Tuy nhiên, kết quả đó vẫn chưa tương xứng với khả năng của Cục Thuế thành phố, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác quản lý thuế hiện nay còn gặp nhiều trở ngại trong cơ chế
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Vũ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Đồng Thị Mỹ Dung
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 3
5 Kết cấu của luận văn 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 6
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 6
1.1.1 Cơ sở lý luận về thuế 6
1.1.2 Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng 10
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 15
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế 15
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng 18
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế giá trị gia tăng 18
1.2.4 Nội dung quản lý thuế giá trị gia tăng 20
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 34
2.1 KHÁI QUÁT VỀ CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG VÀ CÁC DN HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TP ĐÀ NẴNG 34
2.1.1 Khái quát về Cục Thuế TP Đà Nẵng 34
Trang 42.2 QUY TRÌNH QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ
TP ĐÀ NẴNG 42
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 44
2.3.1 Thực trạng công tác Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế 44
2.3.2 Thực trạng đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế 48
2.3.3 Quản lý thông tin người nộp thuế 54
2.3.4 Thực trạng thanh tra, kiểm tra thuế 55
2.3.5 Thực trạng quản lý nợ thuế 59
2.3.6 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế 61
2.4 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 62
2.4.1 Kết quả đạt được 62
2.4.2 Những tồn tại 64
2.4.3 Nguyên nhân 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 72
3.1 ĐỊNH HƯỚNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 72
3.2 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG TẠI CỤC THUẾ TP ĐÀ NẴNG 75
3.2.1 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý thuế giá trị gia tăng 75
3.2.2 Hoàn thiện và nâng cao chất lượng tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế 78
3.2.3 Tăng cường thanh tra thuế, kiểm tra thuế 81
3.2.4 Tăng cường công tác quản lý nợ thuế 87
Trang 53.2.5 Tăng cường quản lý thuế GTGT thông qua kiểm tra xác minh hoá
đơn mua bán hàng hoá, dịch vụ 89
3.2.6 Nâng cao chất lượng cán bộ thuế 91
3.2.7 Ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thuế 93
3.2.8 Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ công tác quản lý thuế 94
3.3 KIẾN NGHỊ 97
3.3.1 Kiến nghị với Quốc Hội 97
3.3.2 Kiến nghị với Tổng cục Thuế 98
3.3.3 Kiến nghị với Cấp ủy, chính quyền địa phương 99
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 101 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (BẢN SAO)
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CQT Cơ quan thuế
CNTT Công nghệ thông tin
Trang 72.7 Tình hình cấp mã số thuế tại Cục thuế Đà Nẵng từ năm
2.8 Thống kê tình hình đăng ký kê khai thuế qua mạng 50 2.9 Tình hình nộp tờ khai thuế GTGT 51 2.10 Kết quả hoàn thuế GTGT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng 53 2.11 Kết quả kiểm tra tại trụ sở CQT 56 2.12 Kết quả kiểm tra tại trụ sở NNT 58
2.13 Tình hình nợ thuế GTGT của các DN đến ngày 31/12 hàng
Trang 9
MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ đảm bảo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN) mà còn là một công cụ quan trọng của Nhà nước để quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Đối với hầu hết các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng, thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Ở Việt Nam, trong tổng thu NSNN thì thuế gián thu chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng (GTGT) Thuế GTGT là một loại thuế tiến bộ, điều tiết rộng rãi hầu hết mọi đối tượng trong nhân dân, những người tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ chịu thuế Do đó, thuế GTGT có vai trò rất to lớn trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Trong tiến trình hội nhập, thuế lại càng có vị thế lớn trong chiến lược toàn cầu hoá Vì vậy, công tác quản lý thuế mặc nhiên trở thành mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia Những kiến thức về thuế
và quản lý thuế đang là nhu cầu thường trực không chỉ đối với các nhà quản
lý, các doanh nhân, mà còn cần phổ cập đến tất cả mọi công dân, những ai đang chịu sự điều chỉnh của các sắc thuế hiện hành Trong tình hình kinh tế hiện nay, nguồn thu từ viện trợ nước ngoài đã giảm nhiều, thuế là công cụ góp phần ổn định xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển lâu dài Qua thời gian thi hành Luật thuế GTGT, bên cạnh những thành tựu đạt được, còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập Các vụ gian lận thuế GTGT ngày càng nhiều, các hình thức ngày càng tinh vi hơn cho thấy vấn đề gian lận thuế GTGT đã trở nên vô cùng nguy hiểm và đáng báo động bởi nó tạo ra sự bất công bằng cho các đối tượng nộp thuế Nguyên nhân do nhiều người chưa hiểu rõ về thuế GTGT, ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế cũng như ý thức trong việc góp phần tham gia chống thất thu thuế chưa cao; đồng thời, do thời
Trang 10số bất hợp lý chưa được thay đổi phù hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay làm cho công tác quản lý thuế GTGT còn gặp một số khó khăn Vì vậy một trong những vấn đề quan trọng hiện nay nhằm khắc phục những hạn chế trên là phải tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế GTGT cho các Cơ quan Thuế (CQT) từ Trung ương đến địa phương
Trong hơn 15 năm qua, kể từ khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, ngành Thuế Đà Nẵng nói chung và Cục Thuế Đà Nẵng nói riêng đã có những bước trưởng thành nhanh chóng: nhiều năm liên tục hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách do Bộ Tài chính và Hội đồng Nhân dân (HĐND) thành phố giao, với số thu năm sau luôn cao hơn năm trước, trong đó số thu
về thuế GTGT luôn chiếm trên 50% tổng số thu thuế từ DN Tuy nhiên, kết quả đó vẫn chưa tương xứng với khả năng của Cục Thuế thành phố, bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác quản lý thuế hiện nay còn gặp nhiều trở ngại trong cơ chế chính sách, quy trình quản lý thu còn nhiều vướng mắc,
tổ chức bộ máy chưa theo kịp yêu cầu quản lý, chưa phát huy được hết khả năng, hiệu quả của mình, nguồn nhân lực còn hạn chế về số lượng và chất lượng dẫn đến thất thu trong quản lý thuế GTGT Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng và tìm ra được những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế GTGT là một vấn đề vô cùng bức thiết, với lý do đó tôi chọn đề
tài: “Quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế thành phố Đà Nẵng” làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
Hệ thống hóa lý thuyết về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT
Mô tả, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý thuế GTGT tại Cục Thuế
TP Đà Nẵng
Trên cơ sở kết quả phân tích, đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng
Trang 11cường quản lý thu thuế GTGT tại Cục Thuế TP Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý thuế GTGT đối với các DN do Cục Thuế TP Đà Nẵng quản lý giai đoạn từ năm 2010 –
2014 Nội dung của quản lý thuế chú trọng vào các chức năng: Tuyên truyền hỗ trợ, kê khai - kế toán thuế, thanh tra - kiểm tra và quản lý nợ thuế
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp thống kê mô tả, so sánh, phân tích, tổng hợp, phỏng vấn chuyên gia Luận văn cũng tiếp thu, kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình liên quanđã được công bố
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, hình vẽ và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế giá trị gia tăng
Chương 2: Thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục Thuế thành phố Đà Nẵng
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Quản lý thuế là một trong những chức năng quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước, được thực hiện bởi hệ thống thu thuế Nhà nước dựa trên
hệ thống chính sách thuế, tạo môi trường bình đẳng, nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển kinh doanh nhằm đảm bảo
Trang 12cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, kích thích sản xuất phát triển Do có vai trò rất quan trọng nên các quốc gia đều quan tâm đến thuế và đưa ra nhiều biện pháp để quản lý và thu thuế có hiệu quả hơn
Thuế GTGT không chỉ là loại thuế đem lại nguồn thu lớn hàng năm cho NSNN, đây cũng là loại thuế khó quản lý và dễ gây thất thu lớn Một
số công trình nghiên cứu quản lý thuế nói chung và kiểm soát thuế GTGT tiêu biểu:
[01] Trần Phan Quốc Chương (2013), Quản lý thuế thu nhập doanh
nghiệp tại Cục Thuế tỉnh Gia Lai, Luận văn thạc sỹ Kinh tế, Đại học Đà
Nẵng Trong đề tài này, tác giả đã hệ thống được cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn về quản lý thuế TNDN, chỉ rõ những mặt tích cực đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân Qua đó, đề xuất được phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu thuế TNDN ở tỉnh Gia Lai
[02] Lê Tự Cư (2012), Tăng cường công tác kiểm soát thuế giá trị gia
tăng tại Chi cục Thuế quận Hải Châu - Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc
sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống hoá và làm rõ các vấn đề lý luận về kiểm soát thuế GTGT, trình bày được cách thức tổ chức kiểm soát thuế GTGT theo mô hình quản lý chức năng, từ đó vận dụng để phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận Hải Châu và nêu lên những mặt hạn chế trong công tác kiểm soát thuế GTGT Trên cơ sở
đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận Hải Châu nhằm thúc đẩy hoạt động kiểm soát thuế GTGT tại Chi cục Thuế quận Hải Châu đạt chất lượng hiệu quả và hoàn thiện hơn
[03] Trương Công Khoái (2008), Tăng cường kiểm soát thuế tại các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn
thạc sỹ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Luận văn đã nghiên cứu thực trạng việc
Trang 13kiểm soát thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập DN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do Cục thuế Đà Nẵng quản lý Qua đó làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa kế toán với công tác quản lý thuế, đồng thời luận văn đã phân tích
có hệ thống và khách quan sự tác động của hạch toán kế toán đến kết quả quản lý thu thuế của Cục thuế Đà Nẵng trong thời gian qua
[04] Phan Xuân Quang (2008), Tăng cường kiểm soát nguồn thu thuế giá
trị gia tăng từ các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, Luận Văn
Thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống hoá và làm rõ các vấn
đề lý luận về kiểm soát thuế GTGT, trình bày được cách thức tổ chức kiểm soát thuế GTGT, từ đó vận dụng để phân tích, đánh giá thực trạng kiểm soát thuế GTGT đối với các DN trên địa bàn thành phố và nêu lên những mặt hạn chế trong công tác kiểm soát thuế GTGT Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp tăng cường kiểm soát thuế GTGT từ các DN trên địa bàn thành phố
nhằm thúc đẩy hoạt động kiểm soát thuế GTGT
[05] Lê Bá Tiến (2012), Hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với doanh
nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,
Luận văn Thạc sỹ kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã hệ thống hoá và làm
rõ cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài, về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ đó vận dụng để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế đối với DN có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn 2007-2011, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đó Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thuế đối với DN có vốn FDI trên địa bàn TP Đà Nẵng hướng đến mục tiêu chung đó là tăng mức độ tuân thủ pháp luật của DN và nâng cao chất lượng quản lý thuế
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.1 Cơ sở lý luận về thuế
a Khái niệm
Đến nay, vẫn chưa có khái niệm thống nhất về thuế, tùy vào góc độ nghiên cứu mà người ta có những quan niệm khác nhau về thuế, phù hợp với lĩnh vực mà họ nghiên cứu
Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế chính trị học, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước
Dưới góc độ nghiên cứu pháp luật, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật
Dưới góc độ nghiên cứu của kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng KTXH của Nhà nước
Ở Việt Nam, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp, buộc phải nộp cho Nhà nước theo mức quy định
Các nhà kinh tế đều cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây:
Trang 15+ Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp; được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt - việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước; + Việc nộp thuế được pháp luật quy định;
+ Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung
Từ các góc độ nghiên cứu và các yêu cầu nêu trên, có thể hiểu thuế theo
khái niệm như sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và
pháp nhân có nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật do Nhà nước ban hành; không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và sử dụng cho mục đích công cộng Như
vậy thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và Pháp luật
b Đặc điểm của thuế
Thuế là một trong những công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng
để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản như sau:
- Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền: Về nguyên tắc, thuế là một
khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa
vụ của ĐTNT được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường
- Thứ hai, thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách Đối với
NNT, đây là nghĩa vụ chuyển giao tài sản của họ cho Nhà nước khi có đủ
Trang 16hợp đồng Tính chất bắt buộc của thuế có mối quan hệ mật thiết với tính không hoàn trả Do thuế không có tính hoàn trả, về mặt lý thuyết khó tìm thấy sự tự nguyện khi nộp thuế - hành vi chuyển giao một khối lượng tài sản cho Nhà nước và chắc chắn không nhận lại chúng trong tương lai Vì vậy, để thực hiện thu thuế ổn định, phải sử dụng biện pháp bắt buộc như một thuộc tính cơ bản của thuế
- Thứ ba, thuế gắn với yếu tố quyền lực Thuế xuất hiện cùng với sự
xuất hiện của Nhà nước, thực hiện việc cung cấp cơ sở vật chất cho Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình, thuế là biện pháp chủ yếu của Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế Bằng quyền lực chính trị, Nhà nước tạo ra cho thuế tính ổn định, sự tuân thủ của NNT Các yếu tố như NNT, thuế suất… được quy định trước và mang tính ổn định trong một thời gian nhất định Chỉ gắn với yếu tố quyền lực, thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho Nhà nước
- Thứ tư, thuế là một khoản chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn
trả trực tiếp Bất kỳ ai, khi đủ điều kiện đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước, không phân biệt họ đã nhận được lợi ích công nào Điều này cho phép phân biệt thuế với các khoản thu nộp do đối tượng nộp khi thực hiện nghĩa vụ của mình khi đã nhận được một lợi ích nhất định từ phía Nhà nước (đó là các khoản thu từ phí, lệ phí) Thuế xuất hiện do nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, của các chủ thể quản lý xã hội Kết quả của việc
sử dụng các khoản thu từ thuế chủ yếu là các sản phẩm công (những lợi ích không thể xác định theo giá trị vật chất) Điều đó lý giải tại sao thuế là các khoản thu không có tính chất hoàn trả trực tiếp
c Vai trò của thuế
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện KTXH nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với
Trang 17sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển KTXH Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất, thuế tạo nguồn thu cho NSNN: Với chức năng phân phối lại
thu nhập quốc dân, thuế hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là NSNN NSNN được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu NSNN Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm Hầu như mọi khoản chi tiêu của NSNN đều dựa vào sự đóng thuế của người dân Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng NNT, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho Nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp
- Thứ hai, thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã
hội: Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Sự điều tiết này thể hiện ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các ĐTNT
và các thành viên trong xã hội Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất đều có tác động đến thu nhập
và sử dụng thu nhập trong xã hội
- Thứ ba, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động
SXKD: Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, CQT và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở SXKD, ngành nghề và lĩnh
Trang 18chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có Từ công tác thu thuế
mà CQT sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm biện pháp tháo gỡ Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, CQT cập nhật được kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống KTXH
- Thứ tư, thuế góp phần thúc đẩy SXKD phát triển: Thuế trong cơ chế thị
trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy SXKD phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế với Nhà nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động SXKD của mình Bên cạnh đó, Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích SXKD phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn theo chủ trương phát triển kinh tế
1.1.2 Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng
Trang 19Tại Việt Nam, thuế GTGT được nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bước 1 vào năm 1990, áp dụng thử nghiệm năm 1993 ở 11 đơn vị (trong các ngành đường, dệt, xi măng, ), ban hành Luật và được thông qua tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá 9 và được áp dụng chính thức từ ngày 01/01/1999 Theo khái niệm được ghi trong Luật Thuế giá trị gia tăng số
13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 thì: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên
khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng”
Thuế GTGT chỉ tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá dịch vụ ở từng khâu bán hàng mà không đánh vào phần giá trị đã chịu thuế ở khâu trước cho nên cách tính thuế GTGT là rất khoa học, rất cần thiết đối với phát triển sản xuất theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá và phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế
b Đặc điểm thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT có phạm vi thu rất rộng, đối tượng thu là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh kể cả gia công, chế biến và dịch vụ có thu tiền, thuế GTGT thu trên các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ trong nước, kể cả hàng hóa nhập khẩu Tuy nhiên, một số ít hoạt động kinh doanh cũng được miễn thuế GTGT, số hoạt động miễn thuế này thay đổi tùy thuộc vào mỗi nước Thuế GTGT là loại thuế gián thu, người nộp thuế là những cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, còn người chịu thuế là người sử dụng cuối cùng của hàng hoá, dịch vụ đó
Thuế GTGT là loại thuế đánh nhiều giai đoạn nhưng chỉ vào phần giá trị tăng thêm của từng giai đoạn đó, tổng số thu của các giai đoạn ngang bằng với số thuế đầu ra ở khâu cuối cùng (tiêu dùng)
Trang 20Thuế GTGT là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ nhằm động viên một phần thu nhập thông qua sự đóng góp của người tiêu dùng khi họ sử dụng hàng hoá, dịch vụ đó
Thuế GTGT được thực hiện thống nhất và chặt chẽ theo nguyên tắc căn
cứ vào hoá đơn mua, bán hàng để tính thuế Vì vậy mà nó khuyến khích các
cơ sở sản xuất, kinh doanh khi mua hàng phải lấy hoá đơn và khi bán hàng thì phải xuất hoá đơn theo đúng quy định, đó chính là sự kỷ luật của hoá đơn chứng từ
c Vai trò của thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của NSNN Thuế GTGT là nguồn động viên quan trọng, kịp thời và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu NSNN Thuế GTGT góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, tạo nên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các chủ thể khi nó bắt buộc các chủ thể phải sử dụng hệ thống hóa đơn chứng từ
Thuế GTGT giúp Nhà nước kiểm soát được hoạt động, sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát được hệ thống hóa đơn, chứng từ Qua đó, còn cung cấp cho công tác nghiên cứu, thống kê những số liệu quan trọng
Thuế GTGT góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước một cách hợp lý thông qua việc đánh thuế GTGT hàng nhập khẩu; bên cạnh đó thuế GTGT đánh vào hàng hóa xuất khẩu nhằm tạo ra thuế GTGT đầu ra để được hoàn thuế GTGT
Thuế GTGT thúc đẩy các DN thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, phát triển quan hệ thanh toán Việc DN được phép khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT đã khuyến khích các DN tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị Ngoài ra, thuế GTGT
Trang 21góp phần phát triển hệ thống thanh toán Việc thuế GTGT đòi hỏi những DN
có hàng hoá xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì mới được hoàn thuế
đã thúc đẩy các DN thực hiện thanh toán qua hệ thống ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán
d Nội dung cơ bản về thuế giá trị gia tăng
* Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng và đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng
- Đối tượng chịu thuế: Là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
doanh và tiêu dùng ở trong nước (bao gồm cả hàng hoá, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài), trừ các đối tượng không chịu thuế GTGT Tiêu dùng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tiêu dùng cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cho các hoạt động không kinh doanh và tiêu dùng cá nhân
- Đối tượng nộp thuế: Là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất,
kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT ở trong nước, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (gọi chung là cơ sở kinh doanh) và
tổ chức, cá nhân có nhập khẩu hàng hoá, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (gọi chung là người nhập khẩu)
* Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng
Căn cứ tính thuế GTGT là giá tính thuế và thuế suất, cụ thể:
- Giá tính thuế: Là một căn cứ quan trọng để xác định số thuế GTGT
phải nộp Nguyên tắc chung của giá tính thuế GTGT là giá bán chưa có thuế GTGT được ghi trên hoá đơn bán hàng của người bán hàng, người cung cấp dịch vụ hoặc giá chưa có thuế GTGT được ghi trên chứng từ của hàng hoá nhập khẩu
- Thuế suất: Hiện nay thuế suất thuế GTGT gồm 0%, 5%, 10% Việc quy
định các mức thuế suất khác nhau thể hiện chính sách điều tiết thu nhập và
Trang 22* Phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Phương pháp khấu trừ thuế
Đối tượng áp dụng: Là các đơn vị, tổ chức kinh doanh, DN thành lập
theo quy định của pháp luật, trừ các đối tượng áp dụng tính thuế theo phương pháp tính trực tiếp trên GTGT
Xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT phải nộp =
Thuế GTGT đầu ra –
Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ
Thuế GTGT đầu ra bằng (=) giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu
thuế bán ra nhân (x) thuế suất thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ đó
Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn
GTGT mua hàng hoá, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định) dùng cho sản xuất kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT, số thuế GTGT ghi trên chứng
từ nộp thuế của hàng hoá nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài
Nguyên tắc xác định thuế GTGT đầu vào được khấu trừ:
Nguyên tắc 1: Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ là thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT
Nguyên tắc 2: Thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ phát sinh
trong tháng được kê khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng hay còn để trong kho Trường hợp hoá đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhưng chưa kê khai kịp trong tháng thì được kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp theo
Trang 23Phương pháp trực tiếp trên GTGT
Đối tượng áp dụng: Cá nhân sản xuất, kinh doanh là người Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam chưa thực hiện các điều kiện đầy đủ về kế toán, hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ thuế; cơ sở kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ Xác định thuế GTGT phải nộp:
Số thuế GTGT
phải nộp =
GTGT của hàng hóa dịch vụ chịu thuế x
Thuế suất thuế GTGT của hàng hóa dịch vụ đó GTGT của
1.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái niệm quản lý
Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là “T chức và đi u khiển các hoạt
động theo nh ng yêu cầu nhất định”
Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam có giải thích:
“ Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đ ra của t chức Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết phải được thực hiện nhằm đạt được nh ng mục tiêu chung”
Dưới góc độ chung của các chuyên ngành khoa học: “Quản lý là đi u
khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng để cho một hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý và nhằm đạt được nh ng mục đích đã định trước”
Hery Fayol cho rằng, quản lý có năm nhiệm vụ là: Xây dựng kế hoạch, t
Trang 24dụng cho quản lý bao gồm: Nhân lực, tài chính, công nghệ và tài nguyên thiên nhiên
Nhìn chung, các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng, đã nói đến quản lý là nói đến hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu
đã định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy hoạt động của những con người trong tổ chức đó Ngoài ra, khi sử dụng thuật ngữ này người ta còn có hàm ý bao gồm cả mục tiêu, kết quả và hiệu năng hoạt động của một tổ chức, nghĩa là nói tới quản lý là nói tới kết quả đạt được với chất lượng tốt nhất và chi phí thấp nhất chứ không chỉ là những quy trình thực hiện các thao tác kỹ thuật đơn thuần
Quản lý thuế là một dạng của quản lý xã hội kể từ khi có Nhà nước và gắn với quyền lực Nhà nước, là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà nước Quản lý thuế được một số tác giả khái niệm hóa như sau:
“Quản lý thuế là quản lý việc thực thi và đảm bảo thực thi các chính sách thuế hay là việc thực hiện quy n hành pháp và tư pháp của Nhà nước trong lĩnh vực thuế”
“Quản lý thuế là quá trình t chức thực thi các luật thuế là việc định ra một hệ thống các t chức, phân công các chức năng, nhiệm vụ, quy n hạn và trách nhiệm cho các t chức này, xác lập mối quan hệ h u hiệu trong việc thực thi luật thuế nhằm đạt được mục tiêu đã đ ra trong đi u kiện môi trường luôn biến động”
“Quản lý thuế liên quan đến cách thức mà các luật thuế được thực thi, liên quan đến sự tác động qua lại gi a cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế, là cách thức mà ở đó sự tuân thủ được thúc đẩy và cưỡng chế bởi cơ quan thuế”
Trang 25“Quản lý thuế là một quá trình t chức thực thi chính sách thuế, thông qua quá trình tác động của các cơ quan thuế lên các t chức và công dân nhằm bảo đảm và tăng cường sự tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách đầy đủ,
tự nguyện và đúng thời hạn trong đi u kiện môi trường quản lý thuế luôn biến động”
Từ khảo lược các quan niệm trên đây, thì quản lý thuế có thể được hiểu
là việc t chức thực thi pháp luật thuế của Nhà nước, tức là, quản l thuế
được hiểu là hoạt động tác động và đi u hành hoạt động đóng thuế của người nộp thuế
Có thể tiếp cận khái niệm quản lý thuế trên theo hai phạm vi:
Theo nghĩa rộng, quản lý thuế là tất cả các hoạt động của Nhà nước liên
quan đến thuế
Quản lý thuế không chỉ bao gồm hoạt động tổ chức điều hành quá trình thu nộp thuế vào NSNN mà còn bao gồm hoạt động xây dựng chiến lược phát triển hệ thống thuế, ban hành pháp luật thuế và cả hoạt động kiểm tra, giám sát việc sử dụng tiền thuế của các tổ chức thụ hưởng NSNN
Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản lý hành chính Nhà nước về thuế,
bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói một cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
mà cụ thể là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ Trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho Nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các luật thuế
Tuỳ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu mà định nghĩa về quản
lý thuế sẽ được tiếp cận ở những phạm vi khác nhau, trong luận văn này, tác giả tiếp cận sử dụng khái niệm quản lý thuế theo nghĩa hẹp
Trang 261.2.2 Sự cần thiết phải tăng cường quản lý thuế giá trị gia tăng
Thứ nhất, thuế đóng vai trò là công cụ quan trọng hàng đầu của Nhà nước để thực hiện yêu cầu quản lý và điều tiết vĩ mô mọi hoạt động SXKD thuộc mọi thành phần kinh tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thực hiện các cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, thông qua quản lý thuế giúp cho Nhà nước xây dựng chính sách thuế phù hợp với thực trạng kinh doanh và kết hợp với các chính sách khác,
để từ đó Nhà nước điều chỉnh kịp thời nhằm khuyến khích sản xuất, kích thích tiêu dùng, khai thác và nuôi dưỡng nguồn thu NSNN lâu dài đồng thời đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ
Thứ ba, cùng với sự phát triển kinh tế thị trường, số lượng DN tăng lên nhanh chóng, đồng thời quy mô, hình thức, cách thức hoạt động của các DN cũng đa dạng, phức tạp hơn, các hình thức gian lận thuế cũng tinh vi hơn, vì vậy đòi hỏi ngành thuế phải tăng cường quản lý thuế đối với các DN để phát huy những yếu tố tích cực và hạn chế, ngăn ngừa biểu hiện tiêu cực trong việc chấp hành pháp luật thuế
Thứ tư, thông qua quản lý thuế, Nhà nước và NNT điều chỉnh kịp thời những sai lệch, vi phạm trong quá trình thực hiện pháp luật, tạo điều kiện hình thành thói quen, tính tự giác tuân thủ pháp luật của NNT
1.2.3 Mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế giá trị gia tăng
a Quan niệm về quản lý thuế giá trị gia tăng
Cũng như quản lý thuế, quản lý thuế GTGT có những nét đặc thù như sau:
- Chủ thể thực thi các giải pháp thu thuế là các CQT từ Trung ương đến địa phương Các CQT được Nhà nước giao trách nhiệm chính cho việc tổ chức quản lý thuế Để quản lý thuế một cách hiệu quả thì cần phải có sự phối kết hợp giữa các ban, ngành chức năng
- Đối tượng chịu sự quản lý là các DN có các hoạt động kinh tế thuộc
Trang 27diện điều chỉnh của Luật Quản lý thuế, Luật thuế GTGT và các văn bản hướng dẫn thuế GTGT Quá trình tổ chức và thực thi các giải pháp quản lý thuế là rất phức tạp và đa dạng Việc thực thi giải pháp quản lý cần có sự kết hợp hài hòa giữa mệnh lệnh hành chính, tuyên truyền giải thích, khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần và đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật
- Thuế GTGT là một sắc thuế cơ bản mang lại nguồn thu lớn, việc gian lận thuế GTGT sẽ làm tổn thất nguồn thu cho NSNN Do đó, quản lý thu thuế GTGT đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao đồng thời cơ sở dữ liệu về NNT phải được tập trung đầy đủ, có như vậy, mới phát hiện được các thủ thuật trốn thuế, từ đó xử lý đối tượng vi phạm và đề xuất hoàn thiện chính sách thuế
- Việc kê khai và nộp thuế GTGT phát sinh thường xuyên, đối tượng điều tiết rộng, chính sách thuế còn đang hoàn thiện, có nhiều văn bản lẻ hướng dẫn thuế GTGT, vì vậy công tác tuyên truyền và kiểm tra thuế GTGT cũng cần được tiến hành liên tục để sớm phát hiện sai phạm của NNT, hướng dẫn NNT thực hiện nghĩa vụ thuế đúng quy định
b Mục tiêu quản lý thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT là một trong những sắc thuế cơ bản của hệ thống thuế Việt Nam Do vậy, mục tiêu và nguyên tắc quản lý thuế cũng là mục tiêu, nguyên tắc quản lý thuế thuế GTGT
Mục tiêu quản lý thuế GTGT:
- Tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN từ các nguồn, các đối tượng trên địa bàn được giao quản lý và mức thu luật định, trên cơ sở không ngừng nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu
- Tối thiểu hóa chi phí quản lý thuế của Nhà nước và chi phí tuân thủ của
Trang 28- Phát huy tốt vai trò của công cụ thuế trong nền kinh tế thị trường như vai trò ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập, điều tiết các hoạt động SXKD theo mục tiêu của Nhà nước đã định trong từng thời kỳ
- Tăng cường ý thức chấp hành pháp luật cho NNT, tuân thủ thuế của
DN một cách đầy đủ, kịp thời và tự nguyện theo các quy định của luật thuế
- Góp phần bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể nộp thuế khác nhau trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển
- Quản lý thuế không chỉ có mục tiêu bảo đảm những quyền và lợi ích cho Nhà nước mà còn bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của NNT
c Nguyên tắc quản lý thuế giá trị gia tăng
- Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN, là tài sản quốc gia để phục vụ lợi ích cho toàn xã hội Vì thế, tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong đều
có trách nhiệm tham gia quản lý thuế
- Việc quản lý thuế được thực hiện theo quy định của Luật Quản lý thuế
và các pháp luật có liên quan
- Việc quản lý thuế phải bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NNT
Ngoài ra, việc quản lý thuế tại mỗi địa phương phải có sự nghiên cứu, xem xét áp dụng các phương pháp, biện pháp, hình thức phù hợp với điều kiện đặc thù của địa phương
1.2.4 Nội dung quản lý thuế giá trị gia tăng
a Tuyên truyên, hỗ trợ người nộp thuế
Hoạt động tuyên truyền giáo dục pháp luật về thuế là nhiệm vụ của cán bộ thuế, bằng nhiều hình thức và phương pháp phù hợp để tuyên truyền về chính
Trang 29sách thuế một cách hiệu quả đến NNT và các tầng lớp dân cư Hoạt động tuyên truyền về thuế bao gồm các nội dung tuyên truyền từ bản chất của thuế, lợi ích
xã hội từ việc nộp thuế cho đến các biện pháp xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuế… nhằm tạo điều kiện cho người dân hiểu và có ý thức chấp hành pháp luật thuế Các biện pháp tuyên truyền kịp thời còn giúp NNT
có thể cập nhật thường xuyên thông tin về thuế khi có những sửa đổi, bổ sung
về chính sách để có những điều chỉnh cho phù hợp trong sản xuất kinh doanh
và thực hiện nghĩa vụ của mình Ngôn ngữ tuyên truyền cần đơn giản, dễ hiểu
để phù hợp với nhiều NNT khác nhau trong các tầng lớp dân cư khác nhau Nội dung hoạt động tuyên truyền về thuế có thể bao gồm các vấn đề sau:
- Tuyên truyền giải thích về bản chất, vai trò của thuế, các lợi ích xã hội
có được từ việc sử dụng tiền thuế
- Tuyên truyền phổ biến nội dung các chính sách, pháp luật về thuế
- Phổ biến các vấn đề liên quan đến nghĩa vụ và trách nhiệm của CQT, của NNT và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội, trong việc cung cấp thông tin và phối hợp trong việc thực hiện các luật thuế
- Phổ biến các thủ tục về thuế, quy định về việc xử lý các vi phạm pháp luật thuế
- Tuyên dương khen thưởng NNT chấp hành tốt pháp luật về thuế
Các hình thức tuyên truyền được áp dụng như: Tuyên truyền qua hệ thống tuyên giáo các cấp; qua tờ rơi, tờ gấp; qua pa-nô, áp-phích; trên các phương tiện thông tin đại chúng; qua trang thông tin điện tử và các hình thức tuyên truyền khác Các hình thức hỗ trợ cho NNT như tổ chức tập huấn, đối thoại với NNT; xây dựng, cấp phát tài liệu hỗ trợ NNT; giải đáp vướng mắc
về thuế qua điện thoại, trực tiếp tại CQT, bằng văn bản
Trang 30b Quản lý đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế và hoàn thuế
Đây là quá trình thực hiện các bước công việc từ khâu quản lý đăng ký nộp thuế, nhập và xử lý số liệu kê khai thuế của NNT, nhập chứng từ nộp thuế phục vụ cho các bộ phận chức năng khác khai thác thông tin quản lý thu thuế
- Đăng k thuế và cấp mã số thuế:
Mọi DN kinh doanh đều phải đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế Trong thời hạn nhất định sau khi được cấp đăng ký kinh doanh, DN phải đăng
ký thuế tại CQT sở tại NNT cung cấp những thông tin cho CQT khi thực hiện đăng ký thuế, gồm: Tên NNT, địa chỉ, quyết định thành lập, vốn điều lệ, ngành nghề kinh doanh chính, ngày bắt đầu hoạt động, loại hình kinh tế, hình thức hạch toán, các loại thuế phải nộp… Khi đăng ký thuế, DN được cấp một
mã số thuế để sử dụng trong suốt thời gian hoạt động của DN từ khi thành lập cho đến khi không còn hoạt động, mã số thuế của DN là duy nhất và là căn cứ quan trọng để các cơ quan chức năng theo dõi quản lý DN Việc quản lý DN được thực hiện trên mạng máy vi tính thống nhất trên cả nước Mỗi DN được gắn với một mã duy nhất Tất cả các thông tin về DN như ngành nghề kinh doanh, tính chất và quy mô kinh doanh, địa chỉ, trụ sở được lưu vào hệ thống dữ liệu riêng biệt của CQT
Khi có thay đổi thông tin trong hồ sơ đăng ký thuế đã nộp (đổi tên, chuyển địa điểm kinh doanh, thay đổi các chỉ tiêu khác trên tờ khai đăng ký thuế) NNT phải thông báo với CQT trong thời hạn nhất định, kể từ ngày có
sự thay đổi thông tin Khi chấm dứt hoạt động DN phải thực hiện thủ tục chấm dứt mã số thuế với CQT quản lý trực tiếp
CQT có trách nhiệm việc cấp mã số thuế, cập nhật các thông tin thay đổi vào hệ thống dữ liệu đăng ký thuế của ngành Thuế; thực hiện đóng mã số thuế thuế và thông báo chấm dứt hiệu lực mã số thuế trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 31- Kê khai thuế:
Là việc NNT tự xác định số thuế phải nộp phát sinh trong kỳ kê khai
thuế theo quy định đối với của từng loại thuế Hiện nay ở nước ta việc tính thuế và kê khai thuế do các DN tự giác thực hiện, có sự kiểm tra, thanh tra của CQT Trên cơ sở các quy định cụ thể của Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành, DN tự lập ra tờ khai thuế phải nộp CQT quy định cụ thể các chỉ tiêu trong nội dung của tờ khai tương ứng với loại thuế Đối với mỗi sắc thuế cũng quy định cụ thể kỳ tính thuế, thời hạn lập tờ khai thuế Đến thời hạn quy định, DN phải nộp tờ khai cho CQT Sau khi hết thời hạn nộp hồ sơ khai thuế, NNT phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp cho CQT có sai sót, nhầm lẫn gây ảnh hưởng đến số thuế phải nộp thì được khai bổ sung hồ sơ khai thuế
- Ấn định thuế:
Là việc CQT xác định số thuế phải nộp và yêu cầu NNT chấp hành nộp thuế theo Quyết định ấn định thuế của CQT trong trường hợp NNT không kê khai hoặc kê khai thuế không đầy đủ, không chính xác, không trung thực Việc ấn định thuế phải bảo đảm khách quan, công bằng và tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thuế Cơ quan quản lý thuế ấn định số thuế phải nộp hoặc ấn định từng yếu tố liên quan đến việc xác định số thuế phải nộp Yếu tố ấn định có thể là doanh thu, chi phí, giá tính thuế
+ Nộp thuế
Đối với NNT tự kê khai và tự tính thuế thì thời hạn nộp thuế chậm nhất
là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế; trường hợp cơ quan quản
lý thuế tính thuế hoặc ấn định thuế thì thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan quản lý thuế Ngày nộp tiền thuế là ngày được xác nhận trên Giấy nộp tiền vào NSNN bằng chuyển khoản hoặc được ngày xác nhận việc thu tiền trên chứng từ thu thuế bằng tiền mặt Ngày nộp thuế là căn
Trang 32cứ để tính ngày chậm nộp tiền thuế, số ngày tính phạt chậm nộp được tính từ ngày hết hạn nộp thuế đến ngày NNT nộp thuế
c Quản lý thông tin về người nộp thuế
Thông tin về NNT là yếu tố quan trọng và quyết định trong quản lý thuế theo mô hình chức năng Thông tin về NNT là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của NNT, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế Cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xây dựng hệ thống thông tin NNT thống nhất từ Trung ương đến địa phương; đảm bảo cơ
sở dữ liệu tập trung về Trung ương; xây dựng chế độ thông tin, báo cáo thường xuyên, định kỳ giữa cơ quan quản lý thuế các cấp
Hệ thống thông tin về NNT là tất cả các thông tin, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế của NNT, bao gồm các thông tin định danh, thông tin về tình hình SXKD, kê khai, nộp thuế, tình hình tuân thủ pháp luật thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế và các thông tin khác do NNT và các tổ chức, cá nhân khác tự nguyện cung cấp hoặc cung cấp theo yêu cầu bắt buộc của cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền
Thông tin về NNT là tài sản của CQT, CQT có trách nhiệm bảo quản, bảo mật và sử dụng vào mục đích quản lý thuế CQT được công khai các
Trang 33thông tin vi phạm pháp luật về thuế của NNT trên phương tiện thông tin đại chúng trong một số trường hợp, cụ thể:
+ Trốn thuế, gian lận thuế, chây ỳ không nộp tiền thuế đúng thời hạn; + Vi phạm pháp luật về thuế làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ nộp thuế của tổ chức, cá nhân khác;
+ Không thực hiện các yêu cầu của cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật
d Thanh tra, kiểm tra thuế
Kiểm tra thuế, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế (đăng ký thuế, kê khai thuế, ), chấp hành nghĩa
vụ nộp thuế của NNT, nhằm bảo đảm pháp luật thuế được thực thi nghiêm chỉnh Kiểm tra thuế, thanh tra thuế nhằm mục đích phòng ngừa, phát hiện và
xử lý các hành vi VPPL thuế; bảo đảm nâng cao ý thức chấp hành Luật thuế cho các DN và cho người thi hành công vụ trong ngành Thuế; phát hiện những nội dung không phù hợp của Luật thuế với thực tiễn đời sống kinh tế,
xã hội của đất nước, các vấn đề nghiệp vụ trong công tác thu thuế, những điều không hợp lý của công tác tổ chức hệ thống bộ máy kiểm tra thuế, để từ đó kiến nghị các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung kịp thời nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát thuế một cách chặt chẽ
Công tác kiểm tra thuế, thanh tra thuế tại DN phải theo nguyên tắc:
- Kiểm tra thuế, thanh tra thuế phải dựa vào các quy định của pháp luật
và tuân thủ theo pháp luật; coi pháp luật là cơ sở pháp lý và chuẩn mực để kết luận vấn đề kiểm tra, thanh tra, tránh mọi biểu hiện chủ quan, tùy tiện trong quá trình tiến hành và kết luận kiểm tra, thanh tra
Trang 34- Thực hiện phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT, đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi VPPL thuế
- Không làm cản trở hoạt động bình thường của các DN, các cơ quan tổ chức, cá nhân có liên quan
* Về kiểm tra thuế
Kiểm tra tại trụ sở CQT là việc làm thường xuyên, thông qua việc kiểm tra này, nếu phát hiện có dấu hiệu vi phạm yêu cầu ĐTNT giải trình Nếu ĐTNT không giải trình hoặc không chứng minh được tính chính xác, hợp lý của các chi tiêu trong hồ sơ khai thuế thì CQT tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT hoặc ấn định thuế nếu có cơ sở Kiểm tra thuế được thực hiện dưới hai hình thức: Kiểm tra tại trụ sở CQT và kiểm tra tại trụ sở của NNT
Kiểm tra tại trụ sở CQT: Công chức thuế thực hiện kiểm tra, đối chiếu
nội dung kê khai trong hồ sơ thuế với cơ sở dữ liệu của NNT và tài liệu có liên quan về NNT để phân tích, đánh giá tính tuân thủ hoặc phát hiện các trường hợp khai chưa đầy đủ dẫn tới việc thiếu thuế hoặc trốn thuế, gian lận thuế Trường hợp phát hiện trong hồ sơ chưa đủ tài liệu theo quy định hoặc khai chưa đầy đủ các chỉ tiêu theo quy định thì CQT thông báo cho NNT biết
để hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định
Kiểm tra tại trụ sở NNT: CQT sẽ tiến hành kiểm tra tại trụ sở NNT trong
các trường hợp NNT không giải trình, bổ sung thông tin, tài liệu theo thông báo của CQT; không khai bổ sung hồ sơ thuế hoặc giải trình, khai bổ sung hồ
sơ thuế nhưng không chứng minh được số thuế đã khai là đúng; hoặc CQT không đủ căn cứ để ấn định số thuế phải nộp; các trường hợp thuộc diện kiểm tra hồ sơ trước khi hoàn thuế
Trang 35* Về thanh tra thuế
Thực hiện thanh tra thuế trong các trường hợp: DN có ngành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh doanh rộng thì thanh tra định kỳ một năm không quá một lần; DN có dấu hiệu VPPL về thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế
Hình thức thanh tra:
Nếu xét theo thời gian tiến hành thanh tra, có các hình thức:
Thanh tra thường xuyên: Là hình thức thanh tra được thực hiện mang
tính định kỳ, không phụ thuộc vào việc có xảy ra vụ việc hay không trong các ĐTNT và các cơ quan quản lý thuế
Thanh tra đột xuất: Được tiến hành khi có những vụ việc xảy ra từ phía các ĐTNT hoặc trong các CQT, để có biện pháp xử lý Đây là hình thức thanh tra mang tính bất thường và đối tượng bị thanh tra không được biết trước
Nếu xét theo phạm vi và nội dung thanh tra gồm:
Thanh tra toàn diện: Được tiến hành với tất cả các đối tượng thanh tra Hình thức này thường được áp dụng để phục vụ cho những nghiên cứu cải tiến lớn về hệ thống thuế
Thanh tra trọng điểm: Được tiến hành chỉ với một số nội dung, một số đối tượng
e Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế
Công tác quản lý thu nợ thuế là một trong những nội dung quản lý thuế nhằm phát hiện kịp thời và xử lý những NNT nợ thuế, chiếm đoạt tiền thuế và tiền phạt để đảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN tạo sự công bằng trong tuân thủ nghĩa vụ thuế, xây dựng mối quan hệ tin tưởng giữa DN với CQT, tăng cường sự tuân thủ thông qua tác động kinh tế (xử phạt) và tác động tâm lý
Trang 36Dựa vào tiêu thức quản lý thu nợ do Tổng cục Thuế ban hành và căn cứ vào tình hình nợ thuế của DN đến thời điểm lập kế hoạch, CQT tiến hành lập
kế hoạch quản lý thu nợ, lập sổ theo dõi tình hình nợ thuế theo từng DN, thực hiện rà soát từng trường hợp nợ tháng trước chuyển sang và nợ mới phát sinh trong tháng theo nguyên nhân và tình trạng để phân loại các khoản nợ nhằm
áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp; đồng thời tính phạt chậm nộp tiền thuế
và ban hành Quyết định xử lý Quá trình thu nợ phải được ghi vào nhật ký thu
nợ, được sử dụng các biện pháp cưỡng chế và lập hồ sơ lưu trữ theo quy định Nội dung của công tác quản lý thu nợ thuế bao gồm:
- Giám sát chặt chẽ việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của NNT, có biện pháp kịp thời để đôn đốc, xử phạt việc chậm nộp thuế của NNT theo quy định
- Theo dõi, phân tích số thuế nợ của NNT theo từng loại thuế, mức nợ, tuổi nợ, nguyên nhân của từng khoản nợ thuế và kết hợp với việc phân tích thông tin về tình hình SXKD, tình hình tài chính của DN để xây dựng kế hoạch, biện pháp tổ chức thu nợ, áp dụng các biện pháp cưỡng chế nợ thuế phù hợp
NNT bị cưỡng chế thu nợ thuế trong các trường hợp: NNT nợ tiền thuế, tiền phạt VPPL về thuế đã quá chín mươi ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp tiền thuế, tiền phạt; NNT nợ tiền thuế, tiền phạt VPPL về thuế khi đã hết thời hạn gia hạn nộp tiền thuế; NNT còn nợ tiền thuế, tiền phạt có hành vi phát tán tài sản, bỏ trốn; các cơ quan liên quan như Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng, tổ chức tín dụng, không phối hợp thực hiện quyết định xử phạt vi phạm về thuế
f Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
- Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại Quyết định hành
Trang 37chính, hành vi hành chính, khi có căn cứ cho rằng Quyết định hoặc hành vi
đó trái pháp luật NNT, cá nhân, tổ chức có quyền khiếu nại đối với các Quyết định hành chính của CQT, công chức quản lý thuế, người được giao nhiệm vụ trong công tác quản lý thuế khi có căn cứ cho rằng hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình
- Tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi VPPL của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT
a Chính sách của Nhà nước
Các CQT thực hiện công tác quản lý thuế GTGT trên cơ sở các chính sách quản lý của Nhà nước, việc thực hiện các chính sách đó có được thuận lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào chính bản thân của chính sách đó Nếu Nhà nước xây dựng các chính sách khoa học, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện
và ổn định, trong thời gian dài thì công tác quản lý sẽ được thuận lợi, ngược lại, nếu các chính sách đó phức tạp thì sẽ gây khó khăn trong quản lý, thậm chí còn tạo ra nhiều kẻ hở để kẻ xấu lợi dụng chiếm đoạt tiền thuế của Nhà nước Hiện nay, việc sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh thường xuyên Luật thuế GTGT của Nhà nước dẫn đến việc nắm bắt và thích nghi những nội dung mới của cả ĐTNT và công chức thuế chưa kịp thời, gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện và quản lý thuế GTGT
Ngoài các chính sách về thuế, các chính sách khác của Nhà nước cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý thuế GTGT Các chính sách phát triển kinh tế như chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, chính sách khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh, thủ tục hành chính, môi trường kinh doanh và
Trang 38môi trường đầu tư nếu không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội sẽ hạn chế nền kinh tế phát triển, làm giảm nguồn thu cho NSNN
b Tổ chức hoạt động của cơ quan quản lý thuế
- V t chức bộ máy:
Để một tổ chức hoạt động tốt, tổ chức bộ máy cần đáp ứng được các yêu cầu như: tinh gọn, hiệu quả, hiệu lực; đúng chức năng nhiệm vụ; phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận; vận hành một cách nhịp nhàng vì dù có chính sách đúng đắn, hợp lý nhưng việc tổ chức bộ máy quản lý không phù hợp với trình độ chuyên môn, bộ máy tổ chức chồng chéo… thì công tác quản lý không thể đạt hiệu quả cao được Do đó công tác quản lý thuế đòi hỏi CQT phải luôn kiện toàn bộ máy tổ chức để quản lý thuế GTGT đạt hiệu quả cao
- V ứng dụng công nghệ thông tin: Quản lý thông tin NNT cần được áp
dụng công nghệ hiện đại, trang bị một cách đồng bộ, đầy đủ đảm bảo cho việc lưu trữ, xây dựng hệ thống thông tin hiện đại, hỗ trợ giám sát, phân tích, đánh giá mức độ tuân thủ thuế Mặt khác, nhằm hỗ trợ NNT trong việc chấp hành pháp luật thuế của NNT thông qua kênh khai thuế, nộp thuế điện tử,…
Trình độ và kỹ năng cũng như khả năng phát triển của cán bộ thuế trong tương lai và thái độ trong quá trình làm việc sẽ tác động trực tiếp đến hiệu quả của công tác quản lý thuế
Hơn nữa sự phối hợp giữa bộ phận chức năng trong CQT cũng ảnh hưởng rất lớn đối với quản lý sự tuân thủ tự nguyện của DN
Trang 39Với yêu cầu hiện nay của ngành thuế, đòi hỏi c án b ộ thuế phải không ngừng nâng cao về quan điểm, lập trường, đạo đức, về trình độ nghiệp vụ thuế,
về khả năng tổ chức quản lý, thông thạo về kế toán, kiểm toán, có trình độ ngoại ngữ, biết sử dụng vi tính phù hợp với sự phát triển của ngành và đáp ứng được yêu cầu quản lý ngày càng cao trong tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ngày càng đa dạng và phức tạp
Đi u kiện vật chất: Đây cũng là một trong những nội dung trong chương
trình cải cách hệ thống Thuế Cơ sở vật chất tốt, một môi trường làm việc hiện đại, chuyên nghiệp sẽ tạo điều kiện cho cán bộ công chức thuế thực hiện nhiệm vụ của mình được tốt hơn
c Ý thức chấp hành pháp luật của NNT
Ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT là yếu tố có ảnh hưởng quyết định tới việc thực thi luật thuế GTGT Ý thức chấp hành này thể hiện rõ rệt qua hành vi tự khai nộp thuế của các đối tượng kinh doanh Khi NNT có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế, hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra Công tác quản lý thu thuế và thanh tra, kiểm tra thuế cũng sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn Vì vậy trình độ hiểu biết
và ý thức chấp hành pháp luật thuế của NNT ở mỗi quốc gia trong từng thời
kỳ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tính chất, quy mô, trình độ cần phải có của công tác quản lý thuế để đáp ứng yêu cầu quản lý thuế
d Các yếu tố khác
- Các Ngân hàng, Kho bạc: Đây là những tổ chức thu thuế vào quỹ
NSNN, là một trong những yếu tố làm giảm chi phí quản lý hành chính thuế
Hệ thống Ngân hàng, Kho bạc được tổ chức, bố trí hợp lý, áp dụng những phương thức thanh toán hiện đại sẽ có tác dụng đến sự thuận tiện cho DN trong việc nộp thuế kịp thời vào NSNN, đồng thời hỗ trợ CQT trong việc
Trang 40- Các t chức cung cấp dịch vụ tư vấn v thuế: Các tổ chức này có các
chuyên gia tư vấn thuế cung cấp các dịch vụ đào tạo, hướng dẫn chính sách thuế, thực hiện các thủ tục về thuế,… do đó, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý thuế, các tổ chức này góp phần giảm đáng kể gánh nặng tư vấn,
hỗ trợ cho CQT
- Môi trường kinh tế: Các yếu tố tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá, thất
nghiệp, chi tiêu Chính phủ cũng ảnh hưởng đến số thuế thực tế nộp vào NSNN vì hoạt động kinh doanh của DN đều chịu sự tác động của môi trường kinh tế
- Khoa học và công nghệ: Việc quản lý thuế cần dựa trên cơ sở thu thập
thông tin, phân tích đánh giá theo các tiêu thức quản lý để phân loại, lựa chọn phương thức theo mức độ rủi ro phù hợp với đặc điểm, trình độ của từng loại ĐTNT Thông tin và dữ liệu trong chương trình quản lý thuế cần bảo đảm phản ánh đúng, đủ và kịp thời nghĩa vụ nộp thuế của DN
Vì vậy có thể nói khoa học và công nghệ sẽ tác động rất lớn đến công tác quản lý thu thuế như: góp phần tăng thu, cải tiến quy trình quản lý thu thuế, cung cấp thông tin thu - nộp thuế nhanh, từ đó nâng cao hiệu quả hiệu lực quản lý của cơ quan quản lý thu thuế
- Quan hệ thanh toán: Trình độ phát triển của quan hệ thanh toán trong
nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế GTGT Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt phát triển thì việc thu nộp thuế sẽ đơn giản và hiệu quả hơn nhiều Khi đó, ĐTNT có thể nộp thuế vào Kho bạc Nhà nước thông qua các ngân hàng, còn cán bộ quản lý thuế sẽ dễ dàng xác định được các hoạt động cũng như doanh thu và chi phí của ĐTNT thông qua hệ thống tài khoản của họ ở ngân hàng, điều đó sẽ làm giảm thời gian thu ngân sách, tránh được tình trạng chây ỳ của ĐTNT, hạn chế được tình trạng thất thu do bỏ sót khi tính thuế và hạn chế được tình trạng gian lận trong kê khai tính thuế của ĐTNT