Để phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện KonPlông việc tìm hiểu thực trạng và đưa ra giải pháp giúp người dân khai thác một cách có hiệu quả các ng
Trang 1LÊ TẤN HIỂN
PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KONPLÔNG,
TỈNH KONTUM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Đà Nẵng - Năm 2017
Trang 2LÊ TẤN HIỂN
PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KONPLÔNG,
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục đề tài 4
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG 9
1.1 SINH KẾ VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG 9
1.1.1 Khái niệm sinh kế và phát triển sinh kế bền vững 9
1.1.2 Những đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số 12
1.1.3 Khái niệm và yêu cầu của phát triển sinh kế bền vững đối với hộ gia đình DTTS 14
1.1.4 Các cách tiếp cận phát triển sinh kế bền vững 17
1.1.5 Vai trò của phát triển sinh kế bền vững đối với đồng bào DTTS 19
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG 23
1.2.1 Xác định các hoàn cảnh dễ bị tổn thương của hộ gia đình 23
1.2.2 Cải thiện nguồn vốn sinh kế 25
1.2.3 Hoàn thiện chiến lược sinh kế 29
1.2.4 Cải thiện đầu ra sinh kế 30
1.3 CÁC YẾU TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ 31
1.3.1 Khả năng nhận thức và kiểm soát sự thay đổi 31
Trang 51.3.2 Khả năng các nguồn lực và cơ hội tiếp cận thành công các
nguồn lực sinh kế 32
1.3.3 Chiến lược sinh kế đúng đắn và hợp lý 33
1.3.4 Hệ thống các chính sách, thể chế của Nhà nước 33
1.3.5 Sự nỗ lực vươn lên của bản thân hộ gia đình 34
1.3.6 Các nhân tố ngoại sinh khác 34
1.4 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DTTS TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 35
1.4.1 Kinh nghiệm ở nước ngoài 35
1.4.2 Kinh nghiệm ở trong nước 36
1.4.3 Các bài học kinh nghiệm cho KonPLông 38
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN KON PLÔNG 40
2.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DTTS Ở KONPLÔNG 40
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 40
2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 41
2.1.3 Đặc điểm về cơ sở hạ tầng 42
2.1.4 Đặc điểm khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản của các hộ gia đình DTTS ở huyện KonPlông 43
2.2 THỰC TRẠNG SINH KẾ CỦA HỘ GIA ĐÌNH LÀ ĐỒNG BÀO DTTS Ở HUYỆN KONPLÔNG 45
2.2.1 Thực trạng nguyên nhân gây tổn thương 45
2.2.2 Thực trạng về nguồn lực sinh kế của các hộ là người DTTS ở huyện Kon Plông 46
2.2.3 Thực trạng chiến lược sinh kế 53
Trang 62.2.4 Thực trạng các mô hình sinh kế của các hộ người DTTS ở
huyện Kon Plông 55
2.2.5 Thực trạng đầu ra sinh kế của đồng bào DTTS huyện KonPlông 57 2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN KON PLÔNG 58
2.3.1 Một số thành công về hoạt động sinh kế của đồng bào DTTS huyện KonPlông 58
2.3.2 Các điểm hạn chế về hoạt động sinh kế của đồng bào DTTS huyện KonPlông 59
2.3.3 Nguyên nhân gây ra hạn chế của hoạt động sinh kế của đồng bào DTTS huyện KonPlông 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KONPLÔNG 62
3.1 NGHIÊN CỨU VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN CÁC NGUỒN LỰC SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DTTS HUYỆN KON PLÔNG 62
3.1.1 Khả năng tiếp cận các nguồn lực tự nhiên 62
3.1.2.Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính 63
3.1.3 Khả năng tiếp cận các điều kiện để cải thiện nguồn nhân lực 65
3.1.4 Khả năng tiếp cận nguồn lực vật chất 67
3.1.5 Khả năng cải thiện nguồn lực xã hội 68
3.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở HUYỆN KONPLÔNG 70
3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm cải thiện nguồn lực sinh kế cho các hộ gia đình đồng bào DTTS 72
Trang 73.2.2 Nhóm giải pháp nhằm cải thiện chiến lược sinh kế cho hộ gia
đình đồng bào DTTS 75
3.2.3 Nhóm giải pháp nhằm xây dựng mô hình sinh kế bền vững cho hộ gia đình đồng bào DTTS 76
3.2.4 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao kết quả sinh kế cho hộ gia đình đồng bào DTTS 78
3.2.5 Nhóm giải pháp bổ trợ khác nhằm thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào người DTTS 80
3.3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 81
3.3.1 Đối với nhà nước 81
3.3.2 Đối với tỉnh Kon Tum 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83 PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 8DFID Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc
UNDP Chương trình phát triển Liên hiệp
quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Một số chỉ tiêu dân số huyện KonPlông 42
2.2 Tổng hợp nguồn vốn đầu tư xây dựng hạ tầng du lịch
2.3 Tình trạng nguồn lực tự nhiên của các hộ DTTS và hộ
2.4 Mức độ tạo điều kiện của các nguồn lực tự nhiên cho
hoạt động sinh kế hộ gia đình 47
2.5 Tình trạng trang bị phương tiện sản xuất của hộ các hộ
2.6 Cơ cấu huy động nguồn lực tài chính của các hộ 49 2.7 Đặc điểm nhân khẩu hộ DTTS và hộ người Kinh 51 2.8 Chất lượng nguồn nhân lực của các hộ gia đình DTTS 52
2.9 Thực trạng tham gia vào các tổ chức chính trị, xã hội
các thành viên hộ gia đình DTTS ở KonPlông 53 2.10 Cơ cấu thu nhập hộ gia đình DTTS ở KonPlông 54
2.11 Thu nhập của nhóm hộ DTTS và nhóm hộ người Kinh
3.1 Rào cản tiếp cận nguồn lực tự nhiên theo đánh giá của
các hộ DTTS, hộ người Kinh và chuyên gia 62
3.2 Rào cản tiếp cận nguồn lực tài chính theo đánh giá của
các hộ DTTS, hộ người Kinh và chuyên gia 64
3.3 Rào cản cải thiện nguồn nhân lực theo đánh giá của
các hộ DTTS, hộ người Kinh và chuyên gia 66
Trang 10Số hiệu
3.4 Rào cản cải thiện nguồn vốn vật chất theo đánh giá của
các hộ DTTS, hộ người Kinh và chuyên gia 67
3.5 Rào cản cải thiện nguồn vốn xã hội theo đánh giá của
các hộ DTTS, hộ người Kinh và chuyên gia 68
3.6 Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phi
nông nghiệp và giữa khu vực sản xuất và dịch vụ 72
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thực tế hiện nay sự chênh lệch về giàu nghèo ở nước ta vẫn còn khá cao, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa miền núi và đồng bằng và ngay cả trên cùng địa bàn sinh sống cũng có sự chênh lệch giàu nghèo Người dân tộc thiểu số chiếm 15% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 70% nhóm đối tượng cực nghèo (được đo lường theo chuẩn cực nghèo quốc gia) [18] Trong suốt hai thập kỷ tăng trưởng nhanh của Việt Nam, chính phủ đã tập trung nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực về an sinh xã hội, tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội khác để cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo Tuy vậy, do đặc thù của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, với những điều kiện, nguyên nhân khách quan lịch sử để lại và cả những nguyên nhân chủ quan nên trên thực tế mặc dù người dân tộc thiểu số ở nước ta đã có mức sống được cải thiện lên một cách toàn diện, song thành quả được hưởng của nhóm đối tượng này còn kém xa so với dân tộc chiếm đa số là người Kinh
Sinh kế bền vững đang là mối quan tâm hàng đầu của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số Đa phần đồng bào dân tộc thiểu số thiếu tư liệu sản xuất, ít có cơ hội tiếp cận các tiến bộ về khoa học về sản xuất nông, lâm; thu nhập của họ chỉ cố gắng đảm bảo nhu cầu cuộc sống tối thiểu
KonPlông là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Kon Tum; là một trong những huyện nghèo nhất Việt Nam, với các cộng đồng dân tộc thiểu số nghèo như Xê Đăng, Mơ Nâm, Ka Dong và H’Re Dân số đến năm
2016 có 26.685 khẩu trong đó hộ đồng bào DTTS là 5.614 hộ với 21.529 khẩu, chiếm trên 80 % tổng dân số; số hộ nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa
Trang 13chiều là 3.132 hộ, 11.533 khẩu, chiếm 47,87%, trong đó hộ nghèo DTTS một
tỷ lệ cao [16]
Để phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện KonPlông việc tìm hiểu thực trạng và đưa ra giải pháp giúp người dân khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực sẵn có, giúp họ thấy được nguyên nhân chính gây ra cái nghèo, tránh đầu tư sai lầm trong sản xuất kinh doanh, bảo quản nguồn vốn tốt là một việc cần thiết Bên cạnh đó cần xây dựng giúp họ chiến lược sinh kế lâu dài đồng thời hướng dẫn họ thực hiện các hoạt động Việc giám sát và đánh giá hiệu quả của các hoạt động sinh kế của người dân cũng là một vấn đề quan trọng trong quá trình giúp người dân phát triển sinh kế bền vững Mặc dù vậy, hiện nay việc phát triển sinh kế bền vững cho dân tộc thiểu số tại đây còn chưa được nhiều các nhà nghiên cứu thực sự quan tâm Xuất phát từ thực tiễn đó, việc phát triển sinh kế bền vững cho người đồng bào dân tộc thiểu số huyện KonPlông, Tỉnh Kon Tum là vấn đề nóng và cấp bách trong giai đoạn hiện nay
Chính vì vậy, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện KonPlông, tỉnh Kon
Tum.” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến sinh kế bền vững
- Đánh giá thực trạng phát triển sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện KonPlông, tỉnh Kon Tum trong những năm tới
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số huyện Kon Plông
b Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại huyện KonPlông và
khảo sát thực hiện tại 9/9 xã của huyện Kon Plông
- Về thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ 21/01/2017 đến 20/5/2017;
Thời gian thu thập số liệu thứ cấp trong 5 năm gần đây (2012 – 2016); thời gian thu thập số liệu sơ cấp là 3/2017 Tầm xa của các giải pháp đến năm
2020, tầm nhìn 2030
4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu định tính: Các nghiên cứu định tính được sử dụng nhằm
tìm hiểu thực trạng hoạt động sinh kế của các hộ gia đình dân tộc thiểu số tại huyện Kon Plông; Thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn như niên giám thống kê, các báo cáo khoa học, dự án, tham luận qua các hội thảo, hội nghị, báo chí, Internet từ các phòng, Ban ngành cấp huyện về tình hình sinh
kế của bà con các xã thuộc huyện Kon Plông
- Nghiên cứu định lượng: Đối với nhóm phương pháp định lượng,
nghiên cứu áp dụng các công cụ phân tích định lượng hoạt động sinh kế của các hộ được khảo sát
Tác giả lựa chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên, tuy nhiên vẫn đảm bảo số lượng phân bố của mẫu tại các xã nghiên cứu Việc khảo sát được tiến hành tại 9 xã của huyện KonPlông với 135 hộ DTTS và 45 hộ người Kinh
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài này có ý nghĩa khoa học đối với các nhà nghiên cứu trong lĩnh
vực quản lý kinh tế Kết quả nghiên cứu này có thể được coi như một tài liệu
Trang 15tham khảo và là cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về phân tích hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số
Bên cạnh đó, việc tìm hiểu thực trạng và đưa ra giải pháp giúp đồng bào dân tộc thiểu số huyện KonPlông khai thác một cách có hiệu quả các nguồn lực sẵn có, giúp họ thấy được nguyên nhân chính gây ra cái nghèo, tránh đầu tư sai lầm trong sản xuất kinh doanh, bảo quản nguồn vốn tốt là một việc cần thiết Bên cạnh đó, còn giúp họ đưa ra các chiến lược sinh kế lâu dài nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và phát triển kinh tế một cách có hiệu quả
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương: CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA ĐỒNG BÀO DTTS Ở HUYỆN KONPLÔNG
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KONPLÔNG
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Từ trước đến nay có nhiều công trình khoa học, các bài viết đi sâu vào phân tích hoạt động sinh kế của người dân nhằm phát triển sinh kế bền vững Một số nghiên cứu trước đây về vấn đề này:
- Michelle Adato and Ruth Meinzen-Dick (2002), Đánh giá tác động của nghiên cứu nông nghiệp về đói nghèo bằng cách sử dụng khung sinh kế bền vững, International Food Policy Research Institute Bài viết cung cấp cái
nhìn tổng quan về cách tiếp cận sinh kế bền vững, cách áp dụng cho nghiên cứu nông nghiệp, mô tả phương pháp và kết quả từ năm trường hợp nghiên cứu: (1) các giống lúa hiện đại ở Bangladesh; (2) ao nuôi ghép và vườn rau ở
Trang 16Bangladesh; (3) thực hành quản lý đất màu mỡ ở Kenya; (4) ngô lai ở Zimbabwe; và (5) giống ngô ở Mexico Áp dụng các phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững nêu bật sự tương tác giữa các công nghệ và bối cảnh dễ bị tổn thương của các hộ gia đình, tài sản của họ, sự can thiệp các tổ chức, và chiến lược sinh kế Tuy nhiên, các khía cạnh khác của văn hóa, năng lượng,
và nhu cầu lịch sử sẽ được tích hợp với khuôn khổ để hiểu vai trò của nghiên cứu nông nghiệp trong cuộc sống của người nghèo Bên cạnh đó, bài báo còn chú ý bổ sung tác động của giới tính, dân tộc, giai cấp, phân hóa xã hội ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế [2]
- Murray C Simpson (2007), Một cách tiếp cận tích hợp để đánh giá các tác động của phát triển du lịch cộng đồng và sinh kế bền vững, Community
Dev J, 2007 Bài báo chỉ ra một thách thức quan trọng trong du lịch bền vững
là cung cấp các lợi ích sinh kế cho cộng đồng địa phương đồng thời bảo vệ nền văn hóa và môi trường bản địa Bài viết này trình bày một phương pháp đánh giá tổng hợp có cấu trúc để đánh giá các tác động của các sáng kiến có nội dung mang lại lợi ích sinh kế cho cộng đồng sống gần hoặc trong các điểm đến du lịch Các cách tiếp cận đã được phát triển để cho phép sử dụng chung trong các bối cảnh địa lý khác nhau bao gồm cả cơ cấu sở hữu, mức độ làm việc, cơ sở hạ tầng, quản trị, và sinh kế bền vững Bài viết này xem xét hai trường hợp nghiên cứu thí điểm ở Maputaland, Nam Phi, để phản ánh tình hình thực hiện và lý thuyết nền tảng của cách thức này.[3]
- Đào Hữu Hòa (2016) Phát triển sinh kế bền vững cho các hộ nghèo là dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông NXB Thông tin và Truyền
thông Cuốn sách đã làm rõ cơ sở lý luận vể sinh kế và sinh kế bền vững đối với các hộ gia đình nghèo, chỉ ra những đặc điểm về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên, làm rõ những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo của đồng bào DTTS ở Đắk Nông chủ yếu là do hoạt động sinh kế kém
Trang 17hiệu quả Bằng việc sử dụng khung phân tích của DFID và điều chỉnh bổ sung cho phù hợp với cách tiếp cận IFAD như bổ sung vào khung phân tích các yếu tố: tinh thần, văn hóa, chính sách thể chế, thị trường… Cuốn sách đã chỉ
ra các đặc điểm hoạt động sinh kế của các hộ gia đình nghèo là người dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Nông; Đánh giá thực trạng các nguồn lực sinh
kế và khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế của các hộ nghèo là người dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Nông; Từ đó,chỉ ra các yếu tố trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến khả năng hoạt động sinh kế của các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số; Đề xuất một số mô hình sinh kế phù hợp với điều kiện cụ thể của các nhóm đối tượng là hộ gia đình nghèo tại khu vực khác nhau; Đề xuất các giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nghèo là người dân tộc thiểu số tại Đắk Nông.[5]
- Trần Văn Ba (2013), Đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1 - 5 , Xã Cẩm Sơn, Huyện Anh Sơn, Tỉnh Nghệ An Tạp chí Dân tộc
bài báo chỉ ra thực trạng các hoạt động sinh kế và kết quả sinh kế qua quá trình tìm hiểu, phân tích các yếu tố tác động đến lựa chọn các hoạt động sinh
kế của người dân thôn 1 - 5, có thể nhận thấy rằng đời sống của người dân đang ngày càng được nâng cao Mặc dù các hoạt động sinh kế của họ chỉ dựa vào sức lao động bằng tay, chân và một số nguồn vốn sẵn có tại địa phương Thu nhập của người dân nằm ở mức khá so với thu nhập bình quân trên đầu người của cả nước Việc lựa chọn các hoạt động sinh kế của người dân chịu
sự ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan: Con người, năng lực tài chính của họ,
và các yếu tố khách quan như: điều kiện tự nhiên, xã hội, cơ sở vật chất, hạ tầng [6]
- Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016) Tiếp cận lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID trong nghiên cứu sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên; Tạp chí khoa học - Đại học Đồng Nai, số 02 - 2016 Nghiên cứu dựa
Trang 18vào khung sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) đưa ra được các học giả và các cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi và được coi là một cách tiếp cận toàn diện về các vấn đề phát triển về sinh kế của con người
và đói nghèo trong các bối cảnh khác nhau Tiếp cận lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID trong các nghiên cứu sinh kế của người Mạ ở vườn quốc gia Cát Tiên là xem xét các loại tài sản của người Mạ dùng để đảm bảo sinh kế của mình bao gồm: vốn con người, vốn vật chất, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn xã hội Qua đó đặt vấn đề nghiên cứu sinh kế của người Mạ trong bối cảnh và các thể chế, chính sách có ảnh hưởng đến sự tiếp cận và sử dụng các tài sản sinh kế mà cuối cùng ảnh hưởng đến kết quả sinh kế.[9]
- Trần Văn Thuận (2015), Thực trạng và giải pháp phát triển sinh kế bền
vững cho đồng bào dân tộc thiểu số tại huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, Luận
văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế Tác giả sử dụng thang đo BS là công cụ để đo lường và truyền thông phúc lợi tổng thể của xã hội và sự tiến bộ theo hướng bền vững do IUCN đề xuất (1996) Vận dụng thang đo BS trong nghiên cứu này nhằm đánh giá tính bền vững trong phát triển sinh kế của đồng bào DTTS huyện Ba Tơ Kết quả cho thấy các giá trị nguồn lực sinh kế của huyện Ba Tơ không đồng đều, chỉ có nguồn lực vật chất và nguồn lực tự nhiên được đánh giá là tốt Bên cạnh đó, nguồn lực vật chất được đánh giá là có giá trị cao nhất đây là một lợi thế của đồng bào DTTS, đồng bào cần khai thác và sử dụng nguồn lực này một cách hiệu quả hơn nữa Nguồn lực tài chính là nguồn lực
có giá trị nhỏ nhất, tình hình tài chính của đồng bào DTTS trên địa bàn huyện chưa được sử dụng một cách hợp lý gây ra nhiều khó khăn trong việc phát triển sinh kế bền vững.[7]
- Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2015), Đánh giá các hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã Bình Long, La Hiên, Sảng Mộc, của huyện
Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sỹ Phát triển nông thôn Qua đánh
Trang 19giá nguồn lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã điều tra thì các nguồn lực này ở mức độ rất hạn chế Trong 5 nguồn lực thì nguồn lực tự nhiên là nguồn lực dồi dào nhất, người dân nơi đây phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lực này đặc biệt là nguồn đất, nguồn nước….Nhìn chung sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số tại 3 xã điều tra đều phụ thuộc vào nguồn lực tự nhiên, phương thức canh tác còn lạc hậu chưa đem lại hiệu quả kinh tế cao Cần tác động các chính sách để cải thiện đời sống cho người dân nơi đây đặc biệt ở xã Sảng Mộc, một xã vùng cao có nhiều dân tộc Mông sinh sống họ vẫn theo truyền thống canh tác cũ nên hiệu quả sản xuất thấp.[8]
Tóm lại, qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu đã được công bố trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy vấn đề phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào nghèo nói chung và đồng bào DTTS nói riêng hiện nay đang được xem là một kênh ưu tiến trong chính sách xóa đói giảm nghèo trên thế giới cũng như tại Việt Nam Các tổ chức tài trợ, các sáng kiến giảm nghèo trên thế giới trong những năm gần đây thường hướng việc hỗ trợ vào vấn đề này Các công trình nghiên cứu cũng đã giúp hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến sinh kế, sinh kế bền vững cho người nghèo, làm rõ những đặc điểm đặc thù trong sinh kế của đồng bào DTTS tại một số địa phương, đưa ra nhiều đề xuất có giá trị giúp xây dựng mô hình và ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào DTTS Tuy nhiên, cho đến hiện tại vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về sinh kế cho đồng bào DTTS ở KonPlông, vì vậy tác giả đã chọn vấn đề này để làm để tài cho luận văn cao học của mình
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG
1.1 SINH KẾ VÀ PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG
1.1.1 Khái niệm sinh kế và phát triển sinh kế bền vững
a Khái niệm sinh kế
Sinh kế được hiểu là “tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” (Theo định nghĩa của DFID) Các nguồn lực mà con người có được bao
gồm: (1) Vốn con người; (2) Vốn xã hội; (3) Vốn tự nhiên; (4) Vốn tài chính; (5) Vốn vật chất
- Vốn con người: Bao gồm sức mạnh thể lực, năng lực trí tuệ biểu hiện ở
kỹ năng, kiến thức làm kinh tế, khả năng quản lý gia đình của người dân Có thể người dân cố gắng làm việc siêng năng nhưng do sức khỏe không đảm bảo, năng lực hạn chế nên không có khả năng tạo ra thu nhập để đảm bảo cuộc sống do năng suất lao động thấp Đối với đồng bào DTTS, do đời sống khó khăn, cô lập với bên ngoài nên trình độ học vấn thường rất hạn chế
- Vốn xã hội: Thể hiện thông qua các mối quan hệ xã hội có ý nghĩa
trong việc đảm bảo phần nào những điều kiện cần thiết cho cuộc sống của hộ gia đình Tình làng, nghĩa xóm được thể hiện thông qua việc thúc đẩy sự hợp tác trong sản xuất Việc phát huy hiệu quả vai trò của các tổ chức xã hội truyền thống cũng như các tổ chức đoàn thể xã hội hiện đại ngày nay là điều kiện quan trọng để gia tăng nguồn vốn xã hội, phục vụ cho sinh kế của người dân
- Vốn tự nhiên: Khả năng cung ứng quỹ đất sản xuất, sông biển ao hồ có
thể sử dụng để sản xuất của hộ gia đình cũng như cộng đồng cùng với điều
Trang 21kiện thuận lợi hay khó khăn của việc khai thác các nguồn lực ấy là nguồn vốn
tự nhiên
- Vốn tài chính: Vốn tài chính được thể hiện bằng khả năng tạo ra dòng
tiền cho hộ gia đình Nguồn tiền đó thường có được do tiết kiệm, đi làm thuê, bán sản phẩm hoặc từ các hỗ trợ của chính phủ, của các tổ chức xã hội khác Ngoài ra, việc tiếp cận được các nguồn vốn vay của các hộ nghèo là điều kiện rất quan trọng để đảm bảo nguồn vốn tài chính cho họ
- Vốn vật chất: Thể hiện ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống,
sinh hoạt cũng như làm ăn của người dân như hệ thống đường sá, điện nước, chợ búa, trường học, thông tin liên lạc cùng các tài sản sinh hoạt như tivi, xe máy và các vật dụng cần thiết khác trong gia đình như giường, tủ, bàn được xem là nguồn vốn vật chất Tuy nhiên, đối với các hộ DTTS, những vật dụng này vẫn đang là đồ xa xỉ
b Phát triển sinh kế bền vững
Ý tưởng sinh kế bền vững lần đầu tiên được giới thiệu bởi Ủy ban Brundtland về Môi trường và Phát triển, và năm 1992 Hội nghị của Liên Hiệp quốc về Môi trường và Phát triển mở rộng khái niệm thúc đẩy việc đạt được sinh kế bền vững như là một mục tiêu rộng hơn của xóa đói nghèo Trên
cơ sở ý tưởng đó, Chambers và Gordon (1992) đã đưa ra khái niệm về sinh kế bền vững ở cấp hộ gia đình đó là: “Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc, duy trì và tăng cường khả năng và tài sản; đồng thời cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ sau góp phần tạo ra lợi ích cho cộng đồng, địa phương và toàn cầu và trong ngắn hạn và dài hạn Sinh
kế bền vững cung cấp một phương pháp tiếp cận tích hợp chặt chẽ hơn với vấn đề nghèo đói”.[8]
Theo các tác giả trên, sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực và
kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ Ba khía cạnh tài
Trang 22sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai
Nội hàm của sinh kế bền vững, đồng thời cũng là tiêu chí quan trọng nhất cần hướng đến của sinh kế bền vững là giải quyết các yêu cầu sau đây:
- Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng tạo ra thu nhập, của cải đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày càng tốt hơn cho con người trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn
- Sinh kế của cá nhân, hộ gia đình hay cộng đồng phải có khả năng giúp con người vượt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra
- Sinh kế của cá nhân, gia đình hoặc cộng đồng phải có khả năng phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến nguồn tài nguyên thiên nhiên trong tương lai
Hình 1.1 Khung sinh kế bền vững (DFID- 2002)
Trang 231.1.2 Những đặc điểm sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số
a Khái niệm dân tộc thiểu số
Dân tộc thiểu số là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay Ở nước ta hiện nay, khái niệm DTTS được sử dụng chính thức trong các tài liệu chính thức của Nhà nước đó là: “Những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [6] Đây là khái niệm chính thức được sử dụng trong nghiên cứu này
b Đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế
Tây Nguyên hiện nay thực sự là vùng đất đa dân tộc, đa văn hóa, nơi cư trú của 47 dân tộc anh em, với rất nhiều đặc trưng, sắc thái của nhiều tộc người, nhiều địa phương trong cả nước hội tụ; đồng thời cũng là nơi có tốc độ tăng dân số và biến động về cơ cấu dân cư nhanh nhất cả nước Mặc dù vậy,
do có dân số ít, phân bố khu vực cư trú của các cộng đồng DTTS Tây Nguyên khá biệt lập với cộng đồng người Kinh, trình độ sản xuất và trình độ văn hóa của các DTTS có nhiều nét đặc thù, điều này đã làm cho hoạt động sinh kế của đồng bào DTTS có một số đặc điểm sau:
- Đặc điểm sống của đồng bào DTTS là cố kết cộng đồng, gắn với những luật tục theo kiểu bộ tộc, khép kín chính vì vậy hoạt động sinh kế của họ lệ thuộc vào tự nhiên, chưa quen với sản xuất kinh tế hàng hóa Các hoạt động sinh kế chính của đồng bào ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp truyền thống tự cấp tụ túc gắn với tự nhiên với trình độ sản xuất rất thấp Việc sản xuất chỉ để đáp ứng cho nhu cầu cuộc sống đơn giản hàng ngày của gia đình, không có ý thức sản xuất để bán do đó trình độ tiếp cận với kinh tế thị trường vẫn còn rất thấp
Trang 24- Hoạt động sinh kế truyền thống của đồng bào DTTS thường gắn chặt với thiết chế buôn, làng đó, hầu như ít có hoạt động sinh kế truyền thống vượt
ra khỏi khuôn khổ này; bên cạnh đó, cách tổ chức sản xuất lệ thuộc nhiều vào thiết chế tự quản: buôn làng của đồng bào DTTS Tây Nguyên thường là những đơn vị cơ sở xã hội duy nhất và cao nhất, gắn liền vơi nơi cư trú và nơi canh tác
- Hoạt động sinh kế phụ thuộc nhiều vào các luật tục: Đây là một dạng thức văn hóa pháp luật có tính lịch sử nhất định nhưng cho đến nay vẫn còn giá trị, nó thấm đẫm trong mọi hành xử của cả cộng đồng của đồng bào DTTS Tây Nguyên
- Mặc dù đã có rất nhiều nỗ lực của Chính phủ trong việc định canh, định
cư cho đồng bào DTTS tuy nhiên tập quán du canh du cư vẫn là một vấn đề diễn ra phức tạp Việc du canh dẫn đến mỗi hộ gia đình chiếm hữu một số lượng lớn đất đai, nhưng do thiếu đầu tư thâm canh nên năng suất canh tác thấp, không tạo ra đủ thu nhập để đảm bảo cuộc sống
- Vai trò của người già và phụ nữ trong các quyết định sinh kế: Các DTTS Tây Nguyên có đặc điểm là coi trọng kinh nghiệm nên vai trò người già rất được tôn trọng Hầu hết mọi quyết định quan trọng trong cuộc sống và sinh kế đều phải tham khảo ý kiến của người già Điều này rất quan trọng trong hoạt động sinh kế truyền thống của xã hội cộng đồng nguyên thủy, tự túc tự cấp gắn với tự nhiên vì nó giúp loại bỏ các rủi ro thường có tính quy luật đã được cộng đồng rút tỉa thông qua quá trình sống Mặt khác, các cộng đồng dân tộc thiểu số hiện nay vẫn còn theo chế độ mẫu hệ, do đó vai trò quyết định của người phụ nữ trong các hoạt động sinh kế là rất lớn Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập hiện nay, các giá trị truyền thống trên đang có chiều hướng suy giảm vì không còn thích hợp…
Trang 25- Hiện nay đang xuất hiện tư tưởng ỷ lại vì các cộng đồng DTTS nằm trong nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương của xã hội, đây là đối tượng để Nhà nước, cộng đồng quan tâm đầu tiên trong công tác an sinh xã hội Tuy nhiên do trình độ văn hóa thấp, khả năng thực hiện các giải pháp sinh kế kém hiệu quả nên chính quyền thường sử dụng các biện pháp khẩn cấp để hỗ trợ Điều này làm cho người dân có thói quen chờ nhận hỗ trợ, có tư tưởng ỷ lại, giảm động lực phấn đầu tự vươn lên…
1.1.3 Khái niệm và yêu cầu của phát triển sinh kế bền vững đối với
hộ gia đình DTTS
a Khái niệm phát triển sinh kế bền vững
Phát triển sinh kế bền vững được định nghĩa là “quá trình tác động có chủ ý của các chủ thể liên quan nhằm tạo ra những thay đổi trong hoạt động sinh kế vốn có của các gia đình DTTS theo hướng tích cực, bền vững nhằm không ngừng”
b Yêu cầu của phát triển sinh kế bền vững đối với hộ gia đình DTTS
Việc phát triển sinh kế bền vững cho hộ gia đình DTTS cần phải đạt được một số yêu cầu nhất định:
- Phát triển sinh kế bền vững phải thích ứng với điều kiện trình độ của người dân và tạo ra được mức sống ổn định cho hộ gia đình
Mặc dù có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng yếu kém về nguồn lực sinh kế, trong đó có nhiều lý do nội tại của chính hộ gia đình đó là do thiếu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, thiếu kiến thức, thiếu sự hỗ trợ của cộng đồng Tuy nhiên, không phải bất kỳ một mô hình sinh kế nào cũng phù hợp với người dân, các mô hình sinh kế bền vững cần phải thích ứng với trình
độ nhận thức, trình độ học vấn ở mỗi địa phương nơi mà họ sinh sống Thực
tế cho thấy rằng trình độ học vấn của đồng bào DTTS chưa thực sự cao, khả năng tiếp thu lại thấp, chính vì vậy không phải cứ áp dụng mô hình nào cũng
Trang 26mang lại hiệu quả tích cực, cần có những nghiên cứu cụ thể, chi tiết trước khi đem vào thử nghiệm các mô hình này tới cộng đồng dân cư địa phương
Ngoài các yếu tố trên, việc phát triển sinh kế bền vững đối với hộ gia đình DTTS phải có khả năng tạo ra được nguồn thu nhập đều đặn có khả năng duy trì được cuộc sống cho các thành viên của gia đình Vì vậy, khi đánh giá một mô hình sinh kế phù hợp hay không trước hết ta phải xem xét khả năng này của mô hình [5]
- Phát triển sinh kế bền vững phải gắn kết được lịch sử, truyền thống kinh tế, văn hoá kết nối được với hoạt động kinh tế của cộng đồng
Xác định tính bền vững của sinh kế của đồng bào DTTS phải được đánh giá thông qua việc sinh kế đó có giúp gắn kết được lịch sử truyền thống kinh
tế, văn hóa, phong tục tập quán của người dân và cộng đồng dân tộc bản địa hay không Đây là một nhân tố để duy trì tính ổn định của xã hội, tiền đề cho việc ổn định về kinh tế Việc quan tâm tới các giá trị lịch sử, truyền thống không có nghĩa là bảo thủ, chỉ giữ lấy những truyền thống cũ vốn đã lạc hậu, nhiều khi lại là nguyên nhân dẫn đến nghèo đói Nhưng nếu chỉ quan tâm đến
sự cách tân, sự đổi mới mà tiến hành thay đổi toàn diện các truyền thống văn hóa, lịch sử cũng sẽ dẫn đến người dân nghèo, vốn dĩ khả năng thích ứng kém
có thể bị sốc, làm tổn hại bến tính bền vững của sinh kế
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường dưới tác động của toàn cầu hóa hiện nay thì việc phát triển và ổn định sinh kế cho người dân cần phải được đánh giá qua khả năng kết nối thành công của nó với hoạt động kinh tế của cộng đồng Việc tạo ra các liên kết giữa các cộng động người dân sẽ tạo ra các hiệu ứng tích cực, điều này giúp cho người dân nhận được sự quan tâm từ cộng đồng, giảm được rủi ro bất trắc đồng thời rèn luyện, học tập được từ kinh nghiệm của người khác Sự khác biệt hóa là tốt, tuy nhiên nó có vẻ không phải là lựa chọn tốt cho mục tiêu sinh kế bền vững
Trang 27- Phát triển sinh kế bền vững phải cho phép phát huy được các nguồn lực tại chỗ và chống chọi được với các “cú sốc” bất lợi từ môi trường
Sinh kế bền vững gắn liền với cuộc mưu sinh của người dân qua nhiều thế hệ, nó chỉ có thể được duy trì sự ổn định lâu dài nếu nó cho phép khai thác
và phát huy được các nguồn lực tại chỗ (lao động, đất đai, nguồn tài nguyên thiên nhiên ) để tạo ra nguồn thu nhập cho người dân Nếu việc xây dựng sinh kế chỉ hoàn toàn dựa vào các nguồn lực ngoại tác thì việc ổn định đời sống lâu dài cho người dân chắc chắn rất khó Sinh kế bền vững phải cho phép phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên.[5]
Trong điều kiện nền kinh tế luôn chịu sự tác động của rất nhiều biến số ảnh hưởng bên ngoài khó kiểm soát dẫn đến xuất hiện các cú sốc bất lợi từ môi trường như thiên tai, dịch bệnh, biến động của thị trường làm cho hoạt động sinh kế của gia đình bị ảnh hưởng tiêu cực Một mô hình sinh kế tốt phải
là một mô hình sinh kế có khả năng chống chịu trước các cú sốc đó Tức là vẫn có khả năng tạo ra được thu nhập hoặc huy động từ các nguồn bù đắp khác để duy trì cuộc sống của gia đình trong những khoảng thời gian nhất định
- Phát triển sinh kế bền vững phải gắn kết được với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng chung của đất nước
Kinh tế của hộ gia đình muốn bền vững thường phải có khả năng thích ứng với sự thay đổi của nền kinh tế nói chung Sự thích ứng này có thể thuận chiều hay nghịch chiều Tuy nhiên, nều một người dân không có được khả năng thích ứng này, tức là không gắn kết được với xu hướng phát triển kinh tế
xã hội, quốc phòng an ninh của địa phương và đất nước thì chắc chắn nó sẽ gặp rất nhiều rủi ro vì không được hưởng lợi từ các chính sách của Nhà nước, một điều kiện rất cần thiết để ổn định sinh kế cho người DTTS Ngược lại,
Trang 28sinh kế cho hộ DTTS mà không gắn với yêu cầu chung của phát triển kinh tế,
xã hội, an ninh quốc phòng của địa phương thì nhà nước cũng rất khó để hỗ trợ vì không thể xây dựng chính sách riêng cho một vài cá nhân [5]
1.1.4 Các cách tiếp cận phát triển sinh kế bền vững
a Sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của CARE
Từ năm 1994, CARE đã sử dụng hệ thống “Bảo đảm sinh kế hộ gia đình” (Household Livelihood Security) như một khuôn khổ để phân tích, thiết kế, quản lý và đánh giá chương trình
Khái niệm “Bảo đảm sinh kế hộ gia đình” kế thừa khái niệm cổ điển về sinh kế của Chambers và Conway (1992), bao gồm 03 đặc trưng cơ bản: (1) khả năng của con người (như giáo dục, kỹ năng, sức khỏe, định hướng tâm lý), (2) khả năng tiếp cận đến các tài sản hữu hình và vô hình, và (3) sự tồn tại của các hoạt động kinh tế Sự tác động qua lại giữa 03 đặc trưng này sẽ xác định chiến lược sinh kế mà hộ gia đình sẽ theo đuổi
CARE cũng đã đặc biệt nhấn mạnh đến việc tăng cường năng lực của người nghèo nhằm thúc đẩy họ có thể thực hiện các sáng kiến và đảm bảo sinh
kế của riêng mình; và do đó nhấn mạnh đến việc trao quyền như là một khía cạnh cơ bản trong cách tiếp cận sinh kế bền vững của CARE.[5]
b Sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của UNDP
Tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP là một khung chương trình nhằm đưa ra tập hợp các hoạt động được lồng ghép với nhau để cải thiện sự bền vững của sinh kế cho nhóm người nghèo và dễ bị tổn thương trong xã hội thông qua việc tăng cường khả năng ứng phó, phục hồi và chiến lược thích ứng của họ
Trang 29Hình 1.2 Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP
guồn Chương trình hát triển của iên hiệp quốc U D
Mặc dù nguyên tắc này nhấn mạnh đến việc ứng dụng các công nghệ cải tiến cũng như tăng cường đầu tư cho kinh tế và xã hội Các vấn đề về chính sách và quản lý có ảnh hưởng đến sinh kế cũng phải được giải quyết Các hoạt động hỗ trợ khác nhau được tổ chức và thực hiện ở cấp quận, huyện, hệ thống các cơ sở ở cấp cộng đồng và hộ gia đình [5]
c Sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của DFID
Trong khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh
(Department for International Development – DFID) được các học giả và các
cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi trong phân tích về sinh kế Trong khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế bao gồm: (1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) Các chiến lược mà họ lựa chọn để theo đuổi ưu tiên; (3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả
mà họ thu được; (4) Cách tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử
Các khả năng sinh kế
Các khả năng
sinh kế
Các khả năng sinh kế Sinh kế
CON NGƯỜI
CÁC TÀI SẢN HỮU HÌNH CÁC TÀI SẢN VÔ HÌNH
Trang 30dụng hiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ.[1]
Trên cơ sở phân tích, đánh giá ưu, nhược điểm của các cách tiếp cận về sinh kế khác nhau, trong nghiên cứu này tác giả lựa chọn khung phân tích của DFID với 04 nội dung chính đó là: (1) Nguồn lực sinh kế và khả năng cải thiện nguồn lực sinh kế; (2) Chiến lược sinh kế; (3) Mô hình sinh kế và (4) kết quả sinh kế có điều chỉnh một số nội dung theo IFAD như bổ sung vào khung phân tích các yếu tố: tinh thần, văn hóa, chính sách thể chế, thị trường… cho phù hợp với đặc điểm nghiên cứu của đề tài Để khắc phục hạn chế của khung logic trong cách tiếp cận của DFID, khi xây dựng khung phân tích và triển khai các mô hình sinh kế trong nghiên cứu, tác giả đã tiến hành khảo sát ý kiến của người dân và cũng đã xây dựng quy trình thực hiện dựa vào cộng đồng
1.1.5 Vai trò của phát triển sinh kế bền vững đối với đồng bào DTTS
Phát triển sinh kế bền vững đóng một vai trò quan trọng trong mục tiêu giảm đói nghèo và phát triển bền vững đối với đồng bào DTTS Bao gồm các vai trò sau:
Phát triển sinh kế bền vững đóng một vai trò quan trọng trong mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển bền vững Bao gồm các vai trò sau:
- Cải thiện mức sống và giảm nghèo, tăng cường an ninh lương thực
Thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm nghèo nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi nó hoàn toàn phụ thuộc và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội để phát triển kinh tế Vì vậy, điều quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách thức hộ DTTS cải thiện sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các họat động hỗ trợ cho dự án Giảm tình trạng dễ bị tổn thương cho người DTTS bằng cách nêu rõ các rủi ro cho họ có thể gia tăng xu hướng để rơi vào
Trang 31các hoạt động rủi ro chưa được kiểm chứng trước đó nhưng mà có hiệu quả kinh tế hơn, và cứ tiếp tục như thế Ngày nay chúng ta nhận ra rằng chính người DTTS thường hiểu về họ và nhu cầu của họ tốt nhất và vì vậy phải lôi kéo họ tham gia trong việc thiết kế các chính sách và dự án để cải thiện số phận của họ Khi thiết kế, chúng thường được cam kết nhiều hơn để thực hiện Vì vậy, sự tham gia của người DTTS sẽ cải thiện kết quả của các dự án
- Giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương
Tình trạng dễ bị tổn thương được tạo ra do các biến động về các yếu tố tự nhiên kinh tế xã hội, môi trường chính trị, hoặc các xu hướng biến đổi của dân
số, tài nguyên, quốc tế và trong nước, khoa học kỹ thuật hoặc các yếu tố biến đổi mang tính mùa vụ như: sản xuất, giá cả, sức khỏe, cơ hội việc làm Thiệt hại do những rủi ro gây nên đối với các hộ gia đình sẽ ảnh hưởng đến sinh kế của người dân như mất tư liệu sản xuất, giảm thu nhập, chi phí phát sinh… một
số hộ gia đình khó khăn sẽ phải đi vay, đi làm thuê hay bán các tài sản mình có
để khắc phục dẫn đến nghèo đói và bần cùng hoá Vượt qua rủi ro là một vấn
đề nan giải của hộ DTTS, đây là những người dễ bị tổn thương do các tác động
từ các rủi ro bất ngờ
- Bền vững về xã hội
Những hỗ trợ về mặt kinh tế mang lại các tác động gián tiếp cho xã hội Nếu tác động vào một mặt có thể mang lại kết quả tích cực vào mặt khác Việc nâng cao giáo dục và đời sống sẽ có tác động giảm các tệ nạn xã hội Đồng thời tạo ra các dịch vụ tốt về an sinh xã hội như giáo dục, y tế
- Bền vững về sử dụng tài nguyên thiên nhiên
Chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích (đồng quản lý) trong việc bảo
vệ và sử dụng một cách hợp lý tài nguyên thiên nhiên và môi trường ở địa phương là một trong những phương thức đang được nghiên cứu ứng dụng Sinh
kế của người dân là bền vững khi họ có thể duy trì và nâng cao được nguồn
Trang 32lực, có thể đối phó và vượt qua các cơn sốc nội tại cũng như từ ngoài, mà không làm tổn thương hoặc phung phí tài nguyên thiên nhiên mà con người phụ thuộc Trong bối cảnh này, “sự bền vững” không phải là một trạng thái cân bằng bất động, mà ở trong một điều kiện có sự chấp nhận rủi ro và có khả năng phục hồi “Tiếp cận sinh kế bền vững” là ứng dụng sự hiểu biết rộng hơn về sinh kế để hướng các nghiên cứu liên quan đến nghèo đói sống hoàn toàn phụ thuộc vào các tài nguyên và môi trường cũng như các hoạt động đi kèm với nó; cải thiện quá trình kế hoạch và thực thi chương trình đồng quản lý bằng cách cung cấp một cách đầy đủ hơn các mặt mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức gắn liền với phát triển tài nguyên và môi trường; thẩm định lại các chiến lược quản lý và phát triển tài nguyên thiên nhiên và môi trường và đưa ra các tư vấn cho những chính sách tương lai bằng cách đưa ra một cách nhìn thực tế các sinh kế cho người dân nông thôn
- Trao quyền và tăng cường thể chế
Ở Việt Nam, trao quyền được thực hiện thông qua Nghị định 79/2003/NĐ-CP Ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã (cấp cơ sở) Nghị định này quy định về quyền hạn, trách nhiệm của trưởng thôn, đồng thời quy định về định kỳ và nội dung của các cuộc họp thôn Qua đó, họp thôn được tổ chức định kỳ 6 tháng một lần và thảo luận các vấn đề “Thảo luận và quyết định các công việc của nội bộ cộng đồng dân cư về sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, những vấn đề về văn hóa, xã hội, vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự an toàn xã hội phù hợp pháp luật”
- Tiếp cận thông tin
Thông tin là một lọai tài sản vô hình Đa dạng về các nguồn thông tin sẽ tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người dân cải thiện sinh kế Người dân địa phương được tiếp cận các thông tin sản xuất từ các nguồn như tivi, sách báo, và các bộ
Trang 33địa phương Nguồn cung cấp thông tin cho thấy vai trò của các tổ chức trong vốn xã hội Các thông tin được truyền tải từ ngoài cộng đồng vào cộng đồng, từ các cá nhân trong công đồng với nhau, sẽ giúp tăng nguồn lực xã hội của người dân Các kênh thông tin chính hiện nay được chia làm 2 kênh là chính thống và không chính thống Tăng cường thể chế, năng lực của chính quyền địa phương Các tổ chức chính quyền địa phương thuộc địa bàn nghiên cứu này là chính quyền huyện, xã, thôn, các hiệp hội như hội nông dân, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên
- Tăng cường sự tham gia và quyền phụ nữ
Nghiên cứu của WB (2002) về trao quyền khẳng định rằng “trao quyền cũng có nghĩa là gia tăng sự tham gia, gia tăng phương pháp tiếp cận từ dưới lên để đạt được các mục tiêu phát triển Hiện nay đã có sự thống nhất về phương pháp tiếp cận, trao cho người DTTS nhiều quyền tự do hơn trong các quyết định kinh tế, gia tăng hiệu quả của phát triển từ cấp địa phương từ thiết
kế, thực hiện đến kết quả Tăng cường sự tham gia của người dân hay nâng cao dân chủ cơ sở, tạo ra cơ hội cho mọi người dân có quyền tham gia và quyết định trong tất các các họat động của dự án Sự tham gia của người dân ngày càng được cộng đồng và chính quyền địa phương đánh giá cao trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển cộng đồng, xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển xã, thôn gắn với nhu cầu, đề xuất của người dân, khả năng vay vốn dựa trên đánh giá của người dân trong thôn, bản; sự tham gia nhiệt tình của người dân vào các tổ chức, các chương trình xã hội tạo ra động lực nâng cao năng lực Trao quyền cho phụ nữ đi đôi với sự minh bạch của chính quyền và quản lý nhà nước tốt hơn Đặc biệt là phụ nữ tham gia ngày càng sâu vào công việc công cộng thì mức độ tham nhũng càng ít, kể cả đối với những nước có cùng thu nhập, tự do xã hội, giáo dục và thể chế (Ngân hàng Thế giới, 2002) Phụ nữ bị hạn chế hơn nam giới trong việc tiếp cận nguồn lực con người (nâng
Trang 34cao trình độ học vấn) và nguồn lực tài chính (do thiếu hiểu biết, tỷ lệ phụ nữ được vay vốn hạn chế hơn), nguồn lực tự nhiên (phụ nữ ít được đứng tên chủ
hộ, chủ đất, chủ rừng…) Đa số các quyết định liên quan đến các hoạt động kinh tế đều do nam giới làm chủ Trong khi đó phụ nữ phải làm những công việc vất vả hơn trong gia đình như: làm nương rẫy, chăm sóc con cái, chuẩn bị bữa ăn hàng ngày cho gia đình Điều này cho thấy sự bất bình đẳng về quyền của phụ nữa là một rào cản để hộ tiếp cận với các nguồn lực từ bên ngoài Tuy nhiên, tiếng nói của đồng bào DTTS vẫn chưa được đặc biệt quan tâm [5]
1.2 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN SINH KẾ BỀN VỮNG
1.2.1 Xác định các hoàn cảnh dễ bị tổn thương của hộ gia đình
Hình 1.3 Khung sinh kế bền vững theo cách tiếp cận của DFID
Trong khung phân tích sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh
(Department for International Development – DFID) được các học giả và các
cơ quan phát triển ứng dụng rộng rãi trong phân tích về sinh kế Trong khung phân tích này đề cập đến các yếu tố và thành tố hợp thành sinh kế bao gồm: (1) Các ưu tiên mà con người có thể nhận biết được; (2) Các chiến lược mà họ
h n lực
Tài nguyên
Tài ch nh Vật chất
hội
Chính sách và thể chế
- Giảm tình trạng
dễ bị tổn thương
- Cải thiện an ninh lương thực-thực phẩm
- Sử dụng tài nguyên bền vững
Chiến lược sinh kế
Trang 35lựa chọn để theo đuổi ưu tiên; (3) Các thể chế, chính sách và tổ chức quyết định đến sự tiếp cận của họ đối với các loại tài sản hay cơ hội và các kết quả
mà họ thu được; (4) Cách tiếp cận của họ đối với năm loại vốn và khả năng sử dụng hiệu quả các loại vốn mình có; (5) Bối cảnh sống của con người, bao gồm các xu hướng kinh tế, công nghệ, dân số, các cú sốc và mùa vụ.[6]
Tình huống dễ bị tổn thương đề cập tới phạm vi người dân bị ảnh hưởng
và bị lâm vào các loại sốc, xu hướng gồm tất cả các xu hướng kinh tế - xã hội, môi trường và sự dao động
Một đặc điểm quan trọng trong khả năng tổn thương là con người không thể dễ dàng kiểm soát những yếu tố trước mắt hoặc dài lâu Khả năng tổn thương hay sự bấp bênh trong sinh kế tạo ra từ những yếu tố này là một thực
tế thực tế cho rất nhiều hộ dân Điều này chủ yếu là do không có khả năng tiếp cận với những nguồn lực có thể giúp họ bảo vệ mình khỏi những tác động xấu Hoàn cảnh dễ bị tổn thương là môi trường sống bên ngoài của con người Sinh kế và tài sản sẵn có của con người bị ảnh hưởng cơ bản bởi những xu hướng chủ yếu, cũng như bởi những cú sốc và tính thời vụ Chính những điều này khiến sinh kế và tài sản trở nên bị giới hạn và không kiểm soát được
- Các xu hướng: Xu hướng dân số, xu hướng tài nguyên kể cả xung đột,
xu hướng kinh tế quốc gia, quốc tế, những xu hướng cai trị (bao gồm chính sách, những xu hướng kỹ thuật)
- Cú sốc: Cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh
cây trồng vật nuôi
- Tính thời vụ: Biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm
việc Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi
Trang 361.2.2 Cải thiện nguồn vốn sinh kế
Cải thiện nguồn vốn sinh kế được hiểu như là việc cải thiện các điều kiện khách quan và chủ quan tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng
Khung sinh kế xác định 5 loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra những sinh kế: Nguồn vốn con người (Human capital); Nguồn vốn xã hội (Social capital); Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital); Nguồn vốn vật chất/vốn vật thể (Physical capital); Nguồn vốn tài chính (Financial capital) Cải thiện các nguồn vốn sinh kế bao gồm cải thiện các nội dung cụ thể sau đây:
(1) Cải thiện vốn con người
Vốn con người liên quan đến khối lượng và chất lượng của lực lượng lao động hiện có trong gia đình đó Khả năng về lao động rất đa dạng, tùy thuộc vào quy mô hộ, cấu trúc nhân khẩu và số lượng người không thuộc diện lao động, giới tính và các thành viên, giáo dục, kỹ năng và tình trạng sức khỏa của các thành viên trong gia đình, tiềm năng lãnh đạo Vì vậy, vốn con người
là một yếu tố trọng yếu, quyết định khả năng của một cá nhân, một gia đình
sử dụng và quản lý các nguồn vốn khác
Cải thiện nguồn vốn con người được thể hiện qua thay đổi các chỉ số:
- Số lượng và cơ cấu nhân khẩu của một hộ, gồm tỷ lệ giữa người trong
độ tuổi lao động và người không thuộc diện lao động, giới tính
- Kiến thức và giáo dục của các thành viên trong gia đình: trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, kiến thức truyền thống
- Sức khỏe tâm lý và sinh lý của các thành viên trong gia đình, đời sống tâm linh và tình cảm
- Khả năng lãnh đạo và các kỹ năng
Trang 37- Quỹ thời gian của mọi người và khả năng sử dụng thời gian một cách
có hiệu quả
- Hình thức phân công lao động cho các thành viên trong gia đình
(2) Cải thiện vốn xã hội
Vốn xã hội của con người bao gồm khả năng tham gia trong các tổ chức, các nhóm chính thức cũng như các mối quan hệ và mạng lưới phi chính thức
mà họ xây dựng lên có cùng chung sở thích và khả năng để mọi người cùng nhau cộng tác Thành viên của các tổ chức chính thức (các tổ chức đoàn thể, hợp tác xã, các nhóm tín dụng tiết kiệm) thông thường phải tuân thủ những quy định và luật lệ đã được chấp nhận Những quan hệ tin cẩn, thúc đẩy hợp tác có thể mang lại sự giúp đỡ cho con người qua việc tạo ra những mạng lưới
an toàn phi chính thức (hỗ trợ của mọi người trong những giai đoạn gặp khó khăn) và giảm chi phí (qua các hoạt động cùng nhau tiếp thị)
Cải thiện nguồn vốn xã hội của hộ gia đình được thể hiện qua các chỉ số:
- Các mạng lưới hỗ trợ từ bạn bè, họ hàng, láng giềng, hội đồng niên (được lập lên do có chung mối quan hệ hoặc cùng chung sở thích)
- Cơ chế hợp tác trong sản xuất và trên thị trường, mua bán sản phẩm, các nhóm tiết kiệm, tín dụng (các hợp tác xã, các hiệp hội…)
- Các luật lệ, qui định,quy ước và hành vi ứng xử, sự trao đổi và quan hệ qua lại trong cộng đồng
- Tính ngưỡng, các sự kiện, lễ hội, niềm tin xuất phát từ tôn giáo, truyền thống
- Những cơ hội tham gia và tạo ảnh hưởng đến các công viêc của địa phương (tham gia vào các cơ quan, tổ chức ở địa phương rộng mở cho tất cả các thành viên trong cộng đồng)
- Những cơ hội tiếp cận thông tin như các cuộc họp thôn, xóm, câu lạc
bộ thanh niên, phụ nữ …
Trang 38- Cơ chế hoà giải mâu thuẩn trong địa phương
(3) Cải thiện vốn tự nhiên
Là những yếu tố được sử dụng trong các nguồn lực tự nhiên bao gồm: (a) Các tài sản và dòng sản phẩm (khối lượng sản phẩm từ đất, rừng và chăn nuôi); (b) Các dịch vụ về môi trường (giá trị bảo vệ chống bão và chống xói mòn của rừng…) Những yếu tố được sử dụng này cũng có thể cho cả hai loại lợi ích trực tiếp và lợi ích gián tiếp
Cải thiện nguồn vốn tự nhiên của hộ được thể hiện ở các chỉ số:
- Các nguồn tài sản chung như các khu đất bảo tồn của xã và các khu rừng cộng đồng:
- Các loại đất của hộ gia đình: đất ở, đất trồng cây mùa vụ, đất lâm nghiệp, đất vườn…
- Nguồn cung cấp thức ăn và nguyên liệu từ tự nhiên nguồn do con người sản xuất ra
- Đa dạng sinh học, các nguồn gen thực vật và động vật từ việc nuôi, trồng của hộ, và từ tự nhiên
- Các khu vực chăn thả và các nguồn cây thức ăn gia súc cho sản xuất chăn nuôi
- Các nguồn nước và việc cung cấp cho sinh hoạt hàng ngày, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản…
- Các nguồn đất trồng bao gồm cả các chất hữu cơ và chu kỳ dinh dưỡng
- Các yếu tố về điều kiện tự nhiên: khí hậu và những may rủi về thời tiết
- Giá trị cảnh quan cho việc quản lý, khai thác các nguồn tài nguyên và giải trí
- Các nguồn giống cây, con từ tự nhiên đang bị suy thoái nghiêm trọng
(4) Cải thiện vốn tài chính
Vốn tài chính được định nghĩa là các nguồn tài chính mà con người
Trang 39dùng để đạt được mục tiêu của mình Những nguồn này bao gồm nguồn dự trữ tài chính và dòng tài chính
Dự trữ tài chính (vốn sẵn có): tiết kiệm là vốn tài chính được ưa thích vì
nó không bị ràng buộc về tính pháp lý và không cần có sự bảo đảm về tài sản Chúng có thể có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng ngân hàng, hoặc tài sản thanh khoản khác, vật nuôi, đồ trang sức…Nguồn lực tài chính có thể tồn tại dưới dạng các tổ chức cung cấp tín dụng
Dòng tiền tài chính (dòng tiền đều): ngoại trừ thu nhập hầu hết loại này
là tiền trợ cấp hoặc sự chuyển giao Để có sự tạo lập rõ ràng vốn tài chính từ những dòng tiền này phải xác thực (sự đáng tin cậy hoàn toàn không bao giờ được đảm bảo có sự khác nhau giữa việc trả nợ một lần với sự chuyển giao thường xuyên vào kế hoạch đầu tư)
Cải thiện nguốn vốn tài chính của hộ được thể hiện dưới các chỉ số:
- Thu nhập tiền mặt thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau như bán sản phẩm, việc làm và tiền của thân nhân gửi về
- Khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính về tín dụng và tiết kiệm từ các nguồn chính thức (như ngân hàng) và các nguồn phi chính thức (chủ nợ, họ hàng)
- Tiết kiệm (bằng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng hay các dự án tiết kiệm)
và những dạng tiết kiệm khác như gia súc, vàng, đất đai, công cụ sản xuất
- Khả năng tiếp cận thị trường và các hệ thống tiếp thị sản phẩm của hộ gia đình qua các loại hình và địa điểm khác nhau
- Những chi trả phúc lợi xã hội (như lương hưu, một số miễn trừ chi phí)
và một số dạng trợ cấp của nhà nước
(5) Cải thiện vốn vật chất
Vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cơ bản cũng như các tài sản và công cụ sản xuất của hộ gia đình
Trang 40Cải thiện nguồn vốn vật chất của hộ gia đình được thể hiện dưới các chỉ
số
- Cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công cộng gồm đường giao thông, cầu cống, công trình thủy lợi, các hệ thống cấp nước sinh hoạt và về sinh, các mạng lưới cung cấp năng lượng, nơi làm việc của chính quyền xã và nơi tổ chức các cuộc họp của thôn bản
- Nhà ở, nơi trú ngụ và các dạng kiến trúc khác như chuồng trại, vệ sinh
- Các tài sản gia đình như nội thất, dụng cụ nấu nướng
- Các công cụ sản xuất như dụng cụ, trang thiết bị và máy móc chế biến
- Các hệ thống vận tải công cộng và các phương tiện giao thông của gia đình như xe máy…
- Cơ sở hạ tầng về truyền thông và thiết bị truyền thông của gia đình như đài, ti vi…
1.2.3 Hoàn thiện chiến lược sinh kế
Thuật ngữ "chiến lược sinh kế" được dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản
lý các nguồn vốn tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống Hoàn thiện chiến lược sinh kế bao gồm những lựa chọn và quyết định của người dân về những việc như:
- Đầu tư nguồn vốn và sự kết hợp giữa những tài sản sinh kế nào
- Quy mô của các hoạt động tạo thu nhập mà họ theo đuổi
- Cách thức mà họ quản lý như thế nào để bảo tồn các tài sản sinh kế và thu nhập
- Cách thức họ thu nhận và phát triển như thế nào những kiến thức, kỹ năng cần thiết để kiếm sống
- Họ đối phó như thế nào với những rủi ro, những cú sốc và những cuộc khủng hoảng ở nhiều dạng khác nhau