Chính vì vậy hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC là một trong những nhiệm vụ chiến lược giữ vị trí quan trọng có ý ng
Trang 1TÔ VĂN HẬU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Trang 2TÔ VĂN HẬU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ BẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu cũng như kết quả nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Đà Nẵng, ngày 02 tháng 01 năm 2018
Tác giả
Tô Văn Hậu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục luận văn 4
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 5
CHƯƠNG 11 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 11
1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 11
1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức 11
1.1.2 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 12
1.1.3 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 15
1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 16
1.1.5 Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 19
1.1.6 Quy định của nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 20
1.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 22
1.2.1 Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản pháp luật quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 22
Trang 51.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện đề án, kế hoạch đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức 24
1.2.3 Kiểm tra, đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 27
1.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 27
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 29
1.3.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng 29
1.3.2 Quan điểm của đơn vị quản lý, sử dụng cán bộ, công chức 30
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG 31 1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 31
1.4.2 Kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh 33
1.4.3 Bài học kinh nghiệm đối với công tác quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM 38
2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH QUẢNG NAM TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO BỒI DƯỠNG CÁN BỘ CÔNG CHỨC 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.2 Điều kiện kinh tế 40
2.1.3 Điều kiện xã hội 41
Trang 62.2.THỰC TRẠNG CƠ CẤU CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG
NAM NĂM 2016 44
2.2.1 Cơ cấu giới tính 44
2.2.2 Cơ cấu theo độ tuổi 44
2.2.3 Cơ cấu theo trình độ 45
2.3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM 47
2.3.1 Thực trạng công tác ban hành và thực hiện chính sách, văn bản pháp luật quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 47
2.3.2.Thực trạng công tác xây dựng và thực hiện đề án, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 52
2.3.3 Kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 61
2.3.4 Thực trạng tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 66
2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM 67
2.4.1 Thành tựu 67
2.4.2 Hạn chế 69
2.4.3 Nguyên nhân 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 73
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM 74
Trang 73.1 QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC TỈNH QUẢNG NAM 74
3.1.1 Quan điểm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam 74
3.1.2 Mục tiêu và định hướng hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam 74
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC TỈNH QUẢNG NAM 77
3.2.1 Tăng cường ban hành và hoàn thiện hệ thống chính sách, văn bản pháp luật đối với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 77
3.2.2 Đẩy mạnh công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 78
3.2.3 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng 81
3.2.4 Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 81
3.3 KIẾN NGHỊ VỚI TRUNG ƯƠNG 82
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)
Trang 92.6 Cơ cấu CBCC theo trình độ chuyên môn 45 2.7 Cơ cấu CBCC theo trình độ lý luận chính trị 46 2.8 Cơ cấu CBCC theo trình độ quản lý nhà nước 46
2.9 So sánh giữ chỉ tiêu và kết quả đào tạo, bồi dưỡng
2.10 Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh ngày nay, cả nước đang tập trung đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước , để đạt được mục tiêu đó thì cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức Điều đó đòi hỏi Nhà nước phải thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức để
họ thực thi tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao Thực tế đã chứng minh nơi nào cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt thì nơi đó công việc vận hành rất trôi chảy và thông suốt Do đó, việc xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước, có ý nghĩa quan trọng góp phần xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh chuyên nghiệp từng bước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Chính vì vậy hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức và công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC là một trong những nhiệm vụ chiến lược giữ vị trí quan trọng có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế xã hội ở nước ta nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng
Trong những năm qua, tỉnh Quảng Nam luôn coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Tỉnh ủy "Về công tác cán bộ giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020" cũng đã xác định: "Nâng cao chất lượng, hiệu quả và tạo sự chuyển biến sâu sắc trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ là giải pháp quan trọng bậc nhất trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh"
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công
Trang 11chức của tỉnh Quảng Nam còn chưa đáp ứng được yêu cầu Không ít cấp ủy đảng chưa thực sự coi trọng, thiếu quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chưa thật chặt chẽ; tính kế hoạch hóa trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức chưa cao, ảnh hưởng đến công việc của cán bộ, công chức gây lãng phí trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Đồng thời công tác quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh còn nhiều bất cập, cụ thể như: cán bộ quản lý về đào tạo, bồi dưỡng còn thiếu kinh nghiệm chỉ đạo, điều hành, chưa được đào tạo bài bản về công tác quản
lý giáo dục; hệ thống các văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lý để tổ chức, quản lý đào tạo, bồi dưỡng còn chưa đồng bộ, kịp thời; công tác xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chưa sát với nhu cầu thực tiễn của cán bộ, công chức và của đơn vị sử dụng cán bộ, công chức; công tác kiểm tra, đánh giá đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức còn mang tính hình thức
Để khắc phục được những tồn tại, bất cập nêu trên và giúp công tác quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam có sự đổi mới cơ bản, nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Thì dựa trên các yêu cầu khách
quan và cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn trên, tác giả lựa chọn đề tài ”Quản
lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn nghiên cứu của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC tỉnh Quảng Nam, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC tỉnh Quảng Nam đến năm 2020
Trang 122.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận đối với công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC
Thứ hai, phân tích thực trạng QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC tỉnh Quảng Nam; từ đó đánh giá những thành tựu, tìm ra hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC tỉnh Quảng Nam
Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC tỉnh Quảng Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý nhà nước
về hoạt động ĐTBD CBCC tại tỉnh Quảng Nam
Về không gian: Luận văn tiến hành triển khai nghiên cứu đối với công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC tỉnh Quảng Nam giai đoạn năm 2011-2015 và các giải pháp có ý nghĩa trong những năm đến
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập tài liệu
Những nguồn tài liệu, số liệu có liên quan đến nội dung nghiên cứu được thu thập được từ sách báo, tạp chí khoa học, niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam, các báo cáo thường niên, bản tin nội bộ, quy hoạch tổng thể của Ủy ban nhân dân và các Sở, Ban, ngành tỉnh; Các tài liệu
Trang 13thông tin đã được công bố trên các giáo trình, báo, tạp chí, công trình và đề tài khoa học trong nước
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu đề tài, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
*Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Sử dụng để nghiên cứu hoạt động đào tạo, bồi dưỡng như một hệ thống
và quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng như một hệ thống Khi nghiên cứu hệ thống không chỉ nghiên cứu riêng rẽ các nội dung mà nghiên cứu trong mối quan hệ giữa các nội dung với nhau, phải đặt trong môi trường của chúng, xem xét sự tương tác của hệ thống và môi trường
*Phương pháp thống kê
Sử dụng để phân tích số liệu thống kê phục vụ việc xem xét hiện trạng quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam Sau khi thu thập, tổng hợp các dữ liệu thì chúng được nhập vào máy vi tính để tổng hợp và hệ thống hoá lại thành những tiêu thức cần thiết, bảng biểu nhằm phục vụ việc phân tích, dự đoán
* Phương pháp so sánh
Sử dụng để phân tích và so sánh thực trạng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức và thực trạng quản lý nhà nước về động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam qua các năm Bằng phương pháp này ta phân tích sự biến động của các chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng so với mục tiêu đã để ra từ đó đưa ra các nhận xét về thực trạng
Trang 14bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam
Chương 3 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về hoạt
động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Nam
6 Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu chung về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tại Việt Nam Tuy nhiên có rất ít nghiên cứu về QLNN về ĐTBD CBCC Nghiên cứu QLNN về ĐTBD CBCC vẫn là đề tài nghiên cứu khá mới mẻ Trong các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, tác giả lựa chọn một số công trình nghiên cứu sau:
Giáo trình ”Quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công” của hai tác giả Trần Thị Thu và Vũ Hoàng Ngân (2013), đã nêu ra rằng trong các tổ chức ngày nay trên thế giới cũng như ở Việt Nam, việc quản lý nguồn nhân lực như thế nào cho hiệu quả ngày càng được lưu tâm Tuy nhiên, sự quan tâm này là rất khác nhau giữa các tổ chức Nếu như khu vực tư nhân được đánh giá là có
sự nhận thức và thực hiện vấn đề này một cách khá nhanh chóng, thì các tổ chức thuộc khu vực công vẫn còn khá chậm chạp Và chính điều này đã làm chậm quá trình đổi mới của các tổ chức công
Tác giả đã hệ thống hóa các căn cứ khoa học; trình bày các cách để quản lý nguồn lực trong tổ chức công như kế hoạch hóa, đào tạo, đánh giá và chính sách quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức công [22]
Sách “Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước” của hai tác
giả Trần Xuân Sầm và Nguyễn Phú Trọng (2001), đã nêu ra mỗi chế độ xã hội muốn đứng vững và phát triển đều phải được xây dựng nên bởi những con người hết lòng trung thành với chế độ, có trí tuệ và năng lực Trong xã hội
Trang 15ngày nay, đó là những công chức, những người trực tiếp phục vụ chế độ Họ
là đại diện cho nhà nước để xây dựng và thực thi các chủ trương, chính sách
Họ là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải
có con người xã hội chủ nghĩa" Cán bộ, công nhân viên chức là những người gánh trên vai trọng trách nặng nề của đất nước, vì vậy họ phải thực sự là những "con người xã hội chủ nghĩa"
Trên cơ sở các quan điểm lý luận và tổng kết thực tiễn, cuốn sách đã phân tích, lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ
đó đưa ra những kiến nghị về phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [19]
Giáo trình “Quản lý nhà nước về kinh tế” của hai tác giả Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2010), đã khẳng định quản lý nhà nước về kinh tế là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thắng lợi trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia Giáo trình đã cung cấp những kiến thức lý luận, khái quát cơ bản, có tính hệ thống của một môn khoa học về việc Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân Tác giả đã nêu tổng quan QLNN
về kinh tế; phân tích một số quy luật, nguyên tắc, công cụ và phương pháp QLNN về kinh tế cũng như đưa ra các mục tiêu và chức năng của QLNN về kinh tế Thêm vào đó là giới thiệu chức năng, vai trò của bộ máy và cán bộ quản lý QLNN về kinh tế ở nước ta hiện nay, từ đó đưa ra phương hướng đổi mới công tác cán bộ quản lý kinh tế[27]
Bài giảng “Quản lý nhà nước về kinh tế” của tác giả Lê Bảo, Đại học Kinh tế Đà Nẵng (2016), Trong chương 1 tác giả đã nêu những vấn đề lý luận
chung về quản lý nhà nước về kinh tế; chức năng nhiệm vụ của nhà nước
Trang 16trong quản lý nhà nước về kinh tế; đối tượng, phạm vị và nội dung của quản
lý nhà nước về kinh tế; phương thức quản lý nhà nước về kinh tế; công cụ và
chiến lược trong quản lý nhà nước về kinh tế
Trong chương 6 tác giả đã nêu lên các nội dung khái quát về quản lý nhà nước đối với giáo dục, đào tạo Tác giả đả nêu lên vai trò quan trọng của nhà nước trong giáo dục và đào tạo; trình bày sự nghiệp giáo dục của nước ta trong 10 năm gần đây Trọng tâm, tác giả đề ra các mặt cần phải thực hiện để quản lý nhà nước về giáo dục và đạo tạo hiệu quả như: 1)Nhà nước có chiến lược phát triển và khuôn khổ pháp luật cho giáo dục – đào tạo; 2)Tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục – đào tạo; 3)Hoàn thiện cơ cấu của hệ thống giáo dục gắn với đổi mới nội dung và phương pháp giáo dục; 4)Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên [1]
Luận án tiến sĩ Quản lý hành chính công của tác giả Lại Đức Vượng
(2009) về đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay” Tác giả đã phân tích, hệ thống hóa cơ sở lý
luận về QLNN về ĐTBD công chức hành chính trong giai đoạn 1987 đến 2009; phân tích một cách hệ thống về sự hình thành và phát triển công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước
về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính; từ đó xác định mục tiêu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nước về ĐTBD công chức hành chính Việt Nam trong giai đoạn hiện nay [39]
Luận văn thạc sĩ Quản lý Tổ chức và Nhân sự của tác giả Trang Thị
Anh Nuôi (2013) về đề tài “Quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp huyện tại Ủy ban nhân dân huyện Duy Xuyên, Quảng Nam”
Tác giả đã nêu được các cơ sở lý luận, trình bày thực trạng về công tác quản
lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp huyện tại Ủy ban
Trang 17nhân dân huyện Duy Xuyên, Quảng Nam Qua đó đưa ra các giải pháp thiết thực cho việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng Tác giả đã chỉ ra muốn xây dựng và tạo lập được một cơ cấu CBCC có chất lượng và thực thi công vụ đạt hiệu quả cao, cần phải quan tâm và chú trọng đến công tác QLNN về đào tạo, bồi dưỡng CBCC; thực hiện đồng bộ các giải pháp về cơ chế, chính sách; quản lý, sử dụng CBCC; về xây dựng quy hoạch,
kế hoạch; về tài chính nhằm nâng cao hiệu quả trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của huyện, góp phần xây dựng nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh và chuyên nghiệp [16]
Bài viết “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quá trình cải
cách hành chính” của tác giả Nguyễn Thị La trên Tạp Chí Cộng sản (2015)
Tác giả đã nêu lên việc cần đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói chung, đổi mới nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp và tài liệu giảng dạy cho phù hợp, theo yêu cầu của vị trí việc làm, trong đó chú trọng kỹ năng thực tiễn áp dụng cho từng đối tượng người học; cần có sự liên thông trong nội dung chương trình, giảm bớt những nội dung trùng lắp Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo hướng: Tiếp tục hoàn thiện công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải gắn với việc bố trí, sử dụng; tránh tình trạng đào tạo không đúng chuyên ngành, chuyên môn nghiệp vụ; Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, công chức những kiến thức về lý luận chính trị, về lãnh đạo, quản lý, về khoa học xã hội, nhân văn và những kiến thức chuyên môn phù hợp với công việc được giao; Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ, công chức
và tập trung theo hướng chuyên nghiệp, chuyên sâu[13]
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện quản lý nhà nước về công tác đào tạo,
Trang 18bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay”của tác giả Phạm Cao Việt Linh (2007), Luận văn đã phân
tích rõ được một số cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức hành chính tại thành phố Hồ Chí Minh Đánh giá đúng thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở đó đề xuất các yêu cầu và một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong thời gian tới
Kết quả của luận văn giúp cho những nhà quản lý có thêm thông tin, vận dụng vào việc tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của đơn vị mình nhằm nâng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của xu thế nhập kinh tế quốc tế Hạn chế của tác giả là tập trung quá nhiều vào các kết quả đào tạo, bồi dưỡng mà chưa nêu rõ thực trạng công tác quản lý Các giải pháp chưa thật sự rõ nét [14]
Luận văn thạc sĩ “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ quan UBND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” của tác Ngô Thị Thu Trà (2012) Tác giả đã
chỉ ra công tác đào tạo, bồi dưỡng là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức đương chức và dự nguồn quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp, từ cấp huyện đến cấp phường nhằm chuẩn bị nguồn cán bộ kế cận cho vị trí lãnh đạo, quản lý Tuy nhiên trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức càng khảo sát kỹ, đi sâu vào các lĩnh vực càng thấy bộc lộ sự mâu thuẫn giữa nhu cầu và khả năng
vì vậy cần giải quyết mỗi quan hệ giữa đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng Tác giả đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức thành phố Hạ Long như: 1)Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, gắn công tác đào tạo, bồi dưỡng với
Trang 19việc sử dụng cán bộ, công chức; 2)Đổi mới nội dung, chương trình, phương thức và công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Tăng cường đầu tư tài chính cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Hạn chế của tác giả là phạm vi nghiên cứu hẹp, đối tượng nghiên cứu chỉ trong cơ quan UBND thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nên kết quả nghiên cứu chưa rõ nét, khái quát được hiện tượng[28]
Luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức,
viên chức bệnh viện mắt trung ương”của tác giả Đỗ Hoàng Đức (2015) Tác
giả đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về đào tạo công chức, viên chức tại Bệnh viện Đưa ra được phương pháp phân tích thực trạng đào tạo công chức, viên chức tại Bệnh viện, làm rõ những kết quả đạt được và những hạn chế trong đào tạo công chức, viên chức tại Bệnh viện và nguyên nhân của những hạn chế Đề xuất được một số giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện đào tạo công chức, viên chức tại Bệnh viện Mắt Trung ương như: 1)Hoàn thiện xác định nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng; 2)Hoàn thiện xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng; 3)Hoàn thiện lựa chọn đối tượng đào tạo, bồi dưỡng; 4)Xây dựng nội dung chương trình đào tạo phù hợp; 5)Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất, tài chính và đào tạo giáo viên Hạn chế của tác giả là phạm vi nghiên cứu hẹp, đối tượng nghiên cứu chỉ trong Bệnh viện Mắt Trung ương nên kết quả nghiên cứu chưa rõ nét, khái quát được hiện tượng[11]
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1.1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.1.1 Khái niệm cán bộ, công chức
Khái niệm cán bộ và công chức đã được quy định và phân biệt rõ trong Điều 4, Luật Cán bộ, công chức (2008) [18]
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Trang 21- Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội
- Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Như vậy, CBCC có điểm chung là công dân Việt Nam, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định)
1.1.2 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Hai thuật ngữ “Đào tạo” và “bồi dưỡng” được sử dụng rất phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật và cũng như các tài liệu nghiên cứu, tuy nhiên cách tiếp cận này cũng theo nhiều chiều khác nhau
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đào tạo:
- Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức,
kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học [4]
- Đào tạo là quá trình tác động đến con người, nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo…[12]
Như vậy khái niệm đào tạo hiểu khái quát là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm trang bị kiến thức cho người học một cách có hệ thống để nhằm nâng cao năng lực, chuyên môn, đủ khả năng công tác độc lập theo yêu cầu nhiệm vụ được giao Hay nói một cách khác, đào tạo được xem như một quá trình làm cho người được đào tạo trở thành người có kiến thức
và năng lực theo tiêu chuẩn nhất định đề ra Quá trình đào tạo được tiến hành
ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp hoặc các cơ sở đào
Trang 22tạo tuỳ theo từng cấp học, thời gian học tập và nội dung của mỗi khóa học, kết thúc khoá học, khi người học đạt được yêu cầu theo quy định thì họ sẽ được cấp một văn bằng tốt nghiệp
Cũng như “đào tạo”, khái niệm “bồi dưỡng” cũng được định nghĩa với nhiều cách hiểu khác nhau:
- Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [4]
- UNESCO định nghĩa: “Bồi dưỡng có ý nghĩa nâng cao trình độ nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của mình nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”
- Bồi dưỡng là quá trình nhằm hoàn thiện kỹ năng, năng lực của người lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức; đó là cơ hội mà người quản lý tạo ra cho người lao động nhằm hoàn thiện kỹ năng, kiến thức chuyên môn có liên quan đến công vụ hiện tại [21]
Như vậy bồi dưỡng với mục đích bổ sung, cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới có tính bổ trợ cho việc thực thi công việc, tiếp thu các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với mỗi ngành, lĩnh vực trong hoạt động quản lí nhà nước hoặc một nhóm kiến thức quản lí chuyên môn nghiệp vụ, về lí luận chính trị, tin học, ngoại ngữ, về công tác của các ngành, đoàn thể nhằm khắc phục những thiếu hụt về trình độ chuyên môn, những hạn chế về năng lực quản lí và khả năng làm việc.Thời gian các khóa bồi dưỡng thường kéo dài 1 đến 2 tuần hoặc có thể từ 1 đến 3 tháng
Sự khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng có thể phân biệt qua thời gian, nội dung cũng như những đòi hỏi về quy chuẩn ĐTBD Đào tạo thường có thời gian dài hơn, khoảng từ một năm học trở lên Về bằng cấp, sau khi hoàn thành khoá đào tạo, người học được cấp bằng về trình độ được đào tạo, còn
Trang 23bồi dưỡng chỉ cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận đã học qua khoá bồi dưỡng
Việc tách bạch khái niệm ĐTBD chỉ để tiện cho việc phân tích cặn kẽ
sự giống và khác nhau giữa hai hình thức này Trên thực tế, xét theo khung cảnh ĐTBD, phát triển nguồn nhân lực thì ĐTBD gắn với nhau như một chỉnh thể, khi đề cập tới đào tạo là đã nói đến việc bồi dưỡng và ngược lại ĐTBD chính là việc tổ chức những cơ hội cho người ta học tập và nhằm đạt được mục tiêu của mình bằng việc tăng cường năng lực thực hiện công việc cho CBCC ĐTBD trên cơ sở năng lực thực hiện công việc sẽ giúp cho CBCC làm việc hiệu quả hơn và sử dụng tốt các khả năng, tiềm năng vốn có
Từ các quan niệm nêu trên, có thể hiểu ĐTBD CBCC là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao Hoạt động ĐTBD CBCC được thực hiện ở một số cơ sở của Đảng, nhà nước như: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính, trường cán bộ, trường chính trị của các tỉnh, các trung tâm chính trị huyện, trường ĐTBD của các Bộ, ngành, các trung tâm đào tạo, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung cấp khác
ĐTBD CBCC không phải là ĐTBD trong chương trình giáo dục quốc dân, phổ thông mà là chương trình ĐTBD có những đặc điểm mang tính đặc thù về đối tượng, nhiệm vụ, nội dung, cách học:
- ĐTBD CBCC để phục vụ nhiệm vụ được giao Đào tạo phải sát với yêu cầu của công việc và phải đáp ứng nhu cầu của thực tiễn
- Học viên là đội ngũ CBCC, là những người trong biên chế, đang làm việc trong các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương
- Nội dung, chương trình của các cơ sở ĐTBD phải chuyên sâu với các lĩnh vực được ĐTBD, không ĐTBD chung chung, không ĐTBD khi không xác định rõ đối tượng ĐTBD
Trang 24- ĐTBD đội ngũ CBCC cần tập trung vào việc rèn luyện kỹ năng quản
lý cho đội ngũ CBCC quản lý trong các lĩnh vực khác nhau
1.1.3 Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Theo quy định tại Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 25/1/2016 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Quyết định 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2020 Nội dung cơ bản về ĐTBD như sau:
Đào tạo trình độ sau đại học phù hợp với vị trí việc làm cho CBCC ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện bảo đảm theo quy hoạch và yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị”[23]
b Về bồi dưỡng
“Bồi dưỡng lý luận chính trị:
-Bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị theo tiêu chuẩn quy định cho cán
bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, cho các chức danh công chức và CBCC cấp xã
-Cập nhật nội dung các văn kiện, nghị quyết, đường lối của Đảng; cập nhật nâng cao trình độ lý luận chính trị theo quy định
Trang 25thức, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao
-Cập nhật kiến thức pháp luật, văn hóa công sở, nâng cao ý thức đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp
Bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh theo các chương trình quy định cho CBCC; cập nhật và nâng cao kiến thức, năng lực hội nhập quốc tế
Bồi dưỡng kiến thức tin học, ngoại ngữ theo tiêu chuẩn quy định; tiếng dân tộc cho CBCC công tác tại vùng có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống” [23]
Thông qua các quy định của nhà nước về ĐTBD CBCC thì thấy rằng nội dung ĐTBD CBCC giai đoạn hiện nay tập trung vào những nội dung sau: Nâng cao trình độ học vấn; lý luận chính trị; chuyên môn, nghiệp vụ; kiến thức QLNN; về tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc cho CBCC công tác tại vùng
có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống; kiến thức quốc phòng - an ninh; Cập nhật và nâng cao kiến thức, năng lực hội nhập quốc tế
Như vậy, nội dung ĐTBD CBCC đã được quy định một cách rất rõ ràng, đầy đủ và toàn diện với mục tiêu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, sâu sắc
về chất lượng và hiệu quả ĐTBD, góp phần xây dựng đội ngũ CBCC chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế
1.1.4 Khái niệm quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
QLNN là hoạt động có tổ chức và bằng pháp quyền của bộ máy nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội, hành vi của công dân và mọi tổ chức
xã hội (chính trị, khoa học, xã hội ), giữ gìn trật tự xã hội và phát triển xã hội theo những mục tiêu đã định[38]
Khái niệm QLNN xét về mặt chức năng của nhà nước, có thể phân biệt [38]:
Trang 26-Theo nghĩa rộng
QLNN là toàn bộ mọi hoạt động của nhà nước nói chung, mọi hoạt động mang tính chất nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước
QLNN là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người Điểm khác nhau cơ bản giữa QLNN và các hình thức quản lý khác là tính quyền lực nhà nước gắn liền với cưỡng chế nhà nước khi cần QLNN được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước
Như vậy theo nghĩa rộng thì QLNN bao gồm cả ba lĩnh vực: lập pháp, hành pháp và tư pháp
-Theo nghĩa hẹp
QLNN được hiểu như quản lý hành chính nhà nước, là hoạt động chấp hành và điều hành của cơ quan HCNN, các cơ quan nhà nước khác và các tổ chức được nhà nước ủy quyền quản lý trên cơ sở của luật và để thi hành luật nhằm thực hiện chức năng tổ chức, quản lý điều hành các quá trình xã hội của nhà nước
Nói cách khác quản lý hành chính nhà nước là QLNN trong lĩnh vực hành pháp, được thực hiện bởi ít nhất một bên có thẩm quyền HCNN trong quan hệ chấp hành và điều hành Tính chấp hành được thể hiện ở sự thực hiện trên thực tế các văn bản Hiến pháp, Luật, Nghị quyết Tính điều hành được thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực được thực hiện dựa trên thực tế thì các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải tiến hành các hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc quyền
Mặc dù trên thực tế có rất nhiều cách giải thích khác nhau về QLNN,
Trang 27nhưng thực chất về nội dung đều có những điểm giống nhau, phản ánh bản chất của QLNN:
- Chủ thể của QLNN là các cơ quan nhà nước, bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp
- Khách thể của QLNN là các quá trình xã hội (trật tự QLNN, trật tự xã hội do pháp luật quy định) và hoạt động của con người
- QLNN là hoạt động chấp hành và điều hành Chấp hành là thực hiện trên thực tế các quy định pháp luật của nhà nước Điều hành là hoạt động chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng bị quản lý, có thể áp dụng các hình thức tổ chức xã hội trực tiếp và những hình thức ít mang tính pháp lý khác
Trong QLNN, chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ: một bên là chỉ huy, điều khiển; một bên là bị chỉ huy, điều khiển Nhưng hai yếu tố này không hề có mâu thuẫn, mà đó là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập Chủ thể
và khách thể trong quan hệ quản lý có mối quan hệ là quyền lực trực thuộc, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, cả nước phải phục tùng Trung ương, toàn dân phải tuân thủ pháp luật của nhà nước
Tóm lại, QLNN là sự tác động có tổ chức, có định hướng của nhà nước (chủ thể quản lý) lên các khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã định trước
QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC là một khái niệm chưa được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên qua nghiên cứu các khái niệm có liên quan thì có thể hiểu QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC là
sự tác động có tổ chức, có định hướng của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lên đối tượng quản lý là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ĐTBD CBCC trên cơ sở chính sách, pháp luật về ĐTBD QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC nhằm nâng cao chất lượng, trình độ chuyên môn, đạo đức công
vụ đối với đội ngũ CBCC Mục tiêu thông qua công tác QLNN về hoạt động
Trang 28ĐTBD CBCC là nhằm hướng đến tạo ra hiệu lực, hiệu quả trong công việc, công tác phục vụ nhân dân, phát triển nền kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước theo đúng định hướng mà nhà nước đã đề ra
1.1.5 Vai trò quản lý nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Các cơ quan, tổ chức muốn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình cần phải có một đội ngũ CBCC đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về số lượng và chất lượng để quản lý, điều hành bộ máy hoạt động theo những nguyên tắc nhất định Với vai trò quan trọng đó thì công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC trên thực tế có vai trò rất quan trọng, tạo ra những tiền đề, điều kiện cho sự phát triển và nâng cao chất lượng ĐTBD CBCC như:
- Là yếu tố tiền đề quyết định đến hiệu lực, hiệu quả công tác thực thi công vụ Hiệu lực, hiệu quả đạt được chỉ khi đội ngũ CBCC có trình độ, năng lực và đạo đức công vụ tốt Người CBCC là người đại diện cho nhà nước, làm việc, tiếp xúc trực tiếp với người dân Do đó, việc quản lý công tác ĐTBD là nhằm xây dựng đội ngũ CBCC “vừa hồng, vừa chuyên” và làm cho sự phát triển hoạt động ĐTBD CBCC đúng hướng, đáp ứng mục tiêu chiến lược trong từng giai đoạn
- Làm cho tất cả các hoạt động ĐTBD CBCC đi vào nề nếp, trật tự, kỷ luật
- Đảm bảo tạo ra sự công bằng trong ĐTBD CBCC thông qua hệ thống chính sách, pháp luật về ĐTBD CBCC, tạo cơ hội cho mọi CBCC có điều kiện tham gia vào quá trình ĐTBD nếu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn
- Đảm bảo những điều kiện vật chất cho hoạt động ĐTBD CBCC phát triển Nhà nước là nhà đầu tư và đồng thời là người đặt hàng lớn nhất đối với đội ngũ CBCC
- QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu cải
Trang 29cách hành chính trong giai đoạn mới hiện nay Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011-2020 tập trung vào những vấn đề chính sau: “Cải cách thể chế; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC, viên chức, chú trọng cải cách chính sách tiền lương; nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính
và chất lượng dịch vụ công” [7] Như vậy, căn cứ vào Chương trình tổng thể cải cách hành chính, việc hoàn thiện công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC là một yêu cầu bắt buộc phải thực hiện, nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC Ngoài ra, để thực hiện được các nội dung về cải cách hành chính thì đòi hỏi đội ngũ CBCC phải tương xứng về trình độ kiến thức và kỹ năng
để bắt kịp với sự thay đổi chung của khu vực và thế giới
Có thể thấy rằng, mọi phương thức, cách thức thực hiện công vụ dù tốt đến đâu nhưng người trực tiếp thực hiện việc đó không đủ tầm, đủ lực thì xem như việc thực hiện công việc đó đã coi như thất bại Vì vậy, người đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của công việc đó là đội ngũ CBCC Nâng cao chất lượng QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC là một trong những nhiệm vụ quan trọng và mang tính cấp thiết nhằm ĐTBD được đội ngũ ĐTBD đủ năng lực, trí tuệ để phục vụ công cuộc đổi mới nền hành chính hiện nay
1.1.6 Quy định của nhà nước về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, công chức
Các văn bản liên quan của Trung ương về việc tổ chức thực hiện công tác ĐTBD CBCC được soạn thảo và ban hành khá đầy đủ, kịp thời từ Nghị định, Quyết định, Thông tư như sau:
- Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức
- Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/ NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD công chức
Trang 30- Thông tư số 51/2008/TT-BTC ngày 16/6/2008 về hướng dẫn quản lý
và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước
- Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 về phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025
- Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
- Thông tư số 139/2010/TT-BTC ngày 21/9/2010 của Bộ Tài chính quy định việc lập dự toán, quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước dành cho công tác ĐTBD CBCC
Có thể nói các văn bản đã thể hiện rõ tinh thần đổi mới toàn diện trên các mặt: chế độ ĐTBD CBCC; tăng cường phân cấp cho các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức và quản lý ĐTBD CBCC, bảo đảm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng CBCC trong hoạt động ĐTBD; đổi mới hình thức và nội dung các chương trình ĐTBD nhằm nâng cao kỹ năng hành chính, năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC; tạo lập
cơ sở pháp lý để kiểm soát chất lượng ĐTBD CBCC Những nội dung đó đã góp phần:
- Làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức của các cấp các ngành và chính bản thân CBCC về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hoạt động ĐTBD CBCC Hoạt động ĐTBD CBCC có bước chuyển từ việc tập trung vào mục tiêu đáp ứng tiêu chuẩn quy định sang trang bị kiến thức, kỹ năng, phục vụ cho việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của CBCC trong thực tế
- Tạo cơ chế năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ quan quản lý, đơn vị sử dụng CBCC và bản thân CBCC trong việc ĐTBD, nâng cao năng lực hoạt động và thực thi công vụ trong cơ quan, đơn vị của mình
- Giúp hình thành một tầm nhìn, một khuôn khổ pháp lý để thực hiện việc QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC một cách khoa học, hiệu quả
Trang 311.2 NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.2.1 Ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản pháp luật
quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Chính sách là công cụ chủ yếu để thực hiện QLNN đối với các quá trình phát triển kinh tế xã hội Việc xây dựng và ban hành chính sách bao gồm toàn bộ quá trình nghiên cứu để hình thành các nội dung của chính sách và trình cơ quan có thẩm quyền thông qua chính sách đó
Chính sách thường được thể chế hóa bằng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi của các chủ thể phù hợp với mục tiêu đã đề ra của chính sách Các văn bản quy phạm pháp luật sẽ tạo hành lang pháp lý cho phát triển đội ngũ CBCC, tác động vào các mối quan hệ sản xuất, quan hệ lao động và quản lý để điều chỉnh, định hướng cho sự phát triển của các hoạt động đó
Pháp luật là một công cụ quan trọng nhất trong việc thực hiện quản lý nhà nước Vì Nhà nước và pháp luật là những hiện tượng thuộc thượng tầng kiến trúc của xã hội, giữa nhà nước và pháp luật tồn tại mối quan hệ biện chứng, hữu cơ, không thể tách rời, không thể có nhà nước mà không có pháp luật: “Pháp luật là phương tiện quan trọng để nhà nước tổ chức và thực hiện
có hiệu quả tất cả các chức năng của mình” [6] Ngược lại, pháp luật không thể tồn tại ở đâu ngoài nhà nước, không thể phát huy tác động điều chỉnh các quan hệ xã hội nếu thiếu đi sự bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Chính vì vậy, “Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và áp dụng pháp luật để quản lý xã hội, ban hành pháp luật và quản lý xã hội bằng pháp luật”, đó là một trong những đặc quyền của nhà nước [9]
Trang 32Pháp luật thực sự trở thành hình thức pháp lý biểu hiện nhu cầu vận động của các quy luật khách quan trong quản lý nhà nước Chính vì vậy, nó đặt mọi công dân, mọi thiết chế xã hội và ngay cả bản thân việc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước dưới sự chi phối tuyết đối của nó Các Hiến pháp của nước ta đều đã rất coi trọng pháp luật trong quản lý nhà nước Điều
đó được khẳng định rõ ở Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp 2013: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ.”
Đặc biệt, pháp luật cũng chính là yếu tố để phân biệt giữa QLNN với những dạng quản lý khác Trên cơ sở xây dựng, ban hành pháp luật, Nhà nước phải tạo môi trường pháp lý tin cậy, bình đẳng cho các chủ thể tham gia hoạt động ĐTBD CBCC Do vậy, cơ quan QLNN có thẩm quyền phải ban hành các văn bản pháp luật kịp thời để điều chỉnh hoạt động ĐTBD CBCC Hệ thống pháp luật quy định đối với hoạt động ĐTBD CBCC được thể hiện dưới các văn bản luật, nghị định, thông tư do cơ quan lập pháp ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước điều chỉnh đối với đối tượng này
Tiêu chí đánh giá việc ban hành và thực hiện chính sách, văn bản pháp luật liên quan đến ĐTBD CBCC là:
Một là, mục tiêu chính sách, văn bản pháp luật cần rõ ràng, cụ thể, có tính khả thi, cần tính đến sự phát triển và xu hướng thay đổi của xã hội trong tương lai bảo đảm sự tương ứng với trình độ CBCC trong khu vực và trên thế giới Kết quả chính sách đem lại đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ ĐTBD của tỉnh
Hai là, các giải pháp chính sách, văn bản pháp luật phải phù hợp, giải quyết đúng nguyên nhân của thực trạng đề ra, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trong mọi trường hợp phải phù hợp với tinh thần, nội dung và
Trang 33mục đích của công tác ĐTBD CBCC
Ba là, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định, công khai, minh bạch những thông tin liên quan đến ĐTBD CBCC
1.2.2 Xây dựng và tổ chức thực hiện đề án, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Kế hoạch là một chương trình hành động cụ thể, để đạt đến các mục tiêu định trước, trong những khoảng thời gian nhất định (hàng năm, năm năm, mười năm) Để đạt được những mục tiêu này thì kế hoạch phải đưa ra những mục tiêu cụ thể và những giải pháp hành động cụ thể được lựa chọn thực hiện
Xây dựng kế hoạch ĐTBD là việc làm quan trọng đối với công tác ĐTBD CBCC, có ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình thực hiện các chương trình ĐTBD Xây dựng kế hoạch thực chất là việc xác định trước phải làm gì, làm như thế nào, vào khi nào và ai sẽ làm Nếu kế hoạch được xây dựng phù hợp với hoàn cảnh thực tế sẽ là động lực thúc đẩy đến quá trình ĐTBD để đạt được mục tiêu đã định Ngược lại, nếu kế hoạch không sát thực tế, thiếu khả thi sẽ ảnh hưởng xấu tới kết quả ĐTBD gây ra sự mất cân đối giữa ĐBTD và
sử dụng, dẫn đến lãng phí các nguồn lực
Xây dựng kế hoạch ĐTBD CBCC phải dựa trên kết quả nghiên cứu, xác định nhu cầu ĐTBD thực tế Căn cứ vào bảng tổng hợp nhu cầu ĐTBD của các đơn vị, địa phương, cơ quan quản lý lên dự thảo kế hoạch bao gồm: đơn vị tổ chức, số lớp, số lượng học viên, đối tượng, địa điểm, thời gian tổ chức, dự trù kinh phí, phân công giảng viên, cán bộ quản lý lớp… Tuy nhiên, bản dự thảo kế hoạch còn chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, trong đó quan trọng là nguồn kinh phí ĐTBD và yêu cầu cấp thiết từ thực tế công tác
Kế hoạch là công cụ quan trọng trong việc quản lý Sau khi kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê chuẩn, chúng là những căn cứ pháp lý để hướng
Trang 34dẫn hoạt động và đánh giá hoạt động của các chủ thể tham gia thực thi kế hoạch đề ra
Để xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án, kế hoạch ĐTBD CBCC được hiệu quả thì cần phải quản lý tốt các khâu như sau:
Thứ nhất, xác định mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng
Mục tiêu ĐTBD của một đề án, kế hoạch là những kết quả cần phải đạt được sau khi thực hiện đề án, kế hoạch đó về các mặt như kiến thức, kỹ năng cần đạt tới, số lượng, cơ cấu học viên, khoảng thời gian nào cần phải hoàn thành… Xác định đúng được mục tiêu ĐTBD sẽ nâng cao được kết quả của cả quá trình ĐTBD Mục tiêu có thể là mục tiêu chung của toàn công tác ĐTBD ở địa phương, đơn vị hoặc là mục tiêu của từng chương trình ĐTBD Mục tiêu càng cụ thể, càng rõ ràng, chính xác bao nhiêu thì việc định hướng cho công tác đánh giá kết quả càng dễ dàng bấy nhiêu Đánh giá được kết quả cần có mục tiêu và các mục tiêu đều phải tập trung phục vụ cho đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước
Thứ hai, xác định nhu cầu, đối tượng đào tạo, bồi dưỡng
Là xác định đối tượng nào, số lượng bao nhiêu người cần được ĐTBD cho từng khóa học ĐTBD Việc xác định đối tượng có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả của chương trình ĐTBD
Đơn vị làm công tác ĐTBD cần xác định cụ thể đối tượng cho từng khóa học, lớp học, chương trình học Việc làm này phải dựa trên nghiên cứu xác định nhu cầu của CBCC và căn cứ vào nhu cầu của đơn vị cử CBCC đi ĐTBD Hiện nay, CBCC trước khi được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một vị trí hoặc chức danh nào đó thì họ đã ở một trình độ nhất định Vì vậy cần nắm rõ trình độ của họ để lựa chọn đối tượng đi ĐTBD phù hợp, tránh người cần đi thì không được đi, người không cần đi lại được đi Bên cạnh đó, xác định đối
Trang 35tượng ĐTBD phải căn cứ vào nhu cầu của đơn vị sử dụng CBCC, đảm bảo sau khi ĐTBD thì CBCC được bố trí sử dụng hợp lý, phát huy hiệu quả công tác, thực thi công vụ
Thứ ba, phân bổ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng
Để đảm bảo theo xu thế hội nhập và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBCC đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội Hằng năm
bộ máy quản lý hành chính nhà nước thường có nguồn kinh phí nhất định đầu
tư cho hoạt động ĐTBD đội ngũ ĐTBD và nguồn kinh phí này được trích ra
từ ngân sách nhà nước nhằm khuyến khích ĐTBD đội ngũ ĐTBD tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn Do vậy, cơ quan quản lý sẽ tuỳ thuộc vào số lượng cần ĐTBD trong năm để trích ra nguồn quỹ có tỷ trọng lớn hay nhỏ cho phù hợp Vì kinh phí cho ĐTBD đội ngũ ĐTBD được trích từ ngân sách nhà nước nên phải được dự tính một cách hợp lý Kinh phí ĐTBD phụ thuộc vào nhu cầu ĐTBD, mục tiêu ĐTBD, phương pháp ĐTBD và nó cũng quyết định phần nào đến kết quả của chương trình ĐTBD Do vậy, nó phải ở mức hợp lý chứ không thể quá thấp làm ảnh hưởng đến kết quả ĐTBD
Tiêu chí đánh giá việc xây dựng và tổ chức thực hiện các đề án, kế hoạch ĐTBD CBCC là:
Một là, đề án, kế hoạch phải được xây dựng, căn cứ trước hết vào chủ
trương, nghị quyết của cấp ủy Đảng liên quan đến công tác ĐTBD; dự thảo đề
án, kế hoạch phải được thảo luận, bàn bạc và được cấp có thẩm quyền thông qua Sau khi kế hoạch đã được thông qua, tiến hành hướng dẫn, tổ chức thực hiện theo đúng nội dung mà kế hoạch đã đề ra
Hai là, kết quả ĐTBD so với chỉ tiêu, mục tiêu đề ra của đề án, kế
hoạch Điều này nhằm xác định mức độ đạt được các mục tiêu, giúp nhà quản
lý đưa ra các quyết định phù hợp cho công tác ĐTBD CBCC Về bản chất, đánh giá chính là việc so sánh những kết quả đạt được với kế hoạch đặt ra
Trang 36trước đó Với ý nghĩa phát triển đội ngũ CBCC, đánh giá được xem như là việc kiểm tra, xem xét độc lập và có hệ thống của một chương trình để xác định kết quả, hiệu quả của công tác ĐTBD
1.2.3 Kiểm tra, đánh giá hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trên thực tế, có nhiều đơn vị, địa phương không chấp hành hoặc cố tình không thực hiện theo các quy định của pháp luật về công tác QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC Vì vậy, để kịp thời ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật thì đòi hỏi công tác kiểm tra, đánh giá cần phải được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm
Đối với các cơ quan quản lý, cơ quan chủ quản thì hoạt động kiểm tra, đánh giá nhằm mục đích đảm bảo bộ máy quản lý vận hành theo đúng quy định của pháp luật, tránh xảy ra hiện tượng lộng quyền, lạm quyền, không đúng thẩm quyền, tiêu cực, buông lỏng, quan liêu trong công tác quản lý; ngăn ngừa và xử lý kịp thời các sai phạm góp phần vào công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí
Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động ĐTBD CBCC được tiến hành thường xuyên, ở các cấp độ khác nhau
Đối với Bộ Nội vụ, hàng năm các địa phương, đơn vị cấp tỉnh phải báo cáo kết quả hoạt động ĐTBD CBCC gửi về Bộ Nội vụ
Tiêu chí đánh giá công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động ĐTBD CBCC : Thứ nhất, kết quả việc thực hiện công tác ĐTBD có đảm bảo theo kế hoạch ĐTBD đã đề ra
Thứ hai, cách thức, nội dung kiểm tra hoạt động ĐTBD CBCC có đảm bảo toàn diện
1.2.4 Tổ chức bộ máy quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Trang 37Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hoạt động ĐTBD CBCC là một hệ thống quản lý hoàn chỉnh về cơ cấu tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ
và cơ chế hoạt động của từng cơ quan, đơn vị trong hệ thống, đội ngũ chuyên viên tham mưu đang hoạt động trong hệ thống nhằm đạt được các mục tiêu đã
đề ra
Theo đó Bộ Nội vụ là đầu mối phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
Bộ Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ quan có liên quan tham mưu, giúp Chính phủ quản lý và thực hiện QLNN theo thẩm quyền được giao về hoạt động ĐTBD CBCC trong phạm vi cả nước Các Bộ, cơ quan ngang Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý hoạt động ĐTBD CBCC trong phạm vi ngành và địa phương Căn cứ quy định của Nhà nước: Bộ Nội vụ có nhiệm vụ, quyền hạn quản lý công tác đào tạo, bổi dường như sau[5]:
- Xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức, trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dường công chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành theo thẩm quyền; tổ chức hoặc hướng dẫn tổ chức thực hiện; theo dõi, tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức
- Phân bổ kinh phí ĐTBD hàng năm và hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện sau khi được Chính phủ phê duyệt
- Quản lý chương trinh đào tạo, bồi dường
- Tổ chức thẩm định, quyết định ban hành và hướng dần thực hiện chương trinh, tài liệu đào tạo, bồi dường công chức, viên chức
- Ngoài ra, Bộ Nội vụ có nhiệm vụ quy định tiêu chuẩn cơ sở ĐTBD;
Trang 38thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dường công chức; tổ chức các hoạt động thi đua, khen thưởng trong đào tạo, bồi dường công chức và các nhiệm
vụ khác theo quy định của Nhà nước
Phối hợp với Bộ Nội vụ có Ban Tổ chức Trung ương giúp quản lý các
Bộ, ngành và địa phương trong công tác ĐTBD CBCC Dưới địa phương có
Sở Nội vụ và Ban Tổ chức Tỉnh ủy, Thành ủy ở cấp tỉnh và Phòng Nội vụ, Ban Tổ chức Huyện ủy, Thị ủy, Thành ủy ở cấp huyện
QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC mang tính vĩ mô nhưng phải được thể hiện trên cơ sở nhu cầu của cơ quan, tổ chức mình về ĐTBD đội ngũ CBCC Đây là cơ sở thực tiễn của QLNN nói chung, QLNN về hoạt động ĐTBD đội ngũ CBCC nói riêng Hoạt động ĐTBD đội ngũ CBCC phải được thực hiện trên cơ sở nhu cầu thực tiễn của từng cơ quan, tổ chức có nhu cầu ĐTBD CBCC
Vậy, hoạt động quản lý ĐTBD CBCC là hoạt động xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương
Tiêu chí đánh giá: Cơ cấu, số lượng, chất lượng đội ngũ CBCC trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về hoạt động ĐTBD CBCC có đảm bảo hiệu lực, hiệu quả
1.3 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
1.3.1 Nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng
Nhận thức của đội ngũ CBCC đối với hoạt động ĐTBD là yếu tố cơ bản, có tính chất quyết định tới các kết quả của hoạt động ĐTBD Nhận thức đúng đắn về hoạt động ĐTBD sẽ là tiền đề, là kim chỉ nam cho những hành động, việc làm đúng đắn, khoa học và ngược lại Nếu mỗi CBCC đều nhận thức được vai trò, tầm quan trọng trong việc tham gia ĐTBD là giúp họ nâng
Trang 39cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc của bản thân và nếu
họ hiểu học tập là để phục vụ chính họ trong việc nâng cao chất lượng hoạt động công vụ thì họ sẽ có ý thức trong việc tự rèn luyện, trau dồi kiến thức, học hỏi, chủ động xin tham gia các khóa ĐTBD một cách tích cực, ham mê và
có hiệu quả
Nếu nhận thức đúng đắn, CBCC sẽ có thái độ tích cực khi tham gia các khóa ĐTBD, khi đó công tác ĐTBD sẽ đạt được kết quả tốt, hoạt động ĐTBD của cơ quan quản lý đạt được mục tiêu và kế hoạch đề ra Ngược lại, nhận thức sai lệch sẽ khiến CBCC có thái độ thờ ơ khi tham gia các khóa ĐTBD, gây nên tình trạng lãng phí trong ĐTBD Phải tốn nhiều thời gian, kinh phí để
cử CBCC tham gia ĐTBD nhưng kết quả là sau khóa học năng lực và thái độ làm việc của họ không được cải thiện hoặc cải thiện nhưng không rõ rệt Khi
đó mục tiêu của hoạt động ĐTBD sẽ không đạt được
1.3.2 Quan điểm của đơn vị quản lý, sử dụng cán bộ, công chức
Quan điểm của đơn vị quản lý, sử dụng CBCC có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đạt được mục tiêu, kết quả cao trong hoạt động ĐTBD Vai trò này thể hiện ở những quan điểm về chủ trương, chính sách, chế độ đãi ngộ, tính phối hợp trong thực hiện hoạt động ĐTBD của đơn vị, từ đó ảnh hưởng đến nguồn lực mà đơn vị dành cho ĐTBD CBCC của mình Nếu đơn
vị quan tâm, chú trọng đến hoạt động ĐTBD sẽ có những chế độ, chính sách ĐTBD CBCC phù hợp Các chính sách ưu tiên, động viên, khuyến khích giúp thúc đẩy các hoạt động ĐTBD, qua đó thúc đẩy CBCC của đơn vị tích cực tham gia học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác và ngược lại
Chúng ta đều biết con người là một sinh vật bậc cao có ý thức, mọi hoạt động đều có mục đích và luôn có một động lực tương ứng nhằm thúc đẩy hoạt động để thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của mình Vì vậy, thường
Trang 40xuyên chăm lo, quan tâm đến lợi ích vật chất (tiền học phí, hỗ trợ tiền ăn ở, đi lại ), lợi ích tinh thần (biểu dương, khen thưởng khi đạt được kết quả cao trong quá trình học tập ) và có chính sách đãi ngộ phù hợp là các công cụ rất hữu ích trong việc thúc đẩy hiệu quả của hoạt động ĐTBD Đối với những cơ quan hạn chế về tài chính, không đủ nguồn quỹ cho việc khuyến khích, hỗ trợ bằng vật chất thì hình thức khen thưởng, công nhận bằng tinh thần cũng phát huy giá trị rất to lớn Sử dụng đồng bộ, phù hợp các biện pháp khuyến khích,
hỗ trợ chính là tạo động lực để CBCC tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác Đó là một trong những nhân tố góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động ĐTBD và QLNN về hoạt động ĐTBD CBCC
Mặc khác sự phối kết hợp của đơn vị quản lý, sử dụng CBCC với đơn
vị ĐTBD cũng đóng một vai trò quan trọng trong quá trình ĐTBD Nó ảnh hưởng đến đối tượng ĐTBD mà đơn vị cử đi có phù hợp với chương trình ĐTBD hay không, qua đó ảnh hưởng đến chất lượng ĐTBD Sự phối hợp này còn thể hiện ở chỗ đơn vị quản lý, sử dụng CBCC có tạo mọi điều kiện thuận lợi cho CBCC được tham gia ĐTBD
1.4 KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CỦA CÁC ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng
Những năm gần đây, Đà Nẵng được cả nước biết đến như một thành phố năng động với tốc độ tăng trưởng khá ổn định luôn duy trì trên 9% Nhiều năm liền, thành phố dẫn đầu cả nước về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số mức độ sẵn sàng ứng dụng công nghệ thông tin (ICT-Index) Để đạt được những thành quả trên, cần có sự hội tụ của nhiều yếu tố như sự thay đổi tích cực trong môi trường kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự bức phá