PHAN THỊ LY QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mã số: 60.34.20 LUẬN VĂN THẠC SĨ QU
Trang 1PHAN THỊ LY
QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2PHAN THỊ LY
QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HOÀNG TÙNG
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Phan Thị Ly
Trang 41.Tính cấp thiết của đề tài 1
2.Mục tiêu nghiên cứu 2
3.Câu hỏi nghiên cứu 2
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5.Phương pháp nghiên cứu 3
6.Bố cục đề tài 3
7.Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 7
1.1NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 7
1.1.1 Khái niệm nợ xấu 7
1.1.2 Phân loại nợ xấu 8
1.1.3 Tác động của nợ xấu 9
1.2QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM 12 1.2.1 Giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh 12
1.2.2 Giải pháp xử lý nợ xấu 14
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị nợ xấu trong hoạt động 23
tín dụng của NHTM 23
1.2.4 Tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản trị nợ xấu của NTHM 31
CHƯƠNG 2: THỰC TẾ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 33
2.1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA VPBANK ĐÀ NẴNG NĂM 2011 - 2013 33
Trang 52011-2013 37 2.2 TÌNH HÌNH NỢ XẤU CỦA VPBANK ĐÀ NẴNG NĂM 2011 – 2013 45
2.2.1Tổng quan hoạt động tín dụng của VPBank Đà Nẵng năm 2011 –
2013 45 2.2.2 Tình hình nợ xấu củaVPBank Đà Nẵng năm 2011 – 2013 48 2.3 QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA VPBANK ĐÀ NẴNG NĂM 2011 – 2013 53
2.3.1 Giải pháp phòng ngừa nợ xấu của VPBank Đà Nẵng 2011 –
2013 53 2.3.2 Công tác xử lý nợ xấu của VPBank Đà Nẵng năm 2011 - 2013 56 2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA VPBANK ĐÀ NẴNG GIAI ĐOẠN 2011 – 2013 66
2.4.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản trị nợ xấu của VPBank Đà Nẵng 66 2.4.2 Hạn chế trong quản trị nợ xấu của VPBank Đà Nẵng 68 2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong công tác quản trị nợ xấu tại VPBank Đà Nẵng 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM THỊNH VƯỢNG – CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 75
3.1 MỤC TIÊU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA VPBANK ĐÀ NẴNG 75
3.2 ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG VPBANK NÓI CHUNG VÀ VPBANK
ĐÀ NẴNG NÓI RIÊNG NĂM 2014 – 2017 75
Trang 6VPBANK ĐÀ NẴNG 77
3.3.1 Quan điểm về quản trị nợ xấu của VPBank Đà Nẵng 77
3.3.2 Giải pháp hạn chế phát sinh nợ xấu của VPBank Đà Nẵng 78
3.3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác xử lý nợ xấu 86
3.4MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 89
3.4.1 Kiến nghị với Chính Phủ 89
3.4.2 Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước 91
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
PHỤ LỤC
Trang 7Ký hiệu Ý nghĩa
VPBank Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng
VPBank Đà Nẵng Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng - Chi
Trang 8bảng Tên bảng Trang
2.1 Tình hình huy động vốn của VPBank Đà Nẵng năm 2011-2013 39 2.2 Hoạt động tín dụng của VPBank Đà Nẵng năm 2011-2013 39 2.3 Hoạt động tín dụng bán lẻ chủ yếu của VPBank Đà Nẵng
2.5 Bảng hoạt động tín dụng theo phân loại theo đối tượng và
thời hạn của VPBank Đà Nẵng năm 2011 - 2013
47
2.6 Tình hình phân loại nợ theo quyết định 493/2005 QĐ –
NHNN của VPBank Đà Nẵng giai đoạn 2011- 2013
51
2.7 Bảng tổng hợp dư nợ xấu các sản phẩm tín dụng bán lẻ
của VPBank Đà Nẵng giai đoạn 2011- 2013
52
2.8 Xếp loại rủi ro khách hàng của VPBank Đà Nẵng 58
Trang 9Số hiệu
2.1 Tình hình huy động vốn của VPBank Đà Nẵng 2011 - 2013 37 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của VPBank Đà Nẵng 2011
Trang 10Số hiệu
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nợ xấu được xem như một nút thắt lớn đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam nói riêng và cả nền kinh tế nói chung Nút thắt này ảnh hưởng đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của các NHTM Trong thời gian qua, tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam đã không ngừng tăng lên Đây là hệ quả xuất phát từ nhiều nguyên nhân bên trong cũng như bên ngoài, cụ thể là: tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tỷ lệ lạm phát tăng cao hay việc kinh doanh không hiệu quả của khách hàng vay vốn… Nhưng trong đó vấn đề nổi trội là công tác quản trị rủi
ro còn hạn chế của các NHTM mà trực tiếp là công tác quản trị nợ xấu Quản trị nợ xấu là công tác đặc biệt quan trọng trong việc hạn chế và xử lý nợ xấu, góp phần giảm thiểu tổn thất và nâng cao hiệu quả kinh doanh cho các NHTM Nhận thức được điều đó, NHNN cũng như các NHTM đã chú trọng đến việc hoàn thiện công tác quản trị nợ xấu Đây là cơ sở để kiểm soát, hạn chế tối đa tổn thất trong hoạt động tín dụng, đảm bảo hiệu quả hoạt động ngân hàng và thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước
Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng là một trong những ngân hàng TMCP được thành lập sớm và phát triển ổn định ở Việt Nam Với tiêu chí trở thành ngân hàng một trong ba ngân hàng bán lẻ hàng đầu trong nước, thời gian qua, VPBank đã không ngừng mở rộng hoạt động tín dụng và nhiều sản phẩm dịch khác Song song với định hướng phát triển đó, rủi ro xuất phát
từ hoạt động tín dụng tăng lên đáng kể, được thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu hằng năm của Ngân hàng Nhận thức được thực tế và tầm quan trọng của công tác quản trị nợ xấu, VPBank đã đề ra kế hoạch quản trị nợ xấu trên toàn ngân hàng nói chung và hướng dẫn về các chi nhánh thực hiện, trong đó có
Trang 12VPBank Đà Nẵng VPBank Đà Nẵng đã tích cực thực hiện theo định hướng quản trị của Hội sở ngân hàng và đạt được một số thành công nhất định trong công tác quản trị nợ xấu của mình Nhưng bên cạnh đó, quy trình quản trị vẫn còn một số hạn chế nhất định, cần được nhìn nhận và xây dựng một cách khoa học cũng như thực hiện một cách thống nhất, chuyên nghiệp nhằm hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ nợ xấu, hạn chế tối đa tổn thất và góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng
Xuất phát từ thực tiễn trên, Tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu
“Quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nợ xấu và những giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu được áp dụng trong công tác quản trị
nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam Dựa trên cơ sở đó,
đề tài nghiên cứu tình hình nợ xấu của VPBank Đà Nẵng, những giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu mà ngân hàng áp dụng trong công tác quản trị nợ xấu của mình Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại VPBank Đà Nẵng
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Nợ xấu của NHTM là gì? Những giải pháp phòng ngừa và
xử lý nợ xấu nào được áp dụng trong công tác quản trị nợ xấu của các NHTM? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM
Câu hỏi 2: Thực trạng nợ xấu của VPBank Đà Nẵng như thế nào? Công tác quản trị nợ xấu được thực hiện dựa trên những giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh và xử lý nợ xấu như thế nào?
Trang 13Câu hỏi 3: Từ nghiên cứu lý luận và thực tiễn, cần thực hiện các giải pháp nào để hoàn thiện công tác quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại VPBank Đà Nẵng?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: Nợ xấu và những giải pháp phòng ngừa và xử
lý nợ xấu được áp dụng trong công tác quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng của VPBank Đà Nẵng
• Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: nghiên cứu được thực hiện tại VPBank Đà Nẵng
- Về thời gian: số liệu thu thập trong khoảng thời gian năm 2011 – 2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả thu thập thông tin và phỏng vấn trực tiếp nhân viên quản lý nợ của VPBank cũng như Phó Giám đốc Ngân hàng để có cái nhìn rõ hơn về quy trình thực hiện công tác quản lý nợ xấu của VPBank Đà Nẵng Trên cơ sở đó, lựa chọn mẫu khách hàng để phân tích tính hiệu quả của công tác quản trị nợ xấu tại Ngân hàng
Bên cạnh đó, luận văn sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh để phân tích thực tế về thực trạng công tác quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng tại VPBank Đà Nẵng
giai đoạn 2011 – 2013 nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu
Trang 14Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nợ xấu trong hoạt
động tín dụng tại Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng – Chi nhánh Đà Nẵng
7 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Nghiên cứu của Nguyễn Bá Diệp năm 2011 với đề tài “Một số giải pháp xử lý nợ xấu tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam” Đề tài đã giới thiệu cơ bản về nợ xấu, chỉ tiêu
phản ánh nợ xấu tại các NHTM Việt Nam và phân tích nội dung xử lý nợ xấu với các biện pháp như sử dụng tài sản đảm bảo, sử dụng quỹ dự phòng rủi ro Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu tại chi nhánh ngân hàng, từ đó đưa ra biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh và xử lý nợ xấu nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất Nhưng đề tài chưa hệ thống hoá được qui trình quản trị nợ xấu của các NHTM Đề tài đi vào xử lý trực tiếp, chưa nêu lên được dấu hiệu nhận biết nợ xấu cũng như chưa liên kết được mối quan hệ giữa các bước trong quản trị nợ xấu Đề tài cũng chưa đưa ra những tiêu chí
đánh giá kết quả hạn chế và xử lý nợ xấu tại ngân hàng
Nghiên cứu của Lê Thị Hoài Diễm năm 2012 với đề tài “Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” Đề tài đã trình bày khá đầy đủ về nợ xấu với
các nội dung như bản chất nợ xấu, khái niệm và phân loại nợ xấu, những nguyên nhân gây phát sinh nợ xấu cũng như tác động của nợ xấu đến nền kinh
tế, NHTM và khách hàng Đề tài cũng đi vào những giải pháp phòng ngừa và
xử lý nợ xấu cơ bản như nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, xử lý nợ xấu bằng TSĐB, quỹ DPRRTD hay các biện pháp khác như bán nợ, chứng khoán hoá Nhưng đề tài chưa thể hiện được mối liên hệ giữa các bước để tạo nên quy trình quản trị nợ xấu thống nhất Đề tài đã phân tích được tình hình
nợ xấu và thực tế công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu tại Vietinbank Đà Nẵng Và đã đưa ra một số giải pháp phù hợp với thực tiễn của Ngân hàng
Trang 15Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai năm 2011 với đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh (VPBank) – Chi nhánh Đà Nẵng” Đề tài trình bày cơ bản về lý
thuyết rủi ro tín dụng của NHTM, các mô hình đo lường rủi ro tín dụng như
mô hình 6C, xếp hạng tín dụng, chấm điểm tín dụng và mô hình điểm số Z, cũng như các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng như TSĐB, bán nợ, chứng khoán hóa nợ xấu hay lập quỹ DPRRTD Đề tài đã phân tích được thực tế hoạt động tín dụng và nợ xấu tại VPBank Đà Nẵng giai đoạn 2007 – 2010 Từ
đó đi sâu vào nghiên cứu tình hình kiểm soát rủi ro tín dụng tại ngân hàng, các giải pháp ngân hàng áp dụng để giảm thiểu rủi ro tín dụng như nhận diện rủi ro bằng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ, tăng cường công tác thẩm định tín dụng… Và tác giả đi đến kết luận những thành tựu và tồn tại của ngân hàng trong công tác hạn chế rủi ro tín dụng Dựa trên đó, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng như nâng cao chất lượng thẩm định, giải pháp về TSĐB, lập quỹ DPRRTD, sử dụng các công cụ phái sinh Đề tài là cơ sở tham khảo để xây dựng nên quy trình quản trị nợ xấu tại NHTM vì bản chất nợ xấu xuất phát từ rủi ro tín dụng
và quản trị nợ xấu là một bộ phận của quản trị rủi ro tín dụng
Nghiên cứu của Vương Vũ Hoàng Tuấn năm 2013,với đề tài “Hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Ông Ích Khiêm” Đề tài trình bày cơ
sở lý thuyết về rủi ro tín dụng nói chung và trong cho vay doanh nghiệp nói riêng cũng như các giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay tại NHTM với các biện pháp như nâng cao chất lượng công tác thẩm định tín dụng, giảm thiểu rủi ro bằng xử lý TSĐB hay sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng Đề tài chưa nêu lên được hướng tiếp cận mới về hạn chế rủi ro tín dụng nhưng đã phân tích được thực tế tình hình nợ xấu tại Agribank Ông Ích
Trang 16Khiêm cũng như giải pháp áp dụng nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng tại chi
nhánh ngân hàng Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế rủi
ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp phù hợp với thực tiễn của ngân hàng
Đề xuất không mới nhưng phù hợp với những tồn tại của chi nhánh ngân hàng
và được đánh giá cao
Nghiên cứu của Trần Văn Ba, năm 2012 với đề tài “Quản lý nợ xấu
tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Phú Tài” Đề
tài trình bày cơ sở lý luận về nợ xấu, các chỉ tiêu phản ánh nợ xấu trong
NHTM Tác giả đi vào các bước quản lý nợ xấu như dấu hiệu nhận biết nợ
xấu, xây dựng các chính sách phòng ngừa và hạn chế xử lý nợ xấu Trên cơ sở
lý thuyết đó, đề tài đi vào phân tích thực tế nợ xấu tại BIDV Phú Tài và công
tác quản lý nợ xấu tại chi nhánh cũng như đánh giá kết quả đạt được và hạn
chế trong công tác quản lý nợ xấu Từ đó, đề xuất các giải pháp tăng cường
quản lý nợ xấu tại chi nhánh ngân hàng Nội dung đề tài không mới, nội dung
quản lý chưa đi theo quy trình thống nhất Nhưng đề tài đã khái quát được nợ
xấu và công tác quản lý nợ xấu tại chi nhánh ngân hàng, cho người đọc cái
nhìn về tình hình quản lý nợ xấu tại BIDV Phú Tài và là đề tài tham khảo có
giá trị
Trang 17
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1 NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.1.1 Khái niệm nợ xấu
a Theo định nghĩa nợ xấu của Phòng thống kê – Liên hiệp quốc
“Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/ hoặc gốc trên
90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả lãi từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thỏa thuận; hoặc các khoản thanh toán
đã quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” Về cơ bản, nợ xấu được xác định dựa trên 2
yếu tố: quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ nghi ngờ
b Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF
Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc
gia, IMF đưa ra định nghĩa nợ xấu như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn, khi các khoản lãi quá hạn 90 ngày đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận, khi các khoản thanh toán đến hạn 90 ngày nhưng có thể nhận thấy dấu hiệu
rõ ràng người vay không có khả năng thanh toán đầy đủ”
c Theo định nghĩa của Việt Nam
Ở Việt Nam, định nghĩa nợ xấu được xuất phát từ Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN và một số sửa đổi trong Quyết định 18/2007QĐ-NHNN Cụ thể, nợ xấu được định nghĩa như sau:
Trang 18“Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)” Nợ xấu
theo định nghĩa của Việt Nam khá tương đồng với thông lệ quốc tế, nợ xấu được xác định dựa theo 2 yếu tố: đã quá hạn trên 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại
1.1.2 Phân loại nợ xấu
Theo Quyết định 493/2005 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước ngày 22/4/2005 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng và quyết định số18/2007
QĐ – NHNN ngày 25/4/2007 về việc sửa đổi, bổ sung quyết định 493/2005 thì
nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi
a Nợ nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn)
Nợ quá hạn từ 91 đến 180 ngày,
Nợ gia hạn lần đầu; nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không
đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng
Đây là nhóm nợ được ngân hàng đánh giá là không có khả năng thu hồi
nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được ngân hàng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi Ngân hàng sẽ trích lập một tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của nhóm
b Nợ nhóm 4 (Nợ cần chú ý)
Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai
Các khoản nợ này được ngân hàng đánh giá là khả năng tổn thất cao
Tỷ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm
Trang 19c Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)
Nợ quá hạn trên 360 ngày;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn
Nợ xấu chính là rủi ro trong hoạt động tín dụng của NHTM Khi phát sinh nợ xấu nghĩa là dòng tiền gốc (dòng tiền lãi hay cả hai) đã bị quá hạn, không được thu hồi như dự tính của ngân hàng Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Tuy nhiên, khi nhìn vào thời gian quá hạn của khoản vay thì chưa thể xác định bản chất vấn đề phải tìm hiểu được nguyên nhân của khoản nợ đó Nếu khoản nợ xấu là một biểu hiện của việc khách hàng không muốn hoặc không có khả năng hoàn trả thì có thể khoản vay đã có vấn đề nghiêm trọng và có nguy cơ không cứu vãn được Nếu khoản nợ chỉ hình thành do việc tiêu thụ hàng hóa hoặc thu hồi các khoản phải thu chậm hơn dự tính hoặc do việc chậm trễ không tính trước
Trang 20được trong việc chuyển từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ trên thị trường, thì vấn đề chưa đến mức nghiêm trọng
Bản chất của nợ xấu gắn liền với bản chất của mối quan hệ tín dụng – đây là mối quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có quan hệ với nhau thông qua sự vận động của giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ và hàng hóa từ người cho vay chuyển sang người
đi vay và sau một thời gian nhất định quay về với người cho vay với giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu Do đó, tín dụng được tạo nên từ 3 yếu tố chính là: vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi, vốn vay phải
sử dụng đúng mục đích và hiệu quả và vốn vay phải có đảm bảo Người ta chỉ cho vay khi người ta tin rằng việc sử dụng giá trị đó sẽ thu được giá trị lớn hơn theo đúng thời hạn đã dự tính
Như vậy, có thể thấy nợ xấu là kết quả của mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo, vì nó vi phạm đặc trưng cơ bản của tín dụng là tính thời hạn, sau nữa nó vi phạm đến đặc trưng thứ hai là tính hoàn trả đầy đủ, gây nên sự đổ
vỡ lòng tin của người cung cấp tín dụng đối với khách hàng
a Đối với nền kinh tế
Nợ xấu tác động đến toàn bộ nền kinh tế, làm tắc nghẽn dòng vốn và ảnh hưởng đến sự an toàn của hệ thống tài chính quốc gia cũng như sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước Nợ xấu còn làm giảm hiệu quả kinh doanh của các NHTM, TCTD và các chủ thể trong nền kinh tế
Nợ xấu tăng tạo gánh nặng cho ngân sách quốc gia trong việc xử lý nợ xấu Mặc dù, nguồn vốn để xử lý nợ xấu chủ yếu từ quỹ dự phòng RRTD của các TCTD và con số thực ngân sách nhà nước chi để xử lý triệt để nợ xấu chưa được đưa ra nhưng qua dư nợ xấu cũng thấy được sự ảnh hưởng lớn đến ngân sách quốc gia, trong tình hình nguồn thu ngân sách ngày càng khó khăn
và nợ công không ngừng gia tăng
Trang 21Nợ xấu đe dọa an toàn hoạt động của toàn hệ thống ngân hàng Nếu nợ xấu không được xử lý kịp thời, có thể gây đổ vỡ một số ngân hàng yếu kém
và ảnh hưởng dây chuyền đến cả hệ thống, gây mất niềm tin của người dân, doanh nghiệp, chủ đầu tư và tổ chức quốc tế Và nghiêm trọng hơn nợ xấu có thể dẫn đến sụp đổ toàn bộ hệ thống tài chính quốc gia
Nợ xấu ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc gia Khi nợ xấu tăng cao đồng nghĩa các ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cao Do đó, lượng vốn lưu thông vào nền kinh tế bị hạn chế, khiến nhiều chủ thể trong nền kinh tế không thể tiếp cận được nguồn vốn để duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến sự phát triển nền kinh tế
và lâu dài sẽ gây ảnh hưởng đến đời sống, an sinh xã hội.[3]
b Đối với Ngân hàng thương mại
Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của ngân hàng: Lợi nhuận là chỉ tiêu cuối cùng của ngân hàng, lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của ngân hàng mà những khoản thu này chủ yếu thu từ lãi hoạt động tín dụng Nợ xấu tác động đến lợi nhuận ngân hàng trên hai khía cạnh đó là:
Đã phát sinh nợ xấu thì lãi của những khoản nợ xấu khó có thể thu được hay thu không bao giờ đủ Do đó, sẽ làm giảm thu nhập kinh doanh của ngân hàng
Khi phát sinh nợ xấu, tất yếu ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay đó, tức là làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận
Nợ xấu cũng ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và kế hoạch kinh doanh của ngân hàng: Các khoản vay của khách hàng không được thanh toán đúng hạn, hay khi chuyển sang quá hạn thì việc thu nợ đã không đúng theo kế hoạch của ngân hàng gây ra thiếu hụt so với dự tính của kế hoạch Sự việc này chỉ trong một giới hạn nhất định, song nếu vượt qua một giới hạn cho phép
Trang 22ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, đe doạ sự an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Nợ xấu làm ảnh hưởng uy tín của ngân hàng: Những ảnh hưởng của nợ xấu dẫn đến lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán giảm… nó có tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng theo “hiệu ứng khách hàng” Từ đó, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh ngân hàng
Nợ xấu khiến cho ngân hàng không duy trì được đội ngũ nhân viên: khi một ngân hàng làm ăn không hiệu quả, hay để tình trạng nợ xấu nhiều sẽ gây tâm lý hoang mang cho không những khách hàng mà còn cho chính nhân viên ngân hàng, sẽ không giữ được những người làm việc hiệu quả ở lại, đây là một chi phí rất lớn cho ngân hàng
1.2 QUẢN TRỊ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
Quản trị nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh nợ xấu, đi kèm với việc xử lý các khoản nợ xấu đã phát sinh hướng đến mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của NHTM
Quản trị nợ xấu nhằm hướng đến mục tiêu phòng ngừa nợ xấu phát sinh và hạn chế thấp nhất tổn thất khi rủi ro xảy ra, đảm bảo sự hoạt động an toàn, hiệu quả của các NHTM và góp phần gia tăng lợi nhuận từ hoạt động tín dụng của ngân hàng Nội dung quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM được tiếp cận dưới hai giải pháp là giải pháp phòng ngừa nợ xấu và giải pháp xử lý nợ xấu
1.2.1 Giải pháp phòng ngừa nợ xấu phát sinh
a Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp
Trong tình hình kinh tế với nhiều thách thức như hiện nay, xây dựng
Trang 23chính sách tín dụng phù hợp là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính hiệu quả và
an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Để phù hợp với điều kiện và môi trường thực tế, nhiều NHTM đang thực hiện chuyển đổi mô hình tín dụng với việc nâng cao chất lượng tín dụng, dịch vụ chăm sóc khách hàng, xây dựng một khung quản lý rủi ro vững chắc, cân bằng giữa lợi nhuận dự kiến và rủi ro có thể chấp nhận được Song song với đó là đề xuất chính sách tín dụng phù hợp với định hướng đề ra Điều này sẽ góp phần hạn chế rủi ro và phát sinh nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cụ thể, chính sách tín dụng nhằm mục đích:
Chính sách tín dụng xác định những giới hạn áp dụng cho các hoạt động tín dụng Đồng thời cũng thiết lập môi trường nhằm giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng
Chính sách tín dụng được đưa ra nhằm bảo đảm rằng mỗi quyết định tín dụng minh bạch, tuân thủ quy định của NHNN Chính sách tín dụng xác định: các đối tượng có thể vay vốn, phương thức quản lý các hoạt động tín dụng, những ràng buộc về tài chính, các loại sản phẩm tín dụng khác nhau do ngân hàng cung cấp cũng như phương thức quản lý danh mục cho vay hay thời hạn và các điều kiện áp dụng cho các sản phẩm tín dụng cũng như các nhóm khách hàng khác nhau
b Thực hiện quy trình tín dụng chặt chẽ
Quy trình tín dụng là trình tự các công việc của ngân hàng từ khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của khách hàng cho đến khi thanh lý hợp đồng tín dụng Xây dựng một quy trình tín dụng hợp lý, chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro và hạn chế nợ xấu phát sinh trong hoạt động kinh doanh của mình Một quy trình tín dụng cơ bản gồm: lập hồ sơ vay vốn, phân tích tín dụng, ra quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát tín dụng và thanh lý hợp đồng Mỗi bước đều tuân thủ theo nguyên tắc riêng và cần được tuân theo một cách thống nhất để hạn chế rủi ro xảy ra
Trang 24c Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng
Thẩm định tín dụng là cơ sở của việc ra quyết định cho vay Do vậy, để giảm thiểu rủi ro và nợ xấu, ngân hàng cần phải nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng Cụ thể, là việc nâng cao chất lượng thông tin thu thập cũng như trình độ chuyên môn, kỹ năng phân tích của cán bộ tín dụng
d Xây dựng hệ thống giám sát nội bộ hiệu quả
Hệ thống kiểm soát nội bộ là các hoạt động, nội quy chính sách mà ngân hàng đặt ra nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh an toàn và hiệu quả Thời gian qua, ngân hàng Việt Nam đã phát hiện nhiều vụ lừa đảo liên quan đến hoạt động tín dụng làm gia tăng nợ xấu ngân hàng mà nguyên nhân chính là do sự giám sát nội bộ không hiệu quả trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Do đó, hệ thống giám sát nội bộ đóng quan trò rất quan trọng trong công tác quản trị rủi ro và hạn chế nợ xấu của ngân hàng
1.2.2 Giải pháp xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu là những hoạt động ngân hàng triển khai khi nợ xấu đã phát sinh nhằm giảm thiểu những tổn thất do nợ xấu gây ra bằng các công cụ phổ biến như: đòi nợ, tái cấu trúc doanh nghiệp, cơ cấu thời hạn trả nợ, bán
nợ, thanh lý TSĐb, sử dụng quỹ DPRRTD và các biện pháp tài trợ rủi ro khác
Để đưa ra giải pháp xử lý phù hợp với từng khoản nợ, từng khách hàng
cụ thể, ngân hàng phải thu thập thông tin và đánh giá tổng quan về khả năng trả nợ của khách hàng, làm cơ sở đưa ra giải pháp xử lý hiệu quả nhất
a Đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng
Với những khách hàng đã được phân loại vào nhóm nợ 3, 4, 5, cán bộ tín dụng kiểm tra, cập nhật thường xuyên thông tin liên quan đến khách hàng nhằm đánh giá khả năng trả nợ khách hàng và lên kế hoạch xử lý kịp thời, hiệu quả Để có sự đánh giá toàn diện về khả năng trả nợ của khách hàng, cán
Trang 25bộ tín dụng cần phân tích tổng quan về khách hàng, cụ thể với các nhóm thông tin sau:
Thông tin giao dịch của khách hàng với ngân hàng: số dư tài khoản bình quân, doanh số giao dịch tài khoản, dư nợ bình quân, doanh số vay vốn, lịch sử quan hệ tín dụng với những ngân hàng khác… Những dữ liệu trên được cập nhật từ hệ thống dữ liệu của các ngân hàng và hệ thống Trung tâm thông tin tín dụng Nhà nước CIC Từ những biến động trong giao dịch của khách hàng tại ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ thấy được sự bất thường trong hoạt động kinh doanh hay nguồn thu nhập của khách hàng
Thông tin về hoạt động kinh doanh và tài chính của khách hàng: tình hình hoạt động kinh doanh, nguồn thu nhập, nguồn trả nợ, TSĐB… Những thông tin này được khai thác từ hồ sơ vay vốn khách hàng, báo cái tài chính doanh nghiệp, gặp gỡ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, đối tác, mối quan hệ với khách hàng Từ đó đưa ra cơ sở đánh giá về khả năng trả nợ của khách hàng, lên kế hoạch hỗ trợ khách hàng kịp thời và xử lý khoản nợ hiệu quả
Thông tin vĩ mô liên quan đến lĩnh vực kinh doanh của khách hàng: biến động kinh tế, pháp lý có ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực kinh doanh, công việc của khách hàng
b Phân loại nhóm nợ phù hợp
Từ nguồn thông tin phân tích, cán bộ tín dụng thực hiện phân loại định
kỳ khách hàng vào nhóm nợ phù hợp Xem xét nâng hay giảm nhóm nợ phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng và đưa ra kế hoạch xử lý phù hợp Cán bộ tín dụng dựa vào hai phương pháp để phân loại lại nhóm nợ cho khách hàng trong từng thời kỳ
Dựa trên yếu tố định lượng: Được xem xét qua khía cạnh thời gian
quá hạn của các khoản nợ Theo tiêu chí này, các khoản nợ của khách hàng đã
Trang 26được xếp vào nhóm nợ xấu, không phản ánh được chất lượng của các khoản
nợ cũng như chưa đánh giá được khả năng trả nợ của khách hàng
Dựa trên yếu tố định tính: xem xét tiềm lực và khả năng thanh toán nợ
của khách hàng
Để phân loại nợ một cách chính xác đòi hỏi TCTD phải xây dựng một
hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng một cách chặt chẽ, kết hợp cả yếu tố định lượng và định tính, yếu tố tài chính và phi tài chính Đây được xem như tín hiệu “cảnh báo sớm” cho ngân hàng về các khoản nợ
có vấn đề của các khách hàng có xếp hạng tín nhiệm thấp Với các mô hình phổ biến: mô hình toán học và phương pháp chuyên gia Hiện nay, các NHTM Việt Nam chủ yếu áp dụng mô hình xếp hạng tín dụng được xây dựng theo phương pháp chuyên gia.[7]
c Lập kế hoạch xử lý
Sau khi phân tích tổng quan về khả năng tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, nếu cán bộ tín dụng nhận định khả năng trả nợ của khách hàng còn có thể cứu vãn và nhận thấy được thiện chí trả nợ của khách hàng thì ngân hàng sẽ lên kế hoạch hỗ trợ khách hàng bằng một hành động cụ thể, yêu cầu tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cấu trúc các khoản nợ hoặc miễn giảm lãi nhằm nỗ lực khôi phục khả năng trả nợ của khách hàng
Nếu khả năng trả nợ của khách hàng được đánh giá là không thể cứu vãn, ngân hàng sẽ ra quyết định về xử lý khoản nợ xấu của khách hàng Bắt đầu từ việc xử lý nợ xấu theo hướng cấu trúc lại doanh nghiệp chỉ được áp dụng cho đôn đốc thu hồi nợ trực tiếp, xử lý TSĐB, đòi nợ bên bảo lãnh, bán
nợ, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, tổn thất còn lại được xử lý bằng dự phòng rủi ro hay nhận sự trợ giúp từ Chính phủ
Nợ xấu phát sinh từ sự thiếu trách nhiệm của cán bộ ngân hàng thì ngân hàng sẽ xác nhận trách nhiệm cụ thể và yêu cầu bồi thường từ những người có
Trang 27d Giải pháp xử lý nợ xấu
· Yêu cầu tái cơ cấu doanh nghiệp
Tái cơ cấu doanh nghiệp là quá trình thực hiện tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh, tái cơ cấu tài chính doanh nghiệp có tình trạng kinh doanh, tài chính không tốt nhưng có khả năng phục hồi trong tương lai Việc thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp được thực hiện giữa các bên có liên quan: nhà đầu tư, nhà kinh doanh, ngân hàng cho vay nợ với mục đích cao nhất là phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của doanh nghiệp
Khi áp dụng phương pháp xử lý này, khoản nợ được giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo rằng bên vay nỗ lực thực hiện các hành động cần thiết để cải thiện tình hình của họ cũng như thể hiện thiện chí trả nợ đối với ngân hàng
· Cơ cấu lại thời hạn trả nợ
Đối với các khoản nợ mà ngân hàng đánh giá suy giảm khả năng trả nợ gốc hoặc lãi đúng thời hạn ghi trong hợp đồng tín dụng nhưng có đủ cơ sở để đánh giá khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn trả nợ
đã cơ cấu lại thì ngân hàng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn
nợ hoặc miễn giảm lãi cho khách hàng
Cơ cấu lại thời hạn trả nợ bao gồm: điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn
nợ vay và miễn giảm lãi cho khách hàng
Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là việc ngân hàng chấp thuận thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thường được thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/và giảm khối lượng nợ gốc phải thanh toán của kỳ hạn trả nợ, nhưng không được giảm tổng số dư nợ phải trả
Gia hạn nợ vay là việc ngân hàng chấp thuận kéo dài thêm một khoảng
Trang 28thời gian trả nợ gốc và/hoặc lãi vốn vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thoả thuận trước đó trong hợp đồng tín dụng Đây là phương án tránh áp lực trả nợ tạm thời cho khách hàng để hỗ trợ khách hàng tiếp tục kinh doanh, khôi phục tài chính và trả nợ cho ngân hàng
Giảm, miễn một phần nợ lãi vay phải trả: Giải pháp này được ngân hàng xem xét áp dụng tùy thuộc vào thiện chí trả nợ vay và tình hình thực tế của khách hàng cũng như các quy định của Nhà nước và của từng ngân hàng Việc giảm, miễn lãi đối với khách hàng coi như sự hy sinh một phần doanh thu của ngân hàng để có thể tận thu hồi được nguồn vốn đã cho vay
Nếu khả năng trả nợ của khách hàng được đánh giá là không thể cứu vãn, ngân hàng sẽ ra quyết định về xử lý khoản nợ xấu của khách hàng như xử lý TSĐB, đòi nợ bên bão lãnh, bán nợ, chứng khoán hóa nợ xấu, sử dụng quỹ dự phòng RRTD và nhận sự trợ giúp từ Chính phủ
· Xử lý tài sản đảm bảo
Đối với những khoản nợ xấu không thể cơ cấu lại nợ, khách hàng không có khả năng phục hồi, chây ỳ trong việc trả nợ NHTM chủ động xử lý các TSĐB nợ vay như bất động sản, động sản… theo các hình thức sau: bên bảo đảm trực tiếp bán tài sản cho người mua, NHTM trực tiếp bán tài sản cho người mua, bán thông qua tổ chức đấu giá
NHTM nhận TSĐB để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm Trong trường hợp này, việc quyết định nhận tài sản để sử dụng thay thế thực hiện nghĩa vụ phải thực hiện theo thủ tục mua tài sản của NHTM
NHTM nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, công ty bảo hiểm trong trường hợp thế chấp quyền thụ hưởng tiền bảo hiểm nhân thọ, hoặc từ bên thứ ba có nghĩa vụ liên quan đến TSĐB Trong trường hợp này, vẫn phải thoả thuận và có cam
Trang 29kết bằng văn bản của bên bảo đảm về quyền truy đòi lại bên bảo đảm nếu không thu hoặc thu không đủ từ bên thứ ba vì bất kỳ lý do nào
Mặc dù biện pháp này là không mong muốn do việc phát mại TSĐB hoặc đòi nợ bên bảo lãnh thường rất phức tạp với nhiều thủ tục, tốn nhiều thời gian, khả năng thu hồi đầy đủ nợ thường không cao, song ngân hàng vẫn buộc phải thực hiện để thu hồi vốn Cho đến nay, đây là một trong số các biện pháp thu hồi vốn có hiệu quả nhất cho các ngân hàng, đặc biệt các khoản nợ có cơ
sở pháp lý chưa đầy đủ, khách hàng lừa đảo ngân hàng…
e Chứng khoán hóa các khoản nợ xấu
Hiện nay, một kỹ thuật mới trong công tác xử lý nợ xấu đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới là chứng khoán hóa các khoản nợ xấu Chứng khoán hóa nợ xấu là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập bằng tiền cao trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ và chuyển đổi chúng thành trái phiếu và đưa ra giao dịch trên thị trường tài chính Chứng khoán hóa các khoản nợ là chuyển đổi một tập hợp có chọn lọc các khoản vay có thế chấp của ngân hàng mà trước đó không có thị trường thứ cấp để giao dịch thành các chứng khoán khả mại, có thể bán trên thị trường thứ cấp Ngân hàng có thể dùng kỹ thuật này
để xử lý các khoản nợ xấu nhưng cần có sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán cùng giao dịch mua bán nợ cũng như hành lang pháp lý chặt chẽ
và sự minh bạch của hệ thống thông tin trong nền kinh tế
Công nghệ chứng khoán hóa hấp dẫn nhiều ngân hàng, bởi vì thông qua
đó mà Ngân hàng có thể rút ngắn được thời gian xử lý nợ xấu, tăng khả năng thanh khoản của tài sản, cung cấp một phương tiện tài trợ mới, giảm được các chi phí có tính chất thuế cũng như tăng thu nhập từ thuế
Trước hết, nó giúp bổ sung, làm đa dạng hàng hóa giao dịch trên sàn, giúp mở rộng quy mô thị trường Chứng khoán hóa mở ra thêm một kênh huy
Trang 30động vốn cho các doanh nghiệp, mở cơ hội tiếp cận thị trường vốn và làm giảm chi phí tài trợ lẫn tối ưu hóa việc sử dụng vốn Chứng khoán hóa tạo ra một nguồn tài trợ vốn dài hạn và có hiệu quả thông qua việc có thể được phát hành với kỳ hạn dài hơn các loại tài sản liên kết so với các khoản nợ của ngân hàng hoặc các loại tín phiếu Ngoài ra, chứng khoán hóa còn là phương thức giúp làm tăng thu nhập của các tổ chức phát hành và là công cụ đa dạng hóa rủi ro tốt nhất
Bên cạnh những tích cực mà chứng khoán hóa mang lại, còn có những rủi ro đi kèm, đó là: công bố thông tin không bảo vệ được, những hạn chế của định mức tín nhiệm, các tài sản không giống như mong đợi, dữ liệu giao dịch không sẵn có, nhược điểm của chế độ báo cáo sản phẩm phái sinh và sản phẩm thu nhập cố định, tính thanh khoản yếu của công cụ nợ
f Bán các khoản nợ
Biện pháp này được ngân hàng sử dụng đối với khoản nợ không có TSĐB hoặc không muốn mất thời gian đòi nợ Ngân hàng sẽ chuyển quyền đòi nợ cho một TCTD hoặc tổ chức khác có chức năng theo quy định để sớm thu hồi vốn của mình Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán với giá thấp hơn giá trị khoản nợ để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, các ngân hàng thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (AMC - Asset Management Company) Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo
AMC ra đời trước tiên nhằm phục vụ nhu cầu quản lý nợ và khai thác tài sản của ngân hàng, làm lành mạnh và minh bạch hóa tình hình tài chính, đảm bảo kinh doanh an toàn và bền vững của ngân hàng Công ty có đầy đủ chức năng của một công ty xử lý nợ, bao gồm: tiếp nhận, quản lý các khoản
nợ tồn đọng và TSĐB nợ vay liên quan đến các khoản nợ để xử lý, hoàn thiện
Trang 31hồ sơ có liên quan đến các khoản nợ theo quy định của pháp luật; chủ động
xử lý các TSĐB thuộc quyền định đoạt của NTHM; mua bán, xử lý nợ tồn đọng của các đơn vị khác theo quy định của pháp luật,… Một trong những cách xử lý hiệu quả là AMC chuyển nợ thành vốn góp gắn với tái cấu trúc doanh nghiệp Sau khi trở thành cổ đông, AMC thực hiện các giải pháp tái cấu trúc doanh nghiệp như xoá một phần nợ và lãi, hoãn trả nợ, thay đổi thời gian trả nợ, hỗ trợ về thị trường, quản trị, hỗ trợ về tài chính như cho vay, bảo lãnh… nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh của khách hàng Phương pháp này được xem là hướng đi mới trong việc xử lý triệt để nợ xấu và góp phần làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của nền kinh tế nói chung và của chủ
nợ nói riêng
Bên cạnh đáp ứng nhu cầu về xử lý nợ xấu của chính ngân hàng, AMC
sẽ sử dụng các kỹ năng chuyên sâu của mình để phục vụ nhu cầu xử lý nợ và tài sản tồn đọng của các doanh nghiệp khác, giúp nguồn vốn trong nền kinh tế lưu chuyển thông thoáng hơn, thay đổi diện mạo mới về cách thức giải quyết
nợ thuộc toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam và đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế
g Bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng
Quỹ dự phòng rủi ro được trích lập từ lợi nhuận của các NHTM, nhằm
bù đắp rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro dựa trên phân loại các khoản nợ với từng mức trích lập cụ thể theo quy định của NHNN Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của ngân hàng Những trường hợp xử lý bằng dự phòng rủi ro là các khoản nợ rơi vào nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn cao
Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tỷ lệ thuận với các nhóm nợ, theo đó, đối với các nhóm nợ 1, 2, 3, 4, 5 tỷ lệ trích lập tương ứng là 0 %, 5%, 20%, 50%
Trang 32và 100% Tỷ lệ trích lập này được áp dụng đối với các nhóm nợ được phân loại theo cả phương pháp định lượng và định tính
Bên cạnh việc trích lập tỷ lệ dự phòng cụ thể, các TCTD còn phải thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75 % tổng giá trị của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4
Những trường hợp được xử lý từ quỹ dự phòng rủi ro là khi khách hàng vay vốn, bên được bảo lãnh vay vốn, bên được hưởng dịch vụ thanh toán là những tổ chức bị phá sản, giải thể hoặc cá nhân bị chết, mất tích hoặc không thực hiện được các nghĩa vụ nợ thuộc nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn
Do tính chủ động cao nên biện pháp này được các ngân hàng vận dụng tối đa nhằm xử lý nợ xấu nhanh chóng Thực chất của biện pháp này là ngân hàng sử dụng nội lực của mình để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng Việc sử dụng quá nhiều biện pháp này làm giảm thu nhập của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được Vì vậy, ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu hồi nợ
có tính triệt để hơn
h Sự trợ giúp của Chính phủ
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách của Chính phủ, các ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp từ ngân sách nhà nước Thực chất các khoản vay theo chính sách có thể coi như khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba là Chính phủ Do vậy, khi ngân hàng không thể thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ phải đứng ra giải quyết cho ngân hàng Chính phủ có thể sử dụng ngân sách mua toàn bộ nợ xấu của NHTM để xử lý dần trong một số năm nhằm giải thoát cho các NHTM không bị sa lầy vào khủng hoảng nợ xấu Biện pháp này có hạn chế là thủ tục, trình tự xử lý phức tạp, kéo dài, có sự tham gia của nhiều
cơ quan chức năng, không thể áp dụng thường xuyên vì ngân sách có hạn,
Trang 33việc xử lý một khối lượng lớn nợ xấu rất tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực khác, gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế
1.2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHTM
a Nhân tố bên ngoài
- Môi trường kinh tế - xã hội
Môi trường kinh tế - xã hội ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của các NHTM Cụ thể, khi nền kinh tế phát triển ổn định, bền vững, kéo theo tăng trưởng tín dụng tăng, các doanh nghiệp, cá nhân tích cực vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh, ngân hàng tin tưởng đáp ứng nguồn vốn cho khách hàng Doanh nghiệp phát triển ổn định, thu nhập người lao động tăng theo, đời sống xã hội được nâng cao Từ đó, khả năng trả nợ của khách hàng sẽ được đảm bảo và công tác quản trị nợ xấu của ngân hàng sẽ chú trọng khâu giám sát và thu hồi Và ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, phát triển trì trệ, tăng trưởng tín dụng sẽ bị hạn chế, khả năng trả nợ của khách hàng không được đảm bảo, các NHTM sẽ siết chặt cho vay, đôn đốc thu hồi nợ và xử lý kịp thời nhằm giảm thiểu thiệt hại
Thời gian qua, nền kinh tế thế giới dần có dấu hiệu phục hồi sau ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính bắt nguồn từ Mỹ cũng như cuộc khủng hoảng nợ công từ các nước Châu Âu Mặc dù vậy, nền kinh tế toàn cầu còn ẩn chứa nhiều bất ổn và rủi ro Điều này đã gây không ít khó khăn cho nền kinh
tế trong nước, cụ thể là tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại trong giai đoạn vừa qua, hàng tồn kho của doanh nghiệp khá cao, ảnh hưởng đến khả năng tài chính và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, gián tiếp ảnh hưởng đến đời sống, thu nhập của các cá nhân trong xã hội Là nguyên nhân gây ra nợ xấu của NHTM và làm cho công tác quản lý nợ xấu của ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn
Trang 34- Môi trường tự nhiên
Đối với nền kinh tế lệ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, công nghiệp chế biến nông nghiệp như nước ta thì yếu tố tự nhiên đóng vai trò rất quan trọng Nếu như điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây trồng đạt năng suất, vật nuôi không bị dịch bệnh, các ngành công nghiệp hoạt động sản xuất ổn định thì khả năng thu hồi vốn từ người đi vay là rất lớn, công tác quản trị nợ xấu sẽ được thực hiện hiệu quả Còn ngược lại, môi trường tự nhiên, khí hậu, thời tiết, đất đai, nguồn nước không thuận lợi, lại chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, hạn hán thì hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ gặp nhiều rủi ro, khả năng không thu hồi được vốn cao và khiến cho công tác quản trị nợ xấu gặp nhiều khó khăn
Điều này được minh chứng hằng năm với hàng chục cơn bão lũ cũng như hạn hán xảy ra đã gây nhiều thiệt hại lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống xã hội và gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các NHTM
- Môi trường pháp lý
Hành lang pháp lý rõ ràng, thuận lợi và đủ mạnh thì sẽ góp phần làm minh bạch quy trình tín dụng, lành mạnh hoạt động của doanh nghiệp và ngân hàng, hạn chế rủi ro tín dụng phát sinh cũng như là cơ sở để hoạt động xử lý
nợ xấu của ngân hàng diễn ra nhanh chóng, đơn giản, hiệu quả, giảm thiểu tổn thất xảy ra Ngược lại, hành lang pháp lý chưa phù hợp, còn nhiều bất cập sẽ tạo điều kiện cho những sai phạm trong hoạt động tín dụng và công tác quản trị nợ xấu sẽ gặp nhiều khó khăn, khiến ngân hàng chịu nhiều tổn thất không đáng có
Hiện nay, NHNN cũng như Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm xây dựng khung pháp lý cơ bản trong việc hạn chế cũng như xử lý
nợ xấu của các TCTD, điển hình như: quy định về phân loại nợ; quy định về
Trang 35trích lập dự phòng RRTD; quy định về xử lý TSĐB; quy định về hoạt động mua bán nợ… Tuy nhiên, khi các văn bản này áp dụng thực tế đã gây nhiều bất cập và chưa phát huy được hiệu quả trong mục tiêu hạn chế nợ xấu của các TCTD Cụ thể là:
Quy định phân loại nợ xấu chưa rõ ràng: Theo quy định tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN, nợ của các TCTD được phân loại dựa trên
cả hai phương pháp định lượng và định tính Trong đó, phân loại nợ theo phương pháp định tính được đánh giá là hiệu quả hơn, giúp TCTD có đầy đủ
cơ sở để đánh giá tiềm lực và khả năng thanh toán nợ của khách hàng một cách chính xác Tuy nhiên, việc phân loại nợ theo phương pháp này đòi hỏi TCTD phải xây dựng một hệ thống đánh giá, xếp hạng tín nhiệm đối với khách hàng một cách chặt chẽ mà điều này lại không dễ thực hiện và tốn nhiều thời gian cũng như công sức Bên cạnh đó, việc phân loại nợ theo tiêu chí định tính sẽ làm tỷ lệ nợ xấu cao gấp 2 – 3 lần so với định lượng, điều này đồng nghĩa với ngân hàng phải trích lập tỷ lệ dự phòng cao Do đó, hiện nay ở Việt Nam có rất ít TCTD tiến hành phân loại nợ theo phương pháp định tính Trong khi, việc phân loại nợ theo tiêu chí định lượng không phản ánh chất lượng của các khoản nợ Như vậy, quy định phân loại nợ xấu chưa rõ ràng đã khiến con số nợ xấu và chất lượng các khoản tín dụng của các NHTM không được phản ánh đầy đủ và chính xác, từ đó dẫn tới việc quản trị nợ xấu gặp nhiều khó khăn
Quy định về xử lý nợ thông qua khởi kiện ra tòa án đối với các khoản
nợ không có TSĐB nợ phức tạp, gây khó khăn, mất nhiều thời gian của các TCTD trong quá trình thu hồi nợ và gây nhiều tổn thất cho các NHTM
Khung pháp lý về việc mua bán nợ đã có nhưng chưa hoàn thiện, chưa phát huy hiệu quả trong hoạt động giải quyết nợ xấu Tại Việt Nam, thị trường mua bán nợ đã hình thành với sự ra đời của các công ty xử lý và mua
Trang 36bán nợ của các NHTM (AMC) Nhưng khung pháp lý cho hoạt động của các chủ thể này hoạt động mua bán nợ cũng chưa đầy đủ, khiến việc mua bán, giải quyết nợ tồn đọng trở nên khó khăn hơn
Ngoài ra, một nguyên nhân nữa góp phần làm nợ xấu gia tăng và công tác quản trị nợ xấu chưa thực hiện tốt ở các NHTM là do công tác thanh tra, giám sát ngân hàng trong một thời gian dài chưa phát huy hiệu quả cao trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm, rủi ro trong hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, nhất là các vi phạm quy định hạn chế cấp tín dụng và đầu tư quá mức vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng
- Nhân tố xuất phát từ phía khách hàng
Tình hình tài chính của khách hàng vay vốn không tốt
Doanh nghiệp Việt Nam hầu hết là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, với nguồn vốn tương đối nhỏ và tỷ lệ nợ khá cao so với vốn tự có Điều này khiến nền tảng tài chính của doanh nghiệp không bền vững, khả năng chống đỡ kém và dễ gặp rủi ro khi biến động xảy ra Hay đối với khách hàng
cá nhân, nguồn thu nhập không ổn định do biến động của nhu cầu lao động trên thị trường, những khó khăn của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của họ Đây là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng và làm phát sinh nợ xấu khi rủi ro xảy ra
Khách hàng sử dụng vốn không đúng mục đích, không hiệu quả
Trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt vốn vay, là nguyên nhân trực tiếp làm phát sinh nợ xấu ngân hàng Đây hành động có chủ ý của người vay, được tính toán chuẩn bị trước nhằm mục đích chiếm đoạt tiền vay của ngân hàng Họ có thể làm giả mạo giấy tờ, chữ ký, con dấu, hoặc điều chỉnh các BCTC, hay làm giả các hóa đơn, làm giả hợp đồng lao động, chứng từ mua bán khống hoặc “bắt tay” với
Trang 37cán bộ tín dụng… để vay được vốn của ngân hàng sau đó sử dụng tiền vay không đúng mục đích, không trả nợ Khi trường hợp này phát sinh thì rủi ro tổn thất là rất cao, ngân hàng khó lòng thu hồi được nợ, có nguy cơ bị mất vốn hoàn toàn hoặc chỉ thu hồi được một phần, làm ảnh hưởng đến uy tín và hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trường hợp khách hàng có ý muốn trả nợ nhưng đang gặp khó khăn về tài chính tạm thời do hiệu quả sử dụng vốn vay không như mong muốn Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng chủ yếu vẫn do khả năng quản lý kém hiệu quả Khi doanh nghiệp vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh thì hầu hết doanh nghiệp tập trung vào đầu tư cơ sở vật chất và ít chú trọng đến khâu quản lý, điều này dẫn đến hiệu quả hoạt động kém và kéo theo rủi ro Thêm vào đó, do không cập nhật thường xuyên về tình hình kinh doanh nên các doanh nghiệp đã không tính đến những biến động của thị trường, quản lý vốn lỏng lẻo dẫn đến làm ăn thua lỗ, không trả được nợ cho ngân hàng Cụ thể như: không nắm bắt kịp thời sự thay đổi về thị trường cung cấp nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, kỹ thuật lạc hậu, không thay đổi kịp theo
sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại hay công tác quản trị rủi ro của khách hàng còn kém… Đối với khách hàng cá nhân thì sau khi thoả mãn nhu cầu vay tiêu dùng, nguồn thu nhập chính của họ gặp rủi ro bởi nhiều yếu tố và dẫn đến không thể trả nợ cho ngân hàng, làm phát sinh nợ xấu
Nguồn cung cấp thông tin hạn chế
Thông tin cung cấp thiếu minh bạch hay không chính xác là một vấn đề lớn của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay Điều này đã gây nhiều rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và là một trong những nguyên nhân chính gây phát sinh nợ xấu thời gian qua Thông tin thiếu minh bạch hay cung cấp không chính xác xuất phát từ việc không tuân thủ nghiêm chỉnh quy trình
Trang 38ghi chép sổ sách kế toán của các doanh nghiệp hay khai báo thông tin không đúng của các khách hàng cá nhân dưới nhiều hình thức khác nhau
b Nhân tố bên trong
v Nhân tố xuất phát từ phía Ngân hàng
Cơ chế quản lý tín dụng
Đó là tập hợp những biện pháp, cách thức mà ngân hàng tiến hành nhằm mục đích thẩm định, theo dõi, kiểm tra, giám sát với từng khoản tín
dụng được cấp trong hoạt động tín dụng Nếu công tác quản lý được đánh giá
đúng vai trò quan trọng của nó, được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng đắn thì sẽ mang lại hiệu quả cho ngân hàng Công tác quản lý tín dụng của ngân hàng có thể được hiểu qua một số biểu hiện sau đây:
Thứ nhất là quy trình nghiệp vụ ngân hàng Quy trình tín dụng bao gồm
các bước sau: Lập hồ sơ vay vốn, phân tích tín dụng, ra quyết định tín dụng, giải ngân, giám sát tín dụng và thanh lý hợp đồng tín dụng Một quy trình tín dụng chặt chẽ, đảo bảo tính chính xác và đầy đủ là một nhân tố làm giảm đáng kể nợ xấu trong tổng dư nợ cũng như hỗ trợ công tác xử lý nợ xấu khi có rủi ro xảy ra Ngược lại, một quy trình tín dụng lỏng lẻo, không khoa học sẽ làm gia tăng nợ xấu
Với môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, các ngân hàng chú trọng đến tăng trưởng tín dụng và áp đặt chỉ tiêu cho cán bộ tín dụng, điều này làm cho quy trình thực hiện tín dụng không chặt chẽ Bên cạnh
đó, các ngân hàng thường tập trung nhiều vào việc thẩm định trước khi cho vay mà nới lỏng quá trình kiểm soát vốn vay Điều này một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng, một phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các doanh nghiệp chưa cung cấp đầy đủ các thông tin mà ngân hàng yêu cầu Dẫn đến hệ quả ngân hàng không nhận định
Trang 39đúng khả năng tài chính của khách hàng, khiến công tác quản trị nợ xấu trở nên khó khăn
Thứ hai là cơ cấu cho vay Đó là tỷ trọng cho vay trong từng ngành,
từng lĩnh vực, từng loại doanh nghiệp, từng nhóm khách hàng và thời hạn khác nhau Tỷ trọng các khoản cho vay giữa ngắn hạn và trung, dài hạn; giữa doanh nghiệp vừa và nhỏ với doanh nghiệp lớn; giữa tổ chức và cá nhân; giữa ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ… nếu hợp lý, phù hợp với thực
tế nền kinh tế, với chủ trương của Chính phủ thì sẽ mang lại hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM cũng như cả nền kinh tế đất nước Ngược lại, cơ cấu cho vay bất hợp lý sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, ngành kinh tế và của cả nền kinh tế, không đáp ứng được nhu cầu phát triển năng động của đất nước, dẫn đến nợ xấu có nguy cơ tăng cao và công tác xử lý sẽ trở nên phức tạp
Hiện nay, với tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các NHTM, các ngân hàng đang mở rộng hướng tín dụng tiêu dùng với cho vay cá nhân, cho vay tín chấp… Đây là một thị trường đầy tiềm năng cho các ngân hàng nhưng cũng ẩn chứa rất nhiều rủi ro vì nhiều bất cập liên quan đến thông tin khách hàng, bất ổn thu nhập… sẽ khiến cho công tác quản trị nợ xấu của ngân hàng gặp nhiều thách thức
Thứ ba là đạo đức và trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ ngân hàng là một trong những nhân tố mấu chốt gây phát sinh rủi ro tín dụng và nợ xấu trong thời gian qua Một cán bộ kém
về năng lực, trình độ chuyên môn có thể bồi dưỡng thêm, nhưng một cán bộ
bị tha hóa về đạo đức mà giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng Điều này đã được minh chứng trong thời gian gần đây khi nhiều cán bộ tín dụng giỏi đã qua mặt ngân hàng để lừa đảo và chiếm đoạt vốn của ngân hàng Do đó, các ngân hàng không những bồi
Trang 40dưỡng chuyên môn mà còn phải chú trọng xây dựng đạo đức nghề nghiệp cho các nhân viên của mình
Thứ tư là công tác kiểm soát nội bộ ngân hàng Kiểm soát nội bộ giúp
phát hiện nhanh chóng, kịp thời những vấn đề phát sinh, ngăn chặn rủi ro có thể xảy đến Nếu công tác kiểm soát nội bộ được thực hiện chặt chẽ theo quy trình thống nhất sẽ góp phần hạn chế nợ xấu phát sinh và hỗ trợ hiệu quả trong công tác quản trị rủi ro của NHTM
Năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng còn kém
Quản trị ngân hàng nói chung và quản trị rủi ro nói riêng luôn có tầm quan trọng đặc biệt và là chìa khoá để giúp các NHTM đạt được các mục tiêu chiến lược của mình, bảo đảm sự phát triển bền vững Song, năng lực quản trị rủi ro của các NHTM ở Việt Nam vẫn còn hạn chế và điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh ngân hàng Cụ thể: các NHTM vẫn chưa xây dựng khuôn khổ cho hoạt động quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế Bên cạnh đó, nguồn nhân lực được đào tạo nhiều nhưng chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập, chưa tiếp cận được phương pháp quản trị rủi ro tiên tiến Theo một khảo sát của Trung tâm nghiên cứu kinh tế và chính sách - Đại học quốc gia Hà Nội năm 2012, ở Việt Nam chỉ có 47% các NHTM tiếp cận với Basel 2 và 40% các NHTM tiếp cận với Basel 3 [3]
Do đó, khả năng quản trị chưa tương xứng và vẫn được thực hiện theo các biện pháp truyền thống nên rủi ro trong hoạt động ngân hàng vẫn rất cao
Và đặc biệt, yếu tố công nghệ ở nhiều ngân hàng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của quản trị rủi ro cũng là một vấn đề cần được chú trọng
Công nghệ Ngân hàng
Hệ thống công nghệ rất quan trọng trong công tác điều hành phát triển ngân hàng Công nghệ hiện đại sẽ tạo ra đột phá trong khai thác sản phẩm, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, gián tiếp khẳng định được hình ảnh của