Số liệu, thông tin phản ánh thực trạng việc quản lý thuế của người nộp thuế, thực trạng thực hiện các giải pháp của cơ quan thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của các doa
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Võ Thị Huyền Như
Tác giả luận văn
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 5
7 Cấu trúc luận văn 6
8 Tổng quan nghiên cứu 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THUẾ GÍA TRỊ GIA TĂNG 12
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT 12
1.1.1 Khái niệm, bản chất của thuế GTGT 12
1.1.2 Đặc điểm của thuế GTGT 15
1.1.3 Khái niệm quản lý thuế GTGT 17
1.1.4 Vai trò của quản lý thuế GTGT 17
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THUẾ GTGT 18
1.2.1 Lập dự toán thu thuế GTGT 18
1.2.2 Tổ chức thu thuế GTGT 19
1.2.3 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế 24
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT 26
1.3.1 Nhân tố thuộc về cơ chế, chính sách của nhà nước 26
1.3.2 Nhân tố thuộc về cơ quan thuế 27
Trang 51.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ GTGT Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
30
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Yên 30
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Nghệ An 31
1.4.3 Kinh nghiệm của tỉnh Hải Dương 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 34
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT TẠI HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI 35
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI 35
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Đak Đoa 35
2.1.2 Tình hình chung về quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế huyện Đak Đoa 40
2.2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ GTGT TẠI CỤC THUẾ HUYỆN ĐĂK ĐOA 49
2.2.1 Công tác lập dự toán thu thuế 49
2.2.2 Công tác tổ chức thu thuế 51
2.2.3 Công tác kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế 74
2.3 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT TẠI CHI CỤC THUẾ HUYỆN ĐAK ĐOA 78
2.3.1 Kết quả đạt được trong quản lý thuế GTGT 78
2.3.2 Đánh giá của người nộp thuế đối với công tác quản lý thuế 81
2.3.3 Một số hạn chế trong công tác quản lý thuế GTGT tại Chi cục Thuế huyện Đak Đoa và nguyên nhân 83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87
Trang 63.1 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU CỦA QUẢN LÝ THUẾ GTGT
TRONG THỜI GIAN TỚI 88
3.1.1 Phương hướng và nhiệm vụ quản lý thuế của Chi cục thuế huyện Đak Đoa 88
3.1.2 Mục tiêu về quản lý thu thuế GTGT 90
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAK ĐOA 90
3.2.1 Hoàn thiện công tác lập dự toán thu thuế GTGT 90
3.2.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thu thuế GTGT 92
3.2.3 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế 99
3.2.4 Một số giải pháp khác 101
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 105
3.3.1 Đối với Tổng cục thuế 105
3.3.2 Đối với chính quyền địa phương, ban ngành liên quan 106
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN 108
PHỤ LỤC 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)
Trang 7ĐTNT : Đối tượng nộp thuế
GTGT : Giá trị gia tăng
HH – DV : Hàng hóa - Dịch vụ
KHĐT : Kế hoạch đầu tư
KK-KTT-TH : Kiểm kê - Kế toán thuế - Tin học KT-NB : Kiểm tra - Nội bộ
UBND : Ủy ban nhân dân
SXKD : Sản xuất kinh doanh
Trang 82.3 Dự toán và kết quả thực hiện dự toán thu thuế
GTGT trên địa bàn huyện giai đoạn 2012-2016 50
2.4 Tình hình tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế
2.5
Ý kiến đánh giá của DN về công tác tuyên truyền văn bản chính sách pháp luật thuế GTGT tới doanh nghiệp
53
2.6
Số lượng và tỷ lệ ý kiến trả lời của cán bộ thuế
về tác động của công tác tuyên truyền văn bản chính sách pháp luật thuế GTGT tới ý thức chấp hành pháp luật thuế của DN
54
2.7 Tình hình đăng ký mới (cấp mới mã số thuế)
2.8 Công tác quản lý tờ khai thuế GTGT đối với
doanh nghiệp giai đoạn 2012 - 2016 59
2.9 Kết quả kiểm tra hóa đơn GTGT giai đoạn 2012
2.10 Kết quả quản lý tờ khai thuế của doanh nghiệp
Trang 92.11 Kết quả thu nộp thuế GTGT theo từng đối tượng
2.12: Tình hình nợ thuế GTGT của các DNTN từ năm
2.13: Tỷ lệ ý kiến của cán bộ thuế trả lời về nguyên
nhân dẫn đến người nộp thuế nợ thuế GTGT 71 2.14 Kết quả hoàn thuế GTGT giai đoạn 2012 - 2016 73
2.15 Kết quả kiểm tra thuế GTGT giai đoạn
2.16 Ý kiến đánh giá của cán bộ thuế về việc chấp
hành quyết định xử lý sau kiểm tra của DN 77 2.17 Tỷ lệ doanh nghiệp trả lời về công tác quản lý
thuế của Chi cục Thuế huyện Đak Đoa 81
Trang 10Số hiệu
2.1 Tổ chức bộ máy Chi Cục Thuế Đak Đoa 42
2.2 Số thu thuế nộp NSNN của Chi cục thuế giai
2.3 Quy trình quản lý đăng ký thuế GTGT tại Chi
2.4 Quy trình quản lý kê khai thuế GTGT tại Chi cục
2.5 Quy trình quản lý hóa đơn thuế GTGT tại Chi
2.6
Quy trình xử lý tờ khai, chứng từ, xác định và ấn định số thuế GTGT phải nộp tại Chi cục Thuế Đak Đoa
62
2.7 Quy trình xử lý hoàn thuế GTGT tại Chi cục
2.8 Quy trình kiểm tra thuế GTGT tại Chi cục Thuế
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thuế là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách Nhà nước, là công cụ quan trọng để phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
và là vấn đề đại cục của mỗi Quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập quốc
tế Ở nước ta, thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN, đặc biệt
là thuế GTGT Từ khi thực hiện luật thuế GTGT đến nay qua nhiều lần sửa đổi, thuế GTGT đã thể hiện tính ưu việt góp phần đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển và hội nhập quốc tế
Quản lý thu thuế là một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản lý của nhà nước Nhận thức được tầm quan trọng đó, Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai luôn phát huy tinh thần trách nhiệm của tập thể,
cá nhân; thực hiện tốt các quy định của luật thuế, luật quản lý thuế và các quy trình quản lý Từ đó giúp cho ngành thuế Gia Lai luôn đạt được kết quả cao trong nhiều năm qua Bên cạnh những thuận lợi đó cũng có nhiều khó khăn và hạn chế như: Về chính sách có nhiều thay đổi, số lượng doanh nghiệp ngày càng tăng, ngành nghề kinh doanh đa dạng; nhận thức của người nộp thuế còn hạn chế như luôn tìm cách trốn thuế, gian lận thuế; công tác quản lý thuế vẫn còn lúng túng, chưa đồng bộ chưa phát huy được hết khả năng của mình…những bất cập ấy nếu không được giải quyết một cách thấu đáo sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng cũng như tính minh bạch của công tác quản lý thuế cũng như làm giảm lòng tin và tính tự giác của người nộp thuế
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý thuế GTGT và trong thời gian học tập và làm việc tại Chi Cục Thuế Đak Đoa và kết hợp với
những kiến thức đã học ở trường, tôi đã chọn đề tài: “Quản lý thuế giá trị gia
Trang 12tăng trên địa bàn huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai” làm luận văn Thạc sỹ với
mong muốn vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết công việc trong thực tiễn hoạt động quản lý thuế GTGT
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng để
đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT tại Chi cục thuế huyện Đak Đoa trong thời gian tới
3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn hướng đến giải đáp các câu hỏi sau:
- Thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại huyện Đak Đoa giai đoạn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 13Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý thuế GTGT
trên địa bàn huyện Đak Đoa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề về công tác quản lý thuế GTGT bao gồm các hoạt động: Lập dự toán thu thuế; tổ chức thu thuế và thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm về thuế GTGT
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu các nội dung của công tác quản lý thuế GTGT tại Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý thuế GTGT tại huyện Đak Đoa trong giai đoạn 2012-2016; các giải pháp đề xuất có ý nghĩa đến năm 2020
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
5.1.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp
a Thông tin thu thập
Các thông tin, số liệu cần thu thập là những tài liệu đã được công bố, báo cáo, phân tích, thảo luận gồm:
- Thông tin, số liệu đã công bố của các cơ quan thống kê, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí, báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố, các báo cáo về tình hình thu thuế GTGT tại Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa qua các năm 2012-2016 Số liệu, thông tin phản ánh thực trạng việc quản lý thuế của người nộp thuế, thực trạng thực hiện các giải pháp của cơ quan thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ pháp luật về thuế của các doanh nghiệp;
- Những định hướng của Nhà nước trong việc nâng cao tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp
Trang 14b Nguồn thu thập
- Các thông tin dữ liệu trong nước được thu thập từ Internet, Bộ tài chính, Tổng cục thuế, Cục thuế tỉnh Gia Lai, Chi cục thuế huyện Đak Đoa
- Các thông tin được thu thập từ các Đội thuế thuộc Chi cục thuế huyện Đak Đoa theo từng mốc thời gian, từng giai đoạn gồm các báo cáo quyết toán thu ngân sách, tài liệu hội nghị, sổ bộ thuế; thông tin từ các cơ quan trong huyện như Phòng tài chính kế hoạch, Chi cục thống kê, kho bạc nhà nước…Những thông tin này có vai trò quan trọng làm cơ sở phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
5.1.2 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu sơ cấp
Các thông tin, số liệu cần thu thập là những tài liệu tự điều tra gồm: Các thông tin, số liệu liên quan đến việc phân tích nhân tố tác động đến tính tuân thủ pháp luật của đối tượng nộp thuế trên địa bàn huyện Đak Đoa Đánh giá của các doanh nghiệp đối với việc thực hiện các giải pháp trong công tác quản lý thuế của Chi cục thuế huyện Đak Đoa trong thời gian qua; nguyện vọng của các doanh nghiệp trong điều kiện thực hiện Luật quản lý thuế hiện nay
Số liệu sơ cấp được thu thập từ điều tra các đối tượng là các doanh nghiệp tại huyện Đak Đoa và một số cán bộ công chức của Chi cục thuế
- Phương pháp thu thập: Phỏng vấn
Chọn đối tượng điều tra: để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu tác giả chọn các đối tượng điều tra là doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn huyện, cụ thể chọn 100 doanh nghiệp để phỏng vấn gồm: DNTN, công ty TNHH, công ty cổ phần và hợp tác xă tương ứng với cơ cấu các doanh nghiệp theo lĩnh vực hoạt động SXKD và phỏng vấn 18 cán bộ thuộc Chi cục thuế huyện Đak Đoa theo bảng
Trang 15Đối tượng điều tra Tổng số Mẫu điều tra
5.2 Phương pháp phân tích
- Phương pháp so sánh
Trên cơ sở thu thập số liệu các năm so sánh số liệu tăng giảm hàng năm;
so sánh sự biến động loại hình, ngành nghề của doanh nghiệp; đánh giá mức
độ tăng trưởng và loại hình phát triển trên địa bàn huyện
- Phương pháp phân tích: Phân tích dãy số theo thời gian, lượng tăng giảm tuyệt đối, tốc độ phát triển liên hoàn, tốc độ phát triển bình quân Qua số liệu thu thập được tổng hợp, bằng các phương pháp: Bảng thống kê, đồ thị thống kê, phân tổ thống kê
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Tổng hợp và hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý thuế GTGT
Trang 16- Đánh giá thực trạng quản lý Thuế GTGT tại Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để tìm ra những điểm hạn chế, tồn tại Đề xuất các giải pháp
có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Thuế GTGT tại Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ
lục, nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế GTGT
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế gía trị gia tăng tại huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng tại huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
8 Tổng quan nghiên cứu
Trong thời gian qua đã có nhiều đề tài, bài viết nghiên cứu về công tác quản lý thu thuế, cụ thể:
- Nguyễn Thị Thanh Hoài (2010) “Chống gian lận thuế giá trị gia tăng ở
Việt nam hiện nay”, đề tài cấp viện của Viện Khoa học tài chính Đóng góp
của đề tài chủ yếu là đã khái quát các hình thức gian lận thuế GTGT ở Việt Nam, làm rõ nguyên nhân gian lận thuế GTGT ở Việt Nam Các hình thức gian lận thuế GTGT ở Việt nam khá đa dạng, như gian lận thuế GTGT đầu ra, gian lận thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, gian lận thông qua hoàn thuế GTGT Để hạn chế tình trạng gian lận thuế GTGT, ở Việt Nam cơ quan thuế
đã áp dụng nhiều biện pháp, từ việc hoàn thiện chế độ, chính sách thuế GTGT, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống gian lận thuế GTGT Trong đề tài đã trình bày các thành công, đồng thời đã đi sâu xem xét hạn chế, chỉ ra nguyên nhân của công tác chống gian lận thuế GTGT ở Việt Nam
- TS Trần Trọng Khoái (2009), Thuế nhà nước, NXB Lao động, Hà Nội
Trang 17Là tài liệu cung cấp kiến thức tổng quan bao gồm các khái niệm cũng như các thuật ngữ liên quan đến Thuế Giáo trình được biên soạn trong điều kiện nền kinh tế chuyển biến theo hướng hội nhập kinh tê ngày càng sâu rộng Chính sách, pháp luật kinh tế, tài chính nói chung, chính sách, pháp luật thuế nói riêng thường xuyên thay đổi, tác giả đã cập nhật những nội dung mới nhất của pháp luật thuế vào giáo trình, nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của người học
và người tham khảo
- PGS-TS Trần Đình Hảo, TS Nguyễn Thị Thương Huyền (2003), Pháp luật thuế giá trị gia tăng những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Tài chính,
Hà Nội Sách đã hệ thống được lý luận thuế GTGT ở Việt Nam
- Lê Xuân Trường (2013), “Nhận diện các hành vi gian lận thuế”, Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 9 Bài viết nói về vấn đề gian lân thuế, làm rõ được Gian lận thuế là hành vi vi phạm pháp luật luôn tồn tại song hành với hoạt động thuế của Nhà nước Nhà nước còn đánh thuế thì sẽ còn tồn tại hành
vi gian lận thuế do động cơ của gian lận thuế luôn tồn tại khi Nhà nước thu thuế, đó là mong muốn giảm nghĩa vụ thuế của người nộp thuế Gian lận thuế
sẽ giảm bớt nếu hoạt động quản lý thuế đạt hiệu quả cao Có nhiều việc phải làm để giảm bớt gian lận thuế, trong đó, nhận diện các hành vi gian lận thuế là việc cần làm thường xuyên
- Bùi Văn Thắng (2015) “Quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi Cục Thuế huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương” luận văn thạc sĩ Nội dung đề tài nghiên cứu về công tác đăng ký
thuế; xác định đối tượng tính thuế; xác định thuế suất; thời gian giao nộp; thực trạng công tác thu thuế, xét giảm miễn thuế và đề ra các giải pháp hoàn thiện việc quản lý thuế nhưng đề tài chưa nghiên cứu sâu về giải pháp để hoàn thiện đối với công tác quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trang 18- Nguyễn Thị Lệ Thúy (2010) “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp” luận án Tiến sĩ
của Trường Đại học kinh tế quốc dân Đóng góp chủ yếu của đề tài là đã hệ thống những công trình nghiên cứu về sự tuân thủ thuế và Quản lý thuế của Nhà nước đối với doanh nghiệp của các tác giả nước ngoài và trong nước Đề tài đã xác định sự tuân thủ thuế là một khái niệm phức tạp và diễn ra theo mô hình cấp độ tuân thủ và điều chỉnh mô hình các cấp độ tuân thủ thuế của doanh nghiệp cho phù hợp với các nước đang phát triển, đồng thời xác định 3 chỉ số đặc trưng cho từng cấp độ tuân thủ: (1) tính tự nguyện, (2) tính đầy đủ, (3) đúng thời gian Theo cách tiếp cận kinh tế và cách tiếp cận xã hội, đề tài
đã xác định người nộp thuế cần được đặt ở vị trí là khách hàng của cơ quan thuế và quản lý thuế chính là quản lý sự nộp thuế của người nộp thuế và đảm bảo sự tuân thủ thuế một cách tự nguyện, đầy đủ và kịp thời Tất cả hoạt động của cơ quan thuế đảm bảo cho người nộp thuế tuân thủ tốt nghĩa vụ thuế phải được xem là các dịch vụ phục vụ khách hàng Đề tài đã làm rõ bản chất mới của quản lý thuế cần được thể hiện đầy đủ trong các chiến lược quản lý sự nộp thuế của từng nhóm người nộp thuế ở từng cấp độ tuân thủ thuế khác nhau Các chiến lược đối với cấp độ tuân thủ và các giải pháp cụ thể để thực hiện được đề tài trình bày bằng ma trận “Cấp độ tuân thủ thuế của người nộp thuế và hành vi của cơ quan quản lý thuế” Đề tài đã làm rõ đặc điểm riêng của các nhóm người nộp thuế trên địa bàn Hà Nội để xác định về quy mô, về loại hình sở hữu, về ngành nghề, về tình hình sản xuất kinh doanh, về thực trạng và cơ cấu các loại thuế thực nộp vào ngân sách Nhà nước, những đặc điểm này là thông tin quan trọng để đánh giá các yếu tố thuộc đặc điểm người nộp thuế ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế Thông qua phân tích số liệu sơ cấp thu thập được từ điều tra các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội, đề tài đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp và đánh giá
Trang 19thực trạng Quản lý thuế đối với doanh nghiệp, từ đó đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thuế đối với doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội Tuy nhiên,
đề tài cũng chỉ mới điều tra khảo sát chọn mẫu các doanh nghiệp đang hoạt động mà chưa điều tra các doanh nghiệp đang tạm ngừng hoạt động, đang chờ giải thể, phá sản, mất tích, đề tài chưa ước lượng chính xác mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến sự tuân thủ của doanh nghiệp
- Phan Xuân Quang “Tăng cường kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” luận văn thạc sỹ (2010),
luận văn đã hệ thống được những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ nói chung và kiểm soát thuế giá trị gia tăng nói riêng tại các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng Tác giả chủ yếu nêu được những tồn tại và những vấn đề còn bất cập, chức năng giải quyết thủ tục còn trùng lắp tại các phòng trực thuộc Cục Thuế nên không nêu lên được những tồn tại bất cập hiện tại so với các quy trình, quy định được áp dụng tại các Chi Cục Thuế quận, huyện trực thuộc Cục thuế Các giải pháp mà tác giả đưa ra mặc dù đã
có ý tưởng hoàn thiện cơ cấu tổ chức tại các phòng trực thuộc Cục thuế, cũng như các giải pháp về tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp từ khâu lập kế hoạch, xây dựng các tiêu chí đến công tác thanh tra, kiểm tra tại các doanh nghiệp, chủ yếu dựa vào các quy trình hiện nay Tuy nhiên, quy trình đó lại không còn phù hợp với thực tế, vẫn còn nhiều tồn tại bất cập, mất nhiều thời gian và nguồn nhân lực
- Lê Thị Hồng Lũy “Tăng cường kiểm soát thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế tỉnh Bình Định” luận văn thạc sỹ (năm 2012) Luận văn đã làm rõ việc
kiểm soát thuế giá trị gia tăng ở các khâu trong quá trình thu thuế giá trị gia tăng nhưng các giải pháp đưa ra chủ yếu bám theo các quy trình quản lý thuế, chưa có những giải pháp mang tính thực tế Đối với nhóm giải pháp hoàn thiện công tác bộ máy, đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế,
Trang 20công tác thanh tra, kiểm tra và phân tích các chỉ tiêu đánh giá, mặc dù tác giả
đã có ý tưởng hoàn thiện về trình độ cán bộ công chức thuế và công tác phân tích đánh giá các chỉ tiêu kê khai, tuy nhiên tác giả chưa đề xuất được các giải pháp về bố trí sắp xếp lại các Phòng, Đội cho phù hợp với thực tế hiện nay và các chỉ tiêu phân tích chỉ mang nặng tính lý thuyết, vì các thao tác phân tích chỉ thực hiện thủ công chứ chưa có chương trình, hệ thống hỗ trợ từ máy tính nên mất nhiều thời gian và công sức, mặt khác số liệu kê khai của các doanh nghiệp không trung thực, chưa xác đúng với thực tế, do vậy việc phân tích đơn thuần trên hồ sơ khai thuế mà không kiểm tra xem xét các yếu tố có liên quan thì sẽ không mang lại hiệu quả cao
- Đoàn Chánh Thi “Quản lý thu thuế Giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” luận văn thạc sỹ (năm 2014) Tác giả
đã làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thu thuế giá trị gia tăng Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý thu thuế Giá trị gia tăng tại Cục Thuế Quảng Bình giai đoạn 2008-2012, chỉ ra được những tồn tại trong công tác quản lý thuế giá trị đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình Từ đó tác giả đã đề xuất các giải pháp khả thi, nhằm tăng cường quản lý thu thuế giá trị gia tăng góp phần tăng nguồn thu ngân sách của tỉnh Quảng Bình trong thời gian tới
- Vũ Thị Lan Phương “Hoàn thiện công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk” luận văn thạc
sỹ (năm 2015) Tác giả đã mạnh dạn đưa ra hệ thống các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán thu thuế, đẩy mạnh công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, công tác quản lý đăng ký, kê khai và hoàn thuế, hiện đại hóa công tác quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế, hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thuế và các giải pháp khác để hoàn thiện công tác quản lý thu thuế GTGT đối với DNTN góp phần tăng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Trang 21Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin, tìm hiểu các luận văn cao học có nội dung tương tự đã được công nhận để có thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn nhằm tìm ra nền tảng cho quá trình hoàn thành luận văn Mỗi đề tài đều có những nội dung, mục tiêu, đối tượng , phạm vi nghiên cứu, cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên chưa có đề tài, luận văn nào nghiên cứu về Quản lý Thuế GTGT tại Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai Vì vậy luận văn nghiên cứu là cần thiết, qua đó chỉ ra được những nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý thuế, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp khả thi, nhằm thực hiện được mục tiêu quản lý thuế GTGT tại Chi Cục Thuế huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ THUẾ GÍA TRỊ GIA TĂNG
1.1 KHÁI QUÁT VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ GTGT
1.1.1 Khái niệm, bản chất của thuế GTGT
a Khái niệm thuế GTGT
Thuế giá trị gia tăng có nguồn gốc từ thuế doanh thu và Pháp là nước đầu tiên trên thế giới ban hành Luật thuế giá trị gia tăng - vào năm 1954 Thuế giá trị gia tăng theo tiếng Pháp gọi là: Taxe Sur La Valeur Ajou tée (viết tắc là TVA), tiếng Anh gọi là Value Added Tax (viết tắc là VAT), dịch ra tiếng Việt
là thuế giá trị gia tăng Khai sinh từ nước Pháp, thuế giá trị gia tăng đã được
áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Ngày nay, các quốc gia thuộc khối Liên minh Châu Âu, châu Phi, châu Mỹ La Tinh và một số quốc gia Châu á trong đó có Việt Nam đã chính thức áp dụng thuế giá trị gia tăng Các quốc gia khác cũng đang trong thời ký nghiên cứu loại thuế này Tính đến nay
đã có khoảng 130 quốc gia áp dụng thuế giá trị gia tăng Ở nước ta, tại kỳ họp lần thứ 11 Quốc hội khoá 9, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật thuế giá trị gia tăng và có hiệu lực thi hành kề từ ngày 01-01-1999
Theo quy định của Luật thuế giá trị gia tăng thì thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu đánh trên khoản giá trị tăng thêm cuả hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách Nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ
TS Trần Trọng Khoái (2009) định nghĩa: Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) còn được gọi là VAT (Value Added Tax) là loại thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh và tổng số thuế thu được ở các khâu chính bằng số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng
Trang 23cuối cùng.[11, tr.19]
Như vậy, thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ Được gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng Tổng số thuế thu được ở mỗi khâu chính bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối chịu, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là người nộp thuế vào ngân sách Nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ
b Bản chất của thuế GTGT
Theo quan niệm của C.Mác, giá trị của hàng hoá, dịch vụ là c+(v+m), trong đó c là lao động quá khứ được chuyển vào sản phẩm, (v+m) là phần giá
trị mới sáng tạo ra và đó chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch
vụ Nếu sản phẩm này lại là tài sản cố định hay nguyên, vật liệu cho chu kỳ
sản xuất, kinh doanh tiếp theo thì nó lại đóng vai trò là phần c của sản phẩm mới Cứ như vậy đến người tiêu dùng cuối cùng, toàn bộ số c+(v+m) là tổng
giá trị của hàng hóa, dịch vụ, đồng thời cũng là tổng các phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ qua các giai đoạn sản xuất, kinh doanh khác nhau Mỗi một sản phẩm, hàng hoá nếu không đi vào tiêu dùng sẽ đi vào quá trình sản xuất, kinh doanh tiếp theo và lại làm tăng thêm giá trị của hàng hóa Những giá trị đó tất nhiên sẽ bị Nhà nước tính thuế, nhưng việc tính thuế trên toàn bộ giá trị hay chỉ tính thuế đối với phần giá trị tăng thêm thì lại phụ thuộc vào từng sắc thuế
Quá trình sản xuất ra hàng hoá bao gồm một số bước, giá trị cuối cùng của sản phẩm là tổng các giá trị tăng thêm ở các giai đoạn đó Thuế đánh vào tổng giá trị sản phẩm ở mỗi giai đoạn gọi là thuế doanh thu, còn thuế đánh
Trang 24vào phần giá trị tăng thêm ở từng giai đoạn gọi là thuế GTGT
Thuế GTGT là thuế gián thu, được tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Do thuế GTGT được tính trên phần giá trị tăng thêm nên dù hàng hoá được mua đi bán lại kiểu gì, dù bán cho người tiêu dùng trực tiếp hay vòng vo qua nhiều tháng, nhiều nấc thì kết quả cuối cùng Nhà nước vẫn thu được một khoản thuế cố định, đó chính là số thuế của toàn bộ giá trị hàng hoá mà người tiêu dùng cuối cùng phải trả Tức là thuế GTGT đánh trên hành vi tiêu dùng còn các cơ sở sản xuất, kinh doanh với tư cách là những nhà trung gian nên không phải là người chịu thuế Vì vậy có thể nói, bản chất của thuế GTGT là thuế tiêu dùng và đánh vào người tiêu dùng cuối cùng
Cũng do thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ nên ĐTNT phải là các cơ sở sản xuất, kinh doanh đã bỏ thêm chi phí vào làm cho giá cả của hàng hoá, dịch vụ tăng lên Tuy nhiên, phần thuế mà họ nộp vào ngân sách thực chất lại là do người mua hàng hoá, dịch vụ đã thanh toán trong giá cả, tức là người tiêu dùng mới là người chịu thuế Lúc này các cơ sở sản xuất, kinh doanh đóng vai trò là người thu hộ thuế cho Nhà nước và là người nộp hộ thuế cho người tiêu dùng, là một mắt xích trong hệ thống thu thuế Vì vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu, điều tiết vào thu nhập của người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ một cách gián tiếp thông qua giá cả
Thuế GTGT có tính xã hội hoá cao, đòi hỏi người tiêu dùng phải có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ nộp thuế và góp phần kiểm soát chống thất thu cho ngân sách Nhà Nước Đặc biệt là đối với ĐTNT trong việc tự kê khai, tính thuế và nộp thuế GTGT như ở nước ta hiện nay đòi hỏi nhân dân phải có tinh thần tự giác cao và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế tốt
Trang 251.1.2 Đặc điểm của thuế GTGT
Thuế GTGT xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, nhằm đáp ứng nhu cầu huy động ngân sách ngày càng lớn của Nhà nước Thuế GTGT là nguồn động viên quan trọng, kịp thời và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách Nhà nước Thuế GTGT được tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
Thuế GTGT có phạm vi điều chỉnh rất rộng áp dụng cho hầu hết các hàng hoá, dịch vụ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong tất cả các ngành nghề, ở tất cả các giai đoạn
Thuế GTGT là một loại thuế gián thu, nó là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của người tiêu dùng khi họ sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó Thuế GTGT được tính trong giá bán nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nước đánh thuế, do đó thuế GTGT ít gây ra những phản ứng từ phía người chịu thuế
Tại Việt Nam, thuế GTGT được ban hành nhằm thay thế cho thuế doanh thu trước đây, nó đã khắc phục được các nhược điểm của thuế doanh thu Thuế GTGT chỉ có 3 mức thuế suất giúp cho việc áp dụng trở nên đơn giản hơn so với thuế doanh thu trước đây (với 11 mức thuế suất) Việc thu thuế từ
số ít người sản xuất, kinh doanh thuận tiện và dễ dàng hơn là thu trực tiếp từ
số đông người tiêu dùng Nghiệp vụ tính và thu thuế do đó cũng đơn giản hơn, thuận tiện hơn
Ngày nay, khi phân công lao động xã hội và chuyên môn hoá sản xuất phát triển thì mỗi công đoạn trong quy trình sản xuất sẽ do những người khác nhau đảm trách, thậm chí giữa những người sản xuất này còn có thể có ít nhất một nhà buôn làm trung gian Vì thế, việc thuế doanh thu được tính trên toàn
Trang 26được tính chồng lên thuế doanh thu của những khâu sản xuất trước đó Còn thuế GTGT chỉ thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ ở từng khâu của quá trình sản xuất, kinh doanh, phần giá trị tăng thêm ở khâu nào chỉ phải nộp thuế ở khâu đó Do đó, thuế GTGT khắc phục được nhược điểm thu trùng lặp qua các công đoạn sản xuất và phân phối hàng hoá, dịch vụ của thuế doanh thu
Thuế GTGT tăng cường tính dân chủ Việc thuế doanh thu không được thể hiện rõ bên cạnh giá bán hàng hoá như bấy lâu nay là không phù hợp với phương châm này, nó chưa thể hiện được tính dân chủ Trái lại, thuế GTGT được thể hiện rõ bên cạnh giá bán làm cho người tiêu dùng biết rõ sự đóng góp của mình vào ngân sách Nhà nước thông qua việc tiêu dùng đó là một biểu hiện của dân chủ và công khai Khi chịu thuế GTGT, người tiêu dùng có thể cảm nhận được, thậm chí họ cảm thấy hãnh diện hoặc phiền lòng nếu tiêu dùng những hàng hoá có thuế cao, hoặc họ cảm thấy hài lòng khi chọn được những mặt hàng tiêu dùng có thuế thấp Đây là một ưu điểm về tính dân chủ của thuế GTGT
Thuế GTGT mang tính trung lập cao Một loại thuế được gọi là trung lập khi nó không gây ra bất cứ ảnh hưởng nào đến hoạt động của doanh nghiệp nếu Chính phủ không muốn thế Trong thuế doanh thu các doanh nghiệp có khuynh hướng tối thiểu hóa số tiền thuế phải nộp bằng cách hội nhập lại theo chiều dọc, mặc dù Chính phủ không muốn thế, (ví dụ: xí nghiệp sợi có thể kết hợp với xí nghiệp dệt và may để không phải đóng thuế khi chuyển sản phẩm
từ khâu trước sang khâu sau) Còn thuế GTGT không hề khuyến khích các doanh nghiệp hội nhập như trên bởi vì tổng số thuế phải nộp trong cả 2 trường hợp là như nhau Tuy thuế GTGT áp dụng các mức thuế suất khác nhau đối với các loại hàng hoá khác nhau phần nào có tác động đến quan hệ sản xuất trong xã hội, nhưng xét về cơ bản, thuế GTGT không can thiệp sâu vào mục
Trang 27tiêu khuyến khích hay hạn chế sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng theo ngành nghề cụ thể
1.1.3 Khái niệm quản lý thuế GTGT
Quản lý thuế GTGT là hoạt động tổ chức, điều hành và giám sát của cơ quan thuế nhằm đảm bảo người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ nộp thuế nguồn thu thuế cho ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật [11, tr.25] Quản lý thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho ngân sách Nhà nước, góp phần phát huy tốt hơn vai trò của Luật thuế GTGT Trong công tác quản lý thuế GTGT, Cục thuế, Chi cục Thuế phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan như: Kho bạc, Hải quan, Quản lý thị trường, Uỷ ban nhân dân, Sở Kế hoạch đầu tư để đảm bảo quản lý triệt để và phát triển nguồn thu
Theo đó, “Quản lý thuế GTGT là hoạt động của cơ quan thuế nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo nguồn thu thuế GTGT cho Ngân sách Nhà nước do
cơ quan quản lý thuế quản lý thu theo quy định của pháp luật, góp phần phát huy tốt hơn vai trò của luật thuế GTGT” [11,tr.25]
1.1.4 Vai trò của quản lý thuế GTGT
+ Quản lý thuế GTGT là một trong những chức năng quan trọng của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý tài chính: Đó là điều tiết vĩ mô nền kinh tế, đây là một trong những nội dung quan trọng nhất nhằm đảm bảo phát huy tối đa chức năng, vai trò của thuế trong phát triển kinh tế xã hội Ngoài ra, nó còn có mục tiêu quan trọng khác đó là huy động số thu cho ngân sách nhà nước Nó thể hiện quyền lực tối cao và sự độc quyền của nhà nước trong việc quản lý
và điều hành đất nước
+ Giúp nhà nước kiểm soát việc nộp thuế GTGT của người nộp thuế Với vai trò kiểm tra, giám sát, vai trò của nhà nước về quản lý thuế định hướng, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện các luật thuế dù vô
Trang 28tình hay cố ý sai phạm, đều phải duy trì bình đẳng xã hội trong việc chấp hành nghĩa vụ thuế
+ Giúp nhà nước quản lý được bộ máy thu thuế GTGT Một mặt, đảm bảo bộ máy quản lý thuế vận hành trơn tru, không sai sót Mặt khác, xuất phát
từ lợi ích cá nhân của những con người trong bộ máy quản lý thu thuế của nhà nước hám lợi sẳn sàng bắt tay với người nộp thuế nhằm giúp họ trốn thuế và thu những mối lợi bất chính làm thất thu ngân sách nhà nước, hoặc cố tình gây khó dễ, sách nhiễu để vòi vĩnh
+ Hướng dẫn người nộp thuế, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục
sẽ nâng cao ý thức người dân trong việc chấp hành luật thuế GTGT, đảm bảo việc thực hiện luật thuế GTGT được nghiêm chỉnh Mặt khác, việc xử lý các sai phạm đảm bảo nghiêm minh, đúng người, đúng việc nhằm răn đe những đối tượng vi phạm, đồng thời làm gương cho các đối tượng khác
1.2 NỘI DUNG QUẢN LÝ THUẾ GTGT
1.2.1 Lập dự toán thu thuế GTGT
Lập dự toán thu thuế là khâu đầu của chu trình thu ngân sách nhằm xây dựng khả năng huy động nguồn thu của địa phương trong một năm ngân sách phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội địa phương; Từ đó, giao nhiệm
vụ thu ngân sách phù hợp với khả năng cân đối ngân sách và chức năng, nhiệm vụ của từng ngành, từng cấp, từng đơn vị đảm bảo đúng quy định của pháp luật
Ở phạm vi cơ quan thuế địa phương, lập kế hoạch thu thuế là quá trình xây dựng các mục tiêu và xác định các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đã đề ra
Lập kế hoạch thu thuế GTGT được thực hiện qua bốn giai đoạn: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, lãnh đạo thực hiện kế hoạch và đánh giá kiểm tra tình hình thực hiện Để nâng cao chất lượng công tác lập dự
Trang 29toán thu, cơ quan thuế phải quan tâm làm tốt công tác kế toán, thống kê thuế
và phân tích dự đoán nguồn thu, kế toán thuế là một bộ phận của hoạt động kế toán gắn với nội dung công việc của ngành thuế Phân tích thống kê có ý nghĩa lớn cho thấy tiềm năng khai thác nguồn thu, phân tích kết quả thực hiện
kế hoạch để xác định khả năng thực tế của người nộp thuế, xu thế chấp hành pháp luật thuế và đánh giá đúng năng lực quản lý của ngành thuế
Các bước lập dự toán thu thuế GTGT:
Bước 1: Tổng hợp đánh giá tình hình thực hiện dự toán năm trước: Căn
cứ vào kết quả ước thực hiện thu thuế của năm báo cáo, tốc độ tăng thu của năm trước đối với sắc thuế GTGT để lập dự toán thu thuế
Bước 2: Phân tích tình hình đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh để tính đúng đủ các khoản thu ngân sách theo các chính sách, chế độ hiện hành, đồng thời quan tâm đến các chính sách mới sẽ có hiệu lực thi hành trong năm
dự toán
Bước 3: Dự kiến khả năng tăng số thu thuế do tăng thêm đối tượng chịu thuế theo quy định mới đồng thời phải dự kiến được số hụt thu do áp dụng các chính sách giảm, miễn thuế để kích cầu đầu tư, tiêu dùng của Nhà nước đối với từng giai đoạn
Bước 4: Đề ra các biện pháp và lộ trình cụ thể để xử lý các khoản nợ đọng của thuế; chống thất thu, trốn và gian lận thuế; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm nhằm đản bảo dự toán thu được triển khai có tính khả thi cao
1.2.2 Tổ chức thu thuế GTGT
Ở Việt Nam, công tác quản lý thu thuế GTGT được thực hiện cụ thể chủ yếu ở hai cấp là Cục Thuế và Chi cục Thuế Cục Thuế quản lý các DN còn Chi Cục Thuế quản lý các DN và các hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn thuộc chi cục quản lý
Trang 30Công tác quản lý thuế GTGT ở cấp Chi Cục Thuế bao gồm các nội dung: Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế; Đăng ký thuế và cấp mã số thuế; Điều tra doanh số ấn định thuế ( đối với các hộ ấn định thuế); Xét miễn, giảm thuế; Tính thuế và lập sổ bộ thuế; Xử lý tờ khai nộp thuế; Xử lý giấy nộp tiền và lập báo cáo kế toán thống kê thuế [17, điều 3] Trong công tác quản lý thuế GTGT, cơ quan thuế phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan như: Kho bạc, Hải quan, Quản lý thị trường, Ủy ban nhân dân các cấp để đảm bảo quản lý triệt để và phát triển nguồn thu
a Tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế
Theo Quyết định 601/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình tuyên truyền,
hỗ trợ NNT ngày 11/05/2012:
Mục đích của quy trình: thống nhất, chuẩn hóa về nguyên tắc, nội dung, trình tự thực hiện công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác của cơ quan thuế và hướng dẫn, giúp đỡ NNT thực hiện quyền và nghĩa vụ về thuế GTGT Đảm bảo phân định rõ để thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ trong công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT tại cơ quan thuế các cấp Kế hoạch tuyên truyền về thuế được chia ra: kế hoạch tuyên truyền thường xuyên và kế hoạch tuyên truyền trọng điểm
Kế hoạch hỗ trợ NNT bao gồm các nội dung: tổ chức tập huấn cho NNT,
tổ chức đối thoại với NNT, xây dựng và cung cấp tài liệu hỗ trợ NNT, giải đáp vướng mắc về thuế, điều tra, khảo sát nhu cầu hỗ trợ của NNT, và các dịch vụ hỗ trợ khác cung cấp dịch vụ phục vụ NNT (phần mềm kê khai, kê khai thuế điện tử…)
b Đăng ký thuế
Đăng ký thuế là việc người nộp thuế kê khai những thông tin của người nộp thuế theo mẫu quy định và nộp tờ khai cho cơ quan quản lý thuế để bắt đầu thực hiện nghĩa vụ về thuế với nhà nước theo các quy định của pháp luật
Trang 31động này, cơ quan thuế sẽ nắm bắt được những thông tin ban đầu của đối tượng nộp thuế như tên đầy đủ, địa chỉ, ngày sinh, điện thoại, email và từ đó tiến hành những hoạt động quản lý cụ thể
Theo Quyết định 329/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình quản lý đăng
ký thuế ngày 27/03/2014:
Mục đích của quy trình là thực hiện các quy định về thuế của Luật Quản
lý thuế và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế; cải tiến thủ tục quản lý thuế, chuẩn hóa công tác quản lý thuế nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý thuế
Nội dung quy trình bao gồm các bước chính là: hướng dẫn lập hồ sơ; tiếp nhận và kiểm tra thủ tục hồ sơ đăng ký thuế; nhập và xử lý thông tin đăng ký thuế; trả kết quả đăng ký thuế cho NNT; nhận kết quả cấp MST Đối với các trường hợp thay đổi thông tin, phục hồi MST, chấm dứt hiệu lực MST được quy định tương tự
c Quản lý kê khai thuế
Việc tính thuế có thể do cơ quan thuế hoặc đối tượng nộp thuế thực hiện Tùy điều kiện, vấn đề này được quy định khác nhau Và đôi khi, cơ quan thuế vừa để cho ĐTNT tự tính thuế, vừa áp dụng ấn định thuế cho những đối tượng nhất định.Theo Quyết định 1864/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế ngày 21/12/2011 Mục đích của kê khai thuế là nhằm đảm bảo theo dõi, quản lý NNT thực hiện các thủ tục hành chính
về khai thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và đảm bảo công chức thuế, cơ quan thuế thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật quản lý thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn
Nội dung quy trình quản lý kê khai thuế gồm: quản lý tình trạng kê khai thuế của NNT; xử lý hồ sơ khai thuế; xử lý vi phạm về việc nộp hồ sơ khai thuế
d Quản lý hóa đơn chứng từ
Trang 32thực hiện đúng các quy định về chế độ hóa đơn, chứng từ, hoàn thành nghĩa
vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và giúp công chức thuế, cơ quan thuế thuận lợi trong việc xác minh, đối chiếu, kiểm tra sau này
Nội dung chủ yếu trong công tác này là: nhận và cấp phát hóa đơn (dành cho các đơn vị đăng ký nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ); quản lý
in hóa đơn (đối với các đơn vị tự in hóa đơn thì phải hướng dẫn thiết kế mẫu hóa đơn phù hợp chế độ quản lý, sử dụng hóa đơn của Nhà nước; cơ quan thuế nhận hồ sơ đăng ký sử dụng hóa đơn tự in và gửi lên cấp trên; quản lý in hóa đơn, theo dõi đăng ký, sử dụng hóa đơn; thanh, quyết toán với cấp trên);
xử lý vi phạm
e Xử lý tờ khai, chứng từ, xác định và ấn định số thuế phải nộp
Theo Quyết định 1864/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình quản lý khai thuế, nộp thuế và kế toán thuế ngày 21/12/2011:
Tờ khai thuế là văn bản theo mẫu do Bộ Tài chính quy định được người nộp thuế sử dụng làm tờ khai thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Mục đích của quy trình xử lý hồ sơ khai thuế, chứng từ, xác định và ấn định số thuế phải nộp nhằm đảm bảo theo dõi, quản lý NNT có thực hiện đúng quá trình khai thuế và nộp thuế, hoàn thành nghĩa vụ thuế đầy đủ, đúng quy định và đảm bảo công chức thuế, cơ quan thuế thực thi đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Quản lý thuế hiện hành và các văn bản hướng dẫn
f Quản lý việc nộp thuế của NNT
Cơ chế hiện nay về quản lý kê khai và nộp thuế là để NNT thực hiện chế
ðộ tự khai, tự nộp Chính vì thế cơ quan thuế cần phải thường xuyên theo dõi việc nộp thuế của NNT Tiền thuế có thể nộp tại kho bạc nhà nước, tại cơ quan quản lý thuế nơi tiếp nhận hồ sơ khai thuế, thông qua tổ chức được cơ quan quản lý thuế ủy nhiệm thu thuế, thông qua ngân hàng thương mại, tổ
Trang 33chức tín dụng khác và tổ chức dịch vụ theo quy định của pháp luật Quy trình quản lý nộp thuế quy định việc lập danh sách NNT; theo dõi tình hình nộp thuế, nợ đọng thuế và lập danh sách và phát hành lệnh thu; xử lý đối tượng nộp chậm; phối hợp kiểm tra thực hiện kiểm tra tại cơ sở với các đối tượng có dấu hiệu nghi ngờ để điều chỉnh số thuế phải nộp, lập và theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch, đảm bảo NNT nộp thuế đúng hạn, đủ, tránh vi phạm, đảm bảo nguồn thu cho NSNN
g Quản lý nợ thuế
Quản lý thu nợ thuế là công việc đòi hỏi khá nhiều nguồn lực của cơ quan thuế Đây là hoạt động của cơ quan quản lý thuế nhằm đảm bảo huy động đầy đủ và kịp thời số tiền thuế cho NSNN Quản lý thu nợ thuế gồm các công việc như gửi thông báo nợ thuế, tính phạt chậm nộp, thông báo số tiền phạt chậm nộp, phân tích tình trạng nợ thuế, tổng hợp, phân loại nợ, lập kế hoạch thu nợ, thực hiện các biện pháp thu nợ, cưỡng chế thuế, báo cáo kết quả thu nợ Các công việc này nếu thực hiện thủ công sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian của cơ quan thuế nên việc triển khai áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý nợ thuế là một nhu cầu khách quan
Theo Quyết định 1395/QD-TCT về việc ban hành Quy trình quản lý nợ thuế ngày 14/10/2011 của Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế:
Mục đích, nội dung của quy trình: nhằm quản lý tình hình nợ thuế trên địa bàn; tổ chức phân công, chỉ đạo việc phối hợp giữa các đội thuộc Chi cục Thuế; hướng dẫn, chỉ đạo và kiểm tra các đội tham gia thực hiện quy trình này trên địa bàn quản lý; nêu ra quy trình, hướng dẫn đôn đốc thu nộp các khoản tiền thuế nợ, bên cạnh đó xử lý cưỡng chế tiền thuế nợ, đảm bảo nguồn thu cho NSNN
h Xử lý hoàn thuế
Hoàn thuế: Mục đích công tác hoàn thuế là nhằm hoàn lại số thuế nộp
Trang 34doanh hàng hóa, dịch vụ Công tác hoàn thuế được thực hiện theo các nội dung: hướng dẫn lập hồ sơ; tiếp nhận hồ sơ; kiểm tra hồ sơ và xác định số thuế được hoàn; quyết định hoàn thuế; hoàn thuế; điều chỉnh số thuế phải nộp; kiểm tra hoàn thuế và cuối cùng là lưu hồ sơ
1.2.3 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế
Công tác kiểm tra, thanh tra có vai trò đảm bảo công bằng trong xã hội
và sự công minh của pháp luật Nó làm tăng ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT cũng như ý thức trách nhiệm của cán bộ thuế, góp phần ngăn chặn tình trạng tiêu cực, gian lận Tuy nhiên, sau khi kiểm tra phát hiện các trường hợp vi phạm mà không xử lý kịp thời, nghiêm minh thì cũng không có tác dụng răn đe, giáo dục các đối tượng vi phạm Do đó, việc có các quy định
xử lý vi phạm và chế độ thi đua, khen thưởng thích hợp sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả cho công tác quản lý thuế
a Kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của người nộp thuế, nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống kinh
tế xã hội Kiểm tra thuế được thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến người nộp thuế, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế
Kiểm tra thuế được thực hiện theo quyết định số 746/QĐ-TCT ngày 20/04/2015 của Tổng Cục trưởng Tổng Cục Thuế
Mục đích của kiểm tra thuế: Tăng cường kiểm tra, giám sát hồ sơ khai thuế của NNT nhằm chống thất thu thuế qua việc kê khai thuế; ngăn chặn và
xử lý kịp thời những vi phạm về thuế Nâng cao tính tự giác tuân thủ pháp
Trang 35luật thuế của NNT trong việc thực hiện kê khai thuế, tính thuế và nộp thuế Kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở cơ quan quản lý thuế hoặc tại trụ
sở của người nộp thuế Kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản lý thuế được thực hiện thường xuyên đối với các hồ sơ thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế, sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế Kiểm tra tại trụ sở của người nộp thuế được quy định cụ thể trong các trường hợp khác nhau
b Xử lý vi phạm về thuế
Theo Nghị định số 129/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 quy định về xử lý
vi phạm pháp luật về thuế và cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
Xử lý vi phạm về thuế là một khâu của quá trình kiểm soát thuế Mọi hành vi
vi phạm về thuế đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm khắc.Tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà NNT vi phạm phải chịu phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền Mỗi hành vi vi phạm chỉ bị xử phạt một lần với một mức phạt nhất định
Các hành vi vi phạm về thuế
- Xử phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông
báo thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế so với thời hạn quy định
- Xử phạt đối với hành vi khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ
thuế
- Xử phạt đối với hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế so với thời hạn quy
định
- Xử phạt đối với hành vi vi phạm các quy định về cung cấp thông tin
liên quan đến xác định nghĩa vụ nộp thuế
- Xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định về chấp hành quyết định
kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế
- Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp
Trang 36hoặc tăng số tiền thuế được hoàn
- Xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế
- Xử phạt vi phạm hành chính về thuế đối với tổ chức, cá nhân liên quan Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính về thuế
Người nộp thuế vi phạm các thủ tục về thuế có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền theo một mức quy định
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GTGT
Các nhân tố tác động đến quản lý thuế GTGT rất đa dạng, phong phú
Nó có thể là nhân tố trực tiếp, gián tiếp, nhân tố trong nước, nhân tố từ nước ngoài Tổng hợp lại, ta có thể kể đến các nhân tố sau:
1.3.1 Nhân tố thuộc về cơ chế, chính sách của nhà nước
Nhà nước tác động đến quản lý thuế GTGT thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, thông qua các định hướng về chính sách, thông qua thể chế chính trị và mô hình nhà nước
Các văn bản quy phạm pháp luật là cơ sở pháp lý để hướng dẫn các tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ thuế và là căn cứ để kiểm tra, xử phạt những trường hợp vi phạm Nếu hệ thống các luật thuế và luật quản lý thuế rõ ràng, minh bạch, không chồng chéo đơn giản dễ hiểu, có tính ổn định tương đối sẽ tạo điều kiện cho NNT dễ dàng và tự giác tuân thủ pháp luật thuế Các giải pháp tăng cường quản lý kinh tế xã hội như giải pháp tăng cường quản lý, giám sát hoạt động đầu tư, hoạt động của thị trường chứng khoán, các quy định về công khai minh bạch tài sản, các giải pháp tăng cường thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế sẽ có tác động tích cực trong việc quản
lý, giám sát thu nhập và từ đó tạo thuận lợi cho công tác quản lý thuế GTGT Các quy định, chính sách quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế bằng pháp luật hay các chính sách phân cấp quản lý thu của Trung ương đều ảnh
Trang 37hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT một cách gián tiếp hoặc trực tiếp Việc phân cấp quản lý thu nếu không phù hợp với khả năng của từng cấp, từng bộ phận sẽ gây khó khăn, làm giảm hiệu quả trong công tác quản lý Có những trường hợp, việc phân cấp quản lý vượt quá năng lực nên các bộ phận không hoàn thành được nhiệm vụ, tuy nhiên nếu phân cấp dưới năng lực thì
sẽ gây nên sự trì trệ, không phát huy hết hiệu quả trong công tác
Nhà nước tác động đến quản lý thuế GTGT ở tầm vĩ mô, thiết lập nền tảng cho quản lý thuế, đây là nhân tố vô cùng quan trọng
1.3.2 Nhân tố thuộc về cơ quan thuế
-Tổ chức bộ máy quản lý thuế:
Tổ chức bộ máy quản lý có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thuế GTGT Dù có chính sách đúng đắn, hợp lý nhưng việc tổ chức bộ máy quản lý không phù hợp với trình độ chuyên môn, bộ máy tổ chức chồng chéo thì công tác quản lý không thể đạt hiệu quả cao được Do đó công tác quản lý thuế đòi hỏi cơ quan thuế phải luôn luôn kiện toàn bộ máy quản lý thuế GTGT
-Điều kiện kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật
Một nền kinh tế phát triển không chỉ làm tăng nguồn thu cho ngân sách
mà còn tạo điều kiện phát triển công nghệ, cải tiến trang thiết bị kỹ thuật Cơ
sở vật chất kỹ thuật phát triển sẽ làm giảm thời gian và chi phí trong công tác quản lý, nâng cao hiệu quả quản lý Trình độ khoa học kỹ thuật, sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật hiện đại và trình độ ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác quản lý thuế, đặc biệt là trang thiết bị tin học ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT Đặc biệt, việc áp dụng công nghệ tin học vào quản lý sẽ giúp cho cơ quan thuế quản lý chặt chẽ doanh số, tình hình hoạt động và chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của NNT, hạn chế được tình trạng gian lận trốn thuế Việc quản lý thuế trên máy tính sẽ giảm đáng kể khối
Trang 38lượng công việc thủ công trước đây, làm giảm thời gian cho công tác quản lý
và đẩy nhanh công tác thu nép thuế Việc nối mạng vi tính trong toàn ngành thuế sẽ rút ngắn thời gian chuyển phát tài liệu, số liệu trên phạm vi cả nước làm tăng hiệu quả công tác quản lý thuế Cấp trên có thể theo dõi tình hình hoạt động của cấp dưới dễ dàng, nhanh chóng để kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục khó khăn và uốn nắn các sai sót cho cấp dưới
-Nguồn nhân lực quản lý thuế
Trình độ đội ngũ cán bộ thuế đóng vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý thu thuế GTGT Nhân tố này tác động vào tất cả các nội dung của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân, từ ban hành chính sách, tổ chức thực hiện chính sách tới thanh tra thuế, tổ chức bộ máy quản lý thuế Để có thể ban hành những chính sách thuế đúng đắn, đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi kinh tế xã hội và đảm bảo được những mục tiêu của công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân thì đội ngũ cán bộ thuế cấp cao- ở tầm hoạch định chính sách- cần phải có trình độ cao về vấn đề thực tế cũng như cơ bản liên quan đến thuế
Việc sắp xếp cán bộ vào các vị trí công việc chưa phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường; việc luân phiên, luân chuyển cán bộ áp dụng máy móc, chưa phù hợp với điều kiện thực tế của từng công việc dẫn đến cán bộ thuế không có nghiệp vụ chuyên sâu và chuyên môn hóa
1.3.3 Nhân tố thuộc về đối tượng nộp thuế
Trình độ nhận thức về thuế GTGT cũng như ý thức chấp hành pháp luật thuế của dân cư và các thành phần kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT Nếu ĐTNT không hiểu hoặc luôn tìm cách để gian lận, trốn lậu thuế thì công tác quản lý thuế sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Ý thức của ĐTNT phụ thuộc vào các chính sách tuyên truyền, chỉ đạo của những người làm công tác quản lý, nếu Nhà nước có những chính sách
Trang 39thích đáng để khuyến khích nhân dân tự giác chấp hành nghĩa vụ nộp thuế thì công tác quản lý thuế chắc chắn sẽ đạt hiệu quả cao Do đó, các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá thông tin, y tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội cũng ảnh hưởng đáng kể đến công tác quản lý thuế GTGT
1.3.4 Các nhân tố khác
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế như cơ cấu của nền kinh tế, tính
ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ĐTNT cũng ảnh hưởng lớn đến kết quả thu thuế GTGT Nếu các yếu tố đó không thuận lợi thì nền kinh tế sẽ không phát triển được thậm chí có thể bị suy yếu, vì vậy sẽ làm giảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
- Công tác hạch toán, kế toán và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT Bởi vì hoá đơn, chứng từ là căn cứ pháp lý thực hiện việc kê khai, tính thuế GTGT, do đó, việc ghi chép
sổ sách kế toán đầy đủ, thống nhất, sử dụng hoá đơn, chứng từ đúng quy định
sẽ tạo điều kiện thu thuế đầy đủ, tránh nhầm lẫn, chống thất thu thuế, giúp cho quy trình tự kê khai, tự tính thuế của đơn vị giảm được sai sót, hạn chế được tình trạng gian lận Việc thực hiện chế độ hoá đơn, chứng từ trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân có thể coi là điều kiện tiên quyết để thực hiện thuế GTGT vì muốn xác định được GTGT của hàng hoá, dịch vụ thì doanh nghiệp phải thực hiện ghi chép đầy đủ để xác định được đầu ra, đầu vào và phải có đầy đủ hoá đơn, chứng từ để chứng minh các số liệu đó
-Trình độ phát triển của quan hệ thanh toán trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT Việc thanh toán bằng tiền mặt như hiện nay đang gây khó khăn, chậm trễ cho công tác thu thuế, nếu hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phát triển thì việc thu nộp thuế sẽ đơn giản và hiệu quả hơn nhiều Khi đó, ĐTNT có thể nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước thông qua các ngân hàng, còn cán bộ quản lý thuế sẽ dễ dàng xác định được
Trang 40các hoạt động cũng như doanh thu và chi phí của ĐTNT thông qua hệ thống tài khoản của họ ở ngân hàng, điều đó sẽ làm giảm thời gian thu ngân sách, tránh được tình trạng chây ỳ của ĐTNT, hạn chế được tình trạng thất thu do
bỏ sót khi tính thuế
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ THUẾ GTGT Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm của tỉnh Phú Yên
Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế là một trong bốn chức năng cơ bản của quản lý thuế theo mô hình chức năng 5 năm trở lại đây (20010 - 2014), công tác quản lý nợ và CCNT đã được Cục Thuế Phú Yên đặc biệt quan tâm không chỉ để đáp ứng được nguồn thu cho NSNN, mà quan trọng hơn là để chấn chỉnh và làm chuyển biến nhận thức về việc chấp hành chế độ chính sách pháp luật của người nộp thuế trên địa bàn, hoàn thành xuất sắc chỉ tiêu thu nợ thuế hàng năm
Ngay từ đầu năm Cục tiến hành triển khai ngay đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp, tổ chức quán triệt tới tất cả công chức phải bám sát, nắm chắc nội dung qui trình quản lý nợ, phân loại nợ thuế, giao chỉ tiêu thu nợ cụ thể cho từng Chi Cục, từng Đội, từng công chức thuế liên quan Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nợ thuế, Cục không ngừng tăng cường chất lượng về sự phối hợp đồng bộ của tất cả các khâu, các bộ phận trong quá trình quản lý thuế theo mô hình chức năng nhằm hạn chế tối đa nợ mới phát sinh Tôn trọng và tuân thủ nguyên tắc: Mỗi công chức thuế được phân công thực hiện từ đầu đến cuối công việc phân tích, đôn đốc theo phần việc đã được giao, nhằm ràng buộc và xác định trách nhiệm cụ thể, rõ ràng của công chức đó Đối với các trường hợp xử lý nợ phức tạp thì Đội Thuế kịp thời báo cáo và đề xuất biện pháp thu hồi nợ xin ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Chi cục, chính quyền địa phương