Tuy nhiên, với đặc thù của một lĩnh vực kinh doanh đầy nhạy cảm, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả trực tiếp và gián tiếp, rủi ro ngân hàng lớn là yếu tố không thể tránh khỏi và có khả
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Thế Giới Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, trung thực Toàn bộ nội dung luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Đặng Văn Hùng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục đề tài 3
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3
CHƯƠNG l CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DN CỦA NHTM 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ RRTD VÀ QUẢN TRỊ RRTD TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NHTM 5
1.1.1 Khái niệm rủi ro 5
1.1.2 RRTD trong NHTM 6
1.1.3 Quản trị RRTD trong việc cho vay DN tại các NHTM 12
1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY DN TẠI NHTM 16
1.2.1 Nhận dạng các nhân tố gây ra RRTD trong cho vay DN 16
1.2.2 Đo lường RRTD trong cho vay DN 29
1.2.3 Kiếm soát RRTD 37
1.2.4 Tài trợ RRTD 39
1.3 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP 40
1.3.1 Mức giảm tỷ lệ nợ quá hạn 40
1.3.2 Biến động trong cơ cấu nhóm nợ 40
1.3.3 Mức giảm tỷ lệ nợ xấu 41
1.3.4 Mức giảm tỷ lệ xóa nợ ròng so với tổng dư nợ 42
Trang 51.3.5 Mức giảm tỷ lệ trích lập dự phòng RRTD 43
1.4 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI NHTM 43
1.4.1 Nhóm nhân tố bên ngoài 43
1.4.2 Nhóm nhân tố bên trong 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 48
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY DN TẠI AGRIBANK- CHI NHÁNH BUÔN HỒ 49
2.1 GIỚI THIỆU VỀ AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 49
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 49
2.1.2 Bộ máy tổ chức và các hoạt động kinh doanh của Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ 52
2.1.3 Chính sách tín dụng của Agribank và Agribank –Chi nhánh Buôn Hồ 55
2.1.4 Khái quát hoạt động kinh doanh của Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ giai đoạn (2012– 2015) 58
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 68
2.2.1 Đánh giá tình hình hoạt động của các DN trên địa bàn 68
2.2.2 Đánh giá cơ chế chính sách có tác động đến hoạt động cho vay DN trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk 69
2.3 THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 72
2.3.1 Tình hình RRTD trong cho vay DN (2012- 2015) 72
2.3.2 Tình hình RRTD cho vay DN theo thời hạn cho vay 74
2.4 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD DOANH NGHIỆP TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 76
Trang 62.4.1 Mô hình quản trị RRTD tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ 76
2.4.2 Công tác nhận dạng RRTD trong cho vay DN tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ 77
2.4.3 Công tác đo lường và đánh giá RRTD trong cho vay DN 80
2.4.4 Kiếm soat RRTD trong cho vay doanh nghiệp 82
2.4.5 Tài trợ RRTD trong cho vay DN 83
2.5 ĐÁNH GIÁ CHUNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY DN TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 84
2.5.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản trị RRTD 84
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản trị RRTD 85 KÊT LUẬN CHƯƠNG 2 89
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QTRR TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DN TẠI AGRIBANK- CHI NHÁNH BUÔN HỒ 90
3.1 MỤC TIÊU HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 90
3.1.1 Định hướng chung 90
3.1.2 Giải pháp chính và mục tiêu tín dụng trong thời gian đến 91
3.2 CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP TẠI AGRIBANK – CHI NHÁNH BUÔN HỒ 92
3.2.1 Nhóm giải pháp về nghiệp vụ quản trị RRTD trong cho vay doanh nghiệp 92
3.2.2 Nhóm giải pháp giảm thiểu rủi ro từ việc xây dựng và hoàn thiện chính sách tín dụng trong cho vay DN 100
3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy trình cấp tín dụng trong cho vay DN tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ 101
Trang 73.2.4 Nhóm giải pháp về nhân sự và cơ cấu tổ chức 105
3.2.5 Nhóm giải pháp hỗ trợ 108
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 109
3.3.1 Đối với Ngân hàng Nhà nước 109
3.3.2 Đối với Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ 112
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 117
KẾT LUẬN 118 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Agribank Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Agribank – Chi
Agribank Hội đồng Thành viên Agribank
UBND Ủy ban nhân dân
DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
Trang 11DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn gửi (2012-2015) 62 2.2 Cơ cấu nguồn vốn theo đối tƣợng KH (2012 – 2015) 62
2.4 Cơ cấu dƣ nợ KH theo thành phần kinh tế (2012-2015) 67 2.5 Phân loại dƣ nợ cho vay DN (2012-2015) 72
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng của nền kinh tế Việt Nam vào nền kinh tế thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tài chính của nước ta, thị trường ngân hàng cũng đã có nhiều khởi sắc, đánh dấu bước phát triển mới cả về chất lẫn về lượng của hệ thống NHTM Việt Nam Tuy nhiên, với đặc thù của một lĩnh vực kinh doanh đầy nhạy cảm, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố cả trực tiếp và gián tiếp, rủi ro ngân hàng lớn là yếu tố không thể tránh khỏi và có khả năng trở thành nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sự phát triển bền vững của các ngân hàng nói riêng, thị trường tài chính và nền kinh tế nói chung Trong các hoạt động của ngân hàng hiện nay, có thể nói hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản và quan trọng vào bậc nhất, mang lại nguồn thu chủ yếu của các NHTM Thông qua hoạt động cho vay của mình, các ngân hàng đã góp phần cung ứng vốn cho các DN, giúp hệ tuần hoàn của nền kinh tế hoạt động một cách ổn định và hiệu quả Mặc dù vậy, cùng với việc đem lại thu nhập đáng kể cho ngân hàng thì lĩnh vực tín dụng cũng mang trong mình rủi ro rất lớn bởi các quy luật kinh tế đã chứng minh rằng, lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng lớn RRTD không chỉ khiến các ngân hàng phải gia tăng chi phí, chậm thu lãi, thậm chí là thất thoát vốn vay, làm xấu đi tình hình tài chính, làm tổn hại đến uy tín và vị thế, thậm chí ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của chính họ, mà nó còn tác động ảnh hưởng lớn đến cả hệ thống ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế Tuy nhiên, đây lại là rủi ro tất yếu trong hoạt động tín dụng, chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa hoặc giảm thiểu thiệt hại tối đa khi RRTD xảy ra
Thực tiễn hoạt động tín dụng của hệ thống NHTM Việt Nam thời gian qua cũng cho thấy RRTD của toàn hệ thống chưa thực sự được kiểm soát một
Trang 13cách hiệu quả và đang có xu hướng ngày một gia tăng, nhất là RRTD trong cho vay DN Chính vì vậy, RRTD trong cho vay DN càng cần thiết phải có được quan tâm quản lư, kiểm soát một cách bài bản và có hiệu quả, đảm bảo tín dụng hoạt động trong phạm vi rủi ro chấp nhận được, hỗ trợ việc phân bổ vốn hiệu quả hơn trong hoạt động tín dụng, giảm thiểu các thiệt hại phát sinh
từ RRTD và tăng thêm lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh tiền tệ, góp phần nâng cao uy tín và tạo ra lợi thế cạnh tranh của ngân hàng và đặc biệt là đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế bền vững, ổn định tính hình kinh tế xã hội và đời sống nhân dân
Với mục tiêu hướng tới xây dựng mô hình một ngân hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế, hiện đại và vững mạnh, Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ trong quá trình chuyển đổi luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu đối với vấn đề quản trị, kiểm soát tốt các loại rủi ro, trong đó đặc biệt là quản trị RRTD trong cho
vay DN Đó là lư do tôi chọn đề tài “Quản trị RRTD trong cho vay DN của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Buôn Hồ, tỉnh Đăk Lăk” làm luận văn tốt nghiệp cao học
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, giải quyết ba vấn đề cơ bản là:
- Hệ thống hóa các vấn đề lư luận về quản trị RRTD trong cho vay DN
của NHTM
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động quản trị RRTD trong cho vay
DN tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ, từ đó đi đến những nhận định về những mặt tích cực cũng như những mặt hạn chế của công tác quản trị này
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị RRTD
trong cho vay DN có thể áp dụng trong thực tiễn tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ
Trang 143 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lư luận liên quan đến hoạt động
quản trị RRTD trong cho vay DN của NHTM và thực tiễn công tác quản trị RRTD trong cho vay DN tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ
+ Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu hoạt động quản trị RRTD trong cho vay DN, không bao gồm các loại rủi ro khác trong hoạt động kinh doanh Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ
+ Về không gian, thời gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu tại Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ trong khoảng thời gian từ năm 2012-2015
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện, luận văn dựa trên cơ sở tiến hành thu thập dữ liệu, phân tích và đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng trong cho vay DN theo quan điểm của chính tác giả Đồng thời vận dụng kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan để làm phong phú và sâu sắc hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Tài liệu tham khảo, nghiên cứu về lĩnh vực liên quan lĩnh vực quản trị
Trang 15RRTD rất nhiều, tác giả đã chọn lọc, tham khảo một số tài liệu nghiên cứu tiêu biểu có liên quan như sau:
- Một số luận văn có nội dung gần với đề tài nghiên cứu
- Một số cuốn sách chuyên ngành về Tài chính Tiền tệ, Quản trị ngân hàng thương mại và tài liệu giảng dạy bộ môn quản trị ngân hàng thương mại của Trường Đại học kinh tế - Đại học Đà Nằng, Trường đại học kinh tế TP
Hồ Chí Minh
- Tác giả cũng tham khảo thêm một số tài liệu có tính thực tiễn hơn, bao gồm: Luật các tổ chức tín dụng; Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của thống đốc NHNN Việt Nam về “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lư rủi ro cho vay trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”; Các báo cáo thường niên, quy trình, văn bản, chế độ chính sách do Agribank ban hành; Báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2012 - 2015 của Agribank – Chi nhánh Buôn Hồ là nguồn tài liệu quan trọng giúp tác giả tập hợp số liệu viết đề tài
Trang 161.1.1 Khái niệm rủi ro
Cho đến nay, có rất nhiều định nghĩa về rủi ro, rất đa dạng, phong phú nhưng tựu trung lại có thể chia làm 2 trường phái lớn: Trường phái truyền thống (hay còn gọi là trường phái tiêu cực) và trường phái trung hòa (còn gọi là trường phái hiện đại) Có thể tóm tắt các khái niệm hai trường phái này như sau:
a Theo trường phái truyền thống
Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra với con người
Thực tế cho thấy, chúng ta đang sống trong một thế giới mà rủi ro luôn tiềm ẩn và ngày càng tăng theo chiều hướng khác nhau Xã hội loài người càng phát triển, hoạt động của con người ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp, thì rủi ro cho con người cũng ngày càng nhiều và đa dạng hơn, mỗi ngày qua lại xuất hiện những loại rủi ro mới, chưa từng có trong quá khứ Con người cũng quan tâm nhiều hơn đến việc nghiên cứu rủi ro, trong quá trình nghiên cứu có nhận thức về rủi ro của con người cũng thay đổi, trở nên khoan dung, trung hòa hơn
b Theo trường phái hiện đại
Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro có tính hai mặt: vừa
có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực Rủi ro có thể gây ra những tổn thất, mất mát, nguy hiểm nhưng đồng thời, rủi ro có thể mang đến cho con người những cơ hội
Trang 17Do đó, nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro, người ta không chỉ tìm ra những biện pháp phòng ngừa, né tránh những rủi ro thuần túy, hạn chế, giảm thiểu những thiệt hại do rủi ro gây ra
mà có thể biến thách thức thành những cơ hội mang lại những kết quả tốt đẹp trong tương lai
1.1.2 RRTD trong NHTM
a Khái niệm về RRTD
RRTD là rủi ro mà các dòng tiền (cash flows) được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ
Các định nghĩa khá đa dạng nhưng tựu trung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của RRTD như sau:
- RRTD khi người vay sai hẹn trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp
đồng, bao gồm vốn và hoặc lãi Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán
- RRTD sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và
giảm giá trị thị trường của vốn Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản
- Đối với các nước đang phát triển như ở Việt Nam, các ngân hàng
thiếu đa dạng trong kinh doanh các dịch vụ tài chính, các sản phẩm dịch vụ còn nghèo nàn, vì vậy tín dụng được coi là dịch vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất, đặc biệt đối với các ngân hàng nhỏ Vì vậy rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng
- Mặt khác, rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của ngân hàng là hai đại lượng
đồng biến với nhau trong một phạm vi nhất định, lợi nhuận kỳ vọng càng cao thì rủi ro tiềm ẩn càng lớn
- Rủi ro là một yếu tố khách quan cho nên người ta không thể nào loại
trừ hoàn toàn được mà chỉ có thể hạn chế sự xuất hiện của chúng cũng như tác
Trang 18hại do chúng gây ra
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về RRTD, tựu trung chúng ta có thể khái quát chung định nghĩa như sau: RRTD là rủi ro về sự tổn thất tài chính (trực tiếp hoặc gián tiếp) xuất phát từ việc người đi vay không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng
b Đặc điểm của RRTD trong hoạt động kinh doanh của NHTM
- RRTD mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho KH RRTD xảy ra khi KH gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn; Hay nói cách khác những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của KH là nguyên nhân chủ yếu gây nên RRTD của ngân hàng
- RRTD có tính chất đa dạng và phức tạp: đặc điểm này biểu hiện ở sự
đa dạng, phức tạp của nguyên nhân, hình thức, hậu quả của RRTD do đặc trưng ngân hàng là trung gian tài chính kinh doanh tiền tệ Do đó khi phòng ngừa và xử lư RRTD phải chú ý đến mọi dấu hiệu rủi ro, xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả do RRTD đem lại để có biện pháp phòng ngừa phù hợp
- RRTD có tính tất yếu tức luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng của NHTM: tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng Kinh doanh ngân hàng thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng
b Phân loại RRTD trong NHTM
Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà phân loại RRTD phù hợp:
Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì RRTD được phân thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ quan
- Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên
Trang 19tai, người vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực nghiêm túc các chế độ, chính sách
- Rủi ro chủ quan là rủi ro do chủ quan của người vay và người cho vay
vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại theo sơ đồ sau đây:
Hình 1.1 Phân loại RRTD
- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát
sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH Rủi ro giao dịch bao gồm:
+ Rủi ro lựa chọn: rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để quyết định tài trợ của ngân hàng chưa tốt, thiếu bao quát, có nhiều sơ hở dẫn đến rủi ro
+ Rủi ro bảo đảm: rủi ro phát sinh từ các vấn đề liên quan đến đảm bảo tài sản như điều khoản bảo đảm tín dụng thiếu chặt chẽ, danh mục tài sản đảm bảo thiếu tính cụ thể, hình thức bảo đảm và phương pháp xử lý tài sản còn bất cập
+ Rủi ro nghiệp vụ: rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng nội bộ và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề
Rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch
Rủi ro danh mục
Rủi ro
lựa chọn
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro nghiệp vụ
Rủi ro nội tại
Rủi ro tập trung
Trang 20- Rủi ro danh mục: RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn
chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân thành:
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn
+ Rủi ro tập trung: rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều DN hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc cùng một vùng địa lý nhất định
Căn cứ vào hình thức tài trợ vốn,RRTD bao gồm rủi ro nội bảng
(cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính ) và rủi ro ngoại bảng (bảo lãnh, cam kết thanh toán L/C )
Căn cứ theo tác động đến danh mục tín dụng, RRTD bao gồm:
- Rủi ro đặc thù: RRTD của một người vay cụ thể phát sinh do những
kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện Có thể hiểu RRTD đặc thù là một kiểu rủi ro mà với mỗi dự án khác nhau mang lại những rủi ro khác nhau Với dự án này thì yếu tố rủi ro nằm ở điểm này nhưng dự án khác thì yếu tố rủi ro lại nằm ở điểm khác, tức nguyên nhân của RRTD không giống nhau Mỗi khoản tín dụng được cấp sẽ có những đặc trưng khác nhau, không khoản cho vay nào giống nhau và do đó cũng đưa đến những RRTD khác nhau Rủi ro đặc thù có thể tối thiểu hóa rủi ro nhờ đa dạng hóa
- Rủi ro hệ thống: RRTD phát sinh do những điều kiện, bối cảnh chung
của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay Khác với rủi ro đặc thù, rủi ro hệ thống không thể đa dạng hóa được và
do đó các Ngân hàng chỉ biết chấp nhận rủi ro chứ không thể tránh được bởi
đó là điều tất yếu
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo
cơ cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn hình thành, theo đối tượng sử dụng vốn vay
Trang 21c Các nhân tố gây ra RRTD trong NHTM
Nhân tố khách quan từ môi trường bên ngoài:
- Nhân tố bất khả kháng: Các thiệt hại do thiên tai, bão lụt, hạn hán,
hỏa hoạn, động đất…
- Thông tin không cân xứng: Thông tin không cân xứng trên thị trường
tài chính dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức đã đặt các ngân hàng trước nguy cơ rủi ro cao
- Môi trường kinh tế: Có ảnh hưởng đến sức mạnh tài chính của người
đi vay và thiệt hại hay thành công đối với người cho vay
- Nhân tố chính sách của Nhà nước: Trong điều kiện kinh tế mở cửa
dưới nhiều hình thức và phương tiện, những biến động lớn về kinh tế chính trị trên thế giới có ảnh hưởng đến các quan hệ kinh tế đối ngoại của một nước
mà biểu hiện là cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái biến động dẫn đến sự biến động của giá cả hàng hóa xuất nhập khẩu, lãi suất, mức cầu tiền tệ
- Môi trường pháp lý: Cùng với môi trường kinh tế, môi trường pháp lý
tạo nên môi trường cho vay của các NHTM Môi trường cho vay có thể ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực, có thể làm hạn chế hay tăng thêm rủi ro đối với hoạt động kinh doanh tín dụng của các NHTM
. Nhân tố từ phía người vay
Nhân tố từ phía người đi vay là một trong những nhân tố chính gây ra RRTD cho ngân hàng Nhìn chung các nhân tố này, ngân hàng có thể xác định được thông qua quá trình tìm hiểu, nắm vững tình hình sức khỏe của KH
cả trước, trong và sau khi cho vay, tìm hiểu mục đích sử dụng tiền vay và hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh
- Rủi ro trong kinh doanh của người đi vay: Rủi ro trong kinh doanh
của DN được thể hiện ở mức độ biến động ít hay nhiều theo chiều hướng xấu của kết quả kinh doanh Rủi ro trong kinh doanh của DN sẽ xảy ra nếu việc xây dựng và triển khai các phương án, dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của
Trang 22DN không khoa học, việc dự toán chi phí và xác định mức sản lượng không phù hợp Các thiệt hại DN phải gánh chịu do sự biến động của thị trường cung cấp, thị trường tiêu thụ
- Rủi ro tài chính: Rủi ro tài chính của DN thể hiện ở các DN không thể
đối phó với các nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi tiền vay cho chủ nợ Rủi ro tài chính diễn ra cùng với mức độ sử dụng nợ, nó gắn liền với cơ cấu tài chính DN
- Công tác quản lý kinh doanh còn hạn chế: Năng lực quản lý kinh
doanh yếu kém cũng là lư do phát sinh rủi ro Nhiều DN đầu tư vào nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý hoặc sử dụng vốn sai mục đích Quy mô kinh doanh vượt quá khả năng, phình ra quá to so với tư duy, trình độ quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi
mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
- Thái độ thiếu thiện chí và bất hợp tác của người vay: Công tác quản
lý tài chính kế toán còn tùy tiện, thiếu đồng bộ, mang tính đối phó, nguồn thông tin cung cấp cho ngân hàng không chính xác, mang tính chất hình thức
Nhân tố từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng không hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi
nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều vào một DN hoặc một ngành kinh tế nào đó
- Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thông tin hoặc phân tích thông tin
không đầy đủ dẫn đến cho vay và đầu tư không hợp lý
- Cán bộ tín dụng không tuân thủ chính sách tín dụng, không chấp hành
đúng quy trình cho vay, vi phạm đạo đức kinh doanh
- Định giá tài sản không đảm bảo không chính xác hoặc không thực
hiện đầy đủ thủ tục pháp lý cần thiết
- Cạnh tranh giữa các ngân hàng quá gay gắt thậm chí không lành
mạnh; các ngân hàng chạy theo quy mô, bỏ qua các tiêu chuẩn, điều kiện cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay
Trang 23Theo các nhà nghiên cứu, nhân tố chủ yếu gây ra các khoản nợ có vấn
đề xuất phát từ KH, ngân hàng và hoàn cảnh khách quan Trong đó, nhân tố từ phía KH chiếm tỷ lệ cao nhất, kế tiếp là nhân tố từ phía ngân hàng, số còn lại
là do các nhân tố từ hoàn cảnh khách quan
d Tác động chủ yếu của RRTD đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng
- RRTD làm giảm lợi nhuận Ngân hàng: Khi RRTD xảy ra, ngân hàng
không thu hồi được nợ vay như dự kiến ban đầu, làm chậm tốc độ vòng quay vốn, gây ra những thiệt hại về tài chính, thêm vào đó là quá trình hoạt động kinh doanh gặp khó khăn, bế tắc, thu nhập giảm, kết quả là làm giảm lợi nhuận của ngân hàng
- RRTD làm gia tăng các loại rủi ro khác cho NH: rủi ro thanh khoản,
rủi ro lãi suất, rủi ro vỡ nợ Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc thu hồi vốn gặp khó khăn, trong lúc đó các khoản tiền gửi, tiết kiệm của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn, kết quả là ngân hàng gặp khó khăn trong thanh toán
- RRTD làm tăng nguy cơ phá sản của ngân hàng: RRTD kéo dài gây
thất thoát lượng vốn quá lớn dẫn đến các NHTM có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản Việc phá sản một ngân hàng
có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền có tính hệ thống gây nên phá sản các ngân hàng khác nếu ngân hàng phá sản ban đầu có vị thế quan trọng trong hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) và có thể làm suy sụp toàn bộ nền kinh tế, chính trị của một quốc gia
- RRTD làm giảm uy tín của NH, giảm sút giá trị thương hiệu và hình
ảnh của NH: RRTD ở mức độ cao phản ánh năng lực hoạt động kinh doanh của ngân hàng không tốt, làm suy giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường
1.1.3 Quản trị RRTD trong việc cho vay DN tại các NHTM
a Khái niệm quản trị RRTD và quản trị RRTD trong cho vay DN
Trang 24Nếu tiếp cận theo các nội dung của lý thuyết quản trị rủi ro thì quản trị RRTD là quá trình tiếp cận RRTD một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, đo lường, kiểm soát, và tối thiểu hoá những tác động bất lợi của RRTD
Như vậy, quản trị RRTD trong cho vay DN là những hoạt động quản trị RRTD vận dụng trong lĩnh vực cho vay DN của NHTM
b Ý nghĩa của việc quản trị RRTD trong cho vay DN của NHTM
- Là trách nhiệm của hầu hết các NHTM
- Giúp hạn chế những khoản nợ xấu, khoản nợ khó thu hồi, tránh nguy
cơ phá sản ngân hàng
- Giúp ngân hàng không gặp khó khăn trong khâu thanh toán, tăng uy
tín của ngân hàng trên thị trường tài chính tiền tệ
- Năng lực quản trị RRTD càng được mở rộng thì lợi nhuận của ngân
hàng càng tăng cao
- Góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội
c Đặc điểm của KH DN trong công tác quản trị RRTD
Khái niệm DN: DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
Các loại hình DN: Theo Luật DN số 68/2014/QH13 ngày
26/11/2014 củaViệt Nam hiện nay, có 7 loại hình DN chính trong đó bao gồm
có các loại hình DN như sau:
- DN nhà nước: là tổ chức kinh tế nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ
hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối; được tổ chức dưới hình thức công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần…
- Loại hình DN tư nhân: Đây là loại hình DN do một cá nhân đứng tên
xây dựng làm chủ chịu trách nhiệm với pháp luật về các hoạt động cũng như tài sản của DN và chịu một số giới hạn so với DNNN DNTN phải chịu vô
Trang 25hạn về các khoản nợ cũng như lãi suất của DN đó; vốn của DNTN do chủ DNTN tự khai Chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ đến hạn của DN Có nghĩa là chủ DN có trách nhiệm chịu toàn bộ các tài sản của mình trong kinh doanh lẫn ngoài kinh doanh của DN đó và DN tư nhân không được phát hành chứng khoán để huy động vốn trong kinh doanh và các
DN tư nhân không có tư cách pháp nhân
- Loại hình Hợp tác xã: Đây là một loại hình tổ chức tập thể do các cá
nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu góp vốn xây dựng, góp sức sáng lập Cán bộ, công chức được tham gia hợp tác xã với tư cách là xã viên theo quy định của Điều lệ Hợp tác xã nhưng không được trực tiếp quản lý, điều hành hợp tác xã Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung cùng đóng góp công sức để họat động kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
- Loại hình DN Công ty cổ phần: Đây là loại hình DN, vốn điều lệ được
chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Cổ đông chỉ chịu TNHH về
nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; các cổ đông có thể bán các cổ phần hoặc chuyển nhượng cổ phần của mình cho các thành viên hay cá nhân khác Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa Công
ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh về vốn của công ty Các cổ đông chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn đã góp vào công ty (đến hết giá trị cổ phần mà họ sở hữu) Công ty cổ phần có quyền phát hành các loại chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác để huy động vốn Cuối cùng là chuyển nhượng phần vốn góp (cổ phần) Cổ phần của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu Các
cổ phiếu của công ty cổ phần được coi là hàng hoá, được mua, bán, chuyển nhượng tự do theo quy định của Pháp luật
Trang 26- Loại hình DN công ty TNHH: Đây là loại hình DN phổ biến hiện nay,
đây là loại hình DN có hai thành viên trở lên và công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần
Công ty TNHH từ hai thành viên chịu trách nhiệm bằng tài sản của công ty; các thành viên công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn cam kết góp vào công ty Trong suốt quá trình hoạt động, ít nhất phải có từ hai thành viên và tối đa không quá 50 thành viên tham gia công ty
Đối với công ty TNHH một thành viên, là DN do một tổ chức hoặc một
cá nhân làm chủ sở hữu; chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ
và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệ của DN Công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phần Đặc điểm của công ty TNHH một thành viên, về chủ sở hữu công ty do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu
Công ty TNHH một thành viên là tổ chức có tư cách pháp nhân và phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của DN trong phạm vi vốn điều lệ Về phát hành chứng khoán, Công ty TNHH một thành viên không được phát hành cổ phần để huy động vốn trong kinh doanh; về chuyển nhượng vốn góp được thực hiện theo quy định của Pháp luật
- Loại hình DN Công ty hợp danh: Đây là loại hình đặc trưng của công
ty đối nhân, trong đó có các cá nhân và thương nhân cùng hoạt động lĩnh vực thương mại dưới một hãng và cùng nhau chịu mọi trách nhiệm về các khoản
nợ của công ty Công ty hợp danh ở nước ta hiện nay có một số quan điểm khác với cách hiểu truyền thống về công ty hợp danh.Theo đó công ty hợp danh được định nghĩa là một loại hình DN, với những đặc điểm pháp lý cơ bản, đặc thù riêng theo quy định Pháp luật
- Loại hình DN Công ty liên doanh: Đây là loại hình DN công ty do hai
Trang 27hay nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài nhằm tiến hành hoạt động kinh doanh các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Việt Nam Đây là loại hình DN do các bên tổ chức hợp thành
Nhìn chung, các DN tại Việt Nam hiện nay có một số đặc điểm là:
- Phát triển mang tính phân tán và thiếu quy hoạch định hướng chung
- Số lượng DN nhiều, nhưng đa số có quy mô nhỏ phân tán đi kèm với
công nghệ còn lạc hậu
- Trình độ quản lý kinh doanh chưa cao
- Khả năng tài chính còn hạn chế
- Năng lực cạnh tranh của DN còn nhiều bất cập
- Khả năng lập dự án, thuyết minh phương án kinh doanh chưa tốt
- Báo cáo tài chính thiếu minh bạch, rõ ràng
1.2 NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RRTD TRONG CHO VAY DN TẠI NHTM
Công tác quản trị RRTD trong cho vay DN tại các NHTM được thực hiện theo 04 bước sau:
1.2.1 Nhận dạng các nhân tố gây ra RRTD trong cho vay DN
Nhận dạng RRTD trong cho vay DN bao gồm các công việc: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động tín dụng và toàn bộ hoạt động tín dụng của ngân hàng từ một số các dấu hiệu nhận biết RRTD trong cho vay DN
a Các dấu hiệu nhận biết RRTD trong cho vay DN
Có thể tập hợp theo các nhóm sau đây:
Nhóm các Dấu hiệu RRTD liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng:
- Trong quá trình hạch toán của KH, xu hướng các tài khoản của KH qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệu quan trọng gồm: Phát hành séc quá bảo chứng hoặc bị từ chối; khó khăn trong thanh toán
Trang 28lương; sự dao động của các tài khoản mà đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi…
- Các hoạt động vay: Mức độ vay thường xuyên gia tăng; thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi; thường xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn; yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến
- Phương thức tài chính: Sử dụng nhiều các khoản tài trợ thương mại cho các hoạt động phát triển dài hạn; chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất, thường xuyên sử dụng nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải trả; giảm các khoản phải trả và tăng các khoản phải thu; các hệ số thanh toán phát triển theo chiều hướng xấu; có biểu hiện giảm vốn điều lệ
Nhóm các Dấu hiệu RRTD liên quan đến phương pháp quản lý của KH:
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị hoặc ban điều
- Quản lý có tính chất gia đình: có biểu hiện thiếu tin tưởng vào những người quản lý không thuộc gia đình; cho thành viên của gia đình chưa được đào tạo, huấn luyện đầy đủ đảm đương các cương vị then chốt
- Có tranh chấp trong quá trình quản lý
- Có các chi phí quản lý bất hợp lý: Tập trung quá nhiều chi phí để gây
ấn tượng như thiết bị văn phòng quá hiện đại, phương tiện giao thông đắt tiền;
Trang 29Ban Giám đốc có cuộc sống xa hoa, lẫn lộn giữa chi phí kinh doanh và tài chính cá nhân
Nhóm các Dấu hiệu RRTD liên quan tới các ưu tiên trong kinh doanh:
- Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: DN bị ám ảnh bởi một KH có tên tuổi mà sau này có thể trở nên lệ thuộc; Ban Giám đốc cắt giảm lợi nhuận nhằm có được những hợp đồng lớn
- Dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: Bị ám ảnh bởi một sản phẩm mà không chú ý đến các yếu tố khác
- Sự cấp bách không thích hợp như: Do áp lực nội bộ dẫn tới việc tung
ra sản phẩm dịch vụ quá sớm, các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra không thực tế, tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc…
Nhóm các Dấu hiệu RRTD thuộc vấn đề kỹ thuật thương mại:
- Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất; thay đổi thị hiếu; cập nhật kỹ thuật mới; mất nhà cung ứng hoặc KH lớn; thêm đối thủ cạnh tranh
- Sản phẩm của KH mang tính thời vụ cao
- Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế
Nhóm các Dấu hiệu RRTD về xử lý thông tin tài chính, kế toán:
- Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính hoặc chậm trễ, trì hoãn nộp các báo cáo tài chính
- Những kết luận về phân tích tài chính cho thấy: Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên; khả năng tiền mặt giảm; tăng doanh số bán nhưng lãi giảm hoặc không có số KH tăng, nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các khoản nợ kéo dài; hoạt động kinh doanh thua lỗ…
- Những dấu hiệu phi tài chính khác: Những vấn đề về đạo đức, dáng
vẻ của nhà kinh doanh; sự xuống cấp trông thấy của văn phòng làm việc, nhà xưởng kinh doanh; kho lưu trữ hàng hoá quá nhiều, hư hỏng và lạc hậu
Trang 30b Một số phương pháp nhận dạng rủi ro trong cho vay DN
Phương pháp phân tích tài chính: là phương pháp đánh giá tình
hình tài chính của DN thông qua các báo cáo tài chính là hiện đại và phổ biến nhất hiện nay Một báo cáo tài chính DN cho ta thấy trạng thái tài chính của một tổ chức như lợi nhuận, phi lợi nhuận nhằm đưa ra các quyết định phù hợp Ngoài ra, một cách gián tiếp, báo cáo tài chính cho ta biết tình hình hoạt động của một tổ chức, thông qua đó, góp phần đánh giá năng lực của bộ máy lãnh đạo tổ chức, các hoạt động của tổ chức đó
Các công cụ phân tích báo cáo tài chính (Các chỉ tiêu chính cần quan tâm trong một báo cáo tài chính):
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán (đây là nhóm chỉ
tiêu quan trọng nhất) Thông qua các chỉ số:
Hệ số khả năng thanh toán chung = Tổng tài sảnNợ phải trả
Hệ số này cho biết tổng tài sản gấp bao nhiêu lần nợ phải trả, là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán chung của DN trong kỳ báo cáo Chỉ tiêu này cho biết: với tổng số tài sản hiện có, DN có bảo đảm trang trải được các khoản nợ phải trả hay không Hệ số này càng cao thì khả năng tự chủ tài chính của DN càng cao Nếu trị số chỉ tiêu "Hệ số khả năng thanh toán chung" của DN luôn ≥ 1, DN bảo đảm được khả năng thanh toán tổng quát và ngược lại; trị số này < 1, DN không bảo đảm được khả năng trang trải các khoản nợ Trị số của “Hệ số khả năng thanh toán chung” càng nhỏ hơn 1, DN càng mất dần khả năng thanh toán Khi hệ số thanh toán chung bằng 1 thì toàn
bộ tài sản của DN được tài trợ bằng vốn vay
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Nợ ngắn hạn phải trảTài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà DN phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh
Hệ số này phản ánh khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền để trang trải
Trang 31các khoản nợ ngắn hạn, hệ số cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN là cao hay thấp Nếu trị số của chỉ tiêu này xấp xỉ bằng 1, DN có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hoặc khả quan Ngược lại, nếu trị số của chỉ tiêu này <
1, DN có khả năng không bảo đảm đáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn Trị
số của chỉ tiêu này càng nhỏ hơn 1, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của DN càng thấp Mặc dù với tỷ lệ nhỏ hơn 1, có khả năng không đạt được tình hình tài chính tốt, nhưng điều đó không có nghĩa là công ty sẽ bị phá sản vì có rất nhiều cách để huy động thêm vốn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn - hàng tồn khoNợ ngắn hạn phải trả
Hệ số này đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của DN, khi xác định chỉ tiêu này hàng tồn kho bị loại trừ, bởi lẽ trong tài sản ngắn hạn, hàng tồn kho được coi là loại tài sản có tính thanh khoản thấp
Nếu trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” quá nhỏ, DN
có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ, nhất là nợ đến hạn vì không
đủ tiền và tương đương tiền và do vậy, DN có thể phải bán gấp, bán rẻ hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ để trả nợ Khi trị số của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nhanh” lớn hơn hoặc bằng 1, mặc dầu DN bảo đảm thừa khả năng thanh toán nhanh song do lượng tiền và tương đương tiền quá nhiều nên sẽ phần nào làm giảm hiệu quả sử dụng vốn; từ đó, làm giảm hiệu quả kinh doanh
Hệ số khả năng thanh toán bằng tiền = Nợ ngắn hạn phải trảTài sản bằng tiền
Hệ số này cho biết DN có bao nhiêu đồng vốn bằng tiền để sẵn sàng thanh toán cho 1 đồng nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = Số tiền lãi vay phải trả trong kỳLợi nhuận trước thuế và lãi vay
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán tiền lãi vay của DN và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ
Trang 32Khả năng trả lãi vay của DN thấp cũng thể hiện khả năng sinh lợi của tài sản thấp Khả năng thanh toán lãi vay thấp cho thấy một tình trạng nguy hiểm, suy giảm trong hoạt động kinh tế có thể làm giảm Lãi trước thuế và lãi vay xuống dưới mức nợ lãi mà công ty phải trả, do đó dẫn tới mất khả năng thanh toán và vỡ nợ Tuy nhiên rủi ro này được hạn chế bởi thực tế Lãi trước thuế và lãi vay không phải là nguồn duy nhất để thanh toán lãi Các DN cũng
có thể tạo ra nguồn tiền mặt từ khấu hao và có thể sử dụng nguồn vốn đó để trả nợ lãi Những gì mà một DN cần phải đạt tới là tạo ra một độ an toàn hợp
lý, bảo đảm khả năng thanh toán cho các chủ nợ của mình
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng hoạt động:
Hệ số quay vòng hàng tồn kho = Hàng tồn kho trung bìnhGía vốn hàng bán
Chỉ số này thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho hiệu quả như thế nào Chỉ số vòng quay hàng tồn kho càng cao càng cho thấy DN bán hàng nhanh và hàng tồn kho không bị ứ đọng nhiều trong DN Có nghĩa là DN sẽ ít rủi ro hơn nếu nhìn thấy trong báo cáo tài chính, khoản mục hàng tồn kho có giá trị giảm qua các năm Tuy nhiên chỉ số này quá cao cũng không tốt vì như thế có nghĩa là lượng hàng dự trữ trong kho không nhiều, nếu nhu cầu thị trường tăng đột ngột thì rất khả năng DN bị mất KH và bị đối thủ cạnh tranh giành thị phần Thêm nữa, dự trữ nguyên liệu vật liệu đầu vào cho các khâu sản xuất không đủ có thể khiến cho dây chuyền bị ngưng trệ Vì vậy chỉ số vòng quay hàng tồn kho cần phải đủ lớn để đảm bảo mức độ sản xuất đáp ứng được nhu cầu KH
Chỉ số vòng quay các khoản phải trả:
Chỉ số này cho biết DN đã sử dụng chính sách tín dụng của nhà cung cấp như thế nào Chỉ số vòng quay các khoản phải trả quá thấp có thể ảnh hưởng không tốt đến xếp hạng tín dụng của DN
Vòng quay các khoản phải trả = Doanh số mua hàng thường niên Phải trả bình quân
Trang 33Tương tự, chỉ số này cho biết số ngày trung bình DN có thể trả nợ
Hệ số quay vòng các khoản phải thu = Doanh số thuần hàng năm/ Các khoản phải thu trung bình
Đây là một chỉ số cho thấy tính hiệu quả của chính sách tín dụng mà
DN áp dụng đối với các bạn hàng Chỉ số vòng quay càng cao sẽ cho thấy DN được KH trả nợ càng nhanh Nhưng nếu so sánh với các DN cùng ngành mà chỉ số này vẫn quá cao thì có thể DN sẽ có thể bị mất KH vì các KH sẽ chuyển sang tiêu thụ sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh cung cấp thời gian tín dụng dài hơn Và như vậy thì DN sẽ bị suy giảm doanh số Khi so sánh chỉ
số này qua từng năm, nhận thấy sự sụt giảm thì rất có thể là DN đang gặp khó khăn với việc thu nợ từ KH và cũng có thể là dấu hiệu cho thấy doanh số đã vượt quá mức
Chu kỳ quay vòng các khỏan phải thu = 365/ vòng quay các khoản phải thu
Cũng tương tự như vòng quay các khoản phải thu, chỉ số này cho chúng
ta biết về số ngày trung bình mà DN thu được tiền của KH
- Nhóm các chỉ tiêu về cấu trúc nguồn vốn
Sử dụng chỉ tiêu Tổng nợ / Tổng tài sản
Hệ số này cho ta thấy kết cấu vay nợ của DN Nếu hệ số này quá cao chứng tỏ DN sử dụng quá nhiều đòn bẩy tài chính, điều này cũng đồng nghĩa với khả năng tự tài trợ của DN là thấp, dễ dẫn đến rủi ro cao và khi có những
Trang 34cơ hội đầu tư hấp dẫn, DN khó có thể huy động được vốn bên ngòai Thông thường hệ số nợ khỏang 20 – 50% là có thể chấp nhận được
- Nhóm các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi
Tỷ suất doanh lợi doanh thu (ROS) = Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên vốn kinh doanh (tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản): ROAE
ROAE = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Tổng tài sản (VKD) Đây là chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó ROAE sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời
Tỷ suất lợi nhuận – vốn kinh doanh (Doanh lợi tổng tài sản): ROA Doanh lợi tổng tài sản (ROA) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Tổng tài sản(VKD) ROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản) ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh Đó là lư do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh giữa các công ty, nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so sánh giữa các công ty tương đồng nhau
Tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (Doanh lợi vốn chủ sở hữu) : ROE Doanh lợi vốn chủ sở hữu (ROE) = Lợi nhuận sau thuế trong kỳ
Vốn chủ sở hữu Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, đánh giá tổng hợp khả năng sinh lợi của
Trang 35tài sản, nếu ROE lớn thì thị giá cổ phiếu thường lớn
Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Hệ số này thường được các nhà đầu
tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào
Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn
Thu nhập ròng một cổ phần thường (EPS)
EPS = Lợi nhuận sau thuế - Cổ tức trả cho cổ đông ưu đãi (nếu có)
Tổng số cổ phần thường đang lưu hành Đây là chỉ tiêu rất quan trọng, nó phản ánh mỗi cổ phần thường (cổ phần phổ thông) trong năm thu được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của DN Những công ty có EPS cao thường có thị giá cổ phiếu lớn
Phương pháp bảng liệt kê (phương pháp check - list): Phương pháp
bảng liệt kê là phương pháp thông qua các câu hỏi về những vấn đề có thể xảy
ra, để từ đó nhận dạng và đánh giá mức độ tác động của từng loại rủi ro
Phương pháp lưu đồ: là một phương pháp có thể giúp chúng ta liệt
kê trình tự các bước đối với một quy trình đầu tư tài chính của một DN Từ những bước liệt kê này, chúng ta có thể dễ dàng xác định rủi ro khi thực hiện
từng bước, từ đó để có những biện pháp khắc phục nhất định
Giao tiếp với các tổ chức chuyên nghiệp:
Các tổ chức chuyên nghiệp đánh giá tín dụng và rủi ro tín dụng (các tổ
Trang 36chức định mức tín nhiệm doanh nghiệp) Đánh giá tín dụng thường dựa trên mức độ tin cậy ước tính của từng cá nhân, công ty, hoặc một quốc gia Đây là một đánh giá của các tổ chức chuyên nghiệp dựa trên lịch sử tín dụng tổng thể của người vay, công ty, hoặc một quốc gia
Đánh giá tín dụng cũng được biết đến như sự đánh giá khả năng để trả
nợ, được chuẩn bị bởi các tổ chức chuyên nghiệp theo yêu cầu của người cho vay Xếp hạng tín dụng được tính từ lịch sử tài chính, tài sản hiện hành và các khoản nợ Thông thường, các công ty đánh giá tín dụng cho người cho vay hoặc chủ đầu tư biết xác suất của các đối tượng có khả năng trả lại khoản vay hay không Một đánh giá tín dụng xấu cho thấy nguy cơ cao người vay không trả nợ đúng kỳ (hoặc không có khả năng trả nợ), và do đó dẫn đến lãi suất cao, hoặc từ chối các khoản vay của chủ nợ
Điểm thuận lợi khi sử dụng báo cáo của các tổ chức định mức tín nhiệm DN là các cơ quan này sẽ sử dụng các nguồn thông tin để đối chiếu, sử dụng các phương pháp phân tích để nhận diện ra các DN tốt hoặc có vấn đề,
từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể về hạng mức tín nhiệm, giúp cho bên cho vay, bên cung cấp đưa ra quyết định chính xác Đây là điều mà ít khi bộ phận đánh giá tín dụng của một NHTM có đủ tiềm lực về nhân sự và tài chính để thực hiện được
Khi bộ phận cấp tín dụng của NHTM xem xét các đánh giá của một tổ chức định mức tín nhiệm doanh nghiệp về KH tiềm năng của mình về mức độ tín nhiệm, đạo đức kinh doanh…, họ sẽ có thêm cơ sở để thực hiện bước tiếp theo của chu trình quản trị tín dụng thương mại, đó là thiết lập một hạn mức tín dụng hợp lý để tối đa hóa dòng tiền và lợi nhuận Hay nói cách khác, NHTM sẽ tăng hạn mức tín dụng nếu đánh giá khả năng thanh toán của DN là cao, ngược lại sẽ phải giảm hạn mức tín dụng đối với những DN có khả năng thanh toán thấp hơn Thậm chí, dựa trên các báo cáo tín nhiệm về DN, NHTM
có thể trả lời các câu hỏi cơ bản như: có nên ký kết hợp đồng tín dụng hay
Trang 37không ? có nên và nên cấp cho KH của mình thời hạn tín dụng là bao nhiêu ngày; KH doanh nghiệp có tiềm năng phát triển thành KH vững chắc hay không; có nên tư vấn KH doanh nghiệp bán hàng tồn kho với giá cạnh tranh hay không…
Ngoài ra, báo cáo còn bổ sung nhiều dữ liệu về lịch sử hình thành và kinh nghiệm kinh doanh của DN, kỹ năng của ban lãnh đạo, tiềm lực tài chính… Những đánh giá trong hồ sơ và điểm số xếp hạng sẽ giúp cho NHTM biết uy tín và tiềm năng có thể hợp tác kinh doanh của KH doanh nghiệp trong tương lai Bao gồm:
- Xếp hạng tín dụng cá nhân: bao gồm khả năng chi trả một khoản vay,
lãi suất, lượng tín dụng được sử dụng, các mô hình tiết kiệm, các mẫu chi tiêu, và nợ
- Xếp hạng tín dụng các công ty và tập đoàn: Cơ quan đánh giá tín dụng
như AM Best, Dun & Bradstreet, Standard & Poor, Moody hay Fitch và có tên gọi như A, B, C
Theo Standard & Poor, xếp hạng tín dụng từ tuyệt vời đến xấu nhất: AAA, AA +, AA, AA-, A +, A, A-, BBB +, BBB, BBB-, BB +, BB, BB-, B +, B, B-, CCC +, CCC, CCC-, CC, C, D Bất cứ chỉ số nào thấp hơn BBB- được xem một sự đầu cơ hoặc trái phiếu phế thải
Hệ thống đánh giá của Moody cũng tương tự nhưng tên đặt có vài nét khác nhau, từ tuyệt vời đến xấu nhất: AAA, Aa1, Aa2, AA3, A1, A2, A3, Baa1, Baa2, Baa3, BA1, Ba2, Ba3, B1, B2, B3, Caa1, Caa2, Caa3, Ca, C
Hãng tín dụng A.M Best có mức đánh giá từ tuyệt vời đến tồi tệ nhất theo cách thức sau: A + +, A +, A, A-, B + +, B +, B, B-, C + +, C +, C, C-,
D, E, F và S
- Xếp hạng chỉ số tín dụng các quốc gia là đánh giá tín dụng của một
thực thể có chủ quyền, tức là một chính phủ quốc gia Việc xếp hạng tín dụng quốc gia chỉ ra mức độ rủi ro của môi trường đầu tư của một đất nước và
Trang 38được sử dụng bởi các nhà đầu tư nhằm tìm kiếm môi trường trong việc đầu tư nước ngoài Đánh giá này bao gồm những rủi ro chính trị
Phân tích hợp đồng: do có nhiều rủi ro phát sinh từ các mối quan hệ
hợp đồng với người khác, nhà quản trị rủi ro cần nghiên cứu kỹ các hợp đồng
để xem rủi ro có tăng hay giảm qua các hợp đồng
Những rủi ro có thể đối với một hợp đồng khi phân tích ta có thể gặp phải là :
- Về tư cách pháp nhân: Không đăng ký kinh doanh; Không có chức
năng kinh doanh; Giấy phép kinh doanh hết hiệu lực; Người đại diện ký kết không hợp pháp
- Đối tác kinh doanh: Không có uy tín; Không đủ điều kiện về sức khỏe, pháp lý; Khả năng tài chính yếu; Phong tục tập quán khác nhau; Vị trí địa lý không thuận lợi
- Rủi ro từ ngôn ngữ: Từ tối nghĩa hay có nhiều nghĩa; Hiểu không chính xác nội dung đàm phán; Sai sót khi đánh máy; Rủi ro từ nội dung ký kết; Các điều khỏan quy định không chi tiết, cụ thể; Các thông tin thị trường
bị nhiễu hoặc thiếu; Biến động giá cả nguyên vật liệu, tỷ giá…; Thời hạn vi phạm hợp đồng, bồi thường…; Năng lực cán bộ đàm phán kém
- Rủi ro pháp lý: Danh mục hàng xuất nhập khẩu thay đổi; Thuế suất thay đổi; Quy định về kiểm tra chất lượng hàng hóa thay đổi; Các tiêu chuẩn khác như đo lường, đóng gói…thay đổi
- Rủi ro trong thực hiện: Rủi ro về thời hạn giao hàng; Rủi ro trong vận chuyển, bốc dỡ; Hàng hóa rơi rớt, mất mát, hư hỏng…; Rủi ro trong nghiệm thu; Rủi ro trong thanh toán;
- Rủi ro từ phía ngân hàng mở L/C; Từ phía ngân hàng thông báo; Thực hiện không đúng các điều khỏan quy định trong L/C; Không đủ chứng từ; Sai
về nội dung, hình thức, chính tả…; Nộp chứng từ trễ hạn; Do đồng tiền thanh toán…
Trang 39 Nghiên cứu các số liệu tổn thất trong quá khứ: Đây là phương
pháp nhận dạng rủi ro mà các nhà quản trị RRTD trong cho vay DN tham khảo hồ sơ lưu trữ về những tổn thất qua các biến cố rủi ro đã xảy ra tại DN Các thông tin trong quá khứ cho phép dự báo các thông số liên quan đến rủi
ro tiềm năng Cụ thể, số liệu thống kê cho phép các nhà quản trị rủi ro đánh giá xu hướng phát triển của các tổn thất tiềm năng mà DN phải đối mặt; tạo điều kiện cho công tác nghiên cứu phân tích một số vấn đề như: nguyên nhân, thời điểm, vị trí xảy ra sự cố…; số liệu thống kê về tổn thất trong quá khứ còn cho phép nhà quản trị rủi ro có thể lập dự toán tổng chi phí tổn thất hay quỹ
dự phòng rủi ro bằng nguồn vốn tự có của DN
Một số phương pháp nhận dạng rủi ro khác:
- Phương pháp thanh tra hiện trường: Bằng cách quan sát, kiểm tra thực
tế… các bộ phận của DN và các hoạt động tiếp sau đó của DN, nhà quản trị
có thể đọc được rất nhiều về rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp
- Phương pháp thông qua các nhà tư vấn như chuyên viên kế toán, kiểm
toán, các tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, nhà quản trị rủi ro có thể nắm bắt thêm những thông tin cần thiết về nguy cơ rủi ro đối với tổ chức từ các nguồn thông tin bên ngoài;
- Phương pháp đánh giá hiểm họa RRTD để xác định mức độ rủi ro
cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của mục đích vay vốn cũng như hoạt động của người vay vốn;
- Phương pháp giao tiếp trong nội bộ tổ chức có thể giúp cho những
người quản lý, những chủ đầu tư, các đối tác và ngay cả nhân viên nhận biết được RRTD trong việc đầu tư tài chính của DN mình Giao tiếp, trao đổi và cung cấp thông tin cần thiết trong nội bộ DN sẽ giúp cho những nhà quản trị đánh giá được chiến lược, những rủi ro trong kế hoạch đầu tư tài chính mà công ty đang theo đuổi…
Trang 401.2.2 Đo lường RRTD trong cho vay DN
Đo lường RRTD là việc xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức
độ rủi ro của KH, từ đó xác định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một KH cũng như để trích lập dự phòng rủi ro
Đo lường RRTD được thực hiện bằng phương pháp sử dụng các mô hình để đo lường rủi ro Có nhiều mô hình khác nhau, hiện nay các NHTM Việt Nam thường dùng các mô hình để đo lường RRTD như sau:
a Các mô hình định tính thường hay sử dụng là
Mô hình 6C: Trọng tâm của mô hình này là xem xét liệu người vay
có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không, cụ thể bao gồm 6 yếu tố sau:
- Tư cách người vay (Character): Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích
xin vay của KH, mục đích vay của KH có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của NH hay không, đồng thời xem xét về lịch sử đi vay và trả nợ đối với KH cũ; còn KH mới thì cần thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác như Trung tâm phòng ngừa rủi ro của NHNN, từ NHTM khác, hoặc các cơ quan thông tin đại chúng
- Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào qui định luật pháp
của quốc gia Người vay phải có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành
vi dân sự
- Thu nhập của người vay (Cash): Trước hết phải xác định được nguồn
trả nợ của người vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán Sau đó cần phân tích tình hình tài chính của DN vay vốn thông qua các tỷ số tài chính
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để NH cấp tín dụng và
là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho NH
- Các điều kiện (Conditions): NH quy định các điều kiện tùy theo chính
sách tín dụng theo từng thời kỳ