đầu tư ” của luận văn
thì vấn đề QLNN đối với DNFDI lại càng cấp thiết bởi:
- Các chủ DNFDI rất dễ lạc lõng tại địa bàn mà họ đầu tư
Tất cả các quốc gia trên toàn thế giới đều cần FDI, nhưng ở các nước phát triển thì nhu cầu không cao, phần lớn là các nước lạc hậu, kém phát triển thì cần lượng vốn FDI đầu tư vào nhiều hơn để khắc phục sự thiếu hụt nhiều mặt của nền kinh tế Chính vì thế, những nước tiếp nhận đầu tư này thường là những nước xa lạ về mọi mặt đối với các chủ DNFDI đến từ các nước tiên tiến Sự khác biệt này không chỉ thuần túy là màu da, tiếng nói, lịch sử, địa lý mà còn là sự khác biệt liên quan đến văn hóa, khoa học, môi trường sản xuất kinh doanh…
Là doanh nhân, người nào cũng phải trả lời được ba câu hỏi lớn trước khi quyết định đầu tư, thậm chí, trước khi quyết định một phương án, một chương trình, kế hoạch SXKD cụ thể Ba câu hỏi đó là:
- Sản xuất cái gì?
- Sản xuất cho ai?
- Sản xuất như thế nào? ( Cách sản xuất nào, nguyên liệu gì )
Cách tìm đáp án cho các câu hỏi trên khi chúng được đặt ra tại các thị trường văn minh, có nền kinh tế thị trường truyền thống lâu đời và hoàn hảo thường không khó Nhưng với các nước nhập DNFDI là các quốc gia còn lạc hậu, mọi vận động kinh tế vĩ mô còn chưa theo quy luật phổ biến, khiến cho các doanh nhân hiện đại cũng khó nắm bắt được tình huống, dễ gặp phải rủi
ro cao Và chính vì lẽ này, cần có sự QLNN của nước sở tại đối với các
Trang 3021
DNFDI để điều chỉnh những vấn đề phát sinh này, giúp cho các DNFDI không cảm thấy bị lạc lỏng tại nước sở tại
- Các DNFDI thường gây bất lợi cho nước sở tại
DNFDI có mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, chính vì thế họ có thể bất chấp những đòi hỏi tôn trọng truyền thống văn hóa, xã hội của dân tộc, khai thác tài nguyên quá mức, không quan tâm tới việc xử lý ô nhiễm môi trường, đẩy mạnh bóc lột người lao động bằng các hình thức tăng cường độ lao động đối với công nhân, kéo dài thời gian làm việc, cắt xén điều kiện bảo hộ lao động, làm phân hóa đội ngũ cán bộ, chảy máu chất xám Điều đó có thể gây nên mâu thuẫn và làm này sinh nhiều vấn đề mới trong xã hội
Đứng trước một thách thức lớn như vậy, không chỉ mang tính kinh tế,
mà thậm chí còn có thể liên quan đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội… thì sự QLNN đối với vấn đề này càng cần thiết, càng quan trọng và phải quản lý ở mức cao độ để đảm bảo sự an toàn tối đa nhất
1.2.3 Chức năng chính của QLNN đối với DNFDI
- Thứ nhất, đảm bảo cho quốc gia nhận đầu tư có được hệ thống doanh nghiệp như mong muốn Nói khác đi là chức năng của QLNN đối với các DNFDI là thu hút được FDI và hình thành được các DNFDI trên địa bàn theo đúng phương hướng và mức độ mà quốc gia cần, tức là tạo được những DNFDI có lợi nhất cho quốc gia Có thể thấy, một hệ thống DNFDI có lợi nhất cho quốc gia là một hệ thống các DNFDI có những nét tiêu biểu như sau: + Vốn và chủ của vốn đó đến từ các quốc gia giàu thiện chí hòa bình, hữu nghị, hợp tác và cũng là các nước có thế mạnh mà đất nước nhận đầu tư cần + Các DNFDI có đầu ra, đầu vào có ích cho sự phát triển KT-XH của đất nước
+ Các DNFDI có trình độ khoa học và công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản trị kinh doanh cao
Trang 3122
+ Các DNFDI tôn trọng lợi ích của nhà nước, của nhân dân nơi họ đóng
và hoạt động SXKD tại nước sở tại
- Thứ hai, hỗ trợ, giúp đỡ các nhà đầu tư FDI thực hiện được đầy đủ nhất các mục tiêu hợp pháp trong SXKD của họ trên tinh thần hữu nghị, mở cửa, hội nhập, đôi bên cùng có lợi, cùng phát triển Có nghĩa là, khi các DNFDI đã xuất hiện với bản chất là các doanh nghiệp mà đất nước cần, thì chức năng của QLNN là giúp đỡ họ theo tinh thần hòa bình, hữu nghị, mở cửa, hội nhập, đôi bên cùng có lợi, cùng phát triển
Chức năng này xuất phát từ yêu cầu và lợi ích của cả từ hai phía:
- Với các chủ DNFDI, họ cần sự hỗ trợ này vì từ quốc gia khác đến, tất
cả đều rất xa lạ, mới mẻ đối với họ
- Với quốc gia, nơi đón các DNFDI, việc hỗ trợ các DNFDI chỉ có lợi cho đất nước mình: họ SXKD có hiệu quả thì việc nước sở tại cho họ đến đầu
tư mới có ý nghĩa Nếu không, thì việc tiếp nhận DNFDI đến nước mình sẽ không mang lại lợi ích gì, thậm chí có khi còn gây hậu quả xấu
1.2.4 Đối tượng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI
Trong việc QLNN đối với các DNFDI, nhà QLNN cần chú ý đặc biệt các đối tượng và phạm vi QLNN như sau:
- Một là, hướng sản xuất kinh doanh của DNFDI, tức là các DNFDI đến
để tạo ra kinh tế gì
Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, quyết định sự thành – bại đối với đất nước trong việc chấp nhận việc có mặt của các DNFDI trên đất nước mình Bởi vì, từ việc sản xuất cái gì sẽ phát sinh ảnh hưởng đến nhiều mặt của người tiêu dùng là dân chúng, chuyện sử dụng tài nguyên, nhân lực, chuyện ô nhiễm môi trường Ngoài ra, nhà QLNN còn cần biết hướng SXKD của nhà đầu tư
để xem có đúng với định hướng phát triển kinh tế của quốc gia, của địa phương tiếp nhận đầu tư hay không
Trang 3223
- Hai là, nguồn gốc, xuất xứ của DNFDI
Tức là, QLNN phải biết chủ nhân của DNFDI là ai
Đây là vấn đề liên quan đến sự tạo nên nhiều giá trị về chính trị, ngoại giao do DNFDI đưa lại Với chức năng này, QLNN không được để cho bất kỳ chủ nhân nào của DNFDI vào đất nước mình mà không có sự cân nhắc, tuyển chọn chu đáo, kỹ lưỡng của QLNN Không làm được điều này, QLNN có thể biến việc thu hút FDI thành việc tạo dựng một hiểm họa lớn cho chính nơi tiếp nhận đầu tư
- Ba là, các yếu tố đầu vào của các DNFDI
Đây là một mặt của đối tượng QLNN đối với DNFDI, rất có ý nghĩa đối với nơi tiếp nhận DNFDI là các đô thị lớn Việc các chủ DNFDI nhập nguyên liệu từ đâu, nguyên liệu gì, tuyển lao động từ đâu, chất lượng chuyên môn, tư cách đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật của lực lượng lao động này ra sao sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến việc đạt được mục đích hay không của việc cho các nhà
đầu tư FDI này đến nước mình
- Bốn là, vấn đề tác động đến tài nguyên và môi trường của DNFDI
Như đã phân tích ở trên, khi các đơn vị sản xuất công nghiệp thuộc ngành khai thác và chế biến tài nguyên thì ngoài việc xâm hại môi trường, nó còn trực tiếp làm mất dần nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá Các thiệt hại trên là điều tất yếu của bất cứ cơ sở sản xuất nào chứ không phải riêng của các DNFDI Nhưng nếu đó là DNFDI, chủ đầu tư sẽ không lưu tâm quá nhiều đến những tác hại xấu cho môi trường tại nước tiếp nhận đầu tư, thậm chí, một khi các chủ DNFDI đã không chỉ thiếu ý thức này, mà trái lại, đó còn là một chủ ý cố tình phá hoại, thì vấn đề đã không còn là vấn đề kinh tế, vấn đề
xã hội mà là vấn đề an ninh và an sinh quốc gia Vì thế, QLNN phải nhắm tới mặt này trong hoạt động của các DNFDI hoạt động trên địa bàn
- Năm là, vấn đề an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội
Trang 3324
Các DNFDI, nhất là các DNFDI kết thành nhóm, cụm trong các khu công nghiệp FDI, rất dễ trở thành các điểm nóng về chính trị, về trật tự an toàn xã hội
Điều xấu này có thể xảy ra vì nhiều lý do, trong đó, điển hình là:
+ Thứ nhất, đó là biệt khu
Là biệt khu vì nó là địa phận riêng của doanh nghiệp, nơi không phải ai cũng có thể vào mà kiểm soát nếu không có thẩm quyền, những biệt khu này được minh bạch trên giấy tờ văn bản pháp luật nhà nước Hơn nữa, đó là địa phận của chủ nhân nước ngoài, lại tập trung thành khu của nhiều DNFDI, mang các tên như “Khu chế xuất”, “Khu công nghệ cao”, “Đặc khu công nghiệp” Chính vì tính chất biệt lập so với bên ngoài, nên sẽ dễ dẫn đến những vấn đề phức tạp ở nhiều lĩnh vực, trong đó phải tính đến vấn đề về an ninh, chính trị… vì nó rất dễ xảy ra
+ Thứ hai, nó có yếu tố người nước ngoài
Thực tế đã cho thấy, ở những khu vực này thường xảy ra các vấn đề liên quan đến an ninh trật tư, an toàn xã hội trên mọi mặt, trong đó các DNFDI có thể bị lợi dụng hoặc là những đầu mối trực tiếp tham gia vào các vấn đề rắc rối này Nhưng vì đây là vấn đề chính trị, ngoài giới hạn của luận văn này nên tác giả không lạm bàn, chỉ nêu lên để dẫn chứng và muốn QLNN phải có sự tập trung vào vấn đề này
- Sáu là, các khó khăn trong hoạt động SXKD của DNFDI
Đối tượng và phạm vi QLNN đối với các DNFDI thuộc dạng này chính
là các mặt hoạt động SXKD của các DNFDI mà Nhà nước sở tại cần quan tâm giúp đỡ để các DNFDI này SXKD có hiệu quả, cũng là để chúng đáp ứng những yêu cầu của quốc gia sở tại khi đón nhận họ đến đầu tư SXKD
Với góc nhìn này về đối tượng, phạm vi của QLNN đối với các DNFDI, đối tượng và phạm vi đó thường tập trung vào các mặt chính sau đây:
Trang 3425
- Thứ nhất, đó là kết cấu hạ tầng cho sản xuất kinh doanh của DNFDI
- Thứ hai, hệ thống công nghiệp phụ trợ hay hỗ trợ các DNFDI
- Thứ ba, các thông tin KT-XH phục vụ việc quản trị kinh doanh của các DNFDI
Đó là các thông tin có tính phổ biến mà ai làm SXKD cũng cần có, như thông tin về thị trường nguyên liệu, lao động, về khách hàng và đối tác, thông tin về pháp luật và thể chế SXKD… vốn là những thông tin mà các doanh nhân nội địa ít nhiều đã có do là dân bản xứ, nhưng với chủ của các DNFDI thì đó là những thông tin không dễ có được vì họ là người từ xa tới, còn xa lạ
ở nhiều thứ, không biết cách nắm bắt những thông tin đó như thế nào
Trên đây là một số mặt hoạt động của các DNFDI mà QLNN đối với chúng cần phải có sự lưu ý, quan tâm, được gọi là đối tượng, phạm vi của QLNN đối với DNFDI
Trên thực tế, sự QLNN đối các DNFDI còn có thể phải đối mặt với nhiều chuyện cụ thể khác, song về cơ bản, đó là những góc nhìn chính mà nhà QLNN đối với các DNFDI không thể bỏ qua, nếu muốn sự QLNN đối với đối tượng này làm tròn chức năng, nhiệm vụ
1.3 NỘI DUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.3.1 Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
Để các doanh nghiệp FDI tác động tích cực đến địa bàn tiếp nhận đầu tư, giữa các ngành kinh tế và giữa các vùng thì việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch thu hút FDI đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà nước
Nâng cao hiệu năng của quản lý nhà nước đối với FDI đòi hỏi phải thống nhất quan điểm, nhận thức, từ những mô hình thành công trong thực tiễn của các ngành, địa phương để hình thành thể chế, quy định chung của cả nước,
Trang 3526
tiếp cận với thể chế tốt nhất của những quốc gia đã thành công trong việc xử lý quan hệ nhà nước với thị trường, tạo lập môi trường đầu tư và kinh doanh hấp dẫn, hình thành cơ cấu bộ máy và đội ngũ công chức làm việc có hiệu quả [12]
Xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hút FDI cần phải có tính động, không được khép kín mà phải có sự liên kết giữa các vùng và các địa phương, đảm bảo lợi ích của cả hai bên Để thực hiện tốt chức năng này phải xây dựng thống nhất tổ chức bộ máy quản lý thích hợp trên cơ sở phối hợp nhịp nhàng,
ăn khớp và tối ưu các chức năng quản lý của các bộ phận trong bộ máy quản
lý hoạt động FDI
Bên cạnh đó, quy hoạch không thể chạy theo số lượng mà cần quan tâm đến chất lượng dự án, theo quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh của thị trường Nhà nước phải xây dựng kế hoạch hiệu quả, sát với tình hình thực
tế hiện nay, cần chú trọng công tác dự báo, định hướng, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế, cơ chế linh hoạt trước biến động của thị trường trong nước và quốc tế
Các Bộ lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế - kỹ thuật gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chính quyền địa phương thực hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừa phát huy được tính năng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cần được thực hiện theo trình tự và đảm bảo được tính đúng đắn mục đích, mục tiêu, yêu cầu xây dựng
kinh tế - xã hội của địa bàn cần có các DNFDI như sau:
a Xuất xứ và sự cần thiết của công vụ này trong QLNN đối với các DNFDI
Việc xác định đúng đắn mục đích, mục tiêu, yêu cầu xây dựng kinh tế -
xã hội của địa bàn cần có các DNFDI được đặt ra trong QLNN đối với các
DNFDI có nguồn gốc như sau:
Trang 3627
- Thứ nhất, việc một quốc gia nào đó mời gọi và cho phép người nước ngoài vào nước mình đầu tư SXKD thường sẽ gặp nhiều khó khăn, bất lợi, nhưng vì những cái lợi lớn hơn nên các quốc gia mới chấp nhận sự có mặt của DNFDI
- Thứ hai, chính vì lý do trên, khi chấp nhận các DNFDI có mặt trên lãnh thổ nước mình, nhà QLNN phải biết mình cần gì ở sự có mặt của các DNFDI này
- Thứ ba, nhà QLNN phải biết đất nước mình, hoặc địa bàn cụ thể nào đó của đất nước mình cần phát triển như thế nào, nó cần trở nên tốt đẹp như thế nào, cả về định tính lẫn định lượng, để phát triển thành một tương lai tốt đẹp, nước mình hoặc địa bàn đó của nước mình có khó khăn gì mà mình không tự khắc phục được, do đó cần đến các DNFDI
- Thứ tư, chỉ sau khi đã rõ những điều trên đây, sự QLNN đối với các DNFDI mới chuyển sang được công vụ tiếp theo là xác định lực lượng DNFDI cần tạo ra trên đất nước mình Nếu không định hướng được sự mong muốn của mình trong tương lai, việc mời các DNFDI đến sẽ là việc làm vô mục đích, không định hình được chính mục tiêu phát triển của mình, các DNFDI có được mọc lên cũng sẽ không có ý nghĩa gì đối với nơi tiếp nhận đầu tư, thậm chí, còn có thể gây bất lợi
b Nội dung cần xác định trong công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
Nội dung xác định trong công vụ trên liên quan đến các câu hỏi sau đây:
- Quốc gia hay địa bàn nào đó cần phát triển KT-XH đến mức nào, với các chỉ tiêu cụ thể gì? Lý do?
- Nội dung kinh tế phải có trên địa bàn, bao gồm cả lượng và chất, để bảo đảm cho sự phát triển KT-XH của quốc gia hay địa bàn đạt các chỉ tiêu trên
- Những khó khăn trong việc tạo dựng một nền kinh tế, đủ bảo đảm cho
sự phát triển tổng thể KT-XH như trên
Trang 3728
- Những vấn đề cần giải quyết bằng sự có mặt của các DNFDI
c Nguyên nhân cần xác định điều trên
Sở dĩ phải xác định các điều nói trên, phải trả lời thật chính xác các câu hỏi vừa nêu vì đó là căn cứ để xác định diện mạo FDI cần xuất hiện ở nước mình Nếu thiếu những căn cứ này, việc thu hút FDI sẽ không có chủ đích, kết quả thu hút FDI có thể trở thành vô ích, thậm chí có hại Nhà nước sẽ không biết mời ai vào đầu tư, đầu tư vào ngành nào, làm gì, làm như thế nào
1.3.2 Ban hành các cơ chế, chính sách và pháp luật
Bên cạnh việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, Nhà nước còn phải xây dựng các chính sách đầu tư nước ngoài Bởi vì sự tác động của quản lý nhà nước đối với DNFDI chủ yếu là thông qua hình thức gián tiếp hơn là cách thức tác động trực tiếp mang tính chất hành chính Tác động gián tiếp mang tính mềm dẻo, uyển chuyển, vừa bảo đảm tính tự chủ của các doanh nghiệp, vừa bảo đảm mục tiêu chung về phát triển KT-XH của đất nước, đồng thời cho phép tôn trọng các qui luật của thị trường Vì thế, việc xây dựng, hoàn thiện chính sách và pháp luật đối với DNFDI được xem như
là công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nước trong việc quản lý loại hình doanh nghiệp này, nhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực của nó Hệ thống chính sách và pháp luật phải tạo điều kiện thuận lợi, cơ hội bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử trong tiếp cận các cơ hội đầu tư khai thác cho cả doanh nghiệp trong nước và DNFDI cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật mà qua đó đạt hiệu quả cao nhất ở cả thị trường trong nước và thị trường thế giới Chính sách và pháp luật đối với hoạt động FDI phải phù hợp với những nguyên tắc thông lệ chủ yếu của thế giới, đặc biệt là của các nước công nghiệp phát triển
Chính sách và pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý nhà nước đối với DNFDI Bởi vì, chính sách mang tính định hướng và nền tảng để
Trang 3829
xây dựng pháp luật, còn pháp luật là phương tiện để cụ thể hoá và thực thi chính sách Chính sách và pháp luật là hai phạm trù song hành và gắn kết chắt chẽ với nhau, giải quyết đúng đắn mối quan hệ này sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quản quản lý nhà nước đối với DNFDI
Trong mối quan hệ giữa chính sách và pháp luật đối với doanh nghiệp FDI, thì chính sách bao giờ cũng đi trước một bước Chính sách phải phản ánh một cách trung thực, khách quan về khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và dự báo khả năng, khuynh hướng phát triển của loại hình kinh tế này trong tương lai Nếu chính sách không đảm nhận được vai trò của mình, thì tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng khi luật hoá các chính sách thành các văn bản pháp luật hoặc sẽ không có tính khả thi hoặc sẽ kìm hãm sự phát triển của khu vực DNFDI Do đó, khi xây dựng chính sách và pháp luật đối với DNFDI đòi hỏi phải được đúc kết từ thực tiễn và dự báo được tương lai
Các cơ chế, chính sách và pháp luật về QLNN đối với DNFDI được ban hành thông qua các văn bản quy phạm pháp luật và không chỉ thể hiện riêng biệt trong khâu quản lý hành chính ở bộ máy nhà nước mà còn gồm:
+ Cơ chế, chính sách và pháp luật trong thực hiện thu hút, xúc tiến đầu tư + Cơ chế, chính sách và pháp luật trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư FDI của DN và hoạt động SXKD của DNFDI
+ Cơ chế, chính sách và pháp luật trong quá trình hỗ trợ cho DNFDI Cấp QLNN Trung ương gồm các cơ quan lập pháp, hiến pháp, các bộ, ngành trung ương ban hành các các cơ chế, chính sách và pháp luật về QLNN mang tính quy chuẩn, thống nhất, áp dụng trong cả nước Tại các địa phương,
cụ thể các thành phố, tỉnh trực thuộc Trung ương cũng chỉ ban hành các cơ chế, chính sách, pháp luật trong phạm vi quy định cấp ban hành, hầu hết thực hiện theo văn bản của cấp Trung ương Trong một số trường hợp, tùy theo điều kiện kinh tế mỗi vùng, mỗi địa phương thì trong quá trình thực hiện có
Trang 3930
thể ban hành một số chính sách riêng Tuy nhiên, tất cả chính sách này đều xây dựng trên cơ sở linh hoạt, đảm bảo không trái các cơ chế, chính sách và pháp luật về QLNN do Trung ương ban hành Bên cạnh đó, đối với những cơ chế, chính sách riêng đặc thù ban hành ở mỗi địa phương thì phải có sự chấp thuận của cấp Trung ương
Hỗ trợ DNFDI cũng là một trong những cơ chế, chính sách trong việc QLNN đối với DNFDI được Nhà nước quan tâm, đây cũng là chính sách quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho DNFDI vào đầu tư và hoạt động, thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước ta đến các DNFDI
1.3.3 Thẩm định, cấp và điều chỉnh giấy phép đầu tư
Thẩm định dự án FDI là một khâu quan trọng trong hoạt động QLNN đối với doanh nghiệp FDI, là tiền đề cho việc cấp và điều chỉnh giấy phép đầu
tư Thông qua thẩm định, Nhà nước đánh giá được mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương, các mặt lợi hại của FDI cũng như thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ mô đối với DNFDI trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Kết quả của việc thẩm định dự án FDI là căn cứ để quyết định cho doanh nghiệp FDI hoạt động trong nền kinh tế tại địa bàn tiếp nhận đầu tư Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định dự án FDI sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp FDI Nếu thẩm định dự án FDI không tốt thì trong tương lai sẽ có những doanh nghiệp FDI hoạt động kém hiệu quả, nguy cơ các doanh nghiệp giải thể trước thời hạn sẽ rất cao
Thẩm định cấp giấp phép đầu tư cho DNFDI là việc nghiên cứu, phản biện một cách có tổ chức, khách quan và khoa học những nội dung cơ bản của một dự án FDI nhằm đánh giá tính hợp lý, mức độ hiệu quả và tính khả thi của dự án trước khi quyết định cấp giấp phép đầu tư Qua đó góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về: thị trường, công nghệ, kỹ thuật, tài chính, xem doanh
Trang 40DNFDI được cấp giấp phép đầu tư hoặc được đăng ký cấp giấp phép đầu
tư khi nó đáp ứng đầy đủ yêu cầu của bên tiếp nhận đầu tư và mang lại hiệu quả KT-XH, phù hợp với quy hoạch của từng ngành, từng vùng, từng địa phương cũng như chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, DNFDI cũng phải thể hiện được lợi ích của họ không tách rời lợi ích cộng đồng xã hội
Do đó, công tác thẩm định cấp giấy phép đầu tư đối với DNFDI cần phải xuất phát từ lợi ích chung của toàn xã hội, chú trọng đến phương châm hai bên cùng có lợi và bảo đảm tính độc lập tự chủ của nhau trong quá trình hợp tác đầu tư
Khi thẩm định, Nhà nước cần tôn trọng, đảm bảo lợi ích chính đáng của các DNFDI trong quan hệ hài hoà với lợi ích chung xã hội và cần phải đưa ra các kết luận rõ ràng sau khi từng nội dung và toàn bộ dự án FDI được thẩm định xong
Trong quá trình thẩm định, các cơ quan cấp giấp phép thường xem xét
cụ thể các nội dung sau:
+ Tư cách pháp lý, năng lực tài chính của đầu tư nước ngoài
+ Mức độ phù hợp của mục tiêu dự án FDI với quy hoạch chung
+ Trình độ kỹ thuật, công nghệ áp dụng phù hợp với địa bàn tiếp nhận đầu tư
+ Hiệu quả kinh tế - xã hội do DNFDI đi vào hoạt động tạo ra
+ Mức độ hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bù giải phóng mặt bằng và vấn đề định giá tài sản